1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) ảnh hưởng của giới tính nữ trong hội đồng quản trị và ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tp hcm

100 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của giới tính nữ trong hội đồng quản trị và ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP HCM
Tác giả Đinh Ngọc Tú
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Thị Giang Tân
Trường học Trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2016
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY (14)
    • 1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LƠI NHUẬN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH NỮ ĐẾN HÀNH VI NÀY (14)
      • 1.1.1. Các nghiên cứu nước ngoài (14)
      • 1.1.2. Các nghiên cứu trong nước (21)
    • 1.2. XÁC ĐỊNH KHE HỔNG NGHIÊN CỨU (23)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (28)
    • 2.1. CÁC KHÁI NIỆM CĂN BẢN (28)
      • 2.1.1. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận (28)
      • 2.1.2. Giới tính và giới tính nữ (30)
      • 2.1.3. Một số khái niệm khác (30)
    • 2.2. CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG (31)
      • 2.2.1. Lý thuyết Ủy nhiệm (Agency theory) (31)
      • 2.2.2. Lý thuyết các bên có liên quan (stakeholder theory) (32)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 3.1. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN (35)
    • 3.2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU (36)
      • 3.2.1. Mô hình nghiên cứu (36)
      • 3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu (39)
    • 3.3. MẪU (41)
    • 3.4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU (42)
    • 3.5. THANG ĐO (43)
    • 3.6. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU (46)
      • 3.6.1. Phương pháp thống kê mô tả (46)
      • 3.6.2. Phân tích tương quan (46)
      • 3.6.3. Kiểm định mô hình hồi quy (47)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (49)
    • 4.1. PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ (49)
    • 4.2. PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN VÀ KIỂM TRA HIỆN TƯỢNG ĐA CỘNG TUYẾN (51)
    • 4.3. PHÂN TÍCH MÔ HÌNH HỒI QUY (54)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI (61)
    • 5.1. KẾT LUẬN (61)
    • 5.2. GỢI Ý CÁC CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ (62)
    • 5.3. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO (66)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (68)

Nội dung

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LƠI NHUẬN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH NỮ ĐẾN HÀNH VI NÀY

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới vì nó làm cho báo cáo tài chính không phản ánh trung thực và hợp lý, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến quyết định của người sử dụng và gây thiệt hại cho xã hội Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng giới tính nữ có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Các dòng nghiên cứu chính trong lĩnh vực này bao gồm việc phân tích tác động của giới tính nữ đến xu hướng và cường độ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty.

1.1.1.1 Các nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Dòng nghiên cứu này tập trung xây dựng các mô hình đề phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận nhƣ là:

Nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán, đặc biệt là các biến dồn tích, cho thấy việc điều chỉnh lợi nhuận là hành vi sử dụng các phương pháp như khấu hao, dự phòng, trì hoãn hoặc ghi nhận sớm doanh thu nhằm thay đổi kết quả hoạt động kinh doanh để đạt mục tiêu của người quản lý Việc phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận rất quan trọng, đặc biệt đối với các lĩnh vực như nghề kiểm toán, nhằm đảm bảo tính chính xác và minh bạch của báo cáo tài chính.

Một số nghiên cứu tiêu biểu về hành vi này nhƣ sau:

Healy (1985) nghiên cứu về hành vi của nhà quản lý liên quan đến khoản thưởng hàng năm gắn liền với lợi nhuận trên báo cáo tài chính, cho thấy kế hoạch thưởng ảnh hưởng đến quyết định của quản lý trong việc điều chỉnh lợi nhuận Nghiên cứu này chỉ rõ rằng các chính sách kế toán được sử dụng nhằm tác động đến hành vi của nhà quản lý để đạt được các mục tiêu lợi nhuận mong muốn.

Khi lợi nhuận trong kỳ kế toán hiện tại dự tính cao hơn mức lợi nhuận cần để nhận thưởng, nhà quản lý có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận hiện tại để tăng lợi nhuận các kỳ sau và đạt các khoản thưởng trong tương lai Nghiên cứu của Healy chỉ ra rằng biến tổng dồn tích (total accruals), được ước tính bằng lợi nhuận sau thuế trừ dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, là đại diện cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận Biến này gồm có dồn tích có điều chỉnh (discretionary accruals) và dồn tích không điều chỉnh (nondiscretionary accruals), phản ánh các hoạt động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý.

Nghiên cứu của Jones (1991) chỉ ra rằng trong giai đoạn nhận trợ cấp nhập khẩu như gia tăng ưu đãi thuế và giảm hạn ngạch, các công ty thường điều chỉnh giảm lợi nhuận thông qua trì hoãn ghi nhận doanh thu để hưởng lợi trong tương lai khi không còn trợ cấp, qua đó thúc đẩy các khoản thưởng cao hơn cho ban giám đốc Kết quả cho thấy ban giám đốc ít có động cơ để tăng lợi nhuận trong thời kỳ hưởng trợ cấp, thay vào đó sử dụng các biến dồn tích có thể điều chỉnh (DA) để điều chỉnh lợi nhuận, vì biến tổng dồn tích (TA) dễ bị chi phối bởi các quyết định quản lý Theo đó, hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp có liên quan đến các chính sách trợ cấp nhập khẩu có thể được đánh giá thông qua biến DA, giúp hiểu rõ hơn về chiến lược tài chính và hành vi của ban lãnh đạo.

Jones (1991) đã xây dựng một mô hình nhằm phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, đặc biệt phù hợp để kiểm tra dữ liệu thời gian và dữ liệu chéo, giúp xác định các sai lệch trong lợi nhuận và nâng cao tính minh bạch của báo cáo tài chính.

TA: tổng dồn tích (Total Accruals) = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền từ hoạt động

REV: Doanh thu (Revenues) PPE: Nguyên giá của tài sản cố định hữu hình (Property, Plant and Equipment)

A: Tổng tài sản tot nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trong mô hình trên, ta xác định các tham số αi, βi1, βi2 để tính biến dồn tích không điều chỉnh (NDA) Các tham số này giúp xác định NDA, từ đó dễ dàng tính biến dồn tích có điều chỉnh (DA) thông qua công thức phù hợp Việc này giúp đánh giá chính xác các biến dồn tích trong phân tích tài chính.

Dechow, Sloan và Sweeney (1995) đã cải tiến mô hình phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận dựa trên mô hình của Jones (1991) bằng cách thêm vào biến nợ phải thu, nhằm phản ánh khả năng quản lý điều chỉnh doanh thu khi chưa thu tiền Việc này giúp giảm thiên lệch trong việc phát hiện hành vi thao túng lợi nhuận do nhà quản lý có thể làm tăng doanh thu để che giấu các hoạt động không thực chất Các tác giả kết luận rằng mô hình mới này có khả năng phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận chính xác hơn so với mô hình của Jones.

Trong đó là sự thay đổi trong tài khoản nợ phải thu Và các hệ số , vẫn đƣợc tính toán dựa vào mô hình Jones.

Kothari, Leone & Wasley (2005) dựa trên mô hình của Jones (1991) và Dechow, Sloan & Sweeney (1995), đồng thời bổ sung biến tỷ suất lợi nhuận trên tài sản năm t-1 (ROAt-1) để đo lường biến dồn tích có điều chỉnh và kết quả hoạt động Mô hình của các tác giả này nhằm nâng cao độ chính xác trong việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tài chính của doanh nghiệp.

Trong đó là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản năm t-1

Nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận qua các hoạt động kinh tế cho thấy, nhà quản lý có thể tác động đến lợi nhuận bằng cách thực hiện các chính sách bán hàng, điều chỉnh chi phí, hoặc thay đổi hoạt động đầu tư như đầu tư vào tài sản hoặc thiết bị mới Các hoạt động này nhằm ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí, lợi nhuận hoặc dòng tiền của công ty, giúp công ty đạt được các mục tiêu tài chính mong muốn một cách linh hoạt và hiệu quả.

Nhiều nghiên cứu cho thấy các công ty có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua hoạt động kinh tế thực tế, hay còn gọi là Real Activities Manipulation (REM) Các hoạt động này bao gồm các chiến lược nhằm nâng cao hoặc giảm thiểu lợi nhuận bằng cách thay đổi các quyết định kinh doanh hàng ngày, nhằm mục đích tác động đến báo cáo tài chính một cách hợp pháp Những phân tích tiêu biểu đã chứng minh rằng REM là một phương pháp phổ biến mà các doanh nghiệp sử dụng để quản lý lợi nhuận một cách tinh vi và có hệ thống.

Roychowdhury (2006) đã xây dựng mô hình nhằm nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận qua các hoạt động kinh tế, sử dụng phương pháp hồi quy chéo trên 36 ngành của 4.252 công ty tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1987-2001 Nghiên cứu cho thấy nhà quản lý có thể thực hiện các biện pháp như chiết khấu để thúc đẩy doanh thu hoặc sản xuất nhiều hơn để giảm chi phí giá vốn hàng bán, nhằm tránh báo cáo lỗ hàng năm Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận bao gồm thành viên ngành, hàng tồn kho dự trữ và các khoản phải thu cao Đồng thời, các công ty thường điều chỉnh lợi nhuận để phù hợp với dự báo phân tích hàng năm, phản ánh mối quan hệ nghịch chiều giữa cấu trúc sở hữu về vốn và hành vi này, cũng như mối quan hệ thuận chiều giữa hàng tồn kho, các khoản phải thu, cơ hội tăng trưởng và hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Zamri et al (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các tỷ số đòn bẩy tài chính và hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng cách sử dụng mô hình của Roychowdhury (2006) Nghiên cứu này dựa trên phân tích dữ liệu của 4.076 công ty trong giai đoạn từ năm 2006 trở đi Kết quả cho thấy rằng tỷ số đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp Những phát hiện này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách các công ty sử dụng các tỷ số tài chính để điều chỉnh lợi nhuận nhằm phù hợp với mục tiêu tài chính của họ.

Năm 2011, các công ty niêm yết trên Bursa Malaysia đã trở thành đối tượng nghiên cứu của tác giả, người đã xác định được mối quan hệ tiêu cực giữa đòn bẩy tài chính và hành vi điều chỉnh lợi nhuận Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức đòn bẩy tài chính cao hơn thường đi kèm với xu hướng điều chỉnh lợi nhuận nhằm che giấu khoản lỗ hoặc pha loãng lợi nhuận Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát đòn bẩy tài chính để hạn chế các hành vi gian lận tài chính, góp phần nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính.

Các nghiên cứu cho thấy, hành vi điều chỉnh lợi nhuận thường được thực hiện thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán phù hợp, đặc biệt là các biến dồn tích, cũng như qua các hoạt động kinh tế nhằm đạt được mục tiêu tài chính mong muốn.

XÁC ĐỊNH KHE HỔNG NGHIÊN CỨU

Hiện nay, trên thế giới có nhiều nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của giới tính đến hiệu quả hoạt động, chất lượng báo cáo tài chính và hành vi điều chỉnh lợi nhuận Tuy nhiên, tại Việt Nam, số lượng nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận còn rất hạn chế và chưa có công trình nào tập trung vào ảnh hưởng của giới tính nữ trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đến hành vi này Do đó, tác giả chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ nhằm nghiên cứu thực nghiệm về tác động của giới tính nữ trong các vị trí lãnh đạo doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Nghiên cứu này sẽ giúp làm rõ ảnh hưởng của giới tính nữ đối với việc điều chỉnh lợi nhuận trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam.

Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước

STT Tác giả Nội dung nghiên cứu

1 Healy (1985) Nghiên cứu về hành vi của nhà quản lý khi khoản thưởng hàng năm của họ gắn liền với lợi nhuận trình bày trên báo cáo tài chính

Jones (1991) đã nghiên cứu các công ty nhận trợ cấp nhập khẩu, như tăng ưu đãi thuế và giảm hạn ngạch, để xem xét liệu những chính sách này có dẫn đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không Kết quả của nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận nhằm tận dụng các ưu đãi thuế và chính sách nhập khẩu thuận tiện hơn, phản ánh ảnh hưởng của các chính sách hỗ trợ này đến hành vi tài chính của công ty Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi các thay đổi chính sách và ảnh hưởng của chúng đến hoạt động tài chính và lợi nhuận của doanh nghiệp.

Nghiên cứu về mô hình để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu về mô hình để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu về mô hình để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế (REM)

Nghiên cứu về mức tới hạn (Critical Mass) trong ban điều hành

Nghiên cứu về “Hiểu biết về nguyên nhân và hậu quả về gian lận của Ban Giám đốc”

Nghiên cứu mối quan hệ giữa CEO và CFO là nữ với hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của giới tính nữ trong Hội đồng Quản trị (HĐQT) đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các doanh nghiệp Các yếu tố như thành phần HĐQT và quy mô của HĐQT được phân tích để hiểu rõ hơn về tác động của chúng đến hành vi tài chính của công ty Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò của nữ giới trong HĐQT có thể ảnh hưởng đáng kể đến cách các doanh nghiệp điều chỉnh lợi nhuận nhằm tối ưu hóa kết quả tài chính Nghiên cứu này cung cấp những Insights quan trọng giúp các nhà quản trị và nhà đầu tư hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của giới tính và cấu trúc HĐQT đối với hành vi tài chính doanh nghiệp.

Nghiên cứu về đặc điểm quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu ảnh hưởng của giới tính nữ trong HĐQT, Ban Giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các tỷ số về đòn bẩy tài chính với hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị công ty đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu mối quan hệ giữa giới tính CEO và hiệu quả hoạt động của công ty

Nghiên cứu ảnh hưởng của sự đa dạng giới tính trong HĐQT và Ban Giám đốc đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và hành vi điều chỉnh lợi nhuận

17 Arun et al (2015) Nghiên cứu về giới tính nữ trong HĐQT, Ban Giám đốc với hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của giới tính nữ CFO đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu về mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết ở sở giao dịch chứng khoán TP.HCM

Nghiên cứu về lý thuyết về thủ thuật chi phối lợi nhuận của nhà quản lý và tác động của nó đến người sử dụng BCTC

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính cuối kỳ đề cập đến những yếu tố tác động đến quyết định của doanh nghiệp trong việc điều chỉnh lợi nhuận để phù hợp với mục tiêu tài chính Các yếu tố này bao gồm các áp lực từ nhà đầu tư, yêu cầu về minh bạch thông tin, cũng như các quy định pháp luật về kế toán và kiểm toán Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp doanh nghiệp có chiến lược phù hợp nhằm tối ưu hóa lợi nhuận và đảm bảo tuân thủ chuẩn mực kế toán Nghiên cứu còn phân tích tác động của các yếu tố nội bộ và bên ngoài đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, góp phần nâng cao nhận thức về quản trị rủi ro tài chính và tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM Kết quả cho thấy quản trị công ty có ảnh hưởng đáng kể đến việc điều chỉnh lợi nhuận, giúp tăng tính minh bạch và tin cậy của báo cáo tài chính doanh nghiệp Các yếu tố quản trị như cấu trúc hội đồng quản trị, độc lập của Ban kiểm soát và tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận sai lệch Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp nhằm kiểm soát hành vi này, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư vào thị trường chứng khoán TP.HCM.

Nghiên cứu ảnh hưởng của thành viên nữ trong hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết

Nghiên cứu về sự đa dạng giới tính trong Hội đồng quản trị cho thấy rằng, sự tham gia của nhiều giới tính khác nhau góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty Các doanh nghiệp có hội đồng quản trị đa dạng về giới thường có khả năng ra quyết định sáng tạo hơn và cải thiện hiệu suất kinh doanh Việc thúc đẩy sự đa dạng giới tính trong quản lý giúp tạo ra môi trường làm việc inclusive, thu hút nhân tài và thúc đẩy phát triển bền vững cho doanh nghiệp Do đó, các công ty nên chú trọng đến việc xây dựng đội ngũ quản trị đa dạng giới để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Trong chương này, tác giả đã tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, vai trò của giới nữ trong Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, cũng như ảnh hưởng của giới nữ đến hành vi này Các nghiên cứu trước đã chỉ ra những kết quả đáng chú ý về mối liên hệ giữa giới tính nữ và hành vi điều chỉnh lợi nhuận, đồng thời xác định các lỗ hổng nghiên cứu cần được khảo sát thêm để phục vụ cho luận văn tốt nghiệp Việc phân tích các kết quả này giúp định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao hiểu biết về tác động của giới nữ trong quản trị doanh nghiệp và hành vi tài chính.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CÁC KHÁI NIỆM CĂN BẢN

2.1.1 Hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận, hay còn gọi là chi phối lợi nhuận hoặc chi phối thu nhập, có nhiều định nghĩa khác nhau dựa trên các góc nhìn khác nhau Trong đó, hai khái niệm phổ biến nhất liên quan đến hành vi này là cách các doanh nghiệp kiểm soát hoặc ảnh hưởng đến lợi nhuận nhằm tạo ra bức tranh tài chính phù hợp với mục tiêu của họ Hiểu rõ về hành vi này giúp phân tích chính xác các báo cáo tài chính và đánh giá đúng khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận được định nghĩa bởi Healy & Wahlen (1999) là hành vi mà nhà quản lý sử dụng xét đoán trong báo cáo tài chính và cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế nhằm thay đổi kết quả kinh doanh để gây hiểu lầm cho các đối tượng liên quan về thực trạng kinh tế của công ty Hành vi này còn nhằm tác động đến kết quả các hợp đồng kinh tế dựa trên số liệu kế toán, ảnh hưởng đến quyết định của các bên liên quan.

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận, theo Ronen và Yaari (2008), là tập hợp các quyết định quản lý tác động đến báo cáo tài chính nhằm tối đa hóa giá trị công ty trong ngắn hạn, bất chấp việc kết quả không phản ánh đúng lợi nhuận thực sự Hành vi này có thể mang lại lợi ích lâu dài cho công ty bằng cách cung cấp tín hiệu tích cực về giá trị, nhưng cũng có thể gây hại bằng cách che giấu các vấn đề ngắn hạn hoặc dài hạn Ngoài ra, hành vi điều chỉnh lợi nhuận còn trung lập, thể hiện khả năng vận hành thực tế của doanh nghiệp trong ngắn hạn mà không tác động đến giá trị thực sự.

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận có đặc điểm chung là tác động có chủ ý của người quản lý nhằm thay đổi lợi nhuận kế toán, nhằm mục đích ảnh hưởng đến đánh giá tài chính của công ty Theo định nghĩa đầu tiên, hành vi này là hành động của nhà quản lý để thay đổi số liệu nhằm gây sai lệch thông tin cho các đối tượng liên quan Trong khi đó, định nghĩa của Ronen và Yaari nhấn mạnh rằng nhà quản lý dựa trên hiểu biết của mình để ra quyết định nhằm thay đổi lợi nhuận, với mục tiêu tối đa hóa giá trị công ty Chính vì những lý do này, định nghĩa của Ronen và Yaari được chọn làm chuẩn mực trong luận văn để phân tích hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thường được phân loại thành hai nhóm chính: thứ nhất là điều chỉnh lợi nhuận dựa trên lựa chọn chính sách kế toán, thông qua các biến dồn tích (Accruals-based Earnings Management - AEM); thứ hai là điều chỉnh lợi nhuận thông qua thực hiện các hoạt động kinh tế (Real Activities Manipulation hay Real Earning Management - REM).

- Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán (các biến dồn tích)

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán là phương pháp mà nhà quản lý sử dụng để áp dụng các chính sách kế toán khác nhau phù hợp với các chuẩn mực kế toán và nguyên tắc kế toán được công nhận (GAAP) Việc lựa chọn chính sách này ảnh hưởng trực tiếp đến cách ghi nhận và trình bày các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, từ đó tác động đến lợi nhuận kế toán Điều này giúp các doanh nghiệp có khả năng kiểm soát và điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu tài chính mong muốn.

Theo chuẩn mực kế toán, doanh nghiệp phải lập BCTC theo phương pháp dồn tích nhằm phản ánh chính xác các khoản mục tài chính Nhà quản lý có thể tác động đến chính sách kế toán bằng cách điều chỉnh các biến dồn tích như lựa chọn phương pháp xuất kho, phương pháp tính khấu hao có lợi nhất cho công ty, cùng với các khoản chi phí trích trước, phân bổ, lập dự phòng hoặc quyết định vốn hóa chi phí Việc này giúp thực hiện các điều chỉnh thu nhập phù hợp và hợp lý.

- Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế là cách thức nhà quản lý thay đổi và chỉnh sửa cấu trúc hoạt động nhằm tác động đến lợi nhuận trên báo cáo tài chính Các phương pháp điều chỉnh lợi nhuận gồm có thay đổi chính sách bán chịu, áp dụng các chương trình khuyến mãi và chiết khấu bán hàng, nới lỏng chính sách tín dụng để thúc đẩy doanh thu, đặc biệt vào những ngày cuối kỳ kế toán Ngoài ra, nhà quản lý còn có thể cắt giảm các chi phí như chi phí quảng cáo, nghiên cứu và phát triển (R&D), hoặc chi phí duy tu, bảo trì máy móc định kỳ để tối ưu hóa lợi nhuận Thêm vào đó, tăng cường sản xuất để giảm giá thành sản phẩm và giá vốn hàng bán cũng là một chiến lược nhằm nâng cao lợi nhuận trên báo cáo tài chính.

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể thực hiện thông qua việc lựa chọn các chính sách kế toán, đặc biệt là các biến dồn tích, cũng như qua các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, luận văn tập trung nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận chủ yếu thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán, còn việc phân tích qua các hoạt động kinh tế không nằm trong phạm vi nghiên cứu này.

2.1.2 Giới tính và giới tính nữ

Theo Điều 5 của Luật Bình đẳng giới, giới tính thể hiện đặc điểm, vị trí và vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội, góp phần thúc đẩy sự công bằng và bình đẳng giới Giới tính còn phản ánh các đặc điểm sinh học của nam và nữ, giúp phân biệt về mặt sinh lý học Luật này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận thức rõ ràng về vai trò và đặc điểm của từng giới để xây dựng xã hội văn minh, bình đẳng Chính sách bình đẳng giới nhằm loại bỏ mọi hình thức phân biệt dựa trên giới tính và thúc đẩy quyền lợi của cả nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nữ giới là khái niệm chung chỉ những người mang đặc điểm giới tính tự nhiên được xã hội công nhận, liên quan đến khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể hoàn thiện và chức năng sinh dục hoạt động bình thường.

Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, thể hiện một cái nhìn trung lập hoặc thiện cảm, thể hiện sự trân trọng đối với họ Nội dung này đề cao các mặt tốt, các giá trị, đóng góp và ảnh hưởng tích cực của nữ giới trong xã hội Điều này phản ánh sự nhìn nhận tích cực, không kỳ thị, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ đã trưởng thành trong cộng đồng.

2.1.3 Một số khái niệm khác Để làm rõ cách thức thực hiện điều chỉnh lợi nhuận, một số khái niệm liên quan cần làm rõ nhƣ là:

Theo nguyên tắc kế toán, báo cáo tài chính được lập trên cơ sở dồn tích, ghi nhận doanh thu và chi phí khi nghiệp vụ phát sinh, giúp phản ánh hoạt động kinh doanh một cách chính xác hơn Trong khi đó, báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) ghi nhận các dòng tiền dựa trên thực tế thu và chi, giúp đánh giá khả năng thanh khoản của doanh nghiệp Một số chi phí trên báo cáo kết quả kinh doanh như khấu hao và dự phòng được ước tính, còn trên BCLCTT, các dòng tiền này được ghi nhận dựa trên các khoản thực tế phát sinh Do đó, giữa lưu chuyển tiền tệ và lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh có sự khác biệt, phản ánh đúng diễn biến tài chính của doanh nghiệp.

This article provides information about women's organizations and their role in society It discusses the significance of women's education and empowerment, highlighting the progress made in gender equality The content emphasizes the importance of continued efforts to promote women's rights and achieve social justice For more details, visit the Wikipedia page on women's associations at https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BB%A5_n%E1%BB%AF.

BCKQHĐKD sẽ có một độ vênh, khoản chênh lệch này gọi là biến dồn tích (TA- total accruals) (Phạm Thị Bích Vân 2012)

Chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể mà công ty áp dụng để lập và trình bày báo cáo tài chính, theo đúng chuẩn mực kế toán số 29 Việc xác định rõ chính sách kế toán giúp đảm bảo tính minh bạch, nhất quán và chính xác trong phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp Đây là yếu tố quan trọng giúp người đọc báo cáo tài chính hiểu rõ cách thức và phương pháp công ty thực hiện ghi nhận, phân bổ và trình bày các khoản mục kế toán.

CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG

2.2.1 Lý thuyết Ủy nhiệm (Agency theory)

Lý thuyết này được phát triển bởi Jensen và Meckling năm 1976, cho rằng công ty là một mối quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể cung cấp nguồn lực và doanh nghiệp Mối quan hệ ủy nhiệm – đại diện nảy sinh khi các bên thuê mời nhau để thực hiện công việc, trong đó quyền ra quyết định kinh tế được chuyển giao cho bên đại diện Ví dụ tiêu biểu là mối quan hệ giữa cổ đông và nhà quản lý, thể hiện rõ việc chuyển giao quyền kiểm soát và trách nhiệm quản lý doanh nghiệp.

Lý thuyết ủy nhiệm giả định rằng cả hai bên đều hướng đến việc tối đa hóa lợi ích cá nhân, trong đó nhà quản lý có thể đưa ra quyết định nhằm tối đa hóa phần thưởng theo hợp đồng hoặc tránh rủi ro thay vì tập trung vào giá trị công ty Nhà quản lý có khả năng chi phối các hành vi và điều chỉnh lợi nhuận bằng các chính sách kế toán do họ nắm giữ nhiều thông tin hơn Trong khi đó, bên ủy nhiệm phải chi trả các khoản phí như chi phí giám sát và kiểm toán để giảm thiểu hành vi vì mục đích cá nhân của nhà quản lý, qua đó đảm bảo lợi ích của công ty được bảo vệ.

Lý thuyết ủy nhiệm là cơ sở để giải thích hành động của nhà quản lý trong công ty cổ phần, nơi nhà quản lý cố gắng tối đa hóa lợi nhuận để xây dựng danh tiếng và hưởng các khoản lương thưởng Nhà quản lý có thể thực hiện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận để đạt được mục tiêu cá nhân Trong khi đó, bên ủy nhiệm thường tăng cường giám sát và các biện pháp bảo vệ nhằm nhằm kiểm soát và giám sát các hành động của nhà quản lý, đảm bảo lợi ích của cổ đông và phù hợp với mục tiêu của công ty.

Các nhà nghiên cứu kế toán tập trung tìm kiếm bằng chứng về các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý Nghiên cứu này xem xét cách các chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá trị công ty, phản ánh những yếu tố thể hiện sự cân nhắc của nhà quản lý khi chọn chính sách kế toán (Leftwich, 1981) Việc lựa chọn chính sách kế toán còn có thể dẫn đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý (Healy, 1985; Jones, 1991) Để giảm thiểu xung đột lợi ích này, Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát giám sát hoạt động của Ban giám đốc, đặc biệt là việc kiểm tra và giám sát báo cáo tài chính trung thực, hợp lý nhằm phòng tránh các hành vi can thiệp vào chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính.

2.2.2 Lý thuyết các bên có liên quan (stakeholder theory)

Lý thuyết các bên liên quan, do Freeman (1984) khởi xướng, nhấn mạnh rằng các công ty cần hoạt động dựa trên lợi ích, nhu cầu và mong đợi của nhiều đối tượng khác nhau ngoài mối quan hệ giữa nhà quản lý và chủ sở hữu Các bên liên quan bao gồm chủ nợ, nhân viên, nhà cung cấp, khách hàng, và nhà nước, là những cá nhân hoặc nhóm có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi hoạt động và mục tiêu của tổ chức Họ được xác định bởi lợi ích của mình trong tổ chức và có quyền lợi liên quan đến các quyết định và hoạt động của doanh nghiệp.

Người lao động đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của công ty bằng cách cung cấp kỹ năng và thời gian cam kết, kỳ vọng nhận được mức lương hợp lý, điều kiện làm việc an toàn cùng các phúc lợi xã hội phù hợp Khách hàng tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ của công ty không chỉ tạo ra doanh thu mà còn góp phần vào sự phát triển của các sản phẩm mới, do đó họ mong đợi nhận được giá trị tương ứng trong quá trình trao đổi Các nhà cung cấp là những đối tác đáng tin cậy, cung cấp nguồn lực đầu vào chất lượng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và giá thành sản phẩm cuối cùng; mối quan hệ hợp tác này giúp cả hai cùng phát triển hoặc thất bại Cộng đồng địa phương cung cấp cơ sở hạ tầng, vị trí hoạt động và ưu đãi về chính sách thuế, đồng thời mong muốn các công ty tôn trọng chính sách cộng đồng và tránh gây ô nhiễm môi trường, nhiễm độc nguồn nước để đảm bảo phát triển bền vững.

Giám đốc công ty đóng vai trò quan trọng, vừa là người lao động vừa có trách nhiệm bảo vệ phúc lợi của đơn vị, đồng thời phải quan tâm đến sức khỏe của tổ chức và cân bằng các xung đột giữa các bên liên quan Chủ sở hữu mong muốn kết quả tài chính cao hơn, trong khi khách hàng yêu cầu nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển, còn nhân viên mong muốn lương và phúc lợi tốt hơn, khiến việc cân bằng các mục tiêu này trở nên khó khăn Nhà quản lý đại diện cho cổ đông trong việc điều hành doanh nghiệp, đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của công ty, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan; tuy nhiên, có thể xảy ra hành vi gian lận hoặc điều chỉnh lợi nhuận qua thông tin cung cấp, gây ra xung đột lợi ích giữa lãnh đạo và các đối tượng liên quan Các lý thuyết tài chính cho thấy các bên mong muốn báo cáo tài chính trung thực để đưa ra quyết định chính xác, nhưng lợi ích cá nhân có thể dẫn đến việc ngụy tạo hình ảnh nhằm đạt được mục tiêu riêng của những nhà quản lý.

Chương này trình bày các khái niệm liên quan và lý thuyết nền tảng giải thích ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chủ đề này, tuy nhiên chưa có một định nghĩa nhất quán về hành vi điều chỉnh lợi nhuận; do đó, luận văn chọn định nghĩa của Ronen và Yaari (2008) Hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể thực hiện thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán (các biến dồn tích) hoặc các hoạt động kinh tế, trong đó, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Quy trình nghiên cứu của luận văn nhƣ sau:

Quy trình nghiên cứu của luận văn bao gồm sáu bước chính, bắt đầu bằng việc xác định vấn đề nghiên cứu về tác động của giới tính nữ trong HĐQT và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Tiếp theo, luận văn tổng hợp các nghiên cứu trước đây trong nước và quốc tế về ảnh hưởng của giới tính nữ đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận Trong bước thứ ba, luận văn trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan như các khái niệm về hành vi điều chỉnh lợi nhuận, cơ sở dồn tích, chính sách kế toán, và các lý thuyết nền tảng như lý thuyết ủy nhiệm và lý thuyết các bên liên quan để giải thích hành vi này Bước thứ tư, dựa trên các nghiên cứu đã có, luận văn xây dựng mô hình nghiên cứu với hành vi điều chỉnh lợi nhuận (EM) làm biến phụ thuộc, cùng với năm biến độc lập và năm biến kiểm soát nhằm phân tích mối quan hệ và ảnh hưởng của các yếu tố này.

Xác định vấn đề nghiên cứu

Tổng quan về nghiên cứu trước đây

Xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Trong phần kết luận và kiến nghị của luận văn, tác giả đã tổng hợp các kết quả phân tích từ mô hình hồi quy OLS trên dữ liệu bảng bằng phần mềm Stata để kiểm định năm giả thuyết nghiên cứu Các kết quả này giúp xác nhận hoặc bác bỏ các giả thuyết đã đề ra, từ đó đưa ra các kết luận chính xác dựa trên dữ liệu thực nghiệm Cuối cùng, luận văn đề xuất các kiến nghị nhằm giải quyết các vấn đề nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng của đề tài nghiên cứu.

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Dựa trên các nghiên cứu trước đây trình bày trong chương tổng quan, tác giả đã xây dựng mô hình gồm năm biến độc lập ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận (EM - Earnings Management) Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi quản lý lợi nhuận của doanh nghiệp Mô hình này giúp phân tích và dự báo những biến động trong hành vi tài chính doanh nghiệp, từ đó hỗ trợ các nhà quản lý và nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn.

- Ít nhất từ 3 thành viên trong Hội đồng quản trị trở lên là Nữ (ThBF)

- Số lƣợng thành viên nữ điều hành trong Hội đồng quản trị (EXFEM)

- Chủ tịch Hội đồng quản trị là Nữ (ChF)

- Giám đốc điều hành của công ty là Nữ (CEOF)

Giám đốc tài chính của công ty là nữ (CFOF), góp phần đa dạng hóa đội ngũ lãnh đạo và thúc đẩy các chính sách phát triển bền vững Ngoài ra, nghiên cứu còn tích hợp một số biến kiểm soát, nhằm đảm bảo độ chính xác và khả năng tổng quát của mô hình phân tích Các biến này giúp kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng khác, tạo điều kiện cho việc đánh giá chính xác tác động của các yếu tố chính đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.

Quy mô Hội đồng quản trị (BSIZE) thể hiện số lượng thành viên trong hội đồng quản trị của công ty và ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Một hội đồng quản trị quá lớn thường hoạt động kém hiệu quả, gặp khó khăn trong giao tiếp và giảm khả năng giám sát, ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và quản trị doanh nghiệp (Jensen, 1993 theo Chen et al., 2006).

Các nghiên cứu cho thấy rằng hội đồng quản trị nhỏ thường mang lại hiệu quả cao hơn và phát huy vai trò giám sát tốt hơn trong công ty (Yermack, 1996 theo Chen et al., 2006; Rahman & Ali, 2006), đồng thời giúp giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Bermig & Bernd, 2010) Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô hội đồng quản trị và hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Chtourou et al., 2001; Xie et al., 2003; Chin et al., 201X).

Trong nghiên cứu của González et al (2014), biến quy mô hội đồng quản trị được đưa vào mô hình phân tích nhằm đánh giá tác động của quy mô hội đồng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Kết quả dự kiến cho thấy quy mô hội đồng quản trị có thể tác động ngược chiều, ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát và điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp Việc kiểm tra mối liên hệ này giúp làm rõ vai trò của quy mô hội đồng trong quá trình quản lý tài chính và nâng cao tính minh bạch của doanh nghiệp.

Tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị không điều hành (NED) ngày càng tăng, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp Các thành viên NED đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và đánh giá hoạt động của ban điều hành, đảm bảo minh bạch và uy tín cho tổ chức Việc có nhiều thành viên NED chất lượng giúp giảm thiểu rủi ro, thúc đẩy phát triển bền vững và tạo niềm tin từ các cổ đông và nhà đầu tư Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp chú trọng tuyển dụng và đào tạo thành viên Hội đồng quản trị không điều hành để nâng cao hiệu quả quản trị và thúc đẩy hoạt động kinh doanh thành công.

Khi thành viên HĐQT đồng thời là Ban giám đốc, vai trò giám sát của HĐQT sẽ mất tác dụng, dẫn đến tăng rủi ro vi phạm và không tuân thủ quy chuẩn Số lượng thành viên độc lập trong HĐQT càng ít, nguy cơ sai phạm càng cao, vì thành viên không kiêm nhiệm ít có động cơ thực hiện gian lận, trong khi nhiều thành viên độc lập hơn sẽ giúp ngăn chặn và giảm thiểu hành vi sai trái Tăng tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành đã được chứng minh làm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính và giảm thiểu sai sót trong báo cáo số liệu kế toán, đồng thời hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận bất hợp pháp của công ty Do đó, nghiên cứu đặt biến tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành vào mô hình với kỳ vọng rằng tỷ lệ này sẽ có tác dụng ngược chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

- Sự kiêm nhiệm giữa Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị (CEOD)

Khi Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm nhiệm Tổng giám đốc, vai trò giám sát của Hội đồng quản trị đối với Ban giám đốc và các hoạt động trong công ty sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực Sự kiêm nhiệm này dẫn đến việc quyền lực tập trung quá lớn vào một người, làm giảm khả năng kiểm soát và giám sát, từ đó dễ tạo điều kiện cho các hành vi gian lận phát sinh (Chen et al., 2006) Hơn nữa, việc này còn gây ra giảm hiệu quả hoạt động của công ty và thúc đẩy các hành vi điều chỉnh lợi nhuận một cách không minh bạch (Đỗ Thị Như Quỳnh).

Nghiên cứu cho thấy, khi tách biệt vai trò của Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Murhadi 2010, Gulzar & Wang 2011) Ngược lại, việc kiêm nhiệm hai vị trí này thường được kỳ vọng sẽ có tác động thuận chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, do đó, luận văn đã đưa biến sự kiêm nhiệm vào mô hình để phân tích rõ hơn mối liên hệ này.

Đòn bẩy tài chính (LEV) đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến quyết định chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp Nghiên cứu của Leftwich (1981) đã chứng minh rằng mức độ đòn bẩy tài chính là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến chiến lược kế toán, giúp doanh nghiệp cân nhắc giữa các lựa chọn phù hợp với tình hình tài chính của mình Các nghiên cứu trước đó đã nhấn mạnh tầm quan trọng của LEV trong việc quản lý rủi ro và tối ưu hóa lợi nhuận, đồng thời ảnh hưởng đến phương pháp ghi nhận và trình bày các khoản mục tài chính.

Tại Việt Nam, Bộ Tài chính quy định về cơ cấu Hội đồng quản trị theo Khoản 2, điều 11, thông tư 121/2012/TT-BTC, yêu cầu có sự cân đối giữa thành viên kiêm điều hành và không điều hành, trong đó tối thiểu một phần ba (1/3) thành viên hội đồng là thành viên không điều hành Nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hành vi điều chỉnh lợi nhuận; theo Jelinek (2007), đòn bẩy cao giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận, trong khi theo Dechow et al (1996) và An et al (2016), các công ty có đòn bẩy cao có xu hướng gia tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận Do đó, đòn bẩy tài chính có thể tác động theo chiều thuận hoặc nghịch chiều đối với hành vi này.

- Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA)

Các nghiên cứu của Watts & Zimmerman (1990) và Arun et al (2015) chỉ ra rằng các công ty có hiệu suất hoạt động cao, thể hiện qua chỉ số ROA, thường có xu hướng giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Ngược lại, Lee et al (2006) cho thấy mối tương quan nghịch chiều giữa hiệu suất hoạt động và hành vi điều chỉnh lợi nhuận Do đó, trong mô hình nghiên cứu, biến ROA được đưa vào với kỳ vọng rằng Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản sẽ tác động cùng chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận, phản ánh mối liên hệ giữa hiệu suất hoạt động và hành vi quản lý lợi nhuận.

Kế thừa kết quả đã tổng hợp của các nghiên cứu trên, mô hình nghiên cứu đƣợc xây dựng nhƣ sau:

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu

The article discusses key academic and professional concepts, including ThBF, EXFEM, ChF, CEOF, and CFOF, emphasizing their significance in academic research and professional development It highlights the importance of completing graduation projects and thesis work, particularly for master's degrees, and provides guidance on submitting and managing academic documents For further assistance or to access the latest thesis templates and academic resources, please contact us via email at vbhtj mk gmail.com Stay updated with the newest thesis formats and academic guidelines to ensure successful graduation submissions.

Dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước đã trình bày ở phần trên mô hình, các giả thuyết nghiên cứu đƣợc đặt ra nhƣ sau:

3.2.2.1 Ảnh hưởng của giới tính nữ trong HĐQT đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Nữ giới trong HĐQT có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng bằng cách giám sát chặt chẽ các CEO, thúc đẩy sự trao đổi thông tin hiệu quả và cải thiện khả năng lãnh đạo chung Điều này còn giúp tăng cường chia sẻ thông tin giữa Ban giám đốc, từ đó giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận, góp phần nâng cao tính minh bạch và phòng ngừa gian lận tài chính Các nghiên cứu của Bermig & Bernd (2010), Srinidhi et al (2011), Man & Wong (2013), Gulzar & Wang (2011), Ismail & Abdullah (2013), Lakhal et al (2015) và Arun et al đã đều ủng hộ mối liên hệ tích cực giữa tỷ lệ nữ giới trong HĐQT và hiệu quả corporate governance.

Nghiên cứu cho thấy số lượng thành viên nữ trong Hội đồng quản trị từ ba người trở lên có thể tạo ra sức mạnh lớn hơn và ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty (Kramer et al., 2006) Sự đa dạng giới trong HĐQT góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Hoàng Cẩm Trang & Võ Văn Nhị, 2014) và giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Lakhal et al., 2015) Dựa trên các kết quả này, tác giả đề xuất giả thuyết H1 về mối quan hệ giữa tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT và hiệu quả hoạt động của công ty.

Giả thuyết H1: Công ty có ít nhất từ ba phụ nữ trong HĐQT trở lên thì làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận

MẪU

Đám đông nghiên cứu bao gồm tất cả các công ty niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2010-2015, phản ánh quy mô và hoạt động của thị trường chứng khoán tại Việt Nam trong thời kỳ này Tính đến ngày 20/7/2016, sàn giao dịch HCM có tổng cộng 310 công ty niêm yết cổ phiếu, cho thấy sự phát triển và mở rộng liên tục của thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.

Mẫu nghiên cứu được chọn gồm 163 công ty thuộc bảy ngành, trong đó loại bỏ 20 công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, cùng với các công ty có ít hơn 8 doanh nghiệp trong ngành hoặc thiếu dữ liệu, không cung cấp đủ thông tin cần thiết Dữ liệu thu thập bao gồm tổng số 978 quan sát trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2023, đảm bảo tính toàn diện và phù hợp cho phân tích.

2015 Bảng 3.1 sẽ mô tả chi tiết hơn về số lƣợng mẫu trong các ngành 8 , còn chi tiết danh sách chi tiết 163 công ty (phụ lục 9)

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các công ty trong giai đoạn 2010-2015, bao gồm cả thông tin tài chính và phi tài chính Các dữ liệu này được lấy từ các nguồn đáng tin cậy như http://finance.vietstock.vn và http://cafef.vn để đảm bảo độ chính xác và cập nhật.

The research data is compiled in a panel data format, which combines both cross-sectional and time-series data Panel data offers a comprehensive view by capturing variations across different entities over multiple time periods, enhancing the robustness of the analysis Utilizing panel data allows for more precise insights into dynamic patterns and relationships within the dataset.

Dựa theo phân loại của Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM năm 2015, các loại hình chứng khoán được chia thành nhiều nhóm nhằm mục đích phục vụ hoạt động đầu tư và giao dịch trên thị trường chứng khoán Việc hiểu rõ các loại chứng khoán này giúp nhà đầu tư có thể ra quyết định phù hợp, tối ưu hóa lợi nhuận, đồng thời tuân thủ quy định pháp luật về chứng khoán tại Việt Nam Thông tin cập nhật mới nhất về các loại chứng khoán sẽ hỗ trợ nhà đầu tư nắm bắt xu hướng thị trường, từ đó xây dựng chiến lược đầu tư hiệu quả hơn.

Bảng 3.1: Số lƣợng mẫu trong các ngành

Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác

Kinh doanh bất động sản 3 32 192 Điện, gas, khí đốt 4 12 72

Công nghiệp Chế biến, Chế tạo 6 55 330

PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

Mô hình hồi quy OLS được sử dụng để phân tích ảnh hưởng của giới tính nữ trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Phương pháp này giúp xác định mức độ tác động của tỷ lệ nữ giới trong bộ máy quản lý đến xu hướng điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp Quá trình phân tích được thực hiện bằng phần mềm Stata 12, đảm bảo độ chính xác và tin cậy của kết quả nghiên cứu Kết quả cho thấy, sự tham gia của nữ giới trong các vị trí quản lý có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, góp phần cung cấp góc nhìn toàn diện về chiến lược quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.

Dựa trên các nghiên cứu trước, mô hình hồi quy phân tích hành vi điều chỉnh lợi nhuận bao gồm biến phụ thuộc là hành vi điều chỉnh lợi nhuận, với năm biến độc lập tương ứng với năm giả thuyết nghiên cứu là thBF, EXFEM, ChF, CEOF, và CFOF Ngoài ra, mô hình còn có các biến kiểm soát như BSIZE để đảm bảo tính chính xác của kết quả Các yếu tố này giúp xác định ảnh hưởng của các biến độc lập đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong lĩnh vực nghiên cứu.

The article discusses key independent variables, including ThBF, EXFEM, ChF, CEOF, and CFOF, fundamental for analyzing their impact on the research model It emphasizes the importance of a comprehensive thesis or dissertation, highlighting the necessity of up-to-date research and proper academic formatting Additionally, the content underscores the significance of utilizing current data sources and ensuring the integrity of academic submissions, such as avoiding plagiarism and adhering to university guidelines This information aims to support students and researchers in producing high-quality theses, with a focus on improving their academic writing and research outcomes.

- BSIZE, NED, CEOD, LEV, ROA: các biến kiểm soát;

- β0: là hằng số hồi quy;

THANG ĐO

Thang đo sử dụng dựa vào các khái niệm nghiên cứu đã trình bày ở phần a trên, bao gồm:

- EM: là biến đại diện cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận, đo lường bằng biến dồn tích có điều chỉnh (DA)

Trong các nghiên cứu đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận, nhiều mô hình được sử dụng như mô hình của Jones (1991), Dechow, Sloan và Sweeney (1995), và Kothari, Leone và Wasley (2005) Trong đó, mô hình Jones cải tiến của Dechow, Sloan và Sweeney (1995) được các tác giả ưa chuộng nhờ tính ứng dụng cao Để đo lường biến dồn tích, bước đầu thực hiện chạy mô hình Jones với dữ liệu chéo theo ngành và năm nhằm xác định các tham số αi, βi1, và βi2 (Dechow, Sloan và Sweeney, 1995; Bartov et al., 2000) Sau đó, xác định biến dồn tích không điều chỉnh (NDA) bằng cách thế các tham số này vào mô hình của Dechow, Sloan và Sweeney, rồi tính ra biến dồn tích có điều chỉnh (DA) theo công thức đã xây dựng.

DA = TA – NDA (vì Tổng dồn tích (TA) = Dồn tích không điều chỉnh (NDA) + Dồn tích không điều chỉnh (DA))

ThBF là biến thể biểu thị công ty có ít nhất ba thành viên nữ trong Hội đồng quản trị, là biến định tính nhận giá trị 1 nếu điều kiện này được đáp ứng và 0 nếu không Biến này giúp đo lường tỷ lệ thành viên nữ trong ban lãnh đạo của công ty, phản ánh sự đa dạng giới trong quản trị doanh nghiệp Việc xác định ThBF là cơ sở để phân tích ảnh hưởng của tỷ lệ nữ trong HĐQT đến các yếu tố doanh nghiệp khác Đây cũng là tiêu chí quan trọng trong các nghiên cứu về tính đa dạng giới trong quản trị công ty, góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của nữ giới trong doanh nghiệp.

- EXFEM là biến định lƣợng thể hiện số lƣợng thành viên nữ điều hành trong Hội đồng quản trị

Chỉ số ChF thể hiện giới tính của Chủ tịch Hội đồng quản trị, trong đó giá trị bằng 1 khi Chủ tịch là nữ và 0 khi trái lại Đây là biến định tính dùng để xác định giới tính của người đứng đầu công ty, giúp phân tích mối liên hệ giữa giới tính của lãnh đạo và các yếu tố quản trị doanh nghiệp Việc sử dụng biến ChF trong nghiên cứu giúp làm rõ vai trò của nữ giới trong vị trí điều hành, góp phần thúc đẩy các phân tích về đa dạng giới trong quản lý doanh nghiệp.

CEOF là biến thể hiện giới tính của Giám đốc điều hành trong công ty, trong đó giá trị bằng 1 nếu Giám đốc điều hành là nữ và ngược lại bằng 0 nếu là nam Biến này giúp xác định rõ giới tính của người đứng đầu công ty, hỗ trợ các phân tích về ảnh hưởng của giới tính CEO đến hoạt động và hiệu quả doanh nghiệp Việc sử dụng biến CEOF trong phân tích dữ liệu doanh nghiệp giúp đảm bảo tính chính xác và dễ dàng trong việc phân nhóm theo giới tính của Giám đốc điều hành, góp phần nâng cao hiệu quả các chiến lược nghiên cứu và ra quyết định kinh doanh.

CFOF là biến thể thể hiện giới tính của Giám đốc tài chính trong công ty, trong đó giá trị là 1 nếu Giám đốc tài chính là nữ Ngược lại, nếu Giám đốc tài chính không phải là nữ, biến CFOF nhận giá trị là 0 Biến CFOF giúp xác định rõ giới tính của Giám đốc tài chính và hỗ trợ các phân tích liên quan đến đặc điểm nữ giới trong vị trí này.

- BSIZE là biến định lƣợng thể hiện quy mô HĐQT đƣợc đo bằng số lƣợng thành viên trong HĐQT tại năm nghiên cứu

NED (Tỷ lệ thành viên không điều hành trong Hội đồng Quản trị) thể hiện tỷ lệ phần trăm các thành viên không giữ chức vụ điều hành, được tính bằng cách chia số lượng thành viên HĐQT không điều hành cho tổng số thành viên HĐQT Theo Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng, và các nghiên cứu liên quan, tỷ lệ thành viên không điều hành được xác định dựa trên số lượng thành viên Hội đồng Quản trị không giữ các chức vụ như Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc), hoặc Kế toán trưởng so với tổng số thành viên Hội đồng Quản trị trong năm hiện hành.

- CEOD là biến định tính thể hiện sự kiêm nhiệm giữa Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị

Sự kiêm nhiệm giữa Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị được xem là một biến định tính, trong đó giá trị là 1 nếu tại năm nghiên cứu, có sự đồng thời giữ cả hai vị trí này, và 0 nếu không có sự kiêm nhiệm Trong trường hợp công ty có chức vụ Tổng giám đốc, thì chức vụ này được thay thế cho Giám đốc điều hành khi xét đến khái niệm này, nhằm phản ánh chính xác mối quan hệ giữa các vị trí lãnh đạo trong tổ chức.

- LEV là biến định lượng thể hiện đòn bẩy tài chính được đo lường bằng tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản năm nghiên cứu

ROA là chỉ số đo lường khả năng sinh lời trên tài sản của doanh nghiệp, được tính bằng lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản trong năm nghiên cứu Chỉ số này phản ánh mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận, giúp các nhà phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty Việc nắm bắt ROA là rất quan trọng trong phân tích tài chính, vì nó thể hiện mức sinh lời trên mỗi đồng tài sản đã đầu tư.

Bảng 3.2: Tóm tắt các biến

Mã biến Tên biến Phương pháp tính Dấu kỳ vọng Biến phụ thuộc

EM Hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Sử dụng mô hình Jones để xác định các hệ số hồi quy, sau đó áp dụng các kết quả này vào mô hình của Dechow, Sloan và Sweeney (1995) nhằm đo lường NDA Tiếp theo, chúng tôi sẽ tính toán biến dồn tích có điều chỉnh (DA) dựa trên các số liệu thu được để đảm bảo độ chính xác và phù hợp trong phân tích tài chính.

ThBF Ít nhất từ 3 thành viên trong Hội đồng quản trị trở lên là Nữ

Biến định tính,công ty có ít nhất

3 thành viên trong Hội đồng quản trị trở lên là Nữ nhận giá trị

EXFEM Số lƣợng thành viên nữ điều hành trong Hội đồng quản trị

Biến định lƣợng, Đƣợc đo bằng số lƣợng thành viên nữ điều hành trong Hội đồng quản trị

ChF Chủ tịch Hội đồng quản trị là Nữ

Biến định tính, Chủ tịch Hội đồng quản trị là Nữ nhận giá trị là 1, ngƣợc lại là 0

CEOF Giám đốc điều hành của công ty là Nữ

Biến định tính, Giám đốc điều hành của công ty là Nữnhận giá trị là 1, ngƣợc lại là 0

CFO (Giám đốc tài chính) của công ty là người chịu trách nhiệm quản lý tài chính, thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Giám đốc tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch tài chính và đưa ra các chiến lược đầu tư hiệu quả Trong công ty, nữ chính là người đảm nhiệm vị trí chủ chốt, mang lại giá trị lớn cho tổ chức, thể hiện rằng sự đa dạng giới tính góp phần nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Hình thức luận văn tốt nghiệp thể hiện rõ nét các kiến thức chuyên môn liên quan, giúp sinh viên vận dụng tốt lý thuyết vào thực tiễn Công ty hoạt động trong lĩnh vực biến đổi tính chất, có thể sử dụng các dữ liệu và mô hình để phân tích sâu hơn về hoạt động của mình.

BSIZE Quy mô Hội đồng quản trị

Biến định lƣợng, Số lƣợng thành viên HĐQT

NED Tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị không điều hành

Biến định lƣợng, Số lƣợng thành viên HĐQT không điều hành/ Số lƣợng thành viên HĐQT

CEOD Sự kiêm nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành

Biến định tính, CEOD có giá trị là 1 nếu Chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm Giám đốc điều hành, ngƣợc lại là 0

LEV Đòn bẩy tài chính Biến định lƣợng, Tổng nợ / Tổng tài sản

ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản

Biến định lƣợng, Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.6.1 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp thống kê mô tả giúp mô tả các đặc tính cơ bản của dữ liệu, cung cấp cái nhìn tổng quan về dữ liệu nghiên cứu Các chỉ số quan trọng trong thống kê mô tả bao gồm số trung bình (mean), trung vị (median), độ lệch chuẩn (standard deviation), giá trị lớn nhất (maximum) và giá trị nhỏ nhất (minimum), giúp người nghiên cứu nắm bắt được đặc điểm chính của tập dữ liệu một cách dễ dàng và chính xác.

Phân tích tương quan giúp đánh giá mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc thông qua ma trận hệ số tương quan, từ đó đưa ra nhận định sơ bộ về khả năng dự báo của mô hình Khi hệ số tương quan giữa các biến có dấu không như kỳ vọng hoặc không có ý nghĩa thống kê trong khi R² cao, đó có thể là dấu hiệu của hiện tượng đa cộng tuyến Do đó, phân tích tương quan giữa các biến độc lập là bước quan trọng để phát hiện và xử lý hiện tượng đa cộng tuyến trong quá trình nghiên cứu.

3.6.3 Kiểm định mô hình hồi quy

Dữ liệu trong luận văn là dữ liệu bảng (panel data), do đó có thể áp dụng các mô hình hồi quy phù hợp như Pooled OLS – Mô hình hồi quy hỗn hợp, thích hợp khi các đối tượng không có sự khác biệt về đặc điểm riêng hoặc có nhưng không ảnh hưởng đến biến phụ thuộc Trong các trường hợp các đối tượng có đặc điểm riêng biệt và những đặc điểm này tác động đến biến phụ thuộc, các mô hình FEM (Fixed Effects Model – Mô hình các tác động cố định) hoặc REM (Random Effects Model – Mô hình các tác động ngẫu nhiên) sẽ phù hợp hơn để thực hiện phân tích hồi quy, và quá trình này có thể được hỗ trợ bằng phần mềm Stata 12.

Tác giả sẽ kiểm tra để lựa chọn mô hình thích hợp trong 3 mô hình Pooled OLS, FEM và REM thông qua 2 kiểm định là F test và Hausman test

+ Kiểm định F để lựa chọn giữa mô hình Pooled OLS và FEM với giả thuyết

Trong phân tích thống kê, giả thuyết H0 cho rằng tất cả các hệ số αi bằng 0 Nếu giá trị P-value nhỏ hơn 0.05, ta sẽ bác bỏ giả thuyết H0, chứng tỏ các hệ số αi có ý nghĩa thống kê Điều này dẫn đến việc lựa chọn mô hình FEM thay vì mô hình Poled OLS để phù hợp hơn với dữ liệu Việc xác định ý nghĩa của các hệ số này là bước quan trọng trong việc xây dựng mô hình dự báo chính xác và hiệu quả.

Kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn giữa mô hình hiệu quả cố định (FEM) và mô hình hiệu quả ngẫu nhiên (REM) Giả thuyết H0 của kiểm định này cho rằng không có sự tương quan giữa các sai số đặc trưng của các đối tượng (αi) và các biến giải thích Xit trong mô hình Nếu kết quả kiểm định cho thấy có sự tương quan, ta sẽ chọn mô hình hiệu quả cố định, còn nếu không có, mô hình hiệu quả ngẫu nhiên sẽ phù hợp hơn Đây là bước quan trọng để đảm bảo tính chính xác và hợp lý của phân tích dữ liệu trong nghiên cứu.

=0) Nếu P-value nhỏ hơn 0.05 thì bác bỏ giả thuyết H 0 , tức là lựa chọn mô hình FEM so với mô hình REM

Sau khi lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp, tác giả sẽ kiểm tra hiện tượng phương sai thay đổi (heteroskedasticity) và tự tương quan (autocorrelation) để đảm bảo hiệu quả ước lượng và tính tin cậy của các hệ số hồi quy Nghiên cứu sử dụng mức ý nghĩa 5% (độ tin cậy 95%) để đánh giá kết quả phân tích Trong trường hợp mô hình mắc phải một hoặc cả hai hiện tượng này, tác giả sẽ áp dụng mô hình hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát (GLS - Generalized Least Squares) để khắc phục và nâng cao độ chính xác của ước lượng.

Trong chương này, tác giả trình bày rõ các giả thuyết nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa giới tính nữ trong Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc với hành vi điều chỉnh lợi nhuận Đồng thời, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu, mô tả các biến và lựa chọn phương pháp phù hợp để đảm bảo mục tiêu nghiên cứu được thực hiện một cách logic và hiệu quả Ngoài ra, bài viết cũng đề cập đến mẫu nghiên cứu và quá trình kiểm định năm giả thuyết nhằm đưa ra những kết luận chính xác và có cơ sở khoa học.

Phương pháp thu thập dữ liệu của nghiên cứu là thu thập dữ liệu tài chính và phi tài chính của các công ty niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2010-2015 dưới dạng dữ liệu bảng Quá trình này đảm bảo tính hệ thống và chính xác trong việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp Việc thu thập dữ liệu từ nguồn đáng tin cậy giúp nâng cao độ chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu Các dữ liệu tài chính gồm báo cáo tài chính, các chỉ số tài chính quan trọng, trong khi dữ liệu phi tài chính bao gồm các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, ngành nghề, và các thông tin liên quan khác Phương pháp này phù hợp với yêu cầu phân tích thống kê và giúp cung cấp các bằng chứng rõ ràng để đưa ra các kết luận chính xác về tình hình hoạt động của các công ty niêm yết trên HOSE trong giai đoạn nghiên cứu.

Trình tự nghiên cứu của luận văn bắt đầu bằng việc chạy mô hình Jones với dữ liệu chéo theo từng ngành và năm nhằm xác định các tham số αi, βi1, và βi2 Sau đó, tác giả sẽ sử dụng các tham số này để tính biến dồn tích không điều chỉnh (NDA) bằng cách đưa chúng vào mô hình của Dechow, Sloan và Sweeney Quá trình này giúp xác định chính xác các yếu tố ảnh hưởng tới NDA, từ đó nâng cao độ tin cậy của phân tích tài chính Đây là bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu nhằm xây dựng mô hình phù hợp và chính xác cho mục tiêu của luận văn.

(1995), sau đó sẽ tiến hành tính ra biến dồn tích có điều chỉnh (DA)

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy theo ba mô hình chính là Pooled OLS, Random Effects (REM) và Fixed Effects (FEM) trên dữ liệu bảng (panel data) để lựa chọn mô hình phù hợp nhất Sau đó, mô hình đã chọn sẽ được sử dụng để phân tích ảnh hưởng của các biến về hành vi điều chỉnh lợi nhuận và các biến liên quan đến giới tính nữ trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Đồng thời, tác giả tiến hành kiểm tra các hiện tượng như đa cộng tuyến, hiện tượng phương sai thay đổi (heteroskedasticity) và tự tương quan để đảm bảo độ chính xác của mô hình, và nếu phát hiện các vấn đề này, sẽ được khắc phục bằng phương pháp hồi quy tổng quát GLS để nâng cao độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 15/08/2023, 14:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm