Lý do ch ọn đề tài
Quản trị công ty (QTCT) đã thu hút sự chú ý trong nhiều thập kỷ qua do những vụ bê bối lớn như Enron, Tyco, Imclone Systems, và WorldCom gây chấn động thị trường vốn toàn cầu Những thất bại này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì niềm tin và uy tín của công chúng đối với doanh nghiệp Việc công khai rõ ràng về cơ cấu vốn và kiểm soát của công ty là một trong những biện pháp quan trọng nhằm phục hồi niềm tin của nhà đầu tư và nâng cao tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp Điều này giúp các nhà lãnh đạo doanh nghiệp hướng tới mục tiêu xây dựng môi trường kinh doanh tin cậy và bền vững.
Tại Việt Nam, Nhà nước đã ban hành các quy định bắt buộc doanh nghiệp phải công bố thông tin ra bên ngoài nhằm đảm bảo minh bạch và tạo sự tin tưởng từ phía nhà đầu tư Tuy nhiên, việc công bố thông tin trong báo cáo thường niên vẫn còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến sự rõ ràng và toàn diện của dữ liệu doanh nghiệp cung cấp Việc cập nhật và công khai đầy đủ các thông tin quan trọng là yếu tố cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy phát triển bền vững của doanh nghiệp tại Việt Nam.
Hiện nay, các BCTN của doanh nghiệp chủ yếu cung cấp các thông tin trong quá khứ, trong khi nhà đầu tư ngày càng quan tâm đến khả năng hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp Thông tin về tương lai thường được thể hiện chủ yếu qua các dữ liệu tự nguyện Mức độ công bố thông tin phụ thuộc vào chính các công ty nhằm mục đích cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng Do đó, các công ty chủ động lựa chọn và công khai các thông tin tự nguyện để đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao tính minh bạch trong báo cáo tài chính.
Nhiều bài báo khoa học gần đây đã tập trung vào tác động của đặc điểm quản trị công ty đến việc công bố tự nguyện của các công ty, bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển Các nghiên cứu cũng chú ý đến mức độ yếu kém của quản trị công ty trong các nền kinh tế phát triển, mới nổi và xuyên quốc gia (Bremer & Elias, 2007).
Nhận thức về tầm quan trọng của việc công bố thông tin đầy đủ liên quan đến quản trị công ty là lý do chính thúc đẩy nghiên cứu này Đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo tài chính – trường hợp các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh (HOSE)” đã được thực hiện nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức và hành vi công bố thông tin của các công ty niêm yết Nghiên cứu này nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa quản trị công ty và sự minh bạch trong công bố thông tin, góp phần nâng cao trình độ quản trị và phát triển thị trường chứng khoán bền vững.
M ục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu tác động của các nhân tố quy trình công bố (QTCT) đối với mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE Luận văn đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin tự nguyện công bố để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng thông tin Các mục tiêu cụ thể của đề tài tập trung vào phân tích ảnh hưởng của quy trình công bố tới sự tự nguyện trong công bố thông tin, từ đó đề xuất giải pháp nhằm cải thiện chất lượng và tính minh bạch của thông tin tài chính.
- Thứ nhất: kế thừa được mô hình nghiên cứu các nhân tố QTCT tác động đến mức độ CBTT tự nguyện của các CTNYtrên sàn HOSE,
- Thứ hai: xác định các nhân tố QTCTtác động đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của các CTNY trên sàn HOSE,
Thứ ba, bài viết đánh giá thực trạng công bố thông tin tự nguyện (CBTT tự nguyện) của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE và phân tích tác động của các nhân tố quá trình công bố thông tin (QTCT) đến mức độ CBTT tự nguyện trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp Nghiên cứu nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về yếu tố ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp tự nguyện công bố thông tin, từ đó đưa ra các kết luận chính xác và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động công bố thông tin tự nguyện Một mục tiêu quan trọng của bài viết là đề xuất các giải pháp để thúc đẩy phụng sự rõ ràng, minh bạch trong hoạt động công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán HOSE.
Câu h ỏi nghiên cứu
Từ những vấn đềđược trình bày trên, đểđạt được mục tiêu nghiên cứu nhưđãgiới thiệu, luận vănđặt ra ba câu hỏi nghiên cứu như sau:
Câu hỏi 1: Thực trạng mức độ CBTT tự nguyện của các CTNY trên sàn HOSE được đánh giá như thế nào?
Câu hỏi 2: Các nhân tố QTCT tác động như thế nào đến mức độ CBTT tự nguyện của các CTNY?
Câu hỏi 3: Kiến nghị, định hướng nào đểtăng cường QTCT qua đó nâng cao chất lượng thông tin tự nguyện được công bố trên BCTN của các CTNY?
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên nghiên cứu định lượng, bằng cách tổng hợp các nghiên cứu trước đây để kế thừa và phát triển mô hình nghiên cứu Quá trình này bao gồm việc phân tích các nghiên cứu trước đó, rút ra mô hình phù hợp với bối cảnh Việt Nam, sau đó tiến hành kiểm định thực tiễn để đảm bảo tính khả thi và độ tin cậy của mô hình trong môi trường Việt Nam.
- Chọn mẫu nghiên cứu là các DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM
- Thu thập BCTN của các DNtheo mẫu đã chọn
- Từ dữ liệu thu thập hoàn thiện bảng danh mục thông tin tự nguyện cần công bố
Bài viết tập trung vào việc thiết lập chỉ số phản ánh mức độ CBTT trên BCTN của các công ty niêm yết, giúp đánh giá tình hình công bố thông tin của doanh nghiệp Ngoài ra, luận văn sử dụng phương pháp thống kê và mô hình hồi quy nhằm phân tích và đo lường tác động của các yếu tố quá trình ra quyết định đến mức độ CBTT tự nguyện Các phân tích này giúp hiểu rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp nâng cao tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp trên BCTN.
Phương pháp thu thập dữ liệu chính là tiến hành khảo sát các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE bằng cách thu thập thông tin từ báo cáo tài chính được đăng tải trên website của các doanh nghiệp Đây là nguồn dữ liệu chính giúp đảm bảo độ chính xác và cập nhật của thông tin trong nghiên cứu.
Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan và phân tích hồi quy.
Nh ững đóng góp mới của nghiên cứu
Xem xét vàđối chiếu với các nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học trước đây, luận vănđã đóng góp mới những vấn đề sau đây:
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố quản trị công ty và mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo tài chính Tuy nhiên, tại Việt Nam, phần lớn nghiên cứu tập trung vào khía cạnh pháp lý của quản trị công ty, ít đề cập đến mô hình và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố tự nguyện Do đó, nghiên cứu về mối liên hệ giữa cơ chế quản trị công ty và mức độ công bố tự nguyện của các công ty niêm yết tại Việt Nam là cần thiết để đóng góp vào công tác quản trị minh bạch và nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Luận văn nghiên cứu các cơ chế quản trị như quyền sở hữu, vai trò của thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị, tần suất các cuộc họp của HĐQT, chất lượng kiểm toán và sự tách biệt giữa Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT Các yếu tố này ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của công ty Đồng thời, bài viết phân tích xem chất lượng hoạt động quản trị có tác động như thế nào đến việc nâng cao mức độ công bố thông tin tự nguyện trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Nghiên cứu này nhằm phân tích lý thuyết về mức độ công bố thông tin tự nguyện (CBTT) và đánh giá hiệu quả của các cơ chế quản trị trong việc giải thích sự khác biệt về CBTT tự nguyện Bằng cách sử dụng dữ liệu từ 100 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn, nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi công bố thông tin của các doanh nghiệp Kết quả cho thấy các cơ chế quản trị hiệu quả có tác động tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện, góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của doanh nghiệp trên thị trường.
Trong giai đoạn 2012-2014, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như quyền sở hữu, số lượng thành viên độc lập trong Hội đồng Quản trị, tần suất các cuộc họp của HĐQT, chất lượng kiểm toán, và sự tách biệt rõ ràng giữa Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT đều có ảnh hưởng tích cực đến việc công bố thông tin tự nguyện Những kết quả này đề cao tầm quan trọng của các yếu tố quản trị doanh nghiệp trong việc thúc đẩy công bố thông tin tự nguyện, từ đó hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách xây dựng các yêu cầu về CBTT tự nguyện phù hợp và hiệu quả hơn.
K ết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu tác giả xây dựng đềtài thành 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2:Cơ sở lý thuyết
Chương 3:Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5:Kết luận và kiến nghị
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Các nghiên c ứu trên thế giới
Nhiều nhà nghiên cứu đã coi chuyên đề của Cerf (1961) là nền tảng cho các nghiên cứu thực nghiệm về mức độ CBTT trong BCTN Từ đó, chủ đề về CBTT đã thu hút sự quan tâm đáng kể của các học giả trên toàn cầu.
Nghiên cứu của Singhvi & Desai (1971) là một trong những nghiên cứu đầu tiên về mức độ công bố thông tin tự nguyện trên BCTN của các tập đoàn công nghiệp Mỹ Họ sử dụng danh sách kiểm tra gồm 34 hạng mục để đánh giá mức độ công bố thông tin, qua đó cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa các đặc điểm công ty như quy mô tài sản, số lượng cổ đông và tình trạng niêm yết với mức độ CBTT tự nguyện Các nghiên cứu trên thế giới đã góp phần làm rõ vai trò và tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi công bố thông tin tự nguyện của doanh nghiệp, mở rộng hiểu biết về xu hướng và tác động của việc công bố thông tin trong môi trường kinh doanh toàn cầu.
Năm 1979, Firth thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ CBTT tự nguyện và các đặc điểm công ty như quy mô, tình trạng niêm yết và loại kiểm toán Tác giả lựa chọn ngẫu nhiên các doanh nghiệp sản xuất để đo lường mức độ CBTT tự nguyện dựa trên bảng danh mục 48 điểm, được xây dựng dựa trên các tài liệu liên quan, báo cáo tài chính mới nhất và thảo luận với người sử dụng thông tin.
Các nghiên cứu sau đó được thực hiện phần nhiều tại các quốc gia phát triển như nghiên cứu của McNally (1982) tại New Zealand, Cooke (1989) tại Thụy Điển,
Các nghiên cứu thực nghiệm như của Lutfi (1989) tại Mỹ và Cooke (1991) tại Nhật Bản đều tập trung đo lường mức độ tự nguyện của CBTT dựa trên bảng danh mục tính điểm So với các nghiên cứu ban đầu, số lượng các biến và hạng mục trong danh sách đã được mở rộng, giúp cải thiện độ chính xác và độ tin cậy trong việc đánh giá hành vi này Những phương pháp này góp phần nâng cao hiệu quả trong việc phân tích và đo lường CBTT tự nguyện trong các môi trường nghiên cứu khác nhau.
CBTT ngày càng được mở rộng
Nghiên cứu của Meek et al (1995) về các yếu tố ảnh hưởng đến việc công bố tự nguyện báo cáo thường niên của các tập đoàn đa quốc gia tại Mỹ, Anh và châu Âu đã xác định các yếu tố chủ chốt như quy mô doanh nghiệp, mức độ cạnh tranh và áp lực từ các bên liên quan Bài nghiên cứu chỉ ra rằng, các yếu tố như quy mô doanh nghiệp lớn, tính cạnh tranh cao và áp lực từ các nhà đầu tư thúc đẩy các tập đoàn công bố nhiều hơn các loại thông tin chiến lược, tài chính và phi tài chính trên báo cáo tài chính Những kết quả này giúp làm rõ các động lực thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp quốc tế.
DN, quốc gia hoặc khu vực hoạt động, cùng với tình trạng niêm yết, là những yếu tố ảnh hưởng chính đến mức độ công bố các thông tin tự nguyện của doanh nghiệp Các ngành công nghiệp khác nhau cũng tác động đến mức độ minh bạch và hoạt động báo cáo của doanh nghiệp, góp phần xây dựng hình ảnh và uy tín trên thị trường Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp đánh giá chính xác hơn về doanh nghiệp trong bối cảnh công khai thông tin tự nguyện.
Các nghiên cứu sau đó cũng dần quan tâm đến các thị trường mới nổi như nghiên cứu của Hossain (1994) tại Malaysia, Naser (2002) tại Jordan, Haniffa and
Cook (2002) tại Malaysia, Gul and Leung (2004) tại Hồng Kông, Alsaeed (2006) tại Ả
Rập Saudi, Barako (2006) tại Kenya… Các nghiên cứu cũng tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa các đặc điểm công ty với mức độ CBTT tự nguyện
Khi vấn đề quản trị công ty tự nguyện (QTCT) nhận được sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế, các nghiên cứu về CBTT tự nguyện không chỉ tập trung vào các đặc điểm của công ty như quy mô vốn hay lợi nhuận, mà còn mở rộng sang các yếu tố về cấu trúc sở hữu, hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán để xác định các nhân tố ảnh hưởng Nhiều nghiên cứu đã dành nhiều sự quan tâm đặc biệt đến vai trò của QTCT trong việc định hình chính sách CBTT tự nguyện, nhằm thúc đẩy sự minh bạch và trách nhiệm của doanh nghiệp.
Gray (2002), Eng and Mak (2003), Chen et al (2008), Omar Juhmani (2013) đã điều tra mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu với mức độ CBTT Cheng and Courtenay (2006),
Patelli and Prencipe (2007) studied the role of the board of directors, while Bronson et al (2006) focused on the effectiveness of audit committees Piot and Janin (2007) investigated how audit quality influences the identification of factors affecting corporate transparency and trust (CBTT) These studies collectively highlight the importance of corporate governance mechanisms and audit quality in enhancing disclosure practices and stakeholder confidence Incorporating these insights can improve transparency and strengthen governance frameworks within organizations.
Nghiên cứu của tác giả Mohamed Akhtaruddin (2009) đã khám phá ảnh hưởng của cơ cấu quản trị công ty (QTCT) đến hành vi cộng đồng tự nguyện của các công ty niêm yết tại Malaysia Kết quả cho thấy, quy mô Hội đồng quản trị (HĐQT) và chất lượng thành viên ban kiểm toán đều có tác động tích cực đến việc thực hiện hành vi tự nguyện của các doanh nghiệp Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ cấu quản trị trong việc thúc đẩy các hoạt động xã hội tự nguyện của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Wan Izyani Adilah Wan Mohamad (2010) tại Malaysia đã chỉ ra rằng, tỷ lệ cao các thành viên gia đình trong Hội đồng quản trị (HĐQT) có mối liên hệ mạnh mẽ với mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự gia tăng thành viên gia đình trong HĐQT thường đi kèm với mức độ công bố thông tin tự nguyện thấp hơn, phản ánh xu hướng giữ kín thông tin để bảo vệ lợi ích của gia đình Đây là một phần quan trọng giúp hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của cơ cấu quản trị công ty đối với chính sách công bố thông tin, phù hợp với các nguyên tắc SEO về quản trị doanh nghiệp và minh bạch thông tin.
Carlos P Barros (2013) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin tự nguyện tại Pháp Kết quả cho thấy, tần suất các cuộc họp ủy ban kiểm toán và sự tham gia đầy đủ của Hội đồng quản trị cùng các thành viên ủy ban kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của công ty.
Yaseen Al-Janadi (2013) nhấn mạnh vai trò quan trọng của cơ chế quản trị trong việc ảnh hưởng đến chất lượng các báo cáo tin công bố ra công chúng Nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết các yếu tố của cơ chế quản trị, như số lượng giám đốc không điều hành, quy mô Hội đồng quản trị, quyền hạn của Tổng giám đốc, chất lượng kiểm toán và cấu trúc sở hữu đều góp phần đáng kể vào việc nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của các báo cáo tài chính công bố.
CBTT tự nguyện của các công ty trên thị trường chứng khoán Ả Rập Saudi
Amer Alhazaimeh (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và cấu trúc sở hữu đối với việc công bố tự nguyện của các công ty niêm yết tại Thị trường chứng khoán Amman (ASE) Kết quả từ mô hình hồi quy GMM trong giai đoạn 2002-2011 cho thấy các công ty niêm yết tại ASE đã thể hiện sự chú trọng ngày càng lớn vào việc công bố tự nguyện, phản ánh nhận thức và thực hành quản trị doanh nghiệp phù hợp hơn trong giai đoạn này Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu của 72 công ty tại Jordan, qua đó làm nổi bật tầm quan trọng của yếu tố quản trị công ty và cấu trúc sở hữu đối với hoạt động công bố tự nguyện trong môi trường thị trường chứng khoán.
Bài viết tập trung vào hoạt động của Hội đồng quản trị (HĐQT) tại Jordan, đặc biệt xem xét vai trò của các cổ đông nước ngoài và giám đốc không điều hành trong việc ảnh hưởng đến công bố thông tin tự nguyện (CBTT tự nguyện) Nghiên cứu cho thấy việc CBTT tự nguyện trong các báo cáo hàng năm có tác động đáng kể đến giá trị vốn hóa thị trường của doanh nghiệp Các yếu tố như sở hữu cổ phần của cổ đông nước ngoài và hoạt động của HĐQT đều góp phần làm rõ vai trò của CBTT tự nguyện trong bối cảnh doanh nghiệp Do đó, việc công bố thông tin tự nguyện không chỉ thúc đẩy minh bạch mà còn ảnh hưởng tích cực đến giá trị doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán tại Jordan.
Các nghiên c ứu trong nước
Việt Nam vẫn là một quốc gia chưa có nhiều nghiên cứu về quản trị công ty (QTCT) và công bố thông tin (CBTT) tự nguyện Tuy nhiên, đã có một số nghiên cứu của các tác giả Việt Nam, như của Lê Minh Toàn (2008) trong bài “Corporate Governance of Listed Companies in Vietnam,” đánh giá QTCT của các doanh nghiệp niêm yết qua các nghiên cứu tình huống Các nghiên cứu này nhận định rằng, cần cải thiện quản trị công ty để nâng cao tính minh bạch của thị trường, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nguyễn Trường Sơn (2010) với nghiên cứu “Corporate Governance in Vietnamese Enterprises” trên cơ sở khảo sát thực tiễn đã đi sâu phân tích thực trạng
QTCT trong các doanh nghiệp Việt Nam ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh như khuôn khổ pháp lý, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp Tính minh bạch trong hoạt động doanh nghiệp là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao uy tín và đảm bảo quyền lợi của cổ đông cũng như người lao động Bảo vệ quyền của cổ đông và người lao động cần được ưu tiên để thúc đẩy sự phát triển bền vững Để nâng cao năng lực quản trị công ty tại Việt Nam, cần có những nhận định tổng quát và đề xuất chính sách phù hợp nhằm cải thiện khuôn khổ pháp lý, tăng cường minh bạch và thúc đẩy trách nhiệm giải trình trong doanh nghiệp.
Bài nghiên cứu "Voluntary Disclosure Information in the Annual Reports of Non Financial Listed Companies: The Case of Vietnam" của tác giả Tạ Quang Bình (2012) tập trung vào khoảng cách giữa các nhà phân tích tài chính, những người có nhu cầu sử dụng thông tin, và các nhà quản lý tài chính, những người cung cấp thông tin Nghiên cứu xây dựng danh mục các loại thông tin tự nguyện và khảo sát để xác định các mục thông tin nào quan trọng đối với cả người sử dụng và nhà cung cấp thông tin Kết quả cho thấy việc công bố các thông tin tự nguyện mang lại lợi ích lớn trong việc giúp các nhà phân tích và nhà quản lý hiểu rõ hơn về hoạt động của doanh nghiệp, qua đó nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của các công ty niêm yết tại Việt Nam.
Từ đó, bài nghiên cứu chỉ ra các thông tin tự nguyện mà DN cần cung cấp để thu hẹp khoảng cách với người sử dụng thông tin
Năm 2012, ở góc độ nghiên cứu của các tổ chức quốc tế, Báo cáo Thẻđiểm
Chương trình nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã trình bày các vấn đề liên quan đến công bố thông tin và quản trị công ty của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Báo cáo QTCT 2012 của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của các doanh nghiệp niêm yết để thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam Các nội dung chính bao gồm các tiêu chuẩn về công bố thông tin, thực hiện trách nhiệm giải trình, cũng như các đề xuất cải tiến nhằm tăng cường quản trị doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế Việt Nam Tăng cường các biện pháp quản trị công ty hiệu quả là yếu tố then chốt góp phần thu hút đầu tư và nâng cao uy tín thị trường chứng khoán Việt Nam trong khu vực và quốc tế.
Trong nghiên cứu này, nguyên tắc và phương pháp luận của OECD cùng với môi trường quản trị công ty ở Việt Nam là nền tảng để xây dựng Thẻ điểm QTCT của Việt Nam Dựa trên kết quả khảo sát và dữ liệu từ 100 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu cho thấy các công ty này đang cung cấp ít hơn thông tin và chất lượng thông tin công khai, minh bạch ngày càng giảm sút.
Các CTNY đã hạ thấp tiêu chuẩn về công khai thông tin, chỉ cung cấp những thông tin chung chung và không đầy đủ ra thị trường Nghiên cứu của IFC chỉ ra rằng mức điểm trung bình về minh bạch và công bố thông tin (CBTT) chỉ đạt 40,1%, chưa bằng một nửa điểm số cần thiết để đảm bảo hoạt động CBTT có chất lượng Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích thực trạng về mức độ CBTT của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các doanh nghiệp này.
Hoàng Thị Hoài Thu (2014) nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp niêm yết và mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính tại Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, nhằm phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp Nghiên cứu xem xét các yếu tố về đặc điểm doanh nghiệp như loại ngành, lợi nhuận, tính thanh khoản, quy mô, sở hữu nước ngoài, chất lượng kiểm toán, đòn bẩy tài chính, cũng như các yếu tố liên quan đến quản trị công ty như thành phần hội đồng quản trị và tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT Kết quả cho thấy, các biến đòn bẩy tài chính, thành phần HĐQT và tỷ lệ sở hữu nước ngoài là những yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Tuy nhiên, nghiên cứu còn có hạn chế về phạm vi và thời gian do dữ liệu thu thập trong năm 2013, ảnh hưởng đến khả năng tổng quát hóa kết quả.
Nghiên cứu của Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) về minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tính minh bạch, lượng hóa mức độ minh bạch và các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin tài chính, góp phần xây dựng thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và bền vững Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung vào nhóm nhân tố tài chính và quản trị công ty, đồng thời chỉ xem xét thông tin tài chính trình bày trong báo cáo tài chính năm của các công ty trên sàn TP.HCM, mặc dù có nhiều loại báo cáo và thời điểm báo cáo khác nhau.
Trong chương này, tác giả đã trình bày rõ về lý do, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, giúp độc giả có cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu Luận văn giới thiệu tổng quan các nghiên cứu liên quan đến mức độ chủ quan của thông tin, nghiên cứu về quá trình cạnh tranh, cũng như các nghiên cứu kết hợp giữa quá trình cạnh tranh và mức độ chủ quan của thông tin Đồng thời, tác giả tổng hợp các nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam về quá trình cạnh tranh và mức độ chủ quan của thông tin, góp phần định hướng cho quá trình nghiên cứu.
Luận văn kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó và điều chỉnh mô hình phù hợp với điều kiện của Việt Nam, giúp nâng cao tính thực tiễn và hiệu quả của nghiên cứu Qua các nghiên cứu trong nước, luận văn rút ra kinh nghiệm quý báu, khắc phục những hạn chế của các công trình trước để tạo ra kết quả mang tính đột phá và khác biệt hơn Điều này giúp đảm bảo rằng các phát hiện mới trong luận văn có cơ sở lý luận vững chắc, minh chứng rõ ràng và tính thuyết phục cao hơn trong các phần tiếp theo của đề tài.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
M ột số vấn đề chung về CBTT tự nguyện
2.1.1 Khái niệm về CBTT tự nguyện Ở Việt Nam, theo quan điểm của Bộ Tài chính được quy định trong “Sổ tay
CBTT dành cho các CTNY là phương thức thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp, giúp đảm bảo cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng bộ Việc công bố thông tin một cách minh bạch không chỉ nâng cao uy tín doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và minh bạch trên thị trường chứng khoán.
Kế toán CBTT крайне важен для tất cả các bên liên quan, cung cấp thông tin cần thiết để giảm sự không chắc chắn và hỗ trợ quyết định kinh tế, tài chính chính xác Báo cáo tài chính hàng năm của các công ty là nguồn thông tin quan trọng nhất cho bên ngoài, giúp họ hiểu rõ về tình hình tài chính và hoạt động của doanh nghiệp (Betosan, 1997) Những báo cáo này không chỉ là công cụ truyền tải thông tin về số lượng mà còn về chất lượng, góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp giữa doanh nghiệp và các bên liên quan (Barko, Hancock & Izan, 2006).
Theo Francesca Citro (2013), CBTT bao gồm hai loại chính là CBTT bắt buộc và CBTT tự nguyện Trong đó, CBTT bắt buộc (Mandatory disclosure) đề cập đến các báo cáo kế toán phải được công bố theo yêu cầu của luật pháp và các quy định của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, nhằm đảm bảo minh bạch và tuân thủ pháp luật trong hoạt động tài chính và kế toán của doanh nghiệp.
Các công bố phải tuân thủ các quy định của Luật Kinh doanh, Ủy ban Chứng khoán và các cơ quan quản lý về kế toán cùng các chuẩn mực kế toán để đảm bảo tính minh bạch và chính xác của thông tin Thông tin tự nguyện (Voluntary disclosure) đề cập đến các dữ liệu tài chính và phi tài chính xuất hiện trên Báo cáo Tài chính Công ty mà không bắt buộc phải công bố theo luật pháp, nhằm nâng cao uy tín và khả năng thu hút nhà đầu tư.
Thông tin tự nguyện ngày càng thu hút sự chú ý trong các nghiên cứu kế toán gần đây, bao gồm các thông tin được công bố ngoài các báo cáo tài chính bắt buộc nhằm nâng cao niềm tin và nhận thức của nhà đầu tư về triển vọng tương lai của doanh nghiệp Việc công bố thông tin tự nguyện giúp doanh nghiệp xây dựng uy tín và thúc đẩy sự minh bạch trên thị trường Các thông tin này không chỉ bổ sung các dữ liệu bắt buộc mà còn phản ánh các yếu tố chiến lược, quản trị và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp.
Thông tin tự nguyện đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định đúng đắn hơn Các báo cáo hàng năm tiết lộ thông tin tự nguyện là nguồn dữ liệu đáng tin cậy, thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu và các bên liên quan trong lĩnh vực tài chính và đầu tư (Tufail et al.).
Trong báo cáo tài chính, việc kết hợp giữa thông tin bắt buộc và tự nguyện tạo thành quá trình liên tục tương tác nhằm cung cấp một bức tranh toàn diện về tình hình hoạt động của công ty Thông tin bắt buoc thể hiện nghĩa vụ pháp lý bắt buộc mà các doanh nghiệp phải công bố để đảm bảo tính minh bạch và trung thực của báo cáo Tuy nhiên, khi các yêu cầu về thông tin bắt buộc gặp hạn chế, quy định mơ hồ hoặc khó khăn trong việc diễn giải, các công ty có thể bổ sung các thông tin tự nguyện nhằm cung cấp thêm bức tranh rõ ràng hơn về giá trị và hoạt động quản lý của doanh nghiệp This dual approach giúp nâng cao tính minh bạch, tin cậy của thông tin tài chính và hỗ trợ các nhà đầu tư ra quyết định chính xác hơn.
Việc lựa chọn thông tin công bố tự nguyện là quyền tự do của các công ty, phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa, yếu tố kinh tế, xã hội và đặc thù của từng doanh nghiệp Tuy nhiên, phần lớn các thông tin tự nguyện được công bố nhằm giúp người sử dụng hiểu rõ hơn về công ty, khả năng sinh lời trong tương lai, cùng các rủi ro và cơ hội liên quan, từ đó thu hút sự quan tâm đầu tư (Adina and Lon, 2008) Công bố tự nguyện bao gồm việc trình bày các thông tin vượt quá yêu cầu bắt buộc, như thông tin kế toán và các dữ liệu mà nhà quản lý cho là cần thiết cho lợi ích của các bên liên quan Mục đích của việc công bố này là giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và nhà đầu tư, đồng thời đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của các bên liên quan (Meek et al, 1995).
Theo quan điểm của tác giả luận văn, CBTT tự nguyện là việc người quản lý chủ động công bố rộng rãi các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, các thông tin chiến lược, cũng như các thông tin phi tài chính và thông tin quản trị của doanh nghiệp, ngoài các thông tin cưỡng chế bắt buộc theo quy định.
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung phân tích các thông tin tự công bố trên BCTN nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện và bao quát về mức độ hiện tại của lĩnh vực Việc khai thác dữ liệu từ báo cáo tài chính tự công bố giúp đảm bảo tính toàn diện và độ chính xác trong đánh giá, đồng thời phù hợp với các hướng dẫn về tối ưu hóa SEO Nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin sâu sắc để hỗ trợ các quyết định phù hợp về quản lý và phát triển doanh nghiệp dựa trên dữ liệu chính thống.
CBTTtrên TTCKtheo quy định hiện hành
2.1.2 Yêu cầu về công bố thông tin trên BCTN
Việc công bố thông tin (CBTT) phải được thực hiện trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty đại chúng, cũng như các phương tiện CBTT của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán Các tài liệu này cần được lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất mười năm tại trụ sở chính của công ty để phục vụ nhà đầu tư tham khảo lâu dài.
Báo cáo tài chính (BCTN) là nguồn thông tin quan trọng nhất dành cho các đối tượng sử dụng đa dạng như nhà quản lý, cổ đông, nhà đầu tư, cơ quan chính phủ và các nhà nghiên cứu Nó cung cấp cả thông tin định lượng và định tính, bao gồm dữ liệu tài chính và phi tài chính, giúp đánh giá hiện tại và dự đoán tương lai của các đơn vị kinh tế Việc lựa chọn báo cáo tài chính nhằm đảm bảo cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ, phục vụ các mục đích ra quyết định của các bên liên quan.
Báo cáo tài chính (BCTN) là công cụ hữu ích để nghiên cứu về công bố thông tin (CBTT), vì nó chứa đựng tình hình và kết quả hoạt động toàn diện của doanh nghiệp Các bên liên quan có thể dễ dàng truy cập thông tin trên BCTN bất cứ lúc nào, do báo cáo được công bố định kỳ và minh bạch Ngoài ra, các số liệu trong BCTN đã được kiểm toán hoặc đảm bảo mức độ tin cậy cao, tăng cường tính minh bạch trên thị trường chứng khoán Hiện nay, BCTN được lập theo mẫu quy định tại Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính, nhằm hướng dẫn cách thức công bố thông tin phù hợp và hiệu quả trên thị trường chứng khoán.
01/01/2016 Nội dung cơ bản gồm:
• Thông tin chung của Công ty;
• Tình hình hoạt động trong năm;
• Báo cáo và đánh giá của Ban giám đốc;
• Đánh giá của HĐQT về hoạt động của Công ty;
Các yêu cầu về CBTT theo Thông tư này nhấn mạnh rằng hoạt động CBTT phải đảm bảo đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật Quản lý hoạt động CBTT cần được thực hiện bởi giám đốc hoặc người được ủy quyền, và giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do người được ủy quyền cung cấp.
Tính đầy đủ của thông báo thể hiện qua việc quy định rõ ràng về thể loại, nội dung và hình thức công bố thông tin Điều này bao gồm cả thông báo công bố thường niên và những thông tin bất thường có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng Việc đảm bảo tính đầy đủ giúp nâng cao tính minh bạch và tin cậy trong quá trình ra quyết định của các bên liên quan.
Qu ản trị công ty
2.2.1 Khái niệm về quản trị công ty
QTCT là một quy trình mà theo đó, công ty được điều khiển, định hướng và kiểm soát (OECD, 1999)
Theo Nguyễn Trường Sơn (2010), quản trị công ty (QTCT) tại các quốc gia khác nhau rất đa dạng do ảnh hưởng của chế độ pháp luật, đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển của thị trường tài chính và các yếu tố quốc gia Tuy nhiên, có thể đưa ra định nghĩa chung về QTCT là một hệ thống các cơ chế và quy định giúp công ty điều hành và kiểm soát hoạt động, nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, người lao động và các nhà quản lý công ty.
QTCT dựa trên nguyên tắc tách biệt quyền quản lý và quyền sở hữu doanh nghiệp, trong đó công ty thuộc về chủ sở hữu như nhà đầu tư hoặc cổ đông Tuy nhiên, để doanh nghiệp phát triển bền vững, cần có sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị, sự điều hành của Ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động, những người không luôn có chung ý chí và lợi ích Do đó, việc thiết lập một cơ chế kiểm soát phù hợp giúp nhà đầu tư và cổ đông đảm bảo quyền kiểm soát hoạt động điều hành, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển doanh nghiệp.
QTCT xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các nhóm lợi ích trong công ty, bao gồm cổ đông, HĐQT, ban điều hành, ban kiểm soát và các đối tượng liên quan khác nhằm đảm bảo phân chia quyền lực hợp lý Đồng thời, QTCT xây dựng các nguyên tắc, quy trình và thủ tục ra quyết định minh bạch để ngăn chặn lạm dụng quyền lực, giảm thiểu rủi ro và xung đột lợi ích tiềm tàng do thiếu tiêu chuẩn rõ ràng hoặc không tuân thủ quy định về công khai thông tin (CBTT).
QTCT tốt đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lành mạnh và bền vững, xây dựng sự hài hòa trong các mối quan hệ giữa ban giám đốc, Hội đồng quản trị, cổ đông và các bên liên quan Một hệ thống QTCT hiệu quả giúp xác định hướng đi và tăng cường kiểm soát hoạt động của công ty, từ đó nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài Việc thực hành QTCT tốt còn góp phần tăng giá trị doanh nghiệp, giảm thiểu rủi ro, thúc đẩy đầu tư và phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế quốc gia.
2.2.2 Nguyên tắc quản trị công ty của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Bộ Nguyên tắc QTCT giúp các chính phủ thành viên và không thành viên của OECD đánh giá và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tổ chức và quản lý để thúc đẩy minh bạch và chống tham nhũng Các nguyên tắc này cung cấp hướng dẫn cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống tham nhũng Việc áp dụng bộ nguyên tắc này góp phần xây dựng môi trường minh bạch, thúc đẩy phát triển bền vững và tăng cường niềm tin của công dân vào chính phủ.
QTCT (Quản trị Công ty) đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và khuyến nghị cho thị trường chứng khoán, nhà đầu tư, doanh nghiệp và các bên liên quan để thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường Việc xây dựng các hướng dẫn rõ ràng giúp đảm bảo hoạt động quản trị công ty minh bạch, giữ vững niềm tin của nhà đầu tư và nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp Đồng thời, các khuyến nghị này còn hỗ trợ các công ty thực hiện tốt trách nhiệm công khai thông tin, kiểm soát rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong môi trường kinh doanh cạnh tranh Chính sách về quản trị công ty hợp lý góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường chứng khoán quốc gia một cách bền vững.
Các nguyên tắc QTCT của OECD (2004) bao gồm:
Một khuôn khổ QTCT hiệu quả cần thúc đẩy tính minh bạch và hiệu quả của thị trường, phù hợp với quy định pháp luật Đồng thời, cần phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi để đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả trong công tác quản lý.
(2) Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản: Khuôn khổ QTCT phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền của cổ đông
Khuôn khổ quy định về quản trị công ty cần đảm bảo đối xử bình đẳng đối với tất cả các cổ đông, bao gồm cả cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài, nhằm thúc đẩy công bằng và minh bạch trong hoạt động quản lý doanh nghiệp.
Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm
Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quá trình thương lượng hợp đồng chuyển nhượng (QTCT) là rất quan trọng Khuôn khổ QTCT cần công nhận quyền của các bên này đã được pháp luật hoặc hợp đồng quy định, đồng thời thúc đẩy sự hợp tác tích cực giữa công ty và các bên có quyền lợi liên quan trong việc tạo dựng tài sản, tạo việc làm và duy trì ổn định tài chính cho các bên liên quan.
Khuôn khổ Quản trị Công ty (QTCT) cần đảm bảo tính minh bạch và CBTT kịp thời, chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty Điều này bao gồm thông tin về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh, sở hữu cổ phần và các vấn đề liên quan đến QTCT Việc công bố thông tin minh bạch giúp nâng cao độ tin cậy và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
HĐQT có trách nhiệm xây dựng và đảm bảo thực hiện định hướng chiến lược của công ty, đồng thời giám sát hiệu quả công tác quản lý để đạt được mục tiêu phát triển bền vững Khuôn khổ QTCT cần quy định rõ vai trò, trách nhiệm của HĐQT trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp Việc thực hiện các nhiệm vụ này giúp đảm bảo hoạt động của công ty phù hợp với chiến lược đã đề ra, giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính minh bạch trong quản lý.
HĐQT đối với công ty và cổ đông
Trong bộ Các Nguyên tắc QTCT (2004) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Nguyên tắc CBTT và tính minh bạch là nền tảng cốt lõi của Quản trị Công ty trách nhiệm hữu hạn (QTCT) Trong bài viết, tác giả dựa trên các nguyên tắc này để xây dựng thang đo đánh giá mức độ minh bạch trong hoạt động quản trị Việc đảm bảo minh bạch giúp nâng cao uy tín và hiệu quả quản lý doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy niềm tin của các bên liên quan Các nghiên cứu đều nhấn mạnh rằng, tính minh bạch là yếu tố then chốt góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh hiện nay.
CBTT tự nguyện bao gồm 6 thành phần sau:
(A) CBTT phải bao gồm, nhưng không hạn chế, các thông tin quan trọng liên quan đến tình hình tài chính, hoạt động, sở hữu, QTCT
(B) Thông tin phải được chuẩn bị và công bố phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng cao về CBTT kế toán, tài chính
(C) Kiểm toán hàng năm phải được tiến hành bởi một đơn vị kiểm toán độc lập, đủ năng lực và có chất lượng cao
Đơn vị kiểm toán độc lập chịu trách nhiệm với cổ đông về tính chính xác và minh bạch của kết quả kiểm toán Họ có nghĩa vụ thực hiện công tác kiểm toán một cách chuyên nghiệp, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn và quy trình chặt chẽ nhằm cung cấp thông tin tài chính chính xác, đáng tin cậy cho công ty và các bên liên quan.
(E) Các kênh phổ biến thông tin phải tạo điều kiện tiếp cận thông tin bình đẳng, kịp thời và hiệu quả chi phí cho người sử dụng
(F) Các phân tích, tư vấn về công ty có liên quan tới quyết định của nhà đầu tư phải khách quan
Các vấn đề do OECD đặt ra có ý nghĩa lý luận quan trọng trong việc đánh giá các nhân tố quá trình công nghệ tác động đến mức độ chủ động tự nguyện của các tổ chức Những phân tích này giúp làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ trong thúc đẩy sự tự nguyện tuân thủ và tối ưu hóa các chiến lược quản lý Đây là cơ sở để xây dựng các chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả và tính tự nguyện trong các hoạt động của doanh nghiệp.
2.2.3 Các nhân tố QTCT tác động đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN
Nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đã tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN Tuy nhiên, luận văn chủ yếu xem xét các nhân tố quản trị công ty (QTCT) ảnh hưởng đến mức độ này từ góc độ doanh nghiệp, lựa chọn và kế thừa mô hình nghiên cứu tiêu biểu gồm các yếu tố như cơ cấu sở hữu, Hội đồng quản trị (HĐQT), chất lượng kiểm toán và sự tách biệt giữa Tổng Giám đốc (TGĐ) và Chủ tịch HĐQT đều được xác định là các nhân tố quyết định đến mức độ CBTT tự nguyện.
M ột số lý thuyết nền liên quan đến CBTT
Các lý thuyết nền được nghiên cứu nhằm làm rõ hướng tiếp cận của luận văn trong việc phân tích các mục tiêu nghiên cứu Trong đó, trọng tâm là xác định các nhân tố quản trị công tác ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin trong nền kinh tế Các yếu tố này cần được làm rõ và giải quyết một cách phù hợp để nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong hoạt động công bố thông tin của doanh nghiệp.
Sự phát triển của các công ty hiện đại và sự phân tách giữa sở hữu và quản lý ở các nước tư bản phương Tây đã tạo nền tảng vật chất cho việc hình thành các lý thuyết về mối quan hệ giữa người chủ và người thừa hành Trong nửa cuối của thế kỷ 20, nhiều học thuyết về mối quan hệ này ra đời, trong đó nổi bật nhất là lý thuyết về vấn đề đại diện (agency theory) Một trong những nghiên cứu đầu tiên về lý thuyết đại diện là công trình của Jensen và Meckling năm 1976, tập trung vào mối quan hệ giữa chủ sở hữu vốn và người quản lý, người đại diện thực hiện các quyết định của công ty qua hợp đồng giữa hai bên.
Lý thuyết đại diện cho thấy khi mục tiêu của chủ sở hữu và người quản lý không đồng nhất, sự phân chia quyền sở hữu và quyền quản lý gây ra những nguy cơ ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Chính điều này dẫn đến phát sinh chi phí đại diện, do cả hai bên đều cố gắng tối đa hóa lợi nhuận cho lợi ích cá nhân Hiểu rõ mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền quản lý là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả doanh nghiệp và giảm thiểu các rủi ro hoạt động.
Để kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, các chủ sở hữu cần thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ và yêu cầu các báo cáo định kỳ Một trong những giải pháp chính theo lý thuyết đại diện là xây dựng cấu trúc Hội đồng quản trị (HĐQT) nhằm bảo vệ quyền lợi của các cổ đông và chủ sở hữu công ty Việc thiết lập HĐQT giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu xung đột lợi ích và làm giảm bất cân xứng thông tin giữa các bên liên quan.
2.3.2 Lý thuyết các bên liên quan
Các bên liên quan (Stakeholder) là từ dùng chung cho những người có cổ phiếu hoặc có lợi ích trong một DN (Freeman,1984)
QTCT (Quản trị công ty) là hệ thống các thiết chế, chính sách và luật lệ nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát hoạt động của công ty một cách hiệu quả Hệ thống này còn bao gồm mối quan hệ giữa các bên liên quan, không chỉ trong nội bộ công ty như cổ đông, ban giám đốc điều hành, hội đồng quản trị, mà còn với các bên ngoài như cơ quan quản lý nhà nước, đối tác kinh doanh và cộng đồng xã hội Quản trị công ty đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Theo lý thuyết này, các quyết định quản trị nên được thiết kế để đáp ứng tối đa nhu cầu của các bên liên quan, đảm bảo họ nhận được đầy đủ thông tin cần thiết để đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp Các bên liên quan cần có tiếp cận thông tin từ doanh nghiệp, chủ yếu qua báo cáo tài chính và báo cáo quản trị, nhằm hỗ trợ trong việc đưa ra các quyết định phù hợp và chính xác Việc cung cấp thông tin minh bạch từ doanh nghiệp giúp nâng cao vai trò của báo cáo tài chính và báo cáo quản trị trong quá trình ra quyết định, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững và tin cậy của doanh nghiệp trên thị trường.
Việc công bố thông tin của doanh nghiệp mang lại lợi ích lớn cho cả doanh nghiệp và các bên liên quan Thông qua việc CBTT, doanh nghiệp giúp giảm thiểu sự bất cân xứng về thông tin, từ đó nâng cao tính minh bạch và tin cậy Điều này góp phần thúc đẩy hoạt động của thị trường trở nên hiệu quả hơn, tạo thêm cơ hội phát triển bền vững cho doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.
2.3.3 Lý thuyết tín hiệu (signaling theorv)
Lý thuyết tín hiệu hình thành vào đầu những năm 1970, dựa trên nghiên cứu của Spence năm 1973 nhằm làm rõ hiện tượng bất đối xứng thông tin trong thị trường lao động Theo lý thuyết này, các vấn đề về thông tin bất đối xứng có thể được giảm thiểu hiệu quả nhờ vào các bên biết cách báo hiệu thông tin cho nhau.
Theo lý thuyết tín hiệu, các nhà quản lý thường phát tín hiệu về triển vọng tăng trưởng cao trong tương lai để thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư Ross (1977) đã sử dụng cơ sở này để giải thích hành vi của các công ty trong báo cáo tài chính, nhằm truyền tải các tín hiệu tích cực về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
CBTT là phương tiện quan trọng để các công ty phát tín hiệu, công bố thông tin nhằm thu hút nhà đầu tư và nâng cao hình ảnh trên thị trường Thông qua việc công bố rõ ràng và minh bạch các thông tin, doanh nghiệp có thể chứng tỏ vị thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh Lý thuyết tín hiệu đóng vai trò nền tảng trong việc giải thích các chiến lược truyền thông này, giúp doanh nghiệp thể hiện uy tín và tiềm năng phát triển đến các nhà đầu tư.
Chương 2 đã trình bày một số lý thuyết về CBTT tự nguyện và QTCT cũng như các nhân tố QTCT ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện Ngoài ra, luận vănnêu ra các cách thức đo lường mức độ CBTT của các nhànghiên cứu trên thế giới Từ đó, đưa ra phương pháp đo lường mức độ CBTT CTNY trên TTCK Việt Nam
Trong chương này, tác giả trình bày các lý thuyết nền có thể áp dụng cho vấn đề CBTT tự nguyện của các công ty niêm yết Tác giả phân tích các yếu tố tác động đến mức độ CBTT và kế thừa kết quả nghiên cứu trước để phù hợp với điều kiện kinh tế phát triển đặc thù của Việt Nam Đồng thời, tác giả điều chỉnh mô hình nghiên cứu nhằm đề xuất các giả thuyết phù hợp, phù hợp với đặc điểm văn hóa và nền kinh tế Việt Nam để nâng cao hiệu quả nghiên cứu.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên c ứu
Hình 3.1 – Quy trình nghiên cứu
Tổng quan nghiên cứu về CBTT tự nguyện
Xác định vấn đề nghiên cứu, phương pháp, phạm vi và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết về truyền thông tự nguyện (CBTT) tập trung vào các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi của người tham gia, chẳng hạn như động cơ, nhận thức và niềm tin Các nhân tố quản trị truyền thông (QTCT) đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy hoạt động CBTT, bao gồm khả năng truyền tải thông điệp hiệu quả và xây dựng mối quan hệ tin cậy Các lý thuyết nền về CBTT như lý thuyết hành vi có ý thức và lý thuyết mạng xã hội cung cấp khung lý luận để phân tích các yếu tố ảnh hưởng và cách thức tương tác của các tác nhân trong quá trình truyền thông tự nguyện Mô hình nghiên cứu và giả thuyết được đề xuất dựa trên những nền tảng lý thuyết này nhằm định hướng quá trình phân tích, đánh giá các yếu tố tác động và dự đoán hành vi truyền thông tự nguyện trong bối cảnh cụ thể.
Cách thức đo lường các biến
Mô tả cách lấy mẫu và cách thức xử lý dữ liệu
Thống kê mô tả mẫu quan sát
Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu Phân tích tương quan, phân tích hồi quy Đề xuất và hướng nghiên cứu tiếp theo
Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Nhận thức được tầm quan trọng của cơ chế quản trị công ty (QTCT) ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện (CBTT tự nguyện), nghiên cứu đề xuất kế thừa một số yếu tố từ mô hình của tác giả Carlos P Barros (2013) trong đề tài “Corporate Governance And Voluntary Disclosure In France” Nghiên cứu này tập trung phân tích các yếu tố liên quan đến QTCT để điều tra mức độ CBTT tự nguyện trên báo cáo tài chính của 206 công ty niêm yết tại Pháp trong giai đoạn từ 2006 đến 2009, nhằm làm rõ vai trò của cơ chế quản trị đối với hành vi công bố thông tin của các công ty.
Nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ báo cáo tự nguyện trên BCTN của các công ty niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2013-2014, bao gồm quyền sở hữu, cơ cấu HĐQT, tần suất họp HĐQT, chất lượng kiểm toán và các biến số kiểm soát như quy mô công ty, lợi nhuận và đòn bẩy tài chính Do hạn chế về khả năng thu thập dữ liệu và thời gian, nghiên cứu sẽ phân tích tác động của những yếu tố này đến hành vi báo cáo của các doanh nghiệp trong phạm vi nghiên cứu.
Thêm vào đó, nghiên cứu đề xuất đưa thêm vào mô hình biến sự tách biệt giữa
Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT Yếu tố này dựa vào nghiên cứu của tác giá Yaseen Al-Janadi (2013)
Như vậy, mô hình nghiên cứu đề nghị được đưa ra với 8 nhân tố tác động:
(3) Tần suất các cuộc họp HĐQT,
(5) Sự tách biệt giữa Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT,
Những nhân tố này để đo lường biến phụ thuộc là chỉ số CBTT tự nguyện trên BCTN Mô hình nghiên cứu được khái quát như sau:
Hình 3.2 –Mô hình nghiên cứu đề nghị là “Các nhân tố QTCT ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của các CTNY”
Nguồn: kế thừ từ các nghiên cứu trước đây
SỰ TÁCH BIỆT GIỮA TGĐ
TỶ LỆ GIÁM ĐỐC ĐỘC LẬP
TẦN SỐ CÁC CUỘC HỌP
CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN CHỈ SỐ CÔNG BỐ THÔNG
BCTN ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH
Các yếu tố ảnh hưởng trong mô hình nghiên cứu được xem xét dựa trên điều kiện đảm bảo mức độ tự nguyện CBTT trên cơ sở các lý thuyết nền đã được xác định trước đó Mối quan hệ giữa từng nhân tố ảnh hưởng và mức độ CBTT tự nguyện của các công ty niêm yết trên báo cáo tài chính cũng đã được phân tích rõ ràng trong phần trên, dựa trên các giả thuyết nghiên cứu được trình bày dưới đây.
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu trong mô hình
Sự tập trung vốn chủ sở hữu trong doanh nghiệp có thể gây ra mâu thuẫn về quyền sở hữu giữa các cổ đông nội bộ và nhà đầu tư bên ngoài (Claessens et al., 2000) Điều này làm giảm tính cần thiết của công bố thông tin bắt buộc (CBTT) của các công ty, vì quyền lợi của các bên sở hữu có thể xung đột nhau (LaPorta et al., 1998).
Gi ả thuyết H1: Công ty có mức độ tập trung vốn chủ sở hữu càng cao thì mức độ CBTT t ự nguyện càng thấp
3.2.2.2 Tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT (BIndp)
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tỷ lệ thành viên độc lập Hội đồng quản trị càng cao sẽ giúp cải thiện tính chính xác của các dự báo phân tích và giảm khả năng bị lừa đảo thông tin trong công ty Các bằng chứng từ các nghiên cứu của Byard et al (2006), Mak và Li (2001), cũng như Chen và Jaggi (2000), đều nhấn mạnh mối liên hệ tích cực giữa thành viên độc lập và độ tin cậy của thông tin tài chính Thêm vào đó, các nghiên cứu của Cheng và Courtenay (2006), Patelli và Prencipe (2007), cùng Akhtaruddin et al (2009) đều cho thấy việc công báo tự nguyện trong các báo cáo tài chính ngày càng tăng theo số lượng thành viên độc lập tại các quốc gia như Singapore, Ý và Malaysia, góp phần nâng cao minh bạch và trách nhiệm của doanh nghiệp.
Dựa trên những lập luận này, giả thuyết sau đây được thành lập:
Gi ả thuyết H2: Mức độ CBTT tự nguyện trong các BCTN tăng với tỷ lệ phần trăm thành viên độc lập trong HĐQT
3.2.2.3 Tần suất các cuộc họp HĐQT(BMeet)
Các bằng chứng liên quan hỗ trợ đề xuất của Abbott et al (2003), cho rằng việc Hội đồng quản trị họp thường xuyên giúp nâng cao mức độ cẩn trọng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được ủy quyền Việc họp thường xuyên của HĐQT không những đảm bảo sự kiểm tra liên tục mà còn tăng tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý công ty Các nghiên cứu cho thấy, hoạt động họp định kỳ của HĐQT góp phần thúc đẩy sự giám sát chặt chẽ hơn, giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp.
Các nghiên cứu cho thấy tần suất các cuộc họp của Hội đồng quản trị liên quan đến hoạt động giám sát, dẫn đến việc công bố thông tin tự nguyện tăng lên Do đó, giả thuyết được hình thành rằng, hoạt động giám sát chặt chẽ hơn của Hội đồng quản trị thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện nhiều hơn các công bố tự nguyện nhằm tăng cường minh bạch và truyền thông với cổ đông.
Gi ả thuyết H3: M ức độ CBTT tự nguyện trong các BCTN tăng với tần suất các cuộc h ọp của HĐQT
3.2.2.4 Chất lượng kiểm toán (Big-4)
Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho thấy kích thước công ty kiểm toán có tác dụng tích cực đối với mức độ công bố thông tin tự nguyện (CBTT), như nghiên cứu của Craswell và Taylor (1992) đã chỉ ra Những kết quả này cho thấy rằng công ty kiểm toán lớn hơn thường có xu hướng thúc đẩy việc công bố thông tin tự nguyện, góp phần nâng cao tính minh bạch và uy tín của doanh nghiệp Các bằng chứng này nhấn mạnh tầm quan trọng của kích thước công ty kiểm toán trong việc thúc đẩy các hoạt động báo cáo tự nguyện và cải thiện chất lượng thông tin tài chính.
Inchausti, 1997).Giả thuyết được thành lập như sau :
Gi ả thuyết H4: Mức độ CBTT tự nguyện trong các BCTN tăng khi các DN được ki ểm toán bởi một công ty kiểm toán lớn
3.2.2.5 Sự tách biệt giữa vị trí Tổng giám đốcvà Chủ tịch HĐQT (ChairMan)
Dựa trên lý thuyết đại diện, việc có một Chủ tịch Hội đồng quản trị độc lập với Tổng giám đốc sẽ nâng cao hiệu quả giám sát và thúc đẩy yêu cầu báo cáo công khai đầy đủ từ các cổ đông và ban quản trị Theo giả thuyết này, sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa Chủ tịch độc lập và Tổng giám đốc giúp kiểm soát tốt hơn hoạt động quản lý doanh nghiệp, giảm thiểu xung đột lợi ích và tăng tính minh bạch Do đó, các công ty có cơ cấu lãnh đạo này thường thể hiện hiệu quả hoạt động cao hơn, góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp và tín nhiệm của nhà đầu tư.
Gi ả thuyết H5 Mức độ CBTT tự nguyện trong các BCTN tăng khi có sự tách giữa
T ổng giám đốc và vị trí Chủ tịch HĐQT
3.2.2.6 Quy mô, lợi nhuận và đòn bẩy tài chính (Size, Profit và Dept)
Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng các biến kiểm soát như quy mô công ty, lợi nhuận và đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của doanh nghiệp, như Debreceny et al (2002) và Xiao et al (2004) đã chứng minh Do đó, các giả thuyết liên quan được xây dựng dựa trên mối liên hệ này nhằm làm rõ tác động của các yếu tố kiểm soát đến hành vi công bố thông tin của doanh nghiệp.
Gi ả thuyết H6.Quy mô có tác động đến mức độ CBTT tự nguyện trong các BCTN
Gi ả thuyết H7.Lợi nhuận có tác động đến mức độ CBTT tự nguyện trong các BCTN
Gi ả thuyết H8.Đòn bẩy tài chính có tác động đến mức độ CBTT tự nguyện trong các
Luận văn xây dựng mô hình nghiên cứu chính dựa trên giả thuyết về biến phụ thuộc là CBTT tự nguyện (VDI), đồng thời xác định 8 biến độc lập gồm Quyền sở hữu (MOwn), Tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT (BIndp), Tần suất các cuộc họp HĐQT (BMeet), Chất lượng kiểm toán (Big-4), và sự tách biệt giữa các yếu tố khác nhằm phân tích ảnh hưởng của các biến này đến CBTT tự nguyện.
Tổng giám đốc và Chủ tịch Hội đồng quản trị (CHAIRMAN) đóng vai trò quan trọng trong điều hành công ty, ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động và chiến lược phát triển Quy mô công ty (Size) là yếu tố quan trọng phản ánh khả năng tài chính và thị phần của doanh nghiệp Đòn bẩy tài chính (Debt) tác động đến rủi ro tài chính và lợi nhuận, góp phần vào quyết định đầu tư và chiến lược tài chính của công ty Lợi nhuận (Profit) thể hiện khả năng sinh lời và duy trì hoạt động bền vững của doanh nghiệp Trong mô hình được thể hiện trong hình 3.4, các yếu tố này được ký hiệu là H, tượng trưng cho giả thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ Công bố Bằng chứng Tự nguyện (CBTT tự nguyện) của các công ty niêm yết.
Hình 3.3 – Mô hình nghiên cứu chính thức
Nguồn: dựa trên giả thuyết nghiên cứu
TỶ LỆ THÀNH VIÊN ĐL TRONG HĐQT
Xác định phương pháp đo lường và tính toán các nhân tố trong mô hình
3.3.1 Đo lường mức độCBTT tự nguyện
3.3.1.1 Thang đo mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của CTNY Để đo lường mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN các CTNY trên sàn HOSE như đãtrình bày trên, trong nghiên cứu này cũng sử dụng các thang đo đó nhưng có điều chỉnh và bổ sung để vận dụng cho TTCK Việt Nam Danh mục CBTT tự nguyện được xây dựng như sau:
Dựa trên nghiên cứu của tác giả Carlos P Barros (2013), có tổng cộng 112 hạng mục thông tin tự nguyện công bố, được chia thành bốn nhóm chính Nhóm thông tin chiến lược gồm 30 hạng mục giúp doanh nghiệp thể hiện rõ mục tiêu dài hạn và chiến lược phát triển Nhóm thông tin phi tài chính gồm 35 hạng mục ghi nhận các dữ liệu không liên quan trực tiếp đến tài chính nhưng quan trọng cho hoạt động bền vững của doanh nghiệp Nhóm thông tin tài chính gồm 36 hạng mục cung cấp các số liệu tài chính chi tiết về kết quả hoạt động kinh doanh Cuối cùng, nhóm thông tin quản trị gồm 11 hạng mục phản ánh về cấu trúc quản lý, quản lý rủi ro và các chính sách nội bộ của doanh nghiệp, góp phần nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Bước 2 của nghiên cứu nhằm giảm thiểu tối đa tính chủ quan trong việc xác định danh sách các khoản hạng mục CBTT Hệ thống danh mục được so sánh với quy định tại Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về công bố thông tin trên TTCK Đồng thời, phương pháp này dựa trên các nguyên tắc xác định rõ ràng nhằm đảm bảo tính nhất quán và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.
Năm 2004, OECD đã phát triển Bộ tiêu chuẩn về Thông tin Công bố và Tính minh bạch trong Quản trị công ty (QTCT), gồm 6 thành phần chính Tuy nhiên, tác giả đã loại trừ các hạng mục thông tin bắt buộc công bố ra khỏi Bộ tiêu chuẩn này Dựa trên đó, một bảng danh mục Thông tin Công bố tự nguyện gồm 41 hạng mục được xây dựng và phân chia thành 4 nhóm thông tin khác nhau Thông tin này được thể hiện rõ trong Phụ lục 1: Danh mục Thông tin Công bố tự nguyện trên Bảng cân đối kế toán của các công ty niêm yết.
Thông tin chiến lược công ty (6hạng mục)
Thông tin phi tài chính (12 hạng mục)
Thông tin tài chính (15hạng mục)
Thông tin QTCT (8 hạng mục)
3.3.1.2 Tính chỉ số CBTT tự nguyện
Trong chương 2 của luận văn, đã trình bày các phương pháp đo lường mức độ CBTT tự nguyện, phụ thuộc vào mục tiêu và cách tiếp cận của từng nghiên cứu Để đánh giá mức độ CBTT tự nguyện trên báo cáo tài chính, tác giả sử dụng phương pháp chỉ số CBTT không trọng số, trong đó mỗi mục thông tin công bố trong báo cáo thường niên được quy điểm 1, còn không công bố sẽ nhận giá trị 0, nhằm tránh chủ quan Chỉ số CBTT tự nguyện (VDI j) của một công ty niêm yết được tính bằng tổng số mục thông tin công bố hợp lệ trong báo cáo tài chính.
- VDI j : chỉ số CBTT tự nguyện của công ty j
- dij = 1 nếu mục thông tin i được công bố, = 0 nếu mục thông tin không được công bố
- n: Số lượng mục thông tin công ty có thể công bố
3.3.2 Đo lườngcác nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của các CTNY
Biến phụ thuộc trong báo cáo tài chính tự nguyện của các doanh nghiệp nhà nước được đo lường bằng phương pháp không trọng số, phản ánh chỉ số CBTT tự nguyện Có 8 biến độc lập gồm các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của doanh nghiệp nhà nước, giúp xác định các yếu tố chính tác động đến mức độ minh bạch và tự nguyện công khai thông tin tài chính.
Quyền sở hữu, cơ cấu Hội đồng quản trị, tần suất các cuộc họp HĐQT, chất lượng kiểm toán và các yếu tố kiểm soát là những yếu tố ảnh hưởng đến quy mô, lợi nhuận và đòn bẩy tài chính của công ty Các nhân tố này được đo lường dựa trên các kết quả nghiên cứu trước đó trên thế giới, giúp đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động và khả năng kiểm soát của doanh nghiệp.
Gi ả thuyết H1: Công ty có mức độ tập trung vốn chủ sở hữu càng cao thì mức độ CBTT tự nguyện càng thấp
Biến Quyền sở hữu (MOwn) thể hiện tỷ lệ cổ phần của các thành viên HĐQT và đóng vai trò quan trọng trong việc đo lường quyền sở hữu của các cổ đông Đây là chỉ số chính được sử dụng trong các nghiên cứu để phân tích quyền kiểm soát và ảnh hưởng của các thành viên trong quản trị doanh nghiệp Việc xác định MOwn giúp hiểu rõ hơn về phân bổ cổ phần và mức độ tham gia của các cổ đông chủ chốt.
VDI j = ∑ 𝑛𝑛𝑑𝑑 𝑑𝑑=1 𝑛𝑛𝑑𝑑 𝑑𝑑𝑑𝑑𝑑𝑑 củaArchambault (2003), S.Y Cheung et al (2005) Vì vậy, qua khảo sát BCTN của các
CTNY, biến này được xác định là tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT (%) được tính như sau:
Tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT (MOwn)= (Tổng số cổ phiếu phổ thông mà các thành viên
HĐQT sở hữu/Tổng số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành năm tính toán) x 100
(2) Biến 2: Tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT
Gi ả thuyết H2: Mức độ CBTT tự nguyện trong các BCTN tăng với tỷ lệ phần trăm thành viên độc lập trong HĐQT
Biến tỷ lệ thành viên độc lập trong Hội đồng Quản trị (HĐQT), ký hiệu là BIndp, là một yếu tố quan trọng theo quy chế QTCT (TT 121/2012/TT-BTC) Theo quy định này, "Thành viên HĐQT độc lập" được định nghĩa là những người không tham gia điều hành công ty và không có mối liên hệ liên quan đến giám đốc hoặc các đối tác liên quan, góp phần nâng cao tính minh bạch và quản trị công ty hiệu quả.
Các vị trí như Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng và các cán bộ quản lý khác được HĐQT bổ nhiệm hoặc cổ đông lớn của công ty, cùng với một số điều kiện khác Dữ liệu để đo lường biến này được lấy từ thông tin công bố trong Báo cáo tài chính (BCTN) của các công ty trong mẫu nghiên cứu, được đăng tải trên website của Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM hoặc website của từng công ty Biến này được xác định dựa trên các thông tin cụ thể trong báo cáo tài chính công bố hàng năm của các doanh nghiệp.
Tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT (BIndp)= Số thành viên độc lập trong HĐQT/ Tổng số thành viên HĐQT x 100
(3) Tần suất các cuộc họp HĐQT
Gi ả thuyết H3: Mức độ CBTT tự nguyện trong các BCTN tăng với tần suất các cu ộc họp của HĐQT
Biến tần suất các cuộc họp HĐQT – ký hiệu là BMeet Theo nghiên cứu của
Tần suất cuộc họp Hội đồng quản trị (HĐQT) phản ánh cường độ hoạt động của HĐQT, được đo bằng số lượng cuộc họp trong năm tài chính Dữ liệu để xác định tần suất này chủ yếu dựa trên thông tin công bố trong Báo cáo tài chính năm (BCTN) của các doanh nghiệp nghiên cứu, được lấy từ website của Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM hoặc website của từng công ty.
Gi ả thuyết H4: Mức độ CBTT tự nguyện trong các BCTN tăng khi các DN được kiểm toán bởi một công ty kế toán lớn
Biến chất lượng kiểm toán, ký hiệu là Big-4, dùng để phân biệt quy mô và uy tín của các công ty kiểm toán mà các doanh nghiệp (CTNY) thuê để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính Theo các nghiên cứu quốc tế, các tác giả thường phân chia các công ty kiểm toán thành hai nhóm chính: nhóm Big 4 và nhóm các công ty kiểm toán không thuộc Big 4 Nhóm Big 4 gồm các tập đoàn kiểm toán lớn nhất thế giới, được đánh giá cao về năng lực và uy tín trong ngành Trong khi đó, các công ty kiểm toán không phải Big 4 thường là các công ty nhỏ hơn, có phạm vi hoạt động hạn chế hơn nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong thị trường kiểm toán.
R.Bushman, 2001; Archambault, 2003; Cheung, 2005) Ở Việt Nam, có 4 công ty kiểm toán trong nhóm Big 4 là: KPMG, E&Y, Delloitte và PwC Đây cũng là bốn công ty thường đứng ở vị trí hàng đầu các công ty kiểm toán được phép kiểm toán cho các CTNY với 4 chỉ tiêu hoạt động chủ yếu (doanh thu, số lượng khách hàng, số lượng nhân viên, số lượng kiểm toán viên hành nghề) do VACPA đưa ra khi xếp hạng các công ty kiểm toán trong các năm từ 2008 đến 2012
Trong nghiên cứu này, biến chất lượng kiểm toán được xác định là biến danh tính, do đó, luận văn sử dụng biến giả để thể hiện Công ty kiểm toán của các doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big 4 được mã hóa là 1, trong khi các công ty kiểm toán không thuộc Big 4 (Non Big 4) được mã hóa là 0 Việc phân loại này giúp đánh giá tác động của chất lượng kiểm toán đến các yếu tố liên quan trong nghiên cứu một cách rõ ràng và chính xác.
(5) Sự tách biệt giữa Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT
Gi ả thuyết H5: Mức độ CBTT tự nguyện trong các BCTN tăng khi có sự tách bi ệt giữa Tổng giám đốc vàChủ tịch HĐQT
Biến sự tách biệt giữa Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT – kí hiệu ChairMan
Dữ liệu để đo lường biến này được lấy từ các thông tin công bố trong Báo cáo tài chính (BCTN) của các công ty trong mẫu nghiên cứu Thông tin này được cập nhật tại thời điểm nghiên cứu và có thể truy cập trên website của Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM hoặc của từng công ty Việc sử dụng dữ liệu công bố minh bạch giúp đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của phân tích, hỗ trợ các quyết định đầu tư dựa trên số liệu thực tế.
Thi ết kế chương trình nghiên cứu
3.4.1 Mẫu nghiên cứu: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu:
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, mẫu nghiên cứu tập trung vào các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) Việc chọn mẫu này giúp phân tích chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam Mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng HOSE đóng vai trò trung tâm trong việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính quốc gia.
Hiện nay tại TP.HCM và Hà Nội, có hai sàn giao dịch chứng khoán hoạt động chính là HOSE và HNX Sàn HOSE, bắt đầu hoạt động từ ngày 20/7/2000, có thời gian hoạt động lâu dài hơn và quy mô lớn hơn so với sàn HNX, khởi động từ ngày 14/7/2005 Theo nhận định của Ngân hàng Thế giới (World Bank), HOSE đóng vai trò quan trọng trong phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam với quy mô và tính thanh khoản cao hơn HNX.
Sở GDCK TP.HCM là thị trường cổ phiếu chính của Việt Nam, đóng vai trò trung tâm trong hoạt động chứng khoán Theo báo cáo thẻ điểm QTCT của IFC năm 2012, để lựa chọn mẫu báo cáo tài chính (BCTN) phù hợp cho các công ty niêm yết trên sàn HOSE, các tiêu chí quan trọng cần được xem xét nhằm đảm bảo tính minh bạch và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
− Không thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán,
− BCTN có báo cáo tài chính đã được kiểm toán,
Công ty có nhiều hình thức công khai báo cáo tài chính như website, ấn phẩm của công ty và báo cáo nội bộ Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu này chỉ tập trung thu thập dữ liệu từ các nguồn công khai như website và ấn phẩm của công ty để đảm bảo độ chính xác và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
BCTN và các phụ lục đính kèm
Tính đến ngày 31/08/2015, trên sàn HOSE có tổng cộng 310 công ty niêm yết (theo dữ liệu từ website www.hsx.vn) Trong số này, 16 công ty được loại trừ do bắt đầu niêm yết trong năm 2015, do thời gian hoạt động của các công ty này còn ngắn so với các công ty khác và số lượng báo cáo tài chính thường xuyên lập từ thời điểm niêm yết không đủ để phục vụ nghiên cứu Sau quá trình loại bỏ các yếu tố không phù hợp, số còn lại là 294 công ty niêm yết phù hợp để phân tích trong nghiên cứu.
Trong tổng số 294 công ty chứng khoán (CTNY) được khảo sát, đã loại trừ 19 công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính như quỹ đầu tư, công ty chứng khoán và ngân hàng, còn lại 275 công ty đủ điều kiện phân tích.
Trong số 275 công ty được nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp xác suất ngẫu nhiên để chọn mẫu nghiên cứu định lượng chính thức, đảm bảo tính đại diện và khách quan trong quá trình phân tích Phương pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu, phù hợp với các tiêu chuẩn khoa học, giúp nâng cao giá trị của luận văn.
Trong đó: n: Kích thước mẫu N: Kích thước tổng thể e: Sai số cho phép (+/- 3%, 5%, 8%, 10%)
Với mức lãi suất e = 8%, kích thước mẫu tính được là 100 công ty, chiếm khoảng 36% tổng số công ty niêm yết được nghiên cứu Các công ty trong mẫu đã được chọn lọc kỹ càng và thể hiện rõ trong bảng 3.2, đảm bảo độ đại diện phù hợp cho phân tích Kích thước mẫu này giúp tăng tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu về các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Bảng 3.2 : Bảng mô tả chọn mẫu
Tổng số CTNY trên HOSE (31/08/2015) 310
Số công ty mới niêm yết 16
Số công ty tài chính 19
Số công ty trong mẫu 100
Nguồn: Thống kê của tác giả
Phụ lục 2 : Danh sách các CTNY trong mẫu nghiên cứu kiểm định
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ các báo cáo tài chính năm 2012, 2013, 2014 của các công ty niêm yết trên sàn HOSE, dựa trên mẫu nghiên cứu đã được xác định Mục tiêu là xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty này, qua đó thực hiện tính toán các yếu tố tác động dựa trên dữ liệu của 100 công ty được chọn trong mẫu nghiên cứu Quá trình phân tích thực hiện bằng cách truy cập vào website của các công ty, với mẫu dữ liệu n = NN.
SGDCK TP.HCM cung cấp các thông tin liên quan và cho phép tải xuống tất cả các Báo cáo thường niên (BCTN) có báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm 2012, 2013, 2014 của các công ty niêm yết (CTNY) Các thông tin này được công bố trên website chính thức của Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (www.hsx.vn), là địa chỉ bắt buộc để công bố thông tin của các CTNY Ngoài ra, luận văn còn tham khảo các website chuyên về chứng khoán như www.cafef.vn, www.vietsock.vn và website của các CTNY để khảo sát các vấn đề liên quan đến việc công bố thông tin (CBTT).
Phụ lục 3: Dữ liệu chạy mô hình hồi quy
Tác giả sử dụng phần mềm Eviews để phân tích mô hình và đánh giá tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc Quá trình phân tích dữ liệu được thực hiện bằng các phương pháp chuyên sâu nhằm đảm bảo độ chính xác và tin cậy của các kết quả Phương pháp này giúp xác định rõ mối quan hệ giữa các biến và hỗ trợ đưa ra các kết luận chính xác về tác động của các yếu tố độc lập Các phân tích kỹ lưỡng bằng Eviews là bước quan trọng trong việc nghiên cứu và đưa ra các đề xuất phù hợp.
Trong luận văn này, phần thống kê mô tả đã được sử dụng để phân tích dữ liệu, bao gồm tính toán số quan sát, giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, trung vị và độ lệch chuẩn của biến phụ thuộc (chỉ số CBTT tự nguyện) cùng với 8 biến độc lập định lượng, giúp cung cấp cái nhìn toàn diện về đặc điểm của dữ liệu nghiên cứu.
Trong nghiên cứu này, kiểm định ma trận hệ số tương quan được thực hiện nhằm phát hiện mối tương quan giữa các biến định lượng như Quyền sở hữu, Tỷ lệ thành viên độc lập trong Hội đồng Quản trị, Tần suất các cuộc họp HĐQT, Chất lượng kiểm toán, Sự tách biệt giữa Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT, Quy mô công ty, Lợi nhuận và Đòn bẩy tài chính Đặc biệt, mục tiêu của luận văn là không chỉ xác định mối quan hệ giữa các biến mà còn phát hiện các vấn đề đa cộng tuyến, tồn tại khi hai hay nhiều biến độc lập có mức độ tương quan rất cao, ảnh hưởng đến độ chính xác của mô hình nghiên cứu.
3.4.3.3 Phân tích hồi quy bội
Phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên việc phân tích các nghiên cứu trước để dự đoán mối quan hệ tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, thông qua mô hình hồi quy Các phân tích này giúp xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố độc lập đối với biến phụ thuộc trong các nghiên cứu về lĩnh vực này Mô hình hồi quy cung cấp công cụ để đo lường và dự báo các tác động của biến độc lập, từ đó hỗ trợ đưa ra các quyết định dựa trên dữ liệu chính xác và khách quan Việc ứng dụng phương pháp này ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và doanh nghiệp ưa chuộng để nâng cao hiệu quả phân tích và dự báo các xu hướng trong thực tiễn.
VDI it = β 0 -β 1 Mown it + β 2 BIndp it + β 3 BMeet it + β 4 Big-4 it + β 5 ChairMan it + β 6 Logasst it + β 7 ROA it + β 8 LEV it + ω it
- i và t là ký hiệu biểu thị công ty (100 công ty) và thời gian (T=3)
- VDI: Chỉ số CBTT tự nguyện trên BCTN
- β1 , β2 ,β3 ,…βn : Hệ số các biến giải thích
- ωit: Phần dư ω it = ɛ i + v it
Trong phân tích dữ liệu, sai số chéo (ɛi) thể hiện sự sai lệch của mô hình dự đoán so với thực tế, trong khi đó, sai số của mô hình hồi quy (v it) phản ánh độ chính xác của mô hình đối với bộ dữ liệu hiện tại Các biến như Mown, BIndp, BMeet, Big-4, ChairMan, Logasst, Roa, Lev đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu mối quan hệ ảnh hưởng đến kết quả phân tích, giúp nâng cao độ chính xác của mô hình hồi quy, đảm bảo kết quả phân tích phù hợp với các tiêu chuẩn SEO và tối ưu hóa công cụ tìm kiếm.