1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú bến tre

89 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn Thạnh Phú – Bến Tre
Tác giả Nguyễn Ngọc Trúc Ly
Người hướng dẫn Trương Đăng Thụy
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU (10)
    • 1.1 Đặt vấn đề (10)
      • 1.1.1 Mục tiêu nghiên cứu (11)
      • 1.1.2 Mục tiêu chung (11)
      • 1.1.3 Mục tiêu cụ thể (11)
    • 1.2 Phạm vi nghiên cứu (12)
      • 1.2.1 Không gian (12)
      • 1.2.2 Thời gian (12)
      • 1.2.3 Đối tƣợng nghiên cứu (12)
    • 1.3 Phương pháp nghiên cứu (12)
    • 1.4 Kết cấu luận văn (12)
  • CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN (15)
    • 2.1 Lý thuyết liên quan (15)
    • 2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan (17)
    • 2.3 Khung nghiên cứu (22)
  • CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (24)
    • 3.1 Mô hình (24)
    • 3.2 Các định nghĩa và lựa chọn biến (26)
      • 3.2.1 Hệ thống cơ sở y tế Việt Nam (26)
        • 3.2.1.1 Mạng lưới y tế được tổ chức theo tổ chức hành chính Nhà- nước (26)
        • 3.2.1.2 Mạng lưới y tế tổ chức theo theo thành phần kinh tế (26)
        • 3.2.1.3 Mạng lưới y tế tổ chức theo các lĩnh vực hoạt động (26)
        • 3.2.1.4 Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (28)
        • 3.2.1.5 Mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế (29)
      • 3.2.2 Hình thức điều trị (30)
        • 3.2.2.1 Điều trị nội trú được thực hiện trong các trường hợp (30)
        • 3.2.2.2 Điều trị ngoại trú được thực hiện trong các trường hợp (31)
      • 3.2.3 Quan hệ lao động (31)
      • 3.2.4 Vốn xã hội (31)
      • 3.2.5 Đặc điểm cá nhân (31)
    • 3.3 Phương pháp và Dữ liệu nghiên cứu (33)
      • 3.3.1 Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu (33)
  • CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - THỰC TRẠNG QUÁ TẢI TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ TUYẾN TRÊN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH (13)
    • 4.1 Quá tải và các nguyên nhân (35)
    • 4.2 Mô tả mẫu nghiên cứu (39)
    • 4.3 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của 300 người dân tại Thị Trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre (57)
  • CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ (65)
    • 5.1 Các kết quả chính và kiến nghị (65)
    • 5.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu mới ................................................................... 5959 Tài liệu tham khảo (68)
  • Phụ lục (73)
    • vandesuckhoe 0 (32)
    • Total 54 15 11 211 9 300 (0)
    • than 0 0 0 1 1 2 (0)
    • sot 6 1 0 11 0 18 (0)
    • mat 0 0 0 3 0 3 (0)
    • khop 8 4 3 22 1 38 (0)
    • gout 0 0 0 1 0 1 (0)
    • gan 0 0 0 2 1 3 (0)
    • cam 25 5 4 88 2 124 vandesuckhoe 1 2 3 4 5 Total cosokcbluachon (0)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Đặt vấn đề

Quá tải trong ngành y tế là vấn đề quen thuộc, đặc biệt tại các bệnh viện tuyến cuối ở các thành phố lớn, gây ra cảnh người bệnh chen chúc, nằm chồng lên nhau trong phòng khám hoặc ngoài hành lang Tình trạng này không chỉ gây mất an toàn và ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc bệnh nhân mà còn làm tăng chi phí điều trị do người bệnh phải tự chi trả phần lớn các khoản phí, đồng thời dẫn đến bội chi quỹ bảo hiểm y tế (BHYT), đặc biệt tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có tỉnh Bến Tre, theo báo cáo của ủy ban thường vụ Quốc hội năm 2013.

Bến Tre là vùng đất được hình thành từ ba dãy cù lao chính nổi bật giữa biển và sông, gồm cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa Năm 2014, tổng chi phí vượt tuyến ngoại tỉnh của tỉnh là 149 tỉ đồng, chiếm 29% quỹ BHYT địa phương, phản ánh số người tự khám chữa bệnh tại các cơ sở tuyến trên mà không qua cơ sở khám chữa bệnh ban đầu Theo nghiên cứu của Viện chiến lược và chính sách y tế, có đến 55.8% người không qua cơ sở khám chữa bệnh ban đầu đến khám tại các cơ sở tuyến tỉnh, trong khi đó tại tuyến trung ương là 66%, cho thấy khoảng cách đáng kể trong việc tiếp cận dịch vụ y tế ban đầu.

Năm 2012, tỷ lệ sử dụng giường bệnh trung bình tại các bệnh viện tuyến trung ương vượt quá khả năng, đạt 118%, dẫn đến tình trạng quá tải nghiêm trọng tại các cơ sở y tế tuyến trên Điều này phản ánh rõ ràng về áp lực lớn đối với hệ thống bệnh viện trung ương, góp phần làm giảm chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người bệnh.

Rời thành phố Bến Tre hướng về phía đông, vùng đất mũi phía biển đông của đất nước không khí gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là huyện Thạnh Phú với những khu rừng ngập mặn làm người nông dân vất vả hơn Thạnh Phú thường ít nhận được hỗ trợ từ thiên nhiên so với các huyện khác trong tỉnh, đồng thời chịu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng (Đặng Ngọc Chánh, 2012) Năm 2014, Bệnh viện đa khoa Thạnh Phú đã khám hơn 221.000 lượt bệnh nhân, với công suất sử dụng giường đạt 90.1%, phản ánh rõ mức quá tải của cơ sở y tế địa phương Người dân Thạnh Phú khi gặp vấn đề về sức khỏe thường lựa chọn khám chữa bệnh ở đâu, và những lựa chọn này có góp phần gây quá tải cho các cơ sở y tế tuyến trên không? Các yếu tố nào khiến người dân quyết định như vậy khi đối mặt với vấn đề sức khỏe, và cần can thiệp vào những yếu tố nào để nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, từ đó giảm tải cho các cơ sở y tế? Chính vì lý do này, tác giả chọn đề tài "Các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn Thạnh Phú – Bến Tre" để nghiên cứu.

Xác định các yếu tố tác động đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

Các yếu tố như giới tính, tuổi tác, thu nhập, bảo hiểm y tế, số người phụ thuộc, vốn xã hội, loại hình điều trị (ngoại trú hay nội trú) đều ảnh hưởng đáng kể đến quyết định lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Hiểu rõ các yếu tố này giúp xác định nhu cầu chăm sóc sức khỏe phù hợp và nâng cao hiệu quả dịch vụ y tế tại địa phương Để đảm bảo người dân được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng, cần đề xuất các giải pháp như tăng cường cơ sở y tế tại cấp xã, nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, mở rộng bảo hiểm y tế và đẩy mạnh tuyên truyền về quyền lợi y tế Đồng thời, cần có các biện pháp giảm quá tải tại các bệnh viện trung ương, nhằm đảm bảo phân bổ hợp lý nguồn lực và nâng cao trải nghiệm người bệnh.

Phạm vi nghiên cứu

1.2.1 Không gian Đề tài đƣợc thực hiện tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

Số liệu đƣợc thu thập trong khoảng thời gian từ 25/3/2015 đến ngày 20/4/2015

300 người dân từ 18 tuổi trở lên tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin một cách hệ thống, đồng thời tổng hợp các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài từ cả trong nước và quốc tế Quá trình này giúp đảm bảo tính toàn diện và chính xác trong việc phân tích các dữ liệu liên quan, góp phần nâng cao chất lượng nội dung và tối ưu hóa công tác SEO cho bài viết.

Đề tài sử dụng phương pháp hồi quy Multinomial Logit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Kết quả phân tích cho thấy các biến không có ý nghĩa thống kê rõ ràng, phù hợp với thực tế Tác giả dựa trên kết quả hồi quy để đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố, từ đó giải thích tính hợp lý của các biến trong bối cảnh địa phương Phương pháp này giúp làm rõ các yếu tố quyết định sự lựa chọn của người dân trong việc tiếp cận dịch vụ y tế tại khu vực nghiên cứu.

Kết cấu luận văn

Để đảm bảo nội dung của đề tài rõ ràng, liên tục và chặt chẽ, giúp người đọc dễ dàng theo dõi quy trình nghiên cứu và kết quả đạt được, đề tài được trình bày thành 5 chương chính.

Chương này tập trung trình bày các nội dung tổng quát của đề tài, bao gồm đặt vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ lý do và tính cấp thiết của đề tài Một số mục tiêu chính của nghiên cứu được xác định rõ ràng để hướng tới khai thác tối đa nội dung của đề tài Đồng thời, các câu hỏi nghiên cứu được đề ra nhằm định hướng phát triển nội dung và phương pháp nghiên cứu phù hợp Ngoài ra, chương này còn giới thiệu sơ lược về phương pháp nghiên cứu và phạm vi áp dụng, giúp độc giả hiểu rõ hơn về quy trình và lĩnh vực nghiên cứu của đề tài.

Chương 2 : Cơ sở lý luận

Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các nghiên cứu có liên quan để từ đó xây dựng khung phân tích

Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu

Chương này giới thiệu các khái niệm liên quan và quy trình chọn các biến đại diện phù hợp theo khung phân tích Đồng thời, chương trình bày mô hình nghiên cứu được lựa chọn để phù hợp với đề tài Ngoài ra, phần này cũng mô tả phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu nhằm đảm bảo tính chính xác và tin cậy của kết quả nghiên cứu.

Chương 4 : Kết quả nghiên cứu

Trong phần đầu của chương này, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh về thực trạng quá tải của ngành y tế hiện nay Tiếp đó, chúng tôi tập trung phân tích bộ dữ liệu qua các bảng thống kê mô tả nhằm đưa ra những nhận xét ban đầu về các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Phân tích ý nghĩa của các hệ số trong mô hình kết quả sau chạy mô hình hồi quy trên phần mềm Stata

Chương 5 : Kết luận và kiến nghị

Chương này tóm lược các kết quả quan trọng của đề tài và mô hình nghiên cứu, nhằm đề xuất kiến nghị tăng cường sự lựa chọn và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân tại cơ sở y tế tuyến địa phương Điều này giúp giảm tải cho các cơ sở y tế tuyến trên và nâng cao hiệu quả của hệ thống y tế Ngoài ra, chương còn đánh giá các hạn chế của đề tài để mở ra các hướng nghiên cứu sâu hơn, góp phần hoàn thiện chiến lược phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Sau cùng, phần phụ lục đƣợc đƣa vào để chứng minh cho những kết quả phân tích được trình bày trong các chương.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Lý thuyết liên quan

Nghiên cứu về hành vi của con người là lĩnh vực đa ngành liên quan đến kinh tế học, tâm lý học và xã hội học, có ứng dụng cao trong kinh doanh và ngoại giao Trong khoảng 50 năm gần đây, lĩnh vực này đã mở rộng nghiên cứu về hành vi tiêu dùng trong lĩnh vực sức khỏe và kinh tế y tế Nhiều nhà nghiên cứu đặt câu hỏi vì sao người tiêu dùng lại có những lựa chọn đặc biệt về bảo hiểm y tế và dịch vụ y tế Hiểu rõ hành vi tiêu dùng trong y tế giúp các doanh nghiệp và chính sách nhà nước đưa ra chiến lược phù hợp, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đáp ứng nhu cầu người dân một cách tối ưu.

Daniel L McFadden đã nhận giải Nobel Kinh tế năm 2000 nhờ công trình “Lý thuyết và phương pháp phân tích lựa chọn rời rạc”, dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế vi mô Theo lý thuyết của ông, mỗi cá nhân sẽ lựa chọn từ các khả năng có hạn để tối đa hóa lợi ích cá nhân Lợi ích này bao gồm sức khỏe – yếu tố rõ ràng quan sát được – cùng với phần hữu dụng không thể quan sát trực tiếp sau khi sử dụng dịch vụ y tế.

Với U ij : hữu dụng của cá nhân với lựa chọn cơ sở y tế j h ij : sức khỏe của cá nhân sau khi lựa chọn cơ sở y tế j

C ij : chi phí cá nhân khác sau lựa chọn cơ sở y tế j

Mà h ij = h 0 + Q ij (2.2) h 0 : sức khỏe cá nhân trước khi sử dụng dịch vụ y tế

Q ij : chất lƣợng dịch vụ y tế mà cá nhân i sử dụng tại cơ sở y tế j Trong đó Q khác nhau giữa mỗi cá nhân, mỗi hình thức điều trị

P i : các đặc tính cá nhân i

Điều trị tại cơ sở y tế D j phụ thuộc vào các đặc tính quan sát được của cá nhân như giới tính, tuổi tác, tôn giáo, trình độ học vấn, thu nhập, số người phụ thuộc, mối quan hệ lao động và bảo hiểm y tế Ngoài ra, các thuộc tính không thể quan sát trực tiếp, chẳng hạn như vốn xã hội của cá nhân, cũng ảnh hưởng đáng kể đến quyết định lựa chọn cơ sở y tế phù hợp.

U ij = U (P i , D j , ε ij ) Với ε ij : hữu dụng của các yếu tố không quan sát đƣợc

Viết lại dưới dạng tham số ước lượng , ta có

U ij = β pj P i + β D D j + ε ij , với β pj , β D là các tham số ƣớc lƣợng

Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

Muriithi (2013) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cơ sở y tế tại Nairobi, Kenya Dữ liệu được thu thập năm 2008 thông qua việc khảo sát các đặc điểm cá nhân như giới tính, tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, nghề nghiệp và quy mô hộ gia đình, nhằm phân tích các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ y tế của người dân địa phương.

Trong nghiên cứu về thuộc tính của cơ sở y tế, các yếu tố như khoảng cách, chất lượng dịch vụ và chi phí điều trị đóng vai trò quan trọng Phân tích bằng hồi quy Multinomial Logit (MNL) cho thấy các hệ số ước lượng khác nhau phù hợp với các lựa chọn khác nhau của người dân, trong đó có năm phương án chính gồm tự điều trị, phòng khám tư nhân, phòng khám công, bệnh viện công và bệnh viện tư nhân Mô hình được xây dựng nhằm phản ánh đúng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cơ sở y tế của người dân.

V ij = V( X i , Z j , I i ) + ε ij Với X i : các đặc tính cá nhân

Z j : các đặc tính của cơ sở y tế

Nghiên cứu này chỉ ra rằng ngoài khoảng cách địa lý, các yếu tố như giá dịch vụ y tế, giới tính, thu nhập và thông tin về chất lượng dịch vụ đều ảnh hưởng đến quyết định chăm sóc sức khỏe của người bệnh Thông tin về chất lượng dịch vụ y tế của cơ sở khám chữa bệnh đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nhu cầu sử dụng dịch vụ và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cung cấp đầy đủ thông tin chất lượng dịch vụ để nâng cao hài lòng và sự lựa chọn của người bệnh.

Kết quả mô hình MNL cho thấy rằng, khoảng cách đến cơ sở y tế và mức tăng giá dịch vụ làm tăng xác suất tự điều trị so với việc đến cơ sở y tế Chất lượng dịch vụ và mức độ tin tưởng vào cơ sở y tế ảnh hưởng tích cực đến khả năng lựa chọn đến cơ sở y tế thay vì tự điều trị Cải thiện thông tin về chất lượng dịch vụ giúp giảm khả năng tự điều trị, khuyến khích người dân đến các cơ sở y tế Giới tính cũng đóng vai trò quan trọng, với nam giới thường thích hình thức tự điều trị hơn, trong khi nữ giới ưu tiên lựa chọn cơ sở y tế Ngoài ra, trình độ học vấn cao cũng làm tăng khả năng người dân lựa chọn đến cơ sở y tế thay vì tự điều trị.

Audibert et al (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tăng thu nhập và giá dịch vụ y tế đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh tại nông thôn Trung Quốc trong hai giai đoạn: 1989-1993 và 2004-2006 Nghiên cứu sử dụng hai mô hình phân tích là Multinominal Logit và Mixed Multinominal Logit (MMNL) để phân tích dữ liệu của 2.117 người mắc bệnh năm 1989, giúp làm rõ mối liên hệ giữa các yếu tố kinh tế và quyết định lựa chọn cơ sở y tế.

Nghiên cứu này xác định rằng cần có giá của tất cả các cơ sở y tế thay thế, không chỉ của những cơ sở được cá nhân chọn lựa Để giải quyết vấn đề này, tác giả đã sử dụng chương trình Stata ICE của Royston (2004) để gán giá trị cho các cơ sở y tế thay thế Các biến như tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập và bảo hiểm được sử dụng để ước tính các giá trị thiếu về giá cả y tế Mô hình nghiên cứu dựa trên các yếu tố này nhằm đảm bảo tính chính xác và toàn diện của phân tích giá trong hệ thống y tế.

V ij : hữu dụng của cá nhân i với lựa chọn j

P j : giá chăm sóc y tế của cơ sở y tế j

D ij : khoảng cách từ cá nhân i đến cơ sở y tế j

Y i : thu nhập bình quân của cá nhân trong hộ gia đình

R i : đặc tính cá nhân khác

Mỗi cá nhân đều phải đối mặt với năm lựa chọn chăm sóc sức khỏe, bao gồm trạm y tế xã, trung tâm y tế thị trấn, bệnh viện thành phố và trung ương, các cơ sở y tế khác hoặc tự điều trị Người bệnh sẽ đưa ra quyết định dựa trên mong muốn tối đa hóa lợi ích và phù hợp với tình hình sức khỏe của mình Việc lựa chọn đúng đắn giúp đảm bảo tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp, nâng cao hiệu quả điều trị và tiết kiệm chi phí Những quyết định này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Kết quả hồi quy MMNL cho thấy khi giá dịch vụ y tế tăng, người dân đều có xu hướng giảm lựa chọn đến cơ sở y tế trong cả hai giai đoạn Tuy nhiên, trong giai đoạn 2004-2006, hồi quy MNL không cho thấy biến giá có ý nghĩa thống kê, trong khi chỉ trong giai đoạn 1989-1993, biến giá dịch vụ y tế ảnh hưởng đáng kể đến quyết định lựa chọn của người dân Ngoài ra, tuổi càng cao, cá nhân càng có xu hướng tự điều trị nhiều hơn; đồng thời, những người sống gần trung tâm thành phố cũng có khả năng chọn tự điều trị thay vì đến cơ sở y tế.

Năm 2009, Ntembe đã thực hiện khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ y tế tại Cameroon, bao gồm 10 tỉnh và 12.000 hộ gia đình, trong đó phỏng vấn được 10.922 hộ Đối tượng nghiên cứu là những người bị bệnh và tìm kiếm cơ sở khám chữa bệnh trong vòng 2 tuần trước khi phỏng vấn, với 3 lựa chọn chính: cơ sở y tế công lập, cơ sở y tế tư nhân, và tự điều trị Sử dụng phương pháp Multinominal Probit, nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình dựa trên các thông tin thu thập được như thu nhập, tuổi tác, giới tính và quy mô gia đình, nhằm phân tích lý do đằng sau sự lựa chọn của người dân và tối ưu hóa lợi ích của họ khi lựa chọn dịch vụ y tế.

Mô hình U ij = β 1j Xi + β1jZ j+ α1(-P j /Y) + α2[2ln(Y) (P j /Y)] + εij

Với U ij : hữu dụng cá nhân

X i : các đặc tính cá nhân

Z j : các đặc tính của cơ sở y tế

P j : mức giá chi trả của cá nhân cho lựa chọn j Y: thu nhập

Kết quả nghiên cứu cho thấy giá dịch vụ y tế có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định lựa chọn cơ sở y tế của người dân Bên cạnh đó, các đặc điểm cá nhân như thu nhập, trình độ giáo dục và giới tính cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định này; người có thu nhập cao hơn và trình độ giáo dục càng cao thì xu hướng lựa chọn điều trị tại các cơ sở y tế chuyên nghiệp ngày càng tăng Trong khi đó, tuổi tác không có tác động đáng kể đến các lựa chọn về dịch vụ y tế.

Nguyễn Thị Bích Thuận (2008) đã nghiên cứu về sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh sau cải cách tại Việt Nam, bằng phương pháp mô hình hồi quy logistic đa thức Nghiên cứu này nhấn mạnh các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn cơ sở y tế của người dân trong bối cảnh đổi mới hệ thống y tế Kết quả phân tích cho thấy, các yếu tố như trình độ học vấn, thu nhập, khoảng cách địa lý và chất lượng dịch vụ y tế đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định Bài viết cung cấp cái nhìn toàn diện về xu hướng lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân Việt Nam sau các cải cách y tế, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển hệ thống y tế đất nước.

Sử dụng cách lấy mẫu đa tầng với tổng số mẫu bao gồm 11.089 hộ gia đình, cứ cách

Trong nghiên cứu này, 18 hộ gia đình sẽ lấy mẫu từ 629 hộ, với sự phỏng vấn chủ hộ diễn ra từ tháng 7 năm 2001 đến tháng 6 năm 2002 Những người có thu nhập thấp thường có xu hướng tự điều trị và ít khi đến các cơ sở y tế công lập Tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế tư nhân của bệnh nhân trong nghiên cứu là 100%, trước khi đến các cơ sở công lập Ngoài ra, trình độ học vấn của bệnh nhân ảnh hưởng đáng kể đến quyết định chăm sóc sức khỏe, những người có trình độ học vấn cao hơn lại có xu hướng ít tự điều trị hơn.

Nghiên cứu của Erlyana (2008) đã khảo sát ảnh hưởng của bảo hiểm y tế đến quyết định lựa chọn cơ sở y tế của cá nhân tại Indonesia Dữ liệu được thu thập từ 39.000 người dân, cho thấy rằng mức độ tham gia bảo hiểm có tác động đáng kể đến việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh Kết quả này nhấn mạnh vai trò của bảo hiểm y tế trong việc cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và thúc đẩy sự an tâm về sức khỏe cho người dân Indonesia.

10400 hộ gia đình, tại 13 tỉnh của Indonesia Những yếu tố tác động đƣợc phân tích bằng mô hình Alternative-specific conditional logit (ASCL)

Mô hình : U ij = βZ ij + α j X ij + ε ij

U ij : hữu dụng của cá nhân i với lựa chọn cơ sở y tế j

Z ij : đặc tính của các lựa chọn thay thế

X ij : đặc tính của cá nhân, hộ gia đình

Quyết định lựa chọn dịch vụ chăm sóc y tế của các nhân, hộ gia đình và cơ sở y tế phụ thuộc vào hai nhóm đặc tính quan sát được và không quan sát được Mỗi cá nhân phải đưa ra một trong bốn lựa chọn: tự điều trị, sử dụng y tá, lựa chọn y tế tư nhân hoặc tiếp cận cơ sở y tế công Các yếu tố này ảnh hưởng lớn đến hướng đi của quyết định chăm sóc sức khỏe, giúp hiểu rõ hơn về hành vi người tiêu dùng trong lĩnh vực y tế.

Nghiên cứu cho thấy khoảng cách đến cơ sở y tế ảnh hưởng đến quyết định chọn lựa dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân, bên cạnh đó, giới tính, trình độ học vấn và thu nhập cũng đóng vai trò quan trọng Khi thu nhập tăng, xác suất lựa chọn cơ sở y tế công giảm rõ rệt, trong khi những người có trình độ đại học trở lên thường chọn cơ sở y tế tư nhân nhiều hơn Mức độ nhạy cảm với khoảng cách và giá cả dịch vụ y tế khác nhau giữa các nhóm đối tượng: người không có Bảo hiểm y tế và sống ở nông thôn bị ảnh hưởng nhiều bởi khoảng cách đến cơ sở y tế, còn người không có Bảo hiểm sống tại thành phố lại nhạy cảm hơn với giá dịch vụ y tế.

Khung nghiên cứu

- Cơ sở khám, chữa bệnh: là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp phép hoạt động và cung cấp dịch vụ KCB ( Luật Khám Chữa Bệnh, 2009)

Sơ đồ 2 1: Khung phân tích của đề tài ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN

- Vốn xã hội HÌNH THỨC ĐIỀU TRỊ

SỰ CHỌN LỰA CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc choice, nhằm tính xác suất lựa chọn của biến choice Vì các biến giải thích và biến phụ thuộc có dạng biến định danh (nominal) nhiều thuộc tính, nên không thể sử dụng mô hình logit thông thường mà phải áp dụng mô hình Multinomial Logit để thực hiện hồi quy Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, thu nhập là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh Ngoài ra, các yếu tố như giới tính, tuổi, nghề nghiệp, BHYT, và khu vực sống có tác động không giống nhau giữa các nghiên cứu, phản ánh tính phức tạp và đa dạng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ y tế.

Nguyên nhân có thể do sự khác nhau về quốc gia, dân tộc

Nghiên cứu này tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Tuy nhiên, tác giả chỉ xem xét các thuộc tính cá nhân của người dân trong mô hình nghiên cứu, do các thuộc tính của hệ thống cơ sở khám chữa bệnh Việt Nam vẫn chưa được chuẩn hóa hoặc công nhận một cách đồng bộ Mặc dù Bộ Y tế đã ban hành Bộ tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện Việt Nam trong hai năm gần đây, nhưng mới chỉ triển khai thí điểm tại một số địa phương như TP.HCM và Hà Nội (Báo cáo Bộ Y tế, 2014) Mô hình nghiên cứu này được lựa chọn dựa trên các thuộc tính cá nhân của người dân để đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực trạng hiện tại.

Với U ij : thỏa dụng của cá nhân i khi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh j

P i : các đặc tính cá nhân i

Các hình thức điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân Các tham số βpj và βD() được sử dụng để ước lượng ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến quyết định lựa chọn của cá nhân Trong đó, εij đại diện cho các yếu tố không quan sát được ảnh hưởng đến sự hữu dụng của cá nhân i khi chọn cơ sở khám chữa bệnh j, phản ánh các yếu tố cá nhân và trải nghiệm mà dữ liệu không thể đo lường trực tiếp.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mô hình

Lựa chọn cơ sở y tế chủ yếu phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân của bệnh nhân, hình thức điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh và các thuộc tính không thể quan sát bằng mắt thường của cá nhân Các yếu tố quyết định việc chọn cơ sở khám chữa bệnh bao gồm khả năng tiếp cận, chất lượng dịch vụ, uy tín và các yếu tố liên quan đến điều kiện tài chính của người bệnh Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp nâng cao hiệu quả trong quá trình lựa chọn cơ sở y tế phù hợp và đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng.

5 = Bệnh viện tuyến thành phố/ trung ƣơng

Mô hình cụ thể được viết tổng quát như trong chương 2 đã đề cập, như sau :

Với U ij : thỏa dụng của cá nhân i khi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh j

P i : các đặc tính cá nhân i

Các hình thức điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh đều ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của người bệnh, trong đó các tham số β_j và β_D đóng vai trò quan trọng trong mô hình phân tích Các yếu tố không quan sát được như ε_ij góp phần vào sở thích cá nhân của từng người, ảnh hưởng đến sự hữu dụng của từng lựa chọn Hiểu rõ các yếu tố này giúp nâng cao hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ y tế phù hợp và tối ưu hóa quá trình lựa chọn của bệnh nhân.

Mỗi cá nhân có năm lựa chọn về cơ sở khám chữa bệnh nhằm tối đa hóa lợi ích, bao gồm trạm y tế, phòng khám tư nhân, bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, và bệnh viện tuyến thành phố/trung ương Phân tích sự tác động của các yếu tố đến quyết định lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh được thực hiện bằng phương pháp hồi quy Multinomial Logit Kết quả của mô hình cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn từng loại cơ sở đều có ý nghĩa thống kê rõ ràng, giúp xác định rõ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này Hiệu ứng của các yếu tố được thể hiện qua hàm exp(Vi j1), phản ánh khả năng chọn lựa của cá nhân dựa trên các đặc điểm của từng loại cơ sở y tế.

Pi j1 exp (Vi j1) + exp (Vi j2) + exp (Vi j3)+ exp (Vi j4)+ exp (Vi j5)

Pi j : xác suất lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh j của cá nhân i

Vi j1 : Hàm thỏa dụng của cá nhân với lựa chọn trạm y tế

Vi j2 : Hàm thỏa dụng của cá nhân với lựa chọn phòng khám tƣ nhân

Vi j3 : Hàm thỏa dụng của cá nhân với lựa chọn bệnh viện huyện

Vi j4 : Hàm thỏa dụng của cá nhân với lựa chọn bệnh viện tỉnh

Vi j5 : Hàm thỏa dụng của cá nhân với lựa chọn bệnh viện tuyến thành phố/ -trung ƣơng

Vij = β 0 + β1tuoi + β2gioi + β3thunhap + β4giaoduc + β5tongiao +

+ β 6 quanhelaodong + β 7 vandesuckhoe + β 8 songuoipt + β 9 bhyt + β 10 vonxahoi + β 11 dieutringoaitru + β 12 dieutrinoitru

Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các khái niệm liên quan để làm rõ hơn về nội dung nghiên cứu Đồng thời, bài viết cũng bàn luận về các biến số được lựa chọn để sử dụng trong mô hình, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định biến phù hợp nhằm nâng cao độ chính xác và hiệu quả của mô hình phân tích Các bước lựa chọn biến số chính là yếu tố then chốt giúp tối ưu hóa kết quả và đảm bảo tính khả thi của mô hình nghiên cứu.

Các định nghĩa và lựa chọn biến

- Y tế địa phương bao gồm:

+ Y tế tuyến Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ƣơng

+ Y tế tuyến cơ sở: Phòng y tế huyện, quận, thị xã; Trạm y tế xã, phường, cơ quan, trường học

3.2.1.2 Mạng lưới y tế tổ chức theo theo thành phần kinh tế

- Cơ sở y tế Nhà nước

- Cơ sở y tế Tƣ nhân

3.2.1.3 Mạng lưới y tế tổ chức theo các lĩnh vực hoạt động :

Hệ thống khám chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng bao gồm các cơ sở y tế từ cấp địa phương đến trung ương, đảm bảo chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân Ngoài các bệnh viện công lập, còn có các cơ sở y tế của các ngành như Công an và Quốc phòng, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Hiện nay, cả nước có nhiều cơ sở y tế đa dạng, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng của cộng đồng.

Việt Nam hiện có 13.562 cơ sở khám chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng với tổng cộng 280.700 giường bệnh, chưa kể các cơ sở của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ sở điều dưỡng thương binh nặng do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý Tỷ lệ giường bệnh trung bình của cả nước là 24,96 giường/10.000 dân, theo số liệu từ Niên giám Tổng cục Thống kê năm 2013.

Nhìn chung số lƣợng cơ sở y tế tăng lên phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân

Bảng 3 1 Số lƣợng cơ sở khám chữa bệnh tại Việt Nam

Phòng khám đa khoa khu vực 631 636

Bệnh viện điều dƣỡng và phục hồi chức năng 59 60

Trạm y tế của cơ quan, xí nghiệp 710 710

Nguồn : Niên giám Tổng cục thống kê 2013(chưa kể cơ sở tư nhân)

Y tế dự phòng và y tế công cộng đóng vai trò quan trọng từ trung ương đến địa phương, bao gồm các viện trung ương, viện khu vực, phân viện và trung tâm y tế dự phòng Ngoài ra, các trung tâm y tế ngành như công nghiệp, giao thông, xây dựng, nông nghiệp và bưu điện cũng tham gia vào công tác phòng chống dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Hình 3 1 Sơ đồ hệ thống y tế dự phòng Việt Nam

- Đào tạo nhân lực y tế : Bao gồm các trường đào tạo nhân lực y tế cả nước

- Thêm vào là các lĩnh vực : giám định, kiểm định, kiểm nghiệm, dƣợc, thiết bị y tế, giáo dục truyền thông và chính sách y tế

3.2.1.4 Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh :

- Là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh

Hình 3 2 Sơ đồ tổ chức hệ thống cơ sở y tế Việt Nam 3.2.1.5 Mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế :

Chia làm 3 cấp bậc là cách tổ chức hệ thống y tế hiệu quả và phù hợp với thực trạng hiện nay của Việt Nam Việt Nam xây dựng mạng lưới y tế theo mô hình quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Mục tiêu chính là phát triển hệ thống chuyển tuyến rõ ràng, giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và tối ưu hóa việc chăm sóc sức khỏe toàn diện cho cộng đồng.

Hình 3 3 Nhu cầu KCB, mô hình chuyển tuyến và cơ cấu tổ chức KCB hiện nay ở Việt Nam

3.2.2 Hình thức điều trị 3.2.2.1 Điều trị nội trú được thực hiện trong các trường hợp :

- Có chỉ định điều trị nội trú của người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

- Có giấy chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác

3.2.2.2 Điều trị ngoại trú được thực hiện trong các trường hợp:

- Người bệnh không cần điều trị nội trú;

- Người bệnh sau khi đã điều trị nội trú ổn định nhưng phải theo dõi và điều trị tiếp sau khi ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Quan hệ lao động phát sinh từ quá trình thuê mướn, sử dụng lao động và trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động Trong khảo sát này, những người có hợp đồng lao động và các ràng buộc về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội được xác định là có quan hệ lao động Điều này giúp phân loại rõ ràng các đối tượng tham gia vào thị trường lao động, đảm bảo quyền lợi và pháp lý cho người lao động.

Vốn xã hội được các nghiên cứu quốc tế mô tả như là các mối quan hệ cá nhân trong xã hội, đóng vai trò là nền tảng thúc đẩy sự phát triển cộng đồng (Yli-Renko, Autio & Sapienza, 2001) Nó liên quan đến các mạng lưới xã hội bền vững, góp phần xây dựng sự tin cậy và hợp tác giữa các thành viên trong xã hội (Bourdieu, 1986) Vốn xã hội thường hình thành từ các mối quan hệ trong gia đình, bạn bè, hàng xóm và các tổ chức đoàn thể, góp phần tạo nên sự gắn kết cộng đồng vững chắc (Coleman, 1988) Theo quan điểm của Fukuyama, vốn xã hội là yếu tố then chốt quyết định khả năng hợp tác và phát triển kinh tế của xã hội.

Vốn xã hội, theo nghiên cứu của 2002, được cá nhân tạo ra và sử dụng để phục vụ mục đích cá nhân, trong khi Portes (1998) khẳng định rằng cá nhân có thể thu lợi ích từ việc sử dụng vốn xã hội Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào yếu tố quen biết và người thân của các đối tượng khảo sát làm việc trong các cơ sở khám chữa bệnh Nếu có sự quen biết hoặc mối quan hệ thân thiết, biến vốn xã hội sẽ được giá trị hóa bằng 1, phản ánh sự hiện diện của vốn xã hội trong các mối liên kết xã hội này.

Các biến đặc điểm của người được phỏng vấn như giới tính, tôn giáo và quan hệ lao động đều là biến giả, có giá trị 0 và 1 Cụ thể, nếu người dân là nam, biến giới tính sẽ có giá trị là 1; nếu người được phỏng vấn theo đạo Phật, Công giáo hoặc Cao đài, biến tôn giáo sẽ mang giá trị là 1; và nếu đối tượng là người lao động có quan hệ lao động, biến quan hệ lao động sẽ có giá trị là 1. -Tối ưu bài viết về biến giả trong phỏng vấn với [Draft Alpha](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha) – công cụ tạo nội dung chuẩn SEO nhanh chóng và chính xác!

Bảng 3 2 Thông tin nguồn dữ liệu đƣợc trích lọc

Gioi Giới tính người được phỏng vấn,: dummy , 1= nam

Người được phỏng vấn có tuổi đời phù hợp với đặc điểm của nhóm lao động, với số năm đi học trung bình đủ để đáp ứng yêu cầu công việc Thu nhập bình quân hàng tháng của họ dao động trong khoảng triệu đồng, phản ánh khả năng kiếm sống ổn định Thông tin về tôn giáo của người lao động cho thấy sự đa dạng, với các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo và Cao đài hiện diện trong cộng đồng Khoảng một phần lớn người lao động có hợp đồng lao động rõ ràng, đảm bảo quyền lợi và sự ổn định về công việc Ngoài ra, vấn đề sức khỏe được quan tâm, thể hiện qua các yếu tố về sức khỏe phù hợp hoặc các dịch vụ chăm sóc sức khỏe được sử dụng bởi người dân.

Sự bất thường về sức khỏe cần được giải quyết kịp thời, vì nó liên quan đến cảm giác không thoải mái của cơ thể về mặt vật chất, tinh thần và xã hội Trong khảo sát, số người có trách nhiệm nuôi dưỡng có bảo hiểm y tế (BHYT) là đáng kể, phản ánh tầm quan trọng của hệ thống bảo hiểm trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng Vốn xã hội, như sự tham gia vào các hoạt động cộng đồng, cũng góp phần nâng cao hiệu quả điều trị Các hình thức điều trị ngoại trú và nội trú đều được ghi nhận, cho thấy các dịch vụ y tế đa dạng và đáp ứng tốt nhu cầu của bệnh nhân Cơ sở y tế có cơ sở chẩn đoán rõ ràng là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng chăm sóc sức khỏe.

Trong quá trình lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh, người dân có thể lựa chọn từ nhiều địa điểm khác nhau như Trạm y tế, phòng khám tư nhân, bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, bệnh viện thành phố hoặc các cơ sở y tế trung ương Mỗi lựa chọn phù hợp với mức độ cần thiết và dịch vụ y tế mong muốn, từ đó đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho cộng đồng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - THỰC TRẠNG QUÁ TẢI TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ TUYẾN TRÊN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH

Quá tải và các nguyên nhân

Trong những năm gần đây, mô hình bệnh tật tại Việt Nam đã chuyển dịch từ các bệnh truyền nhiễm, vấn đề sức khỏe bà mẹ, rối loạn dinh dưỡng sang nhóm bệnh không lây nhiễm (BKLN) Các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư gây ra gánh nặng lớn về tử vong sớm và chi phí điều trị cao, trong khi một số bệnh như xương khớp, tâm thần lại ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống do diễn tiến kéo dài và gây đau đớn, bất tiện Sự gia tăng các bệnh BKLN không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn góp phần làm quá tải hệ thống y tế Việt Nam, gây áp lực lớn đối với các cơ sở khám chữa bệnh.

Hình 4 1 Xu hướng mô hình bệnh tật đo lường bằng DALY, 1990 -2010

DALY (Disability-Adjusted Life Years) is a comprehensive measure that combines Years of Life Lost (YLL) due to premature death and Years Lived with Disability (YLD) caused by health conditions This metric effectively quantifies the overall burden of disease by accounting for both mortality and morbidity Understanding DALY helps in prioritizing healthcare interventions and improving health policies It reflects the total number of years lost due to ill health, disability, or early death, providing a holistic view of public health impacts.

Hình 4 2 Gánh nặng bệnh tật của các nhóm bệnh không lây nhiễm , 2010

Theo khảo sát của Cục Quản lý Khám chữa bệnh tháng 5/2014, hiện nay tình trạng quá tải chủ yếu tập trung tại các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế như Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Phụ sản trung ương, Bệnh viện Ung bướu trung ương, Bệnh viện Nhi trung ương, Bệnh viện Bạch Mai, cùng một số bệnh viện tuyến cuối của Sở Y tế TP.HCM như Bệnh viện Ung bướu, Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Nhi Ngoài ra, quá tải đặc biệt tập trung trong 5 chuyên khoa: ung bướu, tim mạch, ngoại chấn thương, sản và nhi, ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ y tế Công suất sử dụng giường tại các bệnh viện này hiện vẫn duy trì mức cao 120%, trong khi mức trung bình chung của các tuyến là 99,2% (JAHR 2013), gây ra sự chen chúc tại các khoa khám bệnh khi nhu cầu quá cao.

Hình 4 3 Xu hướng cơ cấu số lượt khám chữa bệnh theo nhóm bệnh, 2010

Nguồn : Bộ Y tế, Niên giám thống kê y tế 2010

Tuy nhiên số người tử vong do nhóm BKLN lại cao nhất trong các nhóm bệnh

Khiến người dân có tâm lý xấu khi được báo tin là mắc các bệnh thuộc nhóm BKLN

Hình 4 4 Nguyên nhân tử vong trong nhóm người sử dụng dịch vụ y tế, 1986-

Nguồn : Bộ Y tế, Niên giám thống kê y tế 2010

Khi nền kinh tế phát triển và thu nhập gia tăng, đời sống cá nhân được cải thiện, nhưng đồng thời cũng kéo theo các vấn đề về ô nhiễm môi trường và bệnh tật Dinh dưỡng hàng ngày trở nên đáng lo ngại do sự xuất hiện của nhiều loại hóa chất thực phẩm không an toàn, trong khi chế độ ăn uống không lành mạnh làm tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm Với thu nhập tăng, người dân có xu hướng đến các cơ sở y tế cao hơn để khám chữa bệnh, mặc dù nhiều vấn đề sức khỏe không cần cấp cứu có thể dễ dàng xử lý tại y tế địa phương Theo số liệu tại Bệnh viện Phụ sản trung ương, có đến 66% số ca nhập viện là các bệnh có thể điều trị tại tuyến y tế cơ sở, cho thấy khả năng xử lý các bệnh này còn chưa được khai thác triệt để tại tuyến dưới.

Theo khảo sát, có đến 55.8% người bệnh bỏ qua y tế ban đầu để chọn khám chữa bệnh tại các bệnh viện tuyến tỉnh Đồng thời, tỷ lệ người bệnh trực tiếp đến các bệnh viện đa khoa tuyến trung ương để điều trị chiếm đến 59.4%, phản ánh xu hướng lựa chọn cơ sở y tế phù hợp với cấp độ chăm sóc sức khỏe của người dân.

Chi phí vượt tuyến ngoại tỉnh năm 2014 tại Bến Tre là 149.077.764.953 đồng, gây ảnh hưởng lớn đến ngân sách BHYT của tỉnh và tạo khó khăn trong phân bổ nguồn lực y tế nội tỉnh Dù công suất sử dụng giường tại bệnh viện tỉnh đạt khoảng 110%, riêng tại Thạnh Phú, tỷ lệ này là 90.1%, phản ánh khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực y tế địa phương Trong năm đó, số lượt khám chữa bệnh tại bệnh viện huyện Thạnh Phú là 221.829 lượt,Chiếm tỷ lệ lớn so với tổng số lượt khám của toàn tỉnh là 2.691.571 lượt, thể hiện tầm quan trọng của hệ thống y tế tại Thạnh Phú Hệ thống y tế của Thạnh Phú gồm bệnh viện đa khoa huyện, phòng khám ĐKKV Tân Phong và 100% trạm y tế tại 17 xã và 1 thị trấn, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Mô tả mẫu nghiên cứu

Trước khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh, chúng ta khảo sát đặc điểm của 300 người dân tại Thị Trấn Thạnh Phú, Bến Tre Việc nắm bắt các đặc điểm này giúp hiểu rõ hơn về nhu cầu và hành vi chăm sóc sức khỏe của cộng đồng địa phương Thông tin từ khảo sát cung cấp cái nhìn toàn diện để xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự quyết định chọn cơ sở y tế phù hợp.

Về tuổi tác, những người được khảo sát có tuổi từ 18 đến 72, với độ tuổi trung bình là 39,4 tuổi Đơn vị tính : %

Hình 4 5 Phân bố độ tuổi của người dân trong nghiên cứu

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Trong khảo sát này, tỷ lệ giới tính cho thấy sự chênh lệch nhỏ nhưng rõ ràng, với tỷ lệ nữ chiếm 50,33%, cao hơn so với tỷ lệ nam là 49,67% Đây cho thấy phụ nữ chiếm đa số trong dữ liệu khảo sát, phản ánh xu hướng giới tính khá cân đối nhưng nghiêng về phía nữ.

Hình 4 6 Tỉ lệ nam, nữ trong nghiên cứu

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Trong khảo sát, tỷ lệ người dân có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm đến 52,7%, thể hiện sự nhận thức rõ về tầm quan trọng của giáo dục trong cuộc sống Ngược lại, chỉ có 11% người học từ lớp 5 trở xuống, cho thấy sự nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục của cộng đồng Điều này phản ánh kết quả tích cực từ các chương trình phổ cập giáo dục quốc gia và phong trào xây dựng nông thôn mới trong điều kiện kinh tế mới.

Bảng 4 1 Trình độ học vấn của người dân

Giáo dục Số lƣợng Tỉ lệ(%)

Từ lớp 6 đến lớp 12 Cao đẳng, Đại học, Sau đại học

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Thu nhập của người dân địa phương đã tăng đáng kể, trung bình 5 triệu đồng mỗi tháng, vượt xa mức trung bình tỉnh là 2,6 triệu đồng (Báo cáo UBND tỉnh Bến Tre, 2014) Sự gia tăng này có tác động lớn đến việc người dân ưu tiên lựa chọn các cơ sở y tế tuyến trên, bỏ qua các tuyến y tế địa phương Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chỉ có khoảng 30% số người có thu nhập từ 5 triệu trở lên, trong khi 17,67% vẫn còn có thu nhập thấp hơn trung bình của tỉnh, cho thấy phân bổ thu nhập chưa đồng đều trong cộng đồng.

Hình 4 7 Thu nhập của người dân trong nghiên cứu

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Trong những năm qua, công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn huyện đã duy trì sự ổn định Đề án 52 về kiểm soát dân số vùng biển, đảo và ven biển đã nâng cao nhận thức của người dân ven biển về DS-KHHGĐ, góp phần giảm số lượng thành viên còn sống phụ thuộc vào gia đình trung bình gần 2 người, giúp đảm bảo cuộc sống gia đình tốt hơn.

Bảng 4 2 Số người phụ thuộc của mỗi cá nhân trong nghiên cứu

Số người phụ thuộc Số người phỏng vấn Tỉ lệ (%)

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Tỉ lệ giữa những người có theo đạo và không lần lượt là 55,33% và 44,67%

Bảng 4 3 Tỉ lệ tôn giáo của người dân

Tôn giáo Số lƣợng Tỉ lệ(%)

Có theo đạo Phật, Công giáo, Cao đài Không theo đạo Phật, Công giáo, Cao đài

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Trong khảo sát với 300 người, có đến 64% là lao động tự do bao gồm nông dân, ngư dân, người giúp việc gia đình, lao động tự làm và làm thuê Chỉ 36% trong số này có quan hệ lao động chính thức với hợp đồng lao động, đảm bảo các quyền lợi về BHYT và BHXH Tuy nhiên, tỷ lệ người có BHYT lại khá thấp, chỉ khoảng 20.67%, có khả năng là do một số nhân viên mới ký hợp đồng nhưng chưa có thẻ BHYT.

Hình 4 8 Quan hệ lao động và BHYT của người dân trong nghiên cứu

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Người ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của cộng đồng đối với sự phát triển cá nhân, cũng như sự đóng góp tích cực của từng cá nhân trong cộng đồng, đặc biệt trong các mối quan hệ họ hàng và làng xóm Theo quan điểm của Portes, các mối liên kết xã hội này góp phần xây dựng môi trường sống gắn kết và thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng Nhờ sự hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng, mỗi cá nhân có cơ hội phát triển toàn diện hơn, đồng thời góp phần thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng chung.

Vốn xã hội là khả năng của cá nhân tìm kiếm lợi ích thông qua thành viên trong các mạng lưới xã hội hoặc cấu trúc xã hội Putnam (2000) định nghĩa vốn xã hội bao gồm các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực quan hệ trao đổi, và sự tin cậy, ảnh hưởng đến quyết định cá nhân trong việc chọn lựa nơi khám chữa bệnh Trong khảo sát này, gần 36% người được phỏng vấn sở hữu vốn xã hội, và chúng tôi sẽ phân tích ảnh hưởng của vốn xã hội đến hành vi và quyết định của họ trong phần sau.

BHYT Quan hệ lao động Đơn vị tính : %

Hình 4 9 Vốn xã hội của người dân được khảo sát

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Về tỉ lệ điều trị ngoại trú là 62,33% cao hơn so với điều trị nội trú 53,33% Đơn vị tính : %

Hình 4 10 Hình thức điều trị của người dân được khảo sát

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Vốn xã hội Điều trị nội trú Điều trị ngoại trú

Trong nghiên cứu này, nguyên nhân người dân đến các cơ sở khám chữa bệnh phù hợp với tình hình dịch bệnh tại huyện Thạnh Phú (Đặng Ngọc Chánh), thể hiện rõ nhu cầu chăm sóc sức khỏe theo đặc điểm bệnh lý địa phương Sức khỏe cộng đồng tại Thạnh Phú có xu hướng tập trung vào các vấn đề hiện có, phản ánh sự phù hợp giữa các dịch vụ y tế và các nhu cầu bệnh nhân nơi đây Các yếu tố về tình hình bệnh lý địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hoạt động khám chữa bệnh, giúp nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Bảng 4 4 Vấn đề sức khỏe của người dân

Trong tổng số người surveyed, số mắc các vấn đề về sức khỏe khá đa dạng, nổi bật với các vấn đề về cảm số lượng 124 người chiếm tỷ lệ 41.3% Các vấn đề da liễu có mặt trong cuộc khảo sát với 4 người (1.3%), trong khi các vấn đề về đau đầu được ghi nhận ở 20 người (6.7%) Gai cột sống, gan, giảm trí nhớ, gout và hiếm muộn đều có số mắc rất thấp, mỗi vấn đề từ 1 đến 3 người, chiếm tỷ lệ từ 0.3% đến 1% Các vấn đề về hô hấp (14 người, 4.7%), huyết áp (22 người, 7.3%), khớp (38 người, 12.7%), mắt (3 người, 1.0%) và nhức mỏi (17 người, 5.7%) cũng là những vấn đề phổ biến cần chú ý.

Theo dữ liệu mới nhất, các vấn đề về sức khỏe phổ biến nhất bao gồm các bệnh phụ khoa với tỷ lệ 2.3%, rối loạn tiêu hóa chiếm 1.3%, và sốt là tương đối cao với 6.0% Các vấn đề về tai mũi họng và thoát vị đĩa đệm cũng ghi nhận tỷ lệ đều là 1.3% và 2.3% tương ứng Ngoài ra, các bệnh liên quan đến thận, tiết niệu, tim mạch và yếu sinh lý khá hiếm gặp, với tỷ lệ lần lượt chỉ từ 0.3% đến 0.7% Các trường hợp tai nạn và viêm dạ dày cũng chiếm tỷ lệ lần lượt là 0.3% và 1.7%, cho thấy việc chăm sóc sức khỏe cần được chú trọng hơn để phòng ngừa các vấn đề phổ biến này.

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Chuyên gia đã phân tích mối quan hệ giữa các biến số và quyết định lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Nghiên cứu này giúp hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chọn lựa dịch vụ y tế, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe địa phương Kết quả cho thấy các yếu tố như chất lượng dịch vụ, khoảng cách đến cơ sở y tế và mức độ hài lòng đóng vai trò quyết định trong quyết định của người dân Điều này giúp các nhà quản lý y tế có thể tối ưu hóa hệ thống chăm sóc sức khỏe, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng.

Bảng 4 5 Thống kê lựa chọn cơ sở y tế

Lựa chọn Số quan sát Tỉ lệ %

Bệnh viện tuyến thành phố/ trung ƣơng

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Bệnh viện tỉnh là địa điểm được cá nhân lựa chọn nhiều nhất với tỷ lệ 70,33%, thể hiện sự tin tưởng cao của người dân vào chất lượng dịch vụ tại đây Trạm y tế đứng thứ hai với tỷ lệ lựa chọn 18%, phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu của cộng đồng Phòng khám tư nhân chiếm 5%, phản ánh sự phát triển của các dịch vụ y tế tư nhân tại địa phương Bệnh viện huyện được chọn với tỷ lệ 3,67%, còn bệnh viện tuyến thành phố trung ương chiếm tỷ lệ thấp nhất là 3%, cho thấy mức độ chú trọng và lựa chọn dịch vụ y tế phù hợp với nhu cầu của người dân.

Nghiên cứu cho thấy, người dân thường lựa chọn các cơ sở khám chữa bệnh không dựa trên tính chất của bệnh Nhiều trường hợp, người dân có các vấn đề có thể điều trị tại cơ sở y tế ban đầu như cảm, rối loạn tiêu hóa, sốt nhưng lại chọn các cơ sở tuyến trên Việc này phản ánh xu hướng không tối ưu trong việc lựa chọn dịch vụ y tế phù hợp với mức độ bệnh tật.

Bảng 4 6 Vấn đề sức khỏe và sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân

Vấn đề sức khỏe Cơ sở khám chữa bệnh

1 2 3 4 5 Tổng cộng cảm 25 5 4 88 2 124 da liễu 0 0 0 3 1 4 đau đầu 1 2 1 16 0 20 gai cột sống 1 0 1 6 0 8

Bệnh gout, đau khớp, nhức mỏi là các vấn đề phổ biến gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Các vấn đề về hiếm muộn, yếu sinh lý cũng đang ngày càng được quan tâm do tác động lớn đến đời sống sinh hoạt của người dân Các bệnh về hệ hô hấp như viêm phổi, cảm lạnh gây ra sốt và gây khó thở Bệnh liên quan đến huyết áp, tim mạch, cũng như các vấn đề về mắt, tai mũi họng đòi hỏi sự chú ý và điều trị kịp thời Các bệnh phụ khoa, rối loạn tiêu hóa, sốt, tai nạn và các vấn đề về tiết niệu, thận hay viêm dạ dày là những căn bệnh thường gặp, ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe người bệnh.

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Bảng 4 7 Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh theo giới tính

Lựa chọn Nam Nữ Tổng

Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của 300 người dân tại Thị Trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

Việc chỉ mô tả mối quan hệ giữa các biến với sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh là chưa đủ để đánh giá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người dân Tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy Multinomial Logit để phân tích, trong đó các yếu tố (biến độc lập) được liên kết với xác suất lựa chọn từng phương án so với phương án cơ sở là Trạm y tế Kết quả với giá trị Pro>chi2 = 0.000 cho thấy mô hình Multinomial Logit sử dụng có ý nghĩa thống kê cao, phù hợp để dự đoán các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân.

Nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích với mỗi cơ sở khám chữa bệnh: Đối với phòng khám tƣ nhân :

Giới, tuổi và thu nhập không ảnh hưởng đáng kể đến quyết định lựa chọn giữa Trạm y tế và phòng khám tư nhân, với các giá trị p-value lần lượt là 0,427, 0,501 và 0,104 đều lớn hơn 0,05, cho thấy không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, khi số năm đi học và số người phụ thuộc ngày càng tăng, người dân có xu hướng ưu tiên lựa chọn Trạm y tế nhiều hơn so với phòng khám tư nhân Những người có tôn giáo, lao động hợp đồng hoặc quen biết trong ngành y tế cũng có xác suất cao hơn để chọn Trạm y tế Trong khi đó, những người có Bảo hiểm y tế hoặc đang điều trị nội trú thường thích chọn phòng khám tư nhân hơn Trạm y tế, còn khi về điều trị ngoại trú, người dân lại có xu hướng lựa chọn Trạm y tế nhiều hơn.

Với phương án chọn bệnh viện huyện:

Dựa trên dữ liệu phân tích, P-value > 0.05 cho thấy các đặc điểm như giới tính, tuổi, tôn giáo, điều trị ngoại trú và điều trị nội trú không ảnh hưởng đến xác suất lựa chọn giữa trạm y tế và bệnh viện huyện Tuy nhiên, các yếu tố như trình độ giáo dục, số người phụ thuộc, quan hệ lao động và vốn xã hội làm tăng khả năng người dân chọn trạm y tế Trong khi đó, khi thu nhập tăng cao, người dân có xu hướng lựa chọn bệnh viện huyện nhiều hơn so với trạm y tế Ngoài ra, sở hữu bảo hiểm y tế (BHYT) cũng làm tăng khả năng cá nhân chọn bệnh viện huyện thay vì trạm y tế.

Trong lựa chọn bệnh viện tỉnh, giới tính, tuổi tác và tôn giáo không có ảnh hưởng đáng kể theo thống kê (p-value > 0.05), cho thấy những yếu tố này không tác động rõ ràng đến quyết định lựa chọn giữa bệnh viện tỉnh và trạm y tế Khi trình độ học vấn tăng, người lao động có hợp đồng lao động hợp pháp, nhiều người phụ thuộc hoặc quen biết trong cơ sở y tế thường có xu hướng chọn trạm y tế nhiều hơn, trong khi đó, thu nhập cao hơn và bảo hiểm y tế (BHYT) lại khiến người dân có xu hướng chọn bệnh viện tỉnh Đặc biệt, trong trường hợp điều trị ngoại trú, người dân thường lựa chọn trạm y tế, còn đối với điều trị nội trú, họ có xu hướng ưu tiên bệnh viện tỉnh hơn.

Nếu chọn bệnh viện thành phố/ trung ƣơng :

Tuổi tác, giáo dục, tôn giáo và vốn xã hội không ảnh hưởng đáng kể đến quyết định chọn khám tại bệnh viện thành phố/trung ương hay trạm y tế, tuy nhiên giới tính lại đóng vai trò quan trọng, khi nam giới có xu hướng chọn bệnh viện lớn hơn Người có thu nhập cao, sở hữu bảo hiểm y tế và cần điều trị nội trú thường ưu tiên lựa chọn bệnh viện trung ương hoặc thành phố, trong khi đó, các cá nhân có nhiều người phụ thuộc hoặc phải điều trị ngoại trú lại có xu hướng chọn trạm y tế nhiều hơn.

Kết quả kiểm định giả thuyết cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh giữa các biến độc lập, xác nhận rằng các yếu tố này không ảnh hưởng đến quyết định của người dân Phân tích thống kê cho thấy p-value vượt ngưỡng ý nghĩa, kết luận rằng các yếu tố độc lập không có tác động đáng kể đến hành vi chọn cơ sở y tế Điều này cho thấy rằng các chiến lược cải thiện dịch vụ y tế cần được xem xét dựa trên nhiều yếu tố khác ngoài các biến đã khảo sát Các kết quả này cung cấp cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách trong việc tối ưu hóa hệ thống chăm sóc sức khỏe phù hợp với thực tế người dân.

Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh giữa nam và nữ, trong đó nam giới thường lựa chọn các bệnh viện tỉnh hoặc trung ương, còn phụ nữ có xu hướng chọn trạm y tế nhiều hơn Ngoài ra, trình độ giáo dục và thu nhập cũng ảnh hưởng đáng kể đến quyết định chọn cơ sở y tế; những người có quan hệ lao động thường xuyên khám chữa bệnh tại trạm y tế hơn, trong khi người có hợp đồng lao động tại bệnh viện tỉnh lại ít hơn so với người lao động tự do Nguyên nhân có thể là do người lao động có quan hệ lao động ngại đi xa để tránh ảnh hưởng đến hợp đồng công việc của mình.

Có sự khác biệt rõ rệt trong việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh dựa trên số người phụ thuộc của cá nhân Những người có nhiều người phụ thuộc thường ưu tiên chọn các cơ sở y tế tại địa phương, nhằm giảm thiểu các khoản chi phí phát sinh ngoài chi phí y tế như đi lại và thời gian di chuyển Việc này giúp họ tiết kiệm chi phí và thuận tiện hơn trong quá trình chăm sóc sức khỏe cho cả gia đình.

Người có Bảo hiểm Y tế (BHYT) thường lựa chọn bệnh viện thành phố hoặc trung ương nhiều hơn so với người không có BHYT Điều này diễn ra vì khi có BHYT, người dân được hưởng quyền lợi đồng chi trả cho các dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện tỉnh, thành phố hoặc trung ương theo quy định của bảo hiểm Việc này giúp giảm thiểu chi phí và tạo thuận lợi trong việc tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao.

Người quen biết với nhân viên y tế thường có xu hướng chọn các cơ sở khám chữa bệnh phù hợp với mức độ bệnh và tình trạng sức khỏe Người dân thường chọn bệnh viện tỉnh là cao nhất, tiếp theo là trạm y tế, vì nhân viên y tế có thể nhận định chính xác tình trạng bệnh, khuyên điều trị tại địa phương nếu bệnh nhẹ để tránh quá tải tại các bệnh viện lớn Trong điều trị nội trú, người dân ưu tiên chọn các bệnh viện tuyến tỉnh trở lên do quan niệm rằng nằm viện biểu thị bệnh nặng hơn và cần đến cơ sở lớn có bác sĩ giỏi, máy móc hiện đại và nhiều kinh nghiệm; đồng thời, với người có bảo hiểm y tế, nội trú được đồng chi trả theo quy định Trong khi đó, lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh để điều trị ngoại trú lại có những khác biệt, phù hợp với mức độ bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của từng người.

Sau khi Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2014 có hiệu lực, người dân điều trị ngoại trú vượt tuyến sẽ không được BHYT chi trả, chỉ áp dụng đúng tuyến hoặc thu phí Do đó, người có BHYT cần cân nhắc kỹ lưỡng khi chọn cơ sở khám chữa bệnh để tránh mất quyền lợi khi điều trị ngoại trú vượt tuyến.

Kết hợp với việc dự báo tỉ lệ lựa chọn các cơ sở khám chữa bệnh cho khảo sát , ta thấy: predict p1 p2 p3 p4 p5, pr sum p1 p2 p3 p4 p5

Variable Obs Mean Std Dev Min Max p1 300 0.180 0.312 2.79e-07 0.999 p2 300 0.050 0.112 3.73e-07 0.828 p3 300 0.037 0.1 1.2e-05 0.690 p4 300 0.703 0.314 1.8e-04 0.980 p5 300 0.030 0.075 2.49e-08 0.504

Khả năng người dân lựa chọn bệnh viện tỉnh là cao nhất, chiếm tỷ lệ 70,3%, cho thấy ưu tiên của họ là tiếp cận dịch vụ y tế tại bệnh viện tỉnh Ngược lại, tỷ lệ chọn bệnh viện thành phố hoặc trung ương rất thấp, chỉ khoảng 3%, phản ánh xu hướng ưa chuộng các cơ sở y tế địa phương hơn Điều này cho thấy sự phân bổ ưu tiên rõ ràng của người dân giữa các loại bệnh viện trong hệ thống y tế.

Thực hiện lệnh mfx, predict(pr outcome(4))

Các yếu tố bảo hiểm y tế, số người phụ thuộc, quan hệ lao động, thu nhập và giáo dục đều có ý nghĩa thống kê với xác suất lựa chọn bệnh viện tỉnh (P < 0.05) Cụ thể, mỗi năm tăng học vấn giúp giảm 1.3% khả năng chọn bệnh viên tỉnh Tăng thu nhập một đơn vị làm tăng xác suất chọn bệnh viện tỉnh thêm 1.7% Thay đổi quan hệ lao động từ không sang có giảm 27.1% khả năng lựa chọn bệnh viện tỉnh Thêm một người phụ thuộc làm giảm xác suất chọn bệnh viện tỉnh 3.6% Trong khi đó, nếu mua bảo hiểm y tế thay vì không, khả năng chọn bệnh viện tỉnh lại tăng 8.6%.

Bhyt 0.086 0.035 2.48 0.013 0.018 0.153 0.207 songuoipt -0.036 0.016 -2.24 0.025 -0.068 -0.004 1.843 quanhelaodong -0.271 0.093 -2.93 0.003 -0.453 -0.089 0.36 tongiao 0.001 0.027 0.06 0.95 -0.051 0.054 0.553 thunhap 0.017 0.006 2.78 0.005 0.005 0.029 5.096 giaoduc -0.013 0.005 -2.48 0.013 -0.024 -0.003 11.96 tuoi -0.2e-03 0.001 -0.18 0.855 -0.003 0.002 39.427

(*) dy/dx is for discrete change of dummy variable from 0 to 1

Bảng tương tác hai chiều giữa vấn đề sức khỏe và cơ sở khám chữa bệnh cho thấy hiện tượng quá tải tại các Bệnh viện tỉnh với các bệnh có thể điều trị tại Trạm y tế Điều này đặt ra câu hỏi về khả năng giải quyết vấn đề quá tải này như thế nào Tác giả đã tiến hành hồi quy dựa trên biến lựa chọn là Trạm y tế để phân tích các yếu tố ảnh hưởng và tìm ra giải pháp thích hợp.

Thực hiện thêm lệnh mfx, predict(pr outcome(1)) Marginal effects after mlogit y = Pr(cosokcbluachon==1) (predict, pr outcome(1)) = 029 variable dy/dx Std Err z P>z

Bhyt -0.085 0.029 -2.89 0.004 -0.143 -0.028 0.207 songuoipt 0.035 0.014 2.46 0.014 0.007 0.064 1.843 quanhelaodong 0.274 0.092 2.98 0.003 0.094 0.455 0.36 tongiao 0.019 0.018 1.05 0.294 -0.016 0.054 0.553 thunhap -0.014 0.005 -2.53 0.012 -0.025 -0.003 5.096 giaoduc 0.013 0.005 2.62 0.009 0.003 0.023 11.96 tuoi 0.6e-03 0.9e-03 0.21 0.835 -0.002 0.002 39.427

Gioi -0.016 0.018 -0.91 0.365 -0.051 0.019 0.496 (*) dy/dx is for discrete change of dummy variable from 0 to 1

Các yếu tố như điều trị nội trú, vốn xã hội, bảo hiểm y tế, số người phụ thuộc, quan hệ lao động, thu nhập và trình độ giáo dục đều có ý nghĩa thống kê với lựa chọn sử dụng dịch vụ y tế Đặc biệt, mỗi năm bổ sung trình độ học vấn giúp tăng 1,3% khả năng người dân lựa chọn trạm y tế để khám chữa bệnh.

Ngày đăng: 15/08/2023, 14:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2. 1: Khung phân tích của đề tài - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Sơ đồ 2. 1: Khung phân tích của đề tài (Trang 22)
Hình 3. 1 Sơ đồ hệ thống y tế dự phòng Việt Nam - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 3. 1 Sơ đồ hệ thống y tế dự phòng Việt Nam (Trang 28)
Hình 3. 2 Sơ đồ tổ chức hệ thống cơ sở y tế Việt Nam  3.2.1.5 Mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế : - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 3. 2 Sơ đồ tổ chức hệ thống cơ sở y tế Việt Nam 3.2.1.5 Mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế : (Trang 29)
Hình 3. 3 Nhu cầu KCB, mô hình chuyển tuyến và cơ cấu tổ chức KCB hiện nay ở  Việt Nam - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 3. 3 Nhu cầu KCB, mô hình chuyển tuyến và cơ cấu tổ chức KCB hiện nay ở Việt Nam (Trang 30)
Bảng 3. 2 Thông tin nguồn dữ liệu đƣợc trích lọc - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Bảng 3. 2 Thông tin nguồn dữ liệu đƣợc trích lọc (Trang 32)
Hình 4. 1 Xu hướng mô hình bệnh tật đo lường bằng DALY, 1990 -2010 - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 4. 1 Xu hướng mô hình bệnh tật đo lường bằng DALY, 1990 -2010 (Trang 36)
Hình 4. 2 Gánh nặng bệnh tật của các nhóm bệnh không lây nhiễm , 2010 - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 4. 2 Gánh nặng bệnh tật của các nhóm bệnh không lây nhiễm , 2010 (Trang 36)
Hình 4. 3 Xu hướng cơ cấu số lượt khám chữa bệnh theo nhóm bệnh, 2010 - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 4. 3 Xu hướng cơ cấu số lượt khám chữa bệnh theo nhóm bệnh, 2010 (Trang 37)
Hình 4. 4 Nguyên nhân tử vong trong nhóm người sử dụng dịch vụ y tế, 1986- - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 4. 4 Nguyên nhân tử vong trong nhóm người sử dụng dịch vụ y tế, 1986- (Trang 38)
Hình 4. 6 Tỉ lệ nam, nữ trong nghiên cứu - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 4. 6 Tỉ lệ nam, nữ trong nghiên cứu (Trang 40)
Hình 4. 7 Thu nhập của người dân trong nghiên cứu - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 4. 7 Thu nhập của người dân trong nghiên cứu (Trang 41)
Hình 4. 8 Quan hệ lao động và BHYT của người dân trong nghiên cứu - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 4. 8 Quan hệ lao động và BHYT của người dân trong nghiên cứu (Trang 43)
Hình 4. 10 Hình thức điều trị của người dân được khảo sát - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 4. 10 Hình thức điều trị của người dân được khảo sát (Trang 44)
Hình 4. 9 Vốn xã hội của người dân được khảo sát - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Hình 4. 9 Vốn xã hội của người dân được khảo sát (Trang 44)
Bảng 4. 5 Thống kê lựa chọn cơ sở y tế - (Luận văn) các yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại thị trấn thạnh phú   bến tre
Bảng 4. 5 Thống kê lựa chọn cơ sở y tế (Trang 47)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm