1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn thương tín trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế , luận văn thạc sĩ

98 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh Hiền
Người hướng dẫn PGS.TS Hoàng Đức
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng (11)
    • 1.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế (11)
      • 1.1.1.1 Khái niệm (11)
      • 1.1.1.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế (12)
    • 1.1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng (13)
      • 1.1.2.1 Khái niệm (13)
      • 1.1.2.2 Một số cam kết mở cửa hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng (13)
      • 1.1.2.3 Tác động của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng (15)
    • 1.1.3 Tính tất yếu, khách quan của hội nhập kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng (16)
  • 1.2. Cạnh tranh, đặc điểm, các chiến lược cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM (17)
    • 1.2.1 Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng (17)
      • 1.2.1.1 Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường (17)
      • 1.2.1.2 Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng (18)
      • 1.2.1.3 Năng lực cạnh tranh của các NHTM (19)
    • 1.2.2 Các đặc điểm cạnh tranh của các NHTM (19)
    • 1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM (20)
      • 1.2.3.1 Môi trường vĩ mô (20)
      • 1.2.3.2 Qúa trình hội nhập kinh tế quốc tế (21)
      • 1.2.3.3 Tiến bộ khoa học kỹ thuật ....................................................................12 1.2.3.4 Các yêu cầu ngày càng cao của khách hàng trong việc sử dụng sản (22)
    • 1.2.4 Chiến lược cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM (23)
      • 1.2.4.1 Cạnh tranh thông qua chất lượng sản phẩm dịch vụ (23)
      • 1.2.4.2 Cạnh tranh thông qua lãi suất, phí và các chương trình ưu đãi, khuyến mãi dành cho khách hàng (23)
      • 1.2.4.3 Cạnh tranh thông qua mạng lưới cung ứng sản phẩm dịch vụ Ngân hàng (23)
  • 1.3 Hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM (24)
    • 1.3.1 Năng lực tài chính của Ngân hàng (24)
      • 1.3.1.1 Quy mô vốn tự có (24)
      • 1.3.1.2 Chất lượng tín dụng (25)
      • 1.3.1.3 Khả năng sinh lời (26)
      • 1.3.1.4 Khả năng thanh khoản trong hoạt động kinh doanh (27)
    • 1.3.2 Thị phần, thương hiệu và hệ thống mạng lưới (27)
    • 1.3.3 Sự đa dạng của các sản phẩm và dịch vụ Ngân hàng (28)
    • 1.3.4 Năng lực về công nghệ (28)
    • 1.3.5 Nguồn nhân lực (29)
  • 1.4 Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế (30)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SACOMBANK (11)
    • 2.1 Giới thiệu về Sacombank (33)
      • 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển (33)
      • 2.1.2 Các sản phẩm kinh doanh của Sacombank (34)
        • 2.1.2.1 Sản phẩm tiền gửi (35)
        • 2.1.2.2 Sản phẩm cho vay (35)
        • 2.1.2.3 Sản phẩm thẻ Sacombank và dịch vụ chuyển tiền (35)
        • 2.1.2.4 Thanh toán quốc tế (35)
        • 2.1.2.5 Các sản phẩm dịch vụ khác (36)
    • 2.2 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Sacombank (36)
      • 2.2.1 Năng lực hoạt động kinh doanh của Sacombank (36)
        • 2.2.1.1 Huy động vốn (36)
        • 2.2.1.2 Hoạt động tín dụng (39)
        • 2.2.1.3 Hoạt động đầu tư (47)
        • 2.2.1.4 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán (48)
        • 2.2.1.5 Hoạt động Ngân hàng đại lý (50)
      • 2.2.2 Năng lực tài chính (51)
        • 2.2.2.1 Quy mô vốn chủ sở hữu (51)
        • 2.2.2.2 Kết quả kinh doanh và khả năng sinh lời (53)
        • 2.2.2.3 Khả năng thanh khoản trong hoạt động kinh doanh (56)
      • 2.2.3 Hệ thống mạng lưới hoạt động (57)
      • 2.2.4 Sự đa dạng của sản phẩm, dịch vụ và chất lượng phục khách hàng (57)
      • 2.2.5 Năng lực về công nghệ (58)
      • 2.2.6 Nguồn nhân lực và chính sách đối với người lao động (59)
        • 2.2.6.1 Nguồn nhân lực (59)
        • 2.2.6.2 Chính sách đối với người lao động (60)
      • 2.2.7 Cơ cấu tổ chức và năng lực quản trị điều hành (61)
        • 2.2.7.1 Cơ cấu tổ chức (61)
        • 2.2.7.2 Năng lực quản trị điều hành (62)
    • 2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Sacombank (63)
      • 2.3.1 Những thành quả đạt được của Sacombank (63)
      • 2.3.2 Những mặt hạn chế của Sacombank (66)
    • 2.4 Những cơ hội và thách thức về mặt cạnh tranh trong quá trình hội nhập của (68)
      • 2.4.1 Cơ hội của Sacombank trong quá trình hội nhập (68)
      • 2.4.2 Thách thức đối với Sacombank trong quá trình hội nhập (69)
      • 3.1.1 Định hướng phát triển hệ thống NHTM Việt Nam đến năm 2020 (72)
      • 3.1.2 Định hướng phát triển của Sacombank đến năm 2020 (73)
        • 3.1.2.1. Về năng lực tài chính (73)
        • 3.1.2.2. Về hiệu quả hoạt động kinh doanh (73)
        • 3.1.2.3. Về mạng lưới hoạt động (74)
    • 3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Sacombank trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế (74)
      • 3.2.1 Nhóm giải pháp ở cấp độ vĩ mô (74)
        • 3.2.1.1 Đối với Chính Phủ (74)
        • 3.2.1.2 Đối với NHNN Việt Nam (76)
      • 3.2.2 Nhóm giải pháp đối với Sacombank (76)
        • 3.2.2.1 Tăng vốn tự có (76)
        • 3.2.2.2 Nâng cao chất lượng tài sản có (78)
        • 3.2.2.3 Tăng cường khả năng thanh khoản (81)
        • 3.2.2.4 Tăng cường vai trò của bộ phận kiểm soát nội bộ (82)
        • 3.2.2.5 Nâng cao năng lực công nghệ (82)
        • 3.2.2.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (84)
        • 3.2.2.7 Nâng cao năng lực quản lý điều hành (86)
        • 3.2.2.8 Đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng (88)
        • 3.2.2.9 Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng (89)
        • 3.2.2.10 Xây dựng thương hiệu Sacombank thành thương hiệu mạnh (90)
        • 3.2.2.11 Xây dựng hệ thống mạng lưới (91)

Nội dung

Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng

Hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế: là quá trình từng bước xây dựng một nền kinh tế mở, gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu không thể tránh khỏi đối với mọi quốc gia Điều này được thúc đẩy bởi các nhân tố chính như hội nhập mang lại cơ hội phát triển kinh tế, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế Các quốc gia tham gia hội nhập kinh tế quốc tế còn tận dụng được các hiệp định thương mại tự do, thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững và hội nhập toàn cầu.

+ Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin;

+ Hoạt động thương mại, tài chính-tiền tệ và đầu tư quốc tế gia tăng mạnh mẽ theo xu hướng tự do hoá;

+ Thương mại hàng hóa, dịch vụ ngày càng gia tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của các nước;

+ Các công ty đa quốc gia ngày càng lớn mạnh đóng vai trò tiên phong của quá trình toàn cầu hóa;

+ Sự thay đổi cơ bản về khái niệm an ninh, lấy phát triển kinh tế là cách thức hữu hiệu để bảo đảm an ninh cho mỗi quốc gia

Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế tất yếu trong nền kinh tế toàn cầu Để không bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển, các quốc gia cần nỗ lực điều chỉnh chính sách, mở cửa thị trường bằng cách cắt giảm thuế quan và loại bỏ các rào cản liên quan đến thuế Việc này giúp thúc đẩy tự do hóa thương mại, luân chuyển vốn, lao động, công nghệ và kỹ thuật trên phạm vi toàn cầu ngày càng thông thoáng hơn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia trên thị trường quốc tế.

Hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ là quá trình mở cửa để thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực tài chính, thúc đẩy quá trình tự do hóa tài chính như tự do hóa lãi suất, tỷ giá hối đoái và giảm thiểu các hạn chế về dự trữ bắt buộc Quá trình này còn bao gồm xóa bỏ các hạn chế về vốn thông qua chỉ định tín dụng và tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế Đồng thời, các quy định pháp lý về hoạt động kinh doanh cần đảm bảo sự công bằng, minh bạch, không phân biệt đối xử để thúc đẩy sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường tài chính - tiền tệ.

Hội nhập quốc tế là xu hướng phát triển tất yếu của kinh tế thế giới, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển, nhằm mở cửa nền kinh tế và thúc đẩy tự do hóa thương mại, dịch vụ Điều này giúp các quốc gia tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc tế một cách bình đẳng, từ đó cùng nhau phát triển trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngân hàng.

Toàn cầu hóa kinh tế là quá trình gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về mọi mặt của đời sống xã hội giữa các quốc gia, bao gồm kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa và môi trường Quá trình này thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các thị trường toàn cầu và khu vực, tăng cường sự tương tác kinh tế thông qua các luồng giao thương hàng hóa và nguồn lực qua biên giới Đồng thời, toàn cầu hóa cũng góp phần hình thành các tổ chức, định chế quốc tế nhằm quản lý và điều phối các hoạt động kinh tế xuyên quốc gia, đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế toàn cầu.

Toàn cầu hóa nền kinh tế ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển toàn diện của các quốc gia Đây là xu hướng lớn của quan hệ quốc tế hiện đại, thúc đẩy sự giao lưu và hợp tác kinh tế toàn cầu Quá trình này không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn thúc đẩy phát triển bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng.

1.1.1.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế

Quá trình hội nhập kinh tế làm cho các nền kinh tế ngày càng gắn kết chặt chẽ hơn với nhau, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chung toàn cầu Hội nhập giảm thiểu các rào cản trong giao lưu và hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự cạnh tranh gay gắt hơn giữa các quốc gia Tham gia hội nhập kinh tế đồng nghĩa với việc các quốc gia tham gia vào cuộc cạnh tranh trong và ngoài nước để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững Các nước nỗ lực hội nhập vào xu thế toàn cầu để không bị tụt lại phía sau trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới.

Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là quá trình mở cửa giúp hệ thống ngân hàng trong nước hòa nhập với khu vực và toàn cầu Phạm vi hoạt động ngân hàng không còn giới hạn trong một quốc gia hay khu vực, mà mở rộng trên phạm vi toàn cầu Mọi hoạt động ngân hàng phải tuân thủ quy luật thị trường, các nguyên tắc kinh doanh quốc tế và thực hiện theo tín hiệu thị trường mà không bị hạn chế bởi các biện pháp quản lý hành chính, chính sách lãi suất, tỷ giá hay hoạt động tín dụng Để đạt hiệu quả cao trong hội nhập, cần đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng trong và ngoài nước, đồng thời tiến dần tới việc loại bỏ các ưu đãi dành cho ngân hàng trong nước.

1.1.2.2 Một số cam kết mở cửa hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Các tổ chức tín dụng nước ngoài có mặt tại Việt Nam dưới nhiều hình thức như văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, cùng với các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính liên doanh và 100% vốn nước ngoài Kể từ ngày 01/04/2007, ngân hàng 100% vốn nước ngoài chính thức được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam.

Các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam được phép cung ứng đa dạng dịch vụ ngân hàng theo quy định trong Phụ lục dịch vụ tài chính ngân hàng của Hiệp định GATS, bao gồm cho vay, nhận tiền gửi, cho thuê tài chính, kinh doanh ngoại tệ, các công cụ thị trường tiền tệ và công cụ phái sinh, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, cung cấp dịch vụ thanh toán, cũng như tư vấn và thông tin tài chính.

Vào thứ ba, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép nhận tiền gửi VNĐ không giới hạn từ các pháp nhân Việc huy động tiền gửi VNĐ từ các thể nhân Việt Nam sẽ được nới lỏng trong vòng 5 năm theo lộ trình đã đề ra, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

Ngày 1 tháng 1 năm 2007: 650% vốn pháp định được cấp Ngày 1 tháng 1 năm 2008: 800% vốn pháp định được cấp Ngày 1 tháng 1 năm 2009: 900% vốn pháp định được cấp Ngày 1 tháng 1 năm 2010: 1000% vốn pháp định được cấp Ngày 1 tháng 1 năm 2011: Đối xử quốc gia đủ

Ngày thứ tư, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép mở điểm giao dịch ngoài trụ sở, nhưng vẫn được hưởng quyền đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc đầy đủ trong việc thiết lập và vận hành máy rút tiền tự động, đảm bảo hoạt động dịch vụ ngân hàng thuận tiện cho khách hàng.

Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, các tổ chức tín dụng nước ngoài đã được phép phát hành thẻ tín dụng dựa trên nguyên tắc đối xử quốc gia Quy định này thúc đẩy cạnh tranh và mở rộng dịch vụ thẻ tín dụng, góp phần nâng cao tiện ích cho khách hàng và phát triển thị trường tài chính ngân hàng tại Việt Nam.

Ngày thứ sáu, các ngân hàng thương mại nước ngoài có thể đồng thời mở ngân hàng con và chi nhánh hoạt động tại Việt Nam Điều kiện cấp phép cho ngân hàng 100% vốn nước ngoài dựa trên các quy định về an toàn tài chính, bao gồm tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh toán và quản trị doanh nghiệp Ngoài ra, các tiêu chí dành cho chi nhánh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ được áp dụng theo cơ chế quản lý của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó yêu cầu vốn tối thiểu phù hợp với các chuẩn mực quốc tế đã được công nhận.

Vào thứ bảy, các ngân hàng nước ngoài được phép tham gia góp vốn liên doanh với các đối tác Việt Nam không vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh, đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật Việt Nam Tổng mức góp vốn mua cổ phần của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại từng ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam không được vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng đó, trừ khi có quy định khác của pháp luật hoặc được sự chấp thuận từ cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam Các quy định này nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng liên doanh và đảm bảo an toàn tài chính, phù hợp với các quy định về quyền góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài tại thị trường Việt Nam.

Để thu hút các ngân hàng lớn, có uy tín hoạt động tại thị trường Việt Nam, các ngân hàng này phải đáp ứng yêu cầu về tổng tài sản có theo cam kết, như quy định trong Nghị định số 22 ngày 28/02/2006 Cụ thể, để mở một chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, ngân hàng mẹ cần có tổng tài sản có trên 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước khi xin mở chi nhánh Đối với việc thành lập ngân hàng liên doanh hoặc ngân hàng con 100% vốn nước ngoài, yêu cầu về tổng tài sản có cũng phải vượt mức này, nhằm đảm bảo uy tín và khả năng hoạt động lâu dài trên thị trường Việt Nam.

Để xin phép thành lập công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, liên doanh tài chính hoặc công ty cho thuê tài chính liên doanh, các tổ chức tín dụng nước ngoài cần có tổng tài sản trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước ngày nộp hồ sơ Điều này đảm bảo rằng tổ chức đủ năng lực tài chính để hoạt động trong lĩnh vực này Các yêu cầu về vốn và tài sản tối thiểu là điều kiện quan trọng để các cơ quan quản lý xem xét việc cấp phép, giúp duy trì sự ổn định và uy tín của ngành tài chính nước ngoài tại Việt Nam.

1.1.2.3 Tác động của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng

Hội nhập quốc tế giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam mở rộng thị trường, nhưng đồng thời cũng khiến họ chịu ảnh hưởng lớn từ biến động của thị trường tài chính quốc tế Các ngân hàng phải tuân thủ nhiều nghĩa vụ và cam kết quốc tế để đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn toàn cầu Quá trình hội nhập đòi hỏi các ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu về quản trị rủi ro và minh bạch theo tiêu chuẩn quốc tế Nhờ đó, họ có cơ hội tiếp cận nguồn vốn và công nghệ mới, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững trong lĩnh vực ngân hàng.

Việt Nam mở ra nhiều cơ hội hợp tác quốc tế cho các NHTM, nhằm tranh thủ vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý để đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường tài chính trong và ngoài nước Các ngân hàng thương mại Việt Nam cần chuyên môn hóa sâu hơn các nghiệp vụ ngân hàng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và nhanh chóng tiếp cận cũng như phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại.

Trong quá trình hội nhập quốc tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam phải đối mặt với áp lực lớn trong việc duy trì và mở rộng thị phần trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các ngân hàng nhà nước, tổ chức tài chính trung gian, và các định chế tài chính khác như thị trường chứng khoán, cho thuê tài chính, bảo hiểm Khi các hạn chế đối với ngân hàng nhà nước dần được loại bỏ, nguy cơ mất thị phần của các ngân hàng thương mại trong nước sẽ ngày càng tăng cao.

Hội nhập ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng thương mại trong nước phải nhanh chóng mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ mới và cải tiến trình độ quản lý Công nghệ hiện đại cùng với năng lực quản lý vững mạnh, cùng tiềm lực tài chính dồi dào của các ngân hàng nhà nước sẽ tạo sức ép cạnh tranh trong ngành, buộc các ngân hàng trong nước phải nâng cao vốn, đầu tư kỹ thuật, đổi mới phương pháp quản trị và hiện đại hóa hệ thống thanh toán Đặc biệt, việc cải tiến và phát triển dịch vụ ngân hàng đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại.

Tính tất yếu, khách quan của hội nhập kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng

Hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước thông qua việc tận dụng vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến Đẩy mạnh hội nhập ngân hàng, xây dựng hệ thống ngân hàng vững mạnh trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam đang hướng đến công nghiệp hóa và hiện đại hóa Đây là điều kiện cần thiết để Việt Nam chuyển dịch cơ cấu vốn phù hợp với xu hướng toàn cầu.

Trong quá trình hội nhập quốc tế, các ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong phân phối vốn đầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng yếu kém, mở rộng tín dụng quá mức và nợ khó đòi tăng cao có thể gây ra những bất ổn, dẫn đến khủng hoảng tài chính và trì hoãn phục hồi kinh tế Một hệ thống tài chính thiếu minh bạch và kém hiệu quả sẽ làm giảm khả năng thu hút đầu tư nước ngoài, viện trợ và tài trợ quốc tế, đồng thời gây ra lãng phí nguồn vốn, hiệu quả đầu tư thấp và nảy sinh nạn tham nhũng, từ đó gây rối loạn nền kinh tế.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện còn chịu ảnh hưởng của can thiệp chính quyền, tình trạng tài chính yếu kém và khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện Công nghệ ngân hàng tụt hậu so với các nước, nợ xấu cao và môi trường kinh tế vĩ mô chưa ổn định đang tạo ra rủi ro cho hệ thống ngân hàng quốc gia Do đó, ngành Ngân hàng cần đẩy mạnh hội nhập với khu vực và thế giới, xây dựng hệ thống ngân hàng đủ sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu về vốn và cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng để hỗ trợ sự phát triển của nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế.

Cạnh tranh, đặc điểm, các chiến lược cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM

Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là quá trình ganh đua giữa các chủ thể kinh tế như nhà sản xuất và người tiêu dùng nhằm chiếm ưu thế trong sản xuất, tiêu thụ hoặc sử dụng hàng hóa để tối đa hóa lợi ích cá nhân Cạnh tranh có thể diễn ra giữa các doanh nghiệp để giành thị phần hoặc giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng với giá cao, còn người tiêu dùng mong muốn mua với giá thấp, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Cạnh tranh thúc đẩy sản xuất phát triển và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế Nó mang lại lợi ích lớn cho người tiêu dùng bằng cách thúc ép nhà sản xuất nâng cao chất lượng, giảm chi phí sản xuất, và áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mới nhất để phù hợp với thị hiếu của khách hàng Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp trở nên năng động, nhạy bén hơn trong việc nắm bắt nhu cầu thị trường, đồng thời thúc đẩy đổi mới kỹ thuật, cải tiến quy trình và tổ chức quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Ngoài những lợi ích, cạnh tranh còn gây ra những hệ quả xã hội tiêu cực như làm thay đổi cấu trúc sở hữu của cải và làm gia tăng bất bình đẳng giàu nghèo Cạnh tranh không lành mạnh, sử dụng thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bỏ qua pháp luật, gây tác động tiêu cực đến xã hội Chính vì vậy, cạnh tranh kinh tế cần phải được điều chỉnh thông qua các định chế xã hội và sự can thiệp của nhà nước để đảm bảo tính công bằng và trật tự xã hội.

Trong xã hội, mỗi người vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng, điều này thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân và cộng đồng Cạnh tranh khuyến khích đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững Do đó, cạnh tranh không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn góp phần xây dựng cộng đồng ngày càng thịnh vượng hơn.

1.2.1.2 Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng:

Trong hoạt động ngân hàng, cạnh tranh đóng vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh Kết quả của cạnh tranh quyết định vị thế cạnh tranh, sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi ngân hàng trong thị trường Do đó, các ngân hàng phải lựa chọn chiến lược phù hợp nhằm tăng sức cạnh tranh và duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường Áp lực cạnh tranh không chỉ đến từ các ngân hàng thương mại khác mà còn từ các tổ chức tín dụng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, với mục tiêu chiếm lĩnh thị phần huy động vốn, tín dụng và cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa dạng.

Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tiền tệ rất nhạy cảm và chịu tác động mạnh mẽ từ nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống, văn hóa, gây ra những ảnh hưởng nhanh chóng và dây chuyền đến môi trường kinh doanh chung Do đó, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại (NHTM) đòi hỏi sự thận trọng, bởi việc đối thủ suy yếu hoặc sụp đổ có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, thậm chí gây đổ vỡ chính ngân hàng của mình và ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hệ thống tài chính.

1.2.1.3 Năng lực cạnh tranh của các NHTM

Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ ngày càng được sử dụng rộng rãi nhưng vẫn còn là khái niệm chung chung và khó đo lường Khái niệm này của NHTM có thể hiểu là khả năng tạo ra, duy trì và phát triển lợi thế liên tục nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ đông Ngân hàng hướng tới mở rộng thị phần, đạt lợi nhuận cao hơn trung bình ngành, đồng thời đảm bảo hoạt động kinh doanh an toàn, lành mạnh và có khả năng chống đỡ rủi ro cao, vượt qua các biến động bất lợi trong môi trường kinh doanh.

Các đặc điểm cạnh tranh của các NHTM

Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) có mối liên hệ mật thiết với sự phát triển của kinh tế, chính trị và xã hội, đóng vai trò then chốt trong hệ thống tài chính quốc gia Khi một NHTM gặp khó khăn hoặc có nguy cơ vỡ nợ, tác động lan truyền sẽ ảnh hưởng không chỉ đến các ngân hàng khác mà còn đến các tổ chức tài chính phi ngân hàng, có khả năng gây ra khủng hoảng hệ thống tiền tệ do hoạt động tiền tệ vốn nhạy cảm và liên kết chặt chẽ Trong bối cảnh cạnh tranh, các ngân hàng cần cân nhắc hợp lý, tránh cạnh tranh bằng mọi giá hay sử dụng các thủ đoạn trái pháp luật để đánh bại đối thủ; bởi nếu một ngân hàng sụp đổ, hậu quả có thể dẫn đến toàn bộ hệ thống tài chính gặp rủi ro và đổ vỡ Do đó, mặc dù cạnh tranh để giành thị phần, các ngân hàng luôn phải duy trì hợp tác nhằm xây dựng thị trường ngân hàng lành mạnh, giảm thiểu rủi ro hệ thống.

Hoạt động của các ngân hàng thương mại liên quan đến lưu chuyển tiền tệ không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn liên quan đến nhiều quốc gia nhằm hỗ trợ các hoạt động kinh tế quốc tế Do đó, kinh doanh trong hệ thống ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong nước và quốc tế như môi trường pháp luật, tập quán và các chuẩn mực quốc tế Đặc biệt, hoạt động này còn bị chi phối mạnh mẽ bởi điều kiện hạ tầng, tài chính, công nghiệp, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính quyết định đối với các hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Các ngân hàng thương mại (NHTM) hoạt động phải chịu sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước (NHTW) nhằm đảm bảo ổn định hệ thống ngân hàng và phòng tránh nguy cơ vỡ nợ Thông qua công tác kiểm soát, NHTW ban hành các quy chế tiêu chuẩn nhằm cảnh báo sớm các rủi ro tiềm ẩn, giúp các NHTM có biện pháp phòng ngừa và kiểm soát tốt hơn Do đó, cạnh tranh trong hệ thống các NHTM đòi hỏi các chuẩn mực khắt khe hơn các loại hình kinh doanh khác, nhằm bảo vệ tính ổn định và tránh xảy ra sự cạnh tranh gay gắt gây suy yếu hoặc thôn tính lẫn nhau.

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM

Nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động ngân hàng, bao gồm tình hình kinh tế trong nước, sự thay đổi trong chính sách điều hành của chính phủ và biến động của nền kinh tế thế giới Các yếu tố này góp phần định hình môi trường hoạt động của ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng phát triển, ổn định tài chính và chiến lược kinh doanh của các tổ chức ngân hàng Hiểu rõ tác động của các yếu tố vĩ mô giúp ngân hàng đưa ra các quyết định phù hợp để thích nghi và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng.

Biến động của kinh tế trong nước như tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, biến động lãi suất, tỷ giá và các yếu tố khác đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng thương mại, bao gồm huy động vốn, cho vay và các dịch vụ tài chính khác Các thay đổi trong cơ chế điều hành chính sách và hệ thống pháp luật có thể gây ra tác động lớn đến nền kinh tế, làm biến đổi môi trường hoạt động của ngân hàng và định hướng phát triển thị trường tài chính quốc gia Hiểu rõ các yếu tố này là chìa khóa để các ngân hàng thích nghi, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững trong bối cảnh kinh tế biến động.

Biến động kinh tế thế giới có thể tác động tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức, cá nhân nước ngoài có quan hệ thương mại với đối tác trong nước Điều này ảnh hưởng đến quá trình mua bán, thanh toán qua hệ thống ngân hàng, làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trong nước Ngoài ra, sự biến động này còn làm ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng nội địa trên thị trường quốc tế.

Hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, phản ứng nhanh chóng với các biến động kinh tế Khi nền kinh tế gặp khó khăn, ngân hàng là ngành chịu tác động đầu tiên nhưng cũng là ngành phục hồi nhanh chóng khi nền kinh tế bắt đầu phục hồi Điều này cho thấy tầm ảnh hưởng và tính nhạy cảm của hệ thống ngân hàng đối với trạng thái chung của nền kinh tế.

Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò cốt lõi trong hoạt động điều tiết chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) NHNN sử dụng các công cụ như chính sách dự trữ bắt buộc, lãi suất và tỷ giá để kiểm soát hoạt động của hệ thống NHTM, qua đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế và ngược lại Các ngân hàng thương mại phải tuân thủ các điều tiết của NHNN để đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính Để đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển, các NHTM thực hiện các chiến lược kinh doanh đa dạng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị phần huy động vốn, cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác.

1.2.3.2 Qúa trình hội nhập kinh tế quốc tế

Toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hội nhập của các quốc gia với nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng Các ngân hàng thương mại (NHTM) không ngừng mở rộng quy mô hoạt động và thị phần, không chỉ trong thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường quốc tế.

Một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hội nhập và khả năng phát triển của ngân hàng thương mại (NHTM) là tính đa quốc gia trong phạm vi hoạt động kinh doanh Nhiều NHTM đã mở rộng hoạt động ra nước ngoài thông qua các phương thức như mở chi nhánh mới, hợp nhất, sáp nhập và mua lại, làm tăng đáng kể quy mô của các ngân hàng này Xu hướng các ngân hàng lớn, có tiềm lực tài chính mạnh mẽ, ngày càng gia tăng việc thâm nhập vào các ngân hàng nhỏ trong và ngoài nước, đặc biệt tại các thị trường đang phát triển Đây được xem là giải pháp chủ yếu giúp các ngân hàng lớn mở rộng thị trường và dịch vụ ngân hàng quốc tế, tạo nên tính đa quốc gia trong hình thức sở hữu của các NHTM.

Trong quá trình toàn cầu hóa, các ngân hàng thương mại (NHTM) ở các nước phát triển với quy mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh và kinh nghiệm dày dạn sẽ có lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các ngân hàng ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, nguy cơ bị thôn tính và mua lại của các ngân hàng trong các quốc gia này cũng sẽ gia tăng, tạo ra những thách thức đáng kể Điều này thúc đẩy các ngân hàng nhỏ hơn nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động để nâng cao vị thế của mình trên thị trường quốc tế, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng trong bối cảnh toàn cầu hóa.

1.2.3.3 Tiến bộ khoa học kỹ thuật

Nhờ vào sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, các ngân hàng thương mại đã nhanh chóng ứng dụng các công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh, thay thế dần các thao tác thủ công truyền thống Việc áp dụng công nghệ giúp tăng hiệu quả hoạt động, nâng cao trải nghiệm khách hàng và giảm thiểu sai sót trong quá trình giao dịch Công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa ngành ngân hàng, thúc đẩy sự phát triển bền vững và cạnh tranh trên thị trường.

Hàng loạt các sản phẩm dịch vụ tiện ích ra đời với mức độ tin cậy ngày càng cao

Những tiến bộ của công nghệ đã giúp ngân hàng xử lý công việc nhanh hơn, tạo điều kiện thuận lợi trong việc thu hút và đáp ứng nhu cầu khách hàng Đồng thời, công nghệ góp phần giảm chi phí kinh doanh và nâng cao vị thế cạnh tranh của các ngân hàng thương mại (NHTM) Vì vậy, các NHTM đang tăng cường đầu tư vào trang thiết bị và phương tiện hiện đại nhằm thay thế các thao tác thủ công truyền thống, nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng.

Trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển nhanh và hiện đại, các ngân hàng thương mại (NHTM) cần phải thường xuyên cập nhật, thay thế và bổ sung công nghệ phù hợp để đáp ứng tốc độ tiến bộ Tuy nhiên, việc này đi kèm với các tồn tại như vấn đề về nguồn vốn đầu tư cho công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Không phải tất cả các NHTM đều đủ khả năng thích ứng nhanh chóng với tiến bộ khoa học công nghệ, song các ngân hàng có công nghệ hiện đại và mạnh mẽ hơn sẽ có năng lực cạnh tranh vượt trội trên thị trường.

1.2.3.4 Các yêu cầu ngày càng cao của khách hàng trong việc sử dụng sản phẩm dịch vụ Ngân hàng

Mọi chiến lược kinh doanh của ngân hàng thương mại đều đặt khách hàng làm trung tâm và mục tiêu phục vụ chính Các ngân hàng không ngừng đổi mới, cải tiến mô hình phục vụ để hướng tới khách hàng, nhằm tối đa hóa sự hài lòng và đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Điều này giúp ngân hàng nâng cao chất lượng dịch vụ, xây dựng lòng tin và thúc đẩy phát triển bền vững trong ngành ngân hàng.

Khi nền kinh tế tăng trưởng, thị trường tài chính phát triển giúp các doanh nghiệp có nhiều cơ hội lựa chọn phương thức huy động vốn và thanh toán hiệu quả nhất, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ Đồng thời, sự phát triển kinh tế kéo theo thu nhập và mức sống của người dân nâng cao, làm gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện và mang lại giá trị gia tăng cao hơn Chính điều này thúc đẩy khách hàng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các ngân hàng thương mại Để cạnh tranh thành công trong bối cảnh thị trường biến động, các ngân hàng thương mại cần nhạy bén, linh hoạt và đổi mới trong chiến lược để thu hút và giữ chân khách hàng.

Chiến lược cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Hiện nay, số lượng ngân hàng thương mại mới được thành lập ngày càng tăng, đi kèm với sự đa dạng của các sản phẩm dịch vụ trên thị trường Khách hàng ngày càng yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm dịch vụ và thường xuyên so sánh, đánh giá để lựa chọn ngân hàng cung cấp dịch vụ tốt nhất Họ sẵn sàng chuyển đổi sang ngân hàng khác nếu nhận thấy chất lượng dịch vụ không đáp ứng mong đợi Để cạnh tranh hiệu quả, ngân hàng cần xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển chiến lược kinh doanh phù hợp Chỉ khi đó, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mới có thể đáp ứng đầy đủ, kịp thời và chất lượng nhu cầu của khách hàng, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường.

1.2.4.2 Cạnh tranh thông qua lãi suất, phí và các chương trình ưu đãi, khuyến mãi dành cho khách hàng

Trong cạnh tranh ngân hàng ngày nay, các NHTM tập trung vào việc cạnh tranh bằng lãi suất, phí dịch vụ và các chương trình ưu đãi khuyến mãi nhằm thu hút khách hàng Tuy nhiên, để đảm bảo lợi nhuận bền vững, các ngân hàng cần cân nhắc kỹ lưỡng về mức lãi suất, phí thu và các chiến dịch khuyến mãi để vừa tăng thị phần, vừa không làm giảm lợi nhuận đạt được Chiến lược này giúp các ngân hàng duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh thị trường ngày càng đông đúc và đa dạng.

1.2.4.3 Cạnh tranh thông qua mạng lưới cung ứng sản phẩm dịch vụ Ngân hàng

Mạng lưới chi nhánh giao dịch là kênh trực tiếp cung ứng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng, giúp nâng cao tính tiện lợi trong giao dịch và mở rộng thị phần Để tăng tính cạnh tranh, ngân hàng thương mại cần mở rộng mạng lưới tại các vị trí thuận lợi ở các tỉnh thành trên cả nước và mở rộng hoạt động ra quốc tế Khi thành lập thêm chi nhánh hoặc phòng giao dịch mới, cần nghiên cứu kỹ về vị trí phù hợp, đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế khu vực, khả năng thu hút khách hàng tiềm năng, cùng với kế hoạch quảng bá rộng rãi đến khách hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

Hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM

Năng lực tài chính của Ngân hàng

1.3.1.1 Quy mô vốn tự có

Vốn tự có của Ngân hàng Thương mại (NHTM) gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác, đóng vai trò là nền tảng tạo lập nguồn lực tài chính vững chắc Vốn tự có là cơ sở để ngân hàng đầu tư vào tài sản cố định, thực hiện các khoản đầu tư dài hạn và ngắn hạn nhằm sinh lời, đồng thời cung cấp nguồn vốn ổn định cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Vốn tự có đóng vai trò quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, ảnh hưởng đến giới hạn huy động vốn, cho vay và bảo lãnh theo quy định pháp luật dựa trên quy mô vốn tự có Vốn tự có là yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh tài chính và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường Ngân hàng có vốn tự có lớn sẽ dễ dàng mở rộng hoạt động kinh doanh, đầu tư công nghệ hiện đại và trang bị thiết bị chuyên dụng phục vụ hoạt động vượt trội Ngoài ra, vốn tự có lớn giúp ngân hàng dễ dàng tiếp cận các dự án lớn, có hiệu quả cao, đặc biệt trong thanh toán quốc tế và các khoản bảo lãnh thanh toán L/C giá trị lớn Ngân hàng có quy mô vốn nhỏ, năng lực tài chính hạn chế thường gặp khó khăn trong việc được chấp nhận làm ngân hàng thanh toán quốc tế, dễ mất khách hàng và thị phần.

Quy mô vốn chủ sở hữu đóng vai trò như một tấm đệm quan trọng giúp ngân hàng nâng cao khả năng chống chịu trước các rủi ro trong hoạt động kinh doanh Một quy mô vốn chủ sở hữu lớn hơn sẽ tăng khả năng ngân hàng ứng phó hiệu quả với các cú sốc kinh tế bất ngờ Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng biến động phức tạp, việc tăng cường vốn chủ sở hữu trở nên đặc biệt quan trọng để đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng tăng do quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, khiến khả năng chống chịu của ngân hàng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Vốn tự có thấp hạn chế khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh do giới hạn huy động vốn, giới hạn cho vay tối đa cho từng khách hàng và tổng vốn đầu tư Điều này dẫn đến khó khăn trong việc mở rộng mạng lưới, nâng cao hoạt động và đổi mới công nghệ, đặc biệt là hệ thống thanh toán Chi phí hoạt động tăng cao và khả năng cạnh tranh yếu hơn, kết quả hoạt động kém hiệu quả Những biến động chính sách hoặc bất lợi về kinh tế có thể làm suy yếu khả năng tài chính của ngân hàng, thậm chí gây mất khả năng thanh toán, gây thiệt hại cho khách hàng, hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

Chất lượng tín dụng phản ánh mức độ rủi ro trong quá trình cho vay của một

Các tổ chức tín dụng, gồm cả ngân hàng thương mại, thường được đánh giá qua các chỉ tiêu như tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ nợ khó đòi, tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo, cũng như cơ cấu dư nợ các khoản vay ngắn hạn và dài hạn Để đảm bảo chất lượng tín dụng, các ngân hàng thương mại đều áp dụng chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Việc phân loại nợ và trích lập dự phòng được thực hiện dựa trên các Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN, theo đó các khoản cho vay khách hàng được phân loại thành 5 nhóm nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng được quy định cụ thể cho từng nhóm.

Nhóm 1 – Nợ đủ tiêu chuẩn 0%

Nhóm 3 – Nợ dưới tiêu chuẩn 20%

Nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn 100%

Các ngân hàng thương mại (NHTM) bắt buộc phải trích lập dự phòng chung với mức tối thiểu bằng 0.75% tổng dư nợ của các khoản cho vay khách hàng, nhằm đảm bảo an toàn tài chính và hạn chế rủi ro tín dụng Tuy nhiên, các khoản vay khách hàng được phân loại vào nhóm nợ có khả năng mất vốn sẽ không áp dụng mức trích lập dự phòng này Việc duy trì mức dự phòng phù hợp giúp tăng cường khả năng chống chịu của ngân hàng trước các biến động thị trường và bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

Khả năng sinh lời là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của ngân hàng thương mại (NHTM) Để đo lường khả năng sinh lời, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu như lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), hoặc lợi nhuận ròng trên doanh thu, cùng với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và cơ cấu lợi nhuận phản ánh nguồn gốc lợi nhuận từ hoạt động chính hay các khoản lợi nhuận bất thường Việc đánh giá chỉ tiêu này dựa trên hai tỷ số cơ bản giúp xác định rõ khả năng sinh lời của ngân hàng.

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA – Return on assets):

Lợi nhuận ròng (ROA) được tính bằng tổng tài sản bình quân nhân với 100, phản ánh số đồng lợi nhuận tạo ra trên mỗi đồng tài sản Chỉ số này cho biết hiệu quả sử dụng tài sản trong việc sinh lời của doanh nghiệp, với tài sản càng sinh lời cao thì tỷ lệ ROA càng lớn, giúp định hướng các chiến lược nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity):

Lợi nhuận ròng là chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp đánh giá khả năng sinh lời từ hoạt động sản xuất kinh doanh Tỷ suất lợi nhuận ròng (ROE) thể hiện lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu bình quân, được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho vốn chủ sở hữu bình quân nhân với 100 để thành tỷ lệ phần trăm ROE cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn chủ sở hữu hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao cho cổ đông Việc tối đa hóa lợi nhuận ròng và duy trì tỷ lệ ROE ổn định là mục tiêu chiến lược của các doanh nghiệp để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường.

Hệ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu thể hiện rõ mức độ hiệu quả hoạt động của ngân hàng, phản ánh số lợi nhuận mà mỗi đồng vốn sở hữu tạo ra Chỉ số này càng cao, cho thấy khả năng sinh lời của ngân hàng càng lớn, giúp đánh giá chính xác hiệu quả quản lý và hoạt động kinh doanh.

1.3.1.4 Khả năng thanh khoản trong hoạt động kinh doanh

Thanh khoản đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sự ổn định của hoạt động ngân hàng Khả năng thanh khoản thấp có thể dẫn đến nguy cơ đổ vỡ ngân hàng, trong khi khả năng thanh khoản cao giúp ngân hàng vượt qua các giai đoạn khó khăn một cách dễ dàng Tăng cường thanh khoản ngân hàng là yếu tố then chốt để đảm bảo sự ổn định và bền vững trong hoạt động ngân hàng.

Khả năng thanh khoản của ngân hàng được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ khả năng chi trả, đánh giá tính khả thi của các phương án đảm bảo khả năng chi trả trong tình huống thiếu hụt tạm thời hoặc khủng hoảng về thanh khoản Đồng thời, ngân hàng cần thiết lập hệ thống cảnh báo sớm nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu thiếu hụt khả năng chi trả và đề ra các giải pháp xử lý tối ưu để duy trì sự ổn định tài chính.

Thị phần, thương hiệu và hệ thống mạng lưới

Thị phần của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của ngân hàng Nó bao gồm các lĩnh vực như huy động vốn, cho vay và cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng Thị phần càng lớn đồng nghĩa với lượng khách hàng càng nhiều, phản ánh khả năng thu hút và giữ chân khách hàng của ngân hàng Đánh giá thị phần thường dựa trên số lượng khách hàng và tỷ lệ khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.

Thương hiệu ngân hàng uy tín và đáng tin cậy là yếu tố then chốt giúp xây dựng lòng tin của khách hàng mục tiêu, mang lại lợi nhuận lâu dài cho ngân hàng Một thương hiệu mạnh tạo lợi thế cạnh tranh nổi bật, hỗ trợ ngân hàng mở rộng thị trường và phát triển bền vững Thương hiệu còn thể hiện thành quả và giá trị của ngân hàng, đồng thời đóng vai trò bảo vệ thương hiệu trước cạnh tranh Nhờ đó, ngân hàng duy trì sự ổn định, nâng cao thị phần, xây dựng danh tiếng tích cực và củng cố lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Hệ thống mạng lưới đóng vai trò then chốt trong hoạt động của ngân hàng thương mại, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của ngân hàng Số lượng và sự phân bố các điểm giao dịch như sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch theo vị trí địa lý thể hiện quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng Hiệu quả hoạt động của các điểm giao dịch là yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng hệ thống kênh phân phối, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Sự đa dạng của các sản phẩm và dịch vụ Ngân hàng

Mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ là một tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng Việc mở rộng và đa dạng hóa danh mục sản phẩm giúp ngân hàng duy trì sự phát triển ổn định và bền vững trên thị trường.

Ngân hàng có khả năng cung cấp đa dạng và độc đáo các loại hình sản phẩm dịch vụ, tạo sự khác biệt và đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Với chất lượng cao, chi phí hợp lý, ngân hàng này có lợi thế cạnh tranh vượt trội, dễ dàng chiếm lĩnh thị phần và nâng cao sức mạnh cạnh tranh trên thị trường.

Năng lực về công nghệ

Công nghệ ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng giúp các ngân hàng tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội Nhờ áp dụng công nghệ mới, dịch vụ ngân hàng đã trở nên đa dạng và tiện ích hơn, mang lại lợi ích thiết thực cho khách hàng, ngân hàng và nền kinh tế Các ngân hàng thương mại đã không ngừng phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử như internet banking, mobile banking, phone banking, dịch vụ thẻ và thanh toán điện tử để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Hiện nay, hầu hết các nghiệp vụ ngân hàng như huy động vốn, thanh toán, cho vay và kinh doanh ngoại hối đã được tự động hoá và xử lý bằng máy tính thông qua việc ứng dụng các phần mềm hiện đại Công nghệ số đã góp phần nâng cao hiệu quả, tốc độ và độ chính xác trong các giao dịch ngân hàng, giúp đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng Việc áp dụng các phần mềm ngân hàng hiện đại không chỉ tối ưu hóa quy trình làm việc mà còn tăng cường an ninh và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng.

Công nghệ tiên tiến đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các tiện ích ngân hàng đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Các ngân hàng áp dụng công nghệ hiện đại giúp mở rộng dịch vụ, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội trên thị trường Chính nhờ vào sự đổi mới công nghệ, các ngân hàng ngày càng nâng cao năng lực cạnh tranh và giữ vững vị thế của mình trong ngành ngân hàng.

Việc các ngân hàng thương mại ứng dụng nhanh chóng công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng là yếu tố then chốt giúp các ngân hàng phát triển nhanh chóng và bền vững hơn Áp dụng công nghệ tiên tiến giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường năng lực cạnh tranh và thu hút nhiều khách hàng giao dịch Đồng thời, công nghệ hiện đại còn giúp giảm thiểu các chi phí liên quan, tối ưu hóa hoạt động ngân hàng và nâng cao trải nghiệm khách hàng.

Việc đầu tư nâng cấp và đổi mới công nghệ ngân hàng nhằm đáp ứng hiệu quả các yêu cầu nghiệp vụ và tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng là yếu tố quan trọng phản ánh năng lực công nghệ của ngân hàng Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi nguồn vốn lớn, chính là thách thức đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam có quy mô vốn còn hạn chế.

Nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng thương mại thể hiện qua sự thành thạo trong nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng bổ trợ, động lực phấn đấu và mức độ cam kết gắn bó của nhân viên Đội ngũ nhân sự hiệu quả cần được áp dụng các công trình nghiên cứu vào hoạt động kinh doanh hàng năm và có khả năng tự đào tạo, học tập không ngừng Chính sách tuyển dụng, đào tạo lại, lương bổng và bổ nhiệm đóng vai trò quyết định trong việc thu hút, duy trì và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Một ngân hàng sở hữu đội ngũ nhân sự xuất sắc sẽ có lợi thế cạnh tranh vượt trội trên thị trường ngân hàng.

Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM trên thị trường Vì vậy, xây dựng chiến lược phát triển nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg nguồn nhân lực luôn là mối quan tâm lớn của các ngân hàng Việc đào tạo một lực lượng cán bộ quản lý có kinh nghiệm và một đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn sâu sẽ rút ngắn được thời gian xử lý công việc, qua đó hiệu quả và chất lượng công việc sẽ được nâng lên và ngày càng tạo được niềm tin nơi khách hàng, lúc đó năng lực cạnh tranh của ngân hàng hàng sẽ được nâng lên so với các đối thủ cạnh tranh của mình Việc thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao là một yếu tố quan trọng có tính chất quyết định đến sự thành công hay thất bại đối với chiến lược hoạt động của ngân hàng.

THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SACOMBANK

Giới thiệu về Sacombank

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) chính thức hoạt động từ ngày 05/12/1991 theo quyết định số 0006/NH-GP của NHNN Việt Nam và được UBND TP.HCM thành lập theo quyết định số 05/GP-UB ngày 03/01/1992 Sacombank phát triển dựa trên cơ sở chuyển đổi từ Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp và sáp nhập ba Hợp tác xã tín dụng Tân Bình, Thành Công, Lữ Gia, tất cả đều đang gặp khó khăn về tài chính vào thời điểm đó.

Trong giai đoạn 1991-1995, Sacombank bắt đầu với vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng và tăng lên 23 tỷ đồng Mạng lưới hoạt động chủ yếu tại các quận ven, phạm vi kinh doanh còn hạn chế Trong giai đoạn này, ngân hàng tập trung xử lý các khoản nợ khó đòi, mở rộng mạng lưới, phát hành kỳ phiếu và triển khai dịch vụ chuyển tiền nhanh để nâng cao năng lực hoạt động.

Trong giai đoạn 1995-1998, Sacombank tập trung vào nhiệm vụ hoạch định chiến lược và phát triển đồng thời củng cố và chấn chỉnh bộ máy hoạt động Đây là giai đoạn ngân hàng lần đầu tiên tiến hành phát hành cổ phiếu ra công chúng để tăng vốn điều lệ, từ 23 tỷ đồng lên 71 tỷ đồng, góp phần nâng cao năng lực tài chính và mở rộng quy mô hoạt động.

Trong giai đoạn 1999-2001, Sacombank đã tăng vốn điều lệ lên 190 tỷ đồng và xây dựng hội sở tại trung tâm TP.HCM, đồng thời nâng cấp các trụ sở chi nhánh trực thuộc Ngân hàng mở rộng mạng lưới đến hơn 20 tỉnh thành và các vùng kinh tế trọng điểm, thiết lập quan hệ với hơn 80 chi nhánh và ngân hàng nước ngoài trên toàn cầu Năm 2001, Sacombank đã xây dựng chiến lược phát triển dài hạn (2001-2005) cùng phương hướng nhiệm vụ của giai đoạn kế hoạch này, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình mở rộng vàđổi mới của ngân hàng.

Trong giai đoạn 2001-2005, Sacombank đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh tế và mục tiêu phát triển đề ra cho kế hoạch 5 năm, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngân hàng Sự tham gia góp vốn của ba cổ đông nước ngoài là các tổ chức tài chính – ngân hàng lớn của thế giới và khu vực đã giúp Sacombank tiếp cận công nghệ tiên tiến cùng với kinh nghiệm quản trị điều hành hiện đại, chuẩn bị tốt cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra, ngân hàng còn bước đầu phát triển thành công mô hình hợp tác liên doanh, liên kết thông qua việc góp vốn thành lập các công ty liên doanh: quản lý quỹ, chứng khoán, bảo hiểm nhằm đa dạng hóa dịch vụ và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính.

Qua 18 năm hoạt động và phát triển, đến nay Sacombank đã đạt số vốn điều lệ khoảng 5.116 tỷ đồng và trở thành NHTM Cổ phần hàng đầu ở Việt Nam với 264 điểm giao dịch, trong đó có 68 Chi nhánh/Sở Giao dịch, 195 Phòng giao dịch và 1 văn phòng đại diện ở Trung Quốc (tính đến thời điểm 30/6/2009)

Ngày 12/7/2006, Sacombank trở thành ngân hàng đầu tiên chính thức niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam và mở đường cho các ngân hàng thương mại cổ phần khác tiến hành niêm yết Đến năm 2008, Sacombank là ngân hàng Việt Nam tiên phong công bố mô hình Tập đoàn tài chính tư nhân với 5 công ty trực thuộc và 5 liên kết, thể hiện sự mở rộng chiến lược của ngân hàng Trong năm này, Sacombank khai trương Văn phòng đại diện Nam Ninh tại Trung Quốc vào tháng 1 và Chi nhánh Lào vào tháng 12, trở thành ngân hàng Việt Nam đầu tiên thành lập văn phòng đại diện và chi nhánh tại nước ngoài, mở ra cơ hội tạo dựng cầu nối trong lĩnh vực tiền tệ và tài chính khu vực Đông Dương.

2.1.2 Các sản phẩm kinh doanh của Sacombank

Sacombank hoạt động chính trong lĩnh vực huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn thông qua các hình thức như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, chứng chỉ tiền gửi Ngân hàng cũng tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và nhận vốn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Ngoài ra, Sacombank cho vay doanh nghiệp theo hình thức thấu chi, vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; thực hiện chiết khấu thương phiếu, công trái và các giấy tờ có giá Ngân hàng đầu tư vào các tổ chức kinh tế, cung cấp dịch vụ thanh toán giữa khách hàng, kinh doanh ngoại tệ và vàng bạc, thanh toán quốc tế, đầu tư chứng khoán Các dịch vụ khác bao gồm quản lý nợ, khai thác tài sản và cung cấp các dịch vụ ngân hàng đa dạng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Các sản phẩm kinh doanh của Sacombank bao gồm:

Sacombank cung cấp đa dạng các sản phẩm huy động vốn như tiền gửi thanh toán dành cho cá nhân và doanh nghiệp, các hình thức tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm linh hoạt và tiết kiệm tích lũy, đáp ứng nhu cầu tài chính đa dạng của khách hàng Ngoài ra, ngân hàng còn menawarkan các sản phẩm đặc thù như tài khoản Âu Cơ, tiết kiệm Bảo An, Bảo Phúc, tiết kiệm Bảo An tích lũy định kỳ, cùng các loại hình gửi tiền khác như tiết kiệm nhà ở, tiết kiệm bội thu, tiền gửi Phát Đạt, và tiền gửi dành riêng cho các chi nhánh riêng biệt, mang lại sự linh hoạt và đa dạng trong lựa chọn huy động vốn.

Sacombank cung cấp đa dạng các sản phẩm cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Các dịch vụ bao gồm cho vay sản xuất kinh doanh cho cá nhân và doanh nghiệp, vay tiêu dùng, vay bất động sản, vay mua nhà để an cư, vay đi làm việc ở nước ngoài, cho vay dành cho cán bộ – công nhân viên, vay cầm cố sổ tiết kiệm, vay góp chợ, vay du học, vay nông nghiệp, vay thấu chi, cũng như vay chứng khoán Các sản phẩm này giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn phù hợp với mục đích sử dụng của mình.

2.1.2.3 Sản phẩm thẻ Sacombank và dịch vụ chuyển tiền

Sảm phẩm thẻ Sacombank bao gồm: thẻ nội địa và thẻ quốc tế

Dịch vụ chuyển tiền của Sacombank bao gồm: Chuyển tiền trong nước, chuyển tiền ra nước ngoài, chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam

Thông qua mạng lưới hơn 10.200 đại lý của trên 275 ngân hàng tại 80 quốc gia trên toàn thế giới, các nghiệp vụ thanh toán xuất khẩu như chuyển tiền qua ngân hàng, nhờ thu, và tín dụng chứng từ được thực hiện theo tập quán quốc tế UCP Các dịch vụ thanh toán xuất khẩu này đảm bảo sự thuận tiện và an toàn cho doanh nghiệp, đồng thời tuân thủ các quy định quốc tế về thương mại ngân hàng Nhờ hệ thống mạng lưới rộng khắp, các nghiệp vụ thanh toán xuất khẩu trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp toàn cầu.

500, URR 525, URC 522 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Quốc tế (ICC) và các quy định pháp luật của Nhà nước Việt Nam

2.1.2.5 Các sản phẩm dịch vụ khác

Ngoài các dịch vụ ngân hàng truyền thống, Sacombank còn cung cấp các sản phẩm như kinh doanh ngoại tệ, chuyển đổi ngoại tệ và dịch vụ chi trả hộ lương cán bộ công nhân viên để hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả Đặc biệt, Sacombank mở rộng các dịch vụ thu chi hộ tiền bán hàng, bảo lãnh và dịch vụ bất động sản nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu khách hàng Ngân hàng cũng cung cấp dịch vụ cho thuê ngăn tủ sắt, hỗ trợ du học, thanh toán hóa đơn điện tại quầy cho các công ty điện lực, giúp khách hàng thuận tiện trong sinh hoạt Ngoài ra, Sacombank còn tư vấn đầu tư, nhận ủy thác đầu tư, quản lý tài sản và chiết khấu các chứng từ có giá để tối ưu hóa lợi ích khách hàng Các dịch vụ điện thoại phone-banking và các dịch vụ ngân hàng khác trong khuôn khổ hoạt động của Sacombank đảm bảo mang lại sự tiện lợi, linh hoạt và an toàn cho khách hàng.

Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Sacombank

ắ Tỡnh hỡnh huy độ ng v ố n

Tổng vốn huy động của Sacombank tính đến ngày 31/12/2009 đạt 86.355 tỷ đồng, tăng hơn 7 lần so với năm 2005, thể hiện sự mở rộng mạnh mẽ về quy mô vốn Nguồn vốn huy động chủ yếu từ các tổ chức kinh tế và dân cư, chiếm gần 91% tổng vốn huy động, cho thấy sự tin tưởng của khách hàng vào ngân hàng Trong khi đó, vốn huy động từ các tổ chức tín dụng chỉ chiếm khoảng 7,4%, còn lại là các khoản vay từ các tổ chức tín dụng khác và vay dài hạn từ các tổ chức quốc tế như ADB và SMEFPII Điều này phản ánh khả năng huy động vốn đa dạng và linh hoạt của Sacombank nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh và phát triển bền vững.

Bi ể u đồ 1: T ă ng tr ưở ng huy độ ng v ố n c ủ a Sacombank t ừ 2005-2009

Huy động v ốn Tăng trưởng huy động vốn

Nguồn: Tổng hợp từ BCTC của Sacombank từ 2005-2009

Trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay, huy động vốn của Sacombank liên tục tăng trưởng, đặc biệt là năm 2007 với mức tăng cao do nền kinh tế phát triển nhanh và lượng tiền nhàn rỗi trong khu vực dân cư dồi dào Tuy nhiên, năm 2008, tổng huy động vốn chỉ tăng nhẹ 7% so với năm trước, phản ánh cạnh tranh lãi suất không lành mạnh và giá vốn tăng cao; Sacombank đã chủ động không chạy đua lãi suất, linh hoạt điều chỉnh cơ chế lãi suất và tận dụng nguồn vốn ủy thác để đảm bảo an toàn thanh khoản và giảm chi phí Đến cuối năm 2009, tổng vốn huy động đạt 86.335 tỷ đồng, thể hiện sự phục hồi của nền kinh tế sau khủng hoảng, cùng với uy tín ngày càng cao của Sacombank trên thị trường đã thu hút nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư Việc mở rộng mạng lưới và hệ thống trụ sở khang trang đã góp phần xây dựng lòng tin của khách hàng, cho thấy hoạt động huy động vốn của Sacombank có nhiều tín hiệu tích cực trong bối cảnh kinh tế Việt Nam phục hồi và chính sách kích cầu của Chính phủ đã bắt đầu phát huy hiệu quả.

B ả ng 1: Tình hình huy độ ng v ố n c ủ a Sacombank t ừ 2005-2009 ĐVT: Tỷ đồng

TCTD 1,166 1,958 4,849 4,306 2,739 TCKT và dân cư 10,943 19,182 48,924 53,283 81,621

Nguồn: BCTC của Sacombank từ 2005-2009 ắ Th ị ph ầ n huy độ ng v ố n c ủ a Sacombank:

Thị phần huy động vốn của các ngân hàng thương mại nhà nước, bao gồm Vietcombank và Vietinbank đã cổ phần hóa nhưng vẫn giữ cổ phần nhà nước, chiếm khoảng 60% tổng vốn huy động Trong khi đó, các ngân hàng thương mại còn lại và ngân hàng nước ngoài chia sẻ khoảng 40% thị phần huy động vốn, phản ánh sự phân chia thị trường rõ ràng trong lĩnh vực huy động vốn tại Việt Nam.

Bi ể u đồ 2: Th ị ph ầ n huy độ ng v ố n c ủ a h ệ th ố ng NHTM n ă m 2009

Nguồn: Thống kê từ BCTC của các ngân hàng

Agribank BIDV VCB CTG ACB STB TBC

NH còn l ại nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Thị phần huy động vốn của Sacombank chiếm 4.7% tổng vốn huy động toàn ngành, mức độ khiêm tốn so với các ngân hàng trong hệ thống Tuy nhiên, khi loại trừ khối ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng đã cổ phần hóa, thị phần huy động vốn của Sacombank tăng lên 10.8% trong tổng vốn huy động của khối cổ phần, liên doanh và nước ngoài, chỉ xếp sau ACB với thị phần 15.5%.

B ả ng 2: Th ị ph ầ n huy độ ng v ố n c ủ a các NHTM C ổ ph ầ n n ă m 2009 ĐVT: Tỷ đồng

Ngân hàng Gía trị Thị phần

Ngân hàng có lợi thế cạnh tranh vượt trội nhờ mạng lưới rộng lớn và sự tin tưởng của công chúng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu quả Chính sách khuyến mãi hấp dẫn và chiến lược quảng bá thương hiệu được triển khai bài bản giúp nâng cao hình ảnh ngân hàng trên thị trường Đặc biệt, uy tín và lòng tin của người dân, khách hàng ngày càng tăng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng phát triển bền vững.

2.2.1.2 Hoạt động tín dụng ắ Hoạt động tớn dụng

Tổng dư nợ tín dụng của Sacombank tính đến ngày 31/12/2009 đạt 59.657 tỷ đồng, tăng gấp 7,1 lần so với năm 2005, chiếm tỷ trọng 61% trong tổng tài sản của ngân hàng Dư nợ chủ yếu tập trung vào khách hàng là tổ chức kinh tế và dân cư, trong khi cho vay các tổ chức tín dụng khác chiếm tỷ lệ rất thấp Điều này thể hiện định hướng mở rộng tín dụng của Sacombank hướng đến các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, góp phần nâng cao quy mô và năng lực tài chính của ngân hàng trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ.

Bi ể u đồ 3: T ă ng tr ưở ng d ư n ợ cho vay c ủ a Sacombank t ừ 2005-2009

Cho vay Tăng trưởng cho vay

Nguồn: Tổng hợp từ BCTC của Sacombank từ 2005-2009

Từ năm 2005 đến 2009, dư nợ tín dụng của Sacombank có xu hướng tăng đều đặn, ngoại trừ năm 2008 giảm 1.8% so với năm 2007 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, khi các doanh nghiệp đối mặt với nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và lãi suất thị trường duy trì ở mức cao (đến 14% vào giữa năm 2008), gây giảm đáng kể nhu cầu tín dụng Trong bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp bị đình trệ, Sacombank chủ động giảm quy mô tín dụng để hạn chế rủi ro, đồng thời phối hợp điều hành linh hoạt để duy trì mối quan hệ khách hàng truyền thống Năm 2009, khi nền kinh tế bắt đầu hồi phục sau khủng hoảng, dư nợ tín dụng của Sacombank đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 77% so với năm 2008, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Sacombank, giống như các ngân hàng thương mại khác, tập trung phát triển hoạt động truyền thống ngân hàng để đảm bảo sự ổn định và bền vững Trong bối cảnh kinh tế – xã hội biến động mạnh, ngân hàng đã không ngừng nâng cao năng lực, thực hiện tái cấu trúc và kiểm soát chặt chẽ bộ máy hoạt động của mình Sacombank đã hoàn thiện hệ thống quy chế, quy trình cho vay phù hợp từng địa bàn và hoàn cảnh vay vốn, đồng thời đưa ra các sản phẩm dịch vụ hấp dẫn, linh hoạt để đáp ứng nhu cầu khách hàng Ngân hàng chú trọng chỉnh sửa chính sách tín dụng, xây dựng các mô hình xếp hạng và biện pháp kiểm soát dòng tiền nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng, tăng cường lựa chọn dự án đầu tư và kiểm soát chất lượng khách hàng Nhờ đó, hoạt động tín dụng của Sacombank đã đạt được mức tăng trưởng ổn định, bền vững trong những thời điểm khó khăn.

B ả ng 3: T ă ng tr ưở ng d ư n ợ tín d ụ ng c ủ a Sacombank t ừ 2005-2009 Đvt: Tỷ đồng

Tổ chức tín dụng 1.2 7.2 1.4 31.0 70.6 Khách hàng 8,424 14,532 34,316 33,677 59,586

Nguồn: BCTC của Sacombank từ năm 2005-2009 B ả ng 4: C ơ c ấ u d ư n ợ theo lo ạ i hình cho vay c ủ a Sacombank t ừ 2005-2009 Đvt: Tỷ đồng

Cho vay ngắn hạn 5,081 9,364 20,851 18,765 38,586 Cho vay trung hạn 3,217 4,822 6,291 6,248 10,113 Cho vay dài hạn 127 353 7,174 8,665 10,957

Dự phòng rủi ro tín dụng đến 31/12 (46) (91) (177) (250) (516) Danh mục cho vay ngày 31/12 8,379 14,448 34,139 33,428 59,141

The financial statements of Sacombank from 2005 to 2009 provide comprehensive insights into the bank's performance over this period These reports are essential for analyzing the bank's growth, stability, and strategic direction For detailed financial data and analysis, consult the official Sacombank annual reports or contact the bank directly Such information is valuable for investors, stakeholders, and researchers interested in Vietnam's banking sector.

B ả ng 5: C ơ c ấ u d ư n ợ theo lo ạ i ti ề n t ệ c ủ a Sacombank t ừ 2005-2009 Đvt: Tỷ đồng

Cho vay bằng đồng Việt Nam 6,667 11,330 26,169 28,218 52,027 Cho vay bằng ngoại tệ, vàng 1,758 3,209 8,147 5,459 7,630

Nguồn: BCTC của Sacombank từ năm 2005-2009 B ả ng 6: C ơ c ấ u d ư n ợ theo ngành ngh ề Sacombank t ừ 2005-2009 Đvt: Tỷ đồng

Thương mại 2,927 4,770 11,166 7,273 13,271 Nông lâm nghiệp 740 772 1,696 2,623 4,135 Sản xuất và gia công chế biến 2,141 4,356 9,096 8,382 15,642

Xây dựng 757 905 2,299 2,056 3,916 Dịch vụ cá nhân và công cộng 335 712 2,891 5,769 7,610

Kho bãi, GTVT, thông tin liên lạc 326 325 658 742 1,080 Gíao dục, đào tạo 390 613 1,108 1,279 1,587

Tư vấn, kinh doanh bất động sản 192 523 2,170 2,949 5,508 Khách sạn, nhà hàng 220 383 473 787 759

Nguồn: BCTC của Sacombank từ 2005-2009

Danh mục cho vay chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như thương mại, sản xuất, gia công chế biến và dịch vụ cá nhân Ngoài ra, lĩnh vực kinh doanh bất động sản và xây dựng cũng nằm trong danh mục ưu tiên của các khoản vay này Các khoản vay này nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững trong các ngành then chốt của nền kinh tế.

Thị trường cho vay của Sacombank tập trung chủ yếu ở miền Nam, trong đó dư nợ cho vay tại TP.HCM là 28.501 tỷ đồng chiếm 47.8% trên tổng dư nợ

TP.HCM là khu vực dẫn đầu về dư nợ tín dụng, chiếm tỷ trọng trên 50%, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của cả nước Khu vực này đóng vai trò trung tâm trong hoạt động cho vay và phát triển các ngành nghề liên quan đến tín dụng ngân hàng Việc duy trì tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng tại TP.HCM đóng vai trò then chốt đối với sự ổn định và phát triển của hệ thống tài chính khu vực phía Nam.

Bi ể u đồ 4: C ơ c ấ u cho vay theo khu v ự c c ủ a Sacombank n ă m 2009

C ơ c ấ u cho vay theo theo thành ph ầ n kinh t ế

B ả ng 7: C ơ c ấ u cho vay theo thành ph ầ n kinh t ế Sacombank t ừ 2005-2009 Đvt: Tỷ đồng

Doanh nghiệp nhà nước 30 81 280 724 3,635 Doanh nghiệp tư nhân 587 971 2,223 1,983 3,738 Công ty cổ phần và TNHH 4,291 6,173 14,802 15,158 26,713 Hợp tác xã 76 80 121 66 287 Công ty liên doanh 40 41 130 19 8 Công ty 100% vốn nước ngoài 25 10 240 334 353

Cá nhân và thành phần khác 3,366 6,745 16,519 15,393 24,923

Nguồn: BCTC của Sacombank năm 2005-2009

Trong tổng dư nợ của Sacombank, lĩnh vực vay chủ yếu tập trung vào các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và vay cá nhân, trong khi các đối tượng khách hàng khác chiếm tỷ trọng nhỏ.

Nguồn: BCTC của Sacombank năm 2009

Miền Trung và Đông Nam bộ 24.6%

Miền Bắc 14.3% Đồng bằng SCL 13.4%

TP Hồ Chí Minh Đồng bằng SCL

Miền Trung và Đông Nam Bộ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế khu vực, góp phần thúc đẩy các hoạt động tài chính và ngân hàng Thị phần cho vay của Sacombank ngày càng mở rộng, thể hiện sự tin tưởng của khách hàng đối với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của ngân hàng này Việc nâng cao thị phần giúp Sacombank củng cố vị thế trên thị trường, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu tài chính của khách hàng tại khu vực miền Trung và Đông Nam Bộ.

Bi ể u đồ 5: Th ị ph ầ n cho vay c ủ a Sacombank so v ớ i toàn ngành n ă m 2009

Nguồn: Thống kê từ BCTC của các NHTM

ACB STB TBC NH còn lại

Thị phần cho vay của các ngân hàng thương mại nhà nước, bao gồm Vietcombank và Viettinbank (đã cổ phần hoá nhưng Nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối), chiếm khoảng 46% dư nợ toàn ngành Trong khi đó, các ngân hàng thương mại còn lại và ngân hàng nước ngoài chia sẻ khoảng 54% thị phần cho vay, thể hiện sự đa dạng và cạnh tranh trên thị trường tín dụng ngân hàng Việt Nam.

Thị phần cho vay của Sacombank chiếm 3.5% tổng dư nợ vay toàn ngành ngân hàng, phản ánh mức độ khiêm tốn so với hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, khi loại trừ khối ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng đã cổ phần hóa, thị phần cho vay của Sacombank vượt trội, chiếm 9.3% tổng dư nợ của 40 ngân hàng thương mại cổ phần, cho thấy vị thế cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường.

Đánh giá năng lực cạnh tranh của Sacombank

Với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam đã ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể về số lượng Tính đến cuối năm 2009, Việt Nam có 95 ngân hàng hoạt động, bao gồm 3 ngân hàng thương mại nhà nước, 40 ngân hàng thương mại cổ phần, 41 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh và 5 ngân hàng vốn 100% nước ngoài.

Sacombank đã nâng cao năng lực tài chính và quản trị rủi ro thông qua công tác tái cấu trúc hoạt động và đổi mới công tác xây dựng, điều hành Ngân hàng đã ứng dụng công nghệ hiện đại và đưa nhiều tiện ích ngân hàng mới nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn và chuẩn bị cho quá trình hội nhập quốc tế Với vai trò tiên phong trong xử lý nợ xấu và tăng cường hệ số an toàn vốn, Sacombank đã thể hiện rõ vị thế dẫn đầu trong ngành ngân hàng Nhờ sự hỗ trợ đắc lực từ các cổ đông chiến lược quốc tế như IFC, ngân hàng đã từng bước cung cấp các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao đa dạng cho thị trường.

Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng tất cả các mảng hoạt động của Sacombank đều được duy trì và phát triển ổn định

Sacombank sở hữu vốn điều lệ 6.700 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu 10.289 tỷ đồng, xếp vào nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô lớn nhất tại Việt Nam Với năng lực tài chính vững mạnh, ngân hàng có khả năng đáp ứng các quy định về an toàn vốn, nâng cao khả năng cung cấp vốn và dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng lớn Đồng thời, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Sacombank trong việc đầu tư phát triển hệ thống công nghệ thông tin và mở rộng mạng lưới chi nhánh, góp phần nâng cao cạnh tranh trên thị trường.

Sacombank cũng là ngân hàng đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM

Trong giai đoạn từ 2005 đếnnay, mức tăng trưởng bình quân huy động vốn đạt 64% mỗi năm, góp phần vào sự mở rộng của ngành ngân hàng Thị phần huy động vốn của ngân hàng này chiếm 4.7% trong tổng vốn huy động toàn ngành, đồng thời chiếm tỷ trọng 10.8% trong tổng vốn huy động của khối cổ phần, liên doanh và nước ngoài, đứng sau Ngân hàng ACB với thị phần 15.5% Điều này cho thấy ngân hàng ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường huy động vốn, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng Việt Nam.

Trong bối cảnh thị trường tiền tệ diễn biến phức tạp, Sacombank không chỉ đảm bảo tốt khả năng thanh khoản mà còn tích cực hỗ trợ các ngân hàng khác, góp phần duy trì sự an toàn và ổn định của hệ thống ngân hàng.

Sacombank có mức tăng trưởng cho vay bình quân hàng năm đạt 65% kể từ năm 2005, chiếm 3.5% tổng dư nợ cho vay toàn ngành ngân hàng Khi loại bỏ các ngân hàng Nhà nước đã cổ phần hóa, thị phần cho vay của Sacombank đứng đầu với tỷ lệ 9.3% Đặc biệt, tỷ lệ nợ xấu của Sacombank rất thấp, chỉ chiếm 0.69% tổng dư nợ, cho thấy khả năng quản lý rủi ro hiệu quả của ngân hàng.

Sacombank kiểm soát rủi ro chặt chẽ để đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng Dư nợ tín dụng được quản lý chặt chẽ, với tỷ lệ nợ xấu duy trì ở mức thấp 0,69% và dự phòng rủi ro luôn đủ 100%, vượt tổng giá trị các khoản nợ xấu Tính đến cuối năm 2009, Sacombank là một trong những ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhất trong hệ thống, đảm bảo sự an toàn và bền vững trong quản trị rủi ro, đặc biệt trong hoạt động tập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ qua mạng lưới rộng lớn gồm 264 chi nhánh và phòng giao dịch.

Sacombank sở hữu hệ thống mạng lưới hoạt động rộng khắp với 264 điểm giao dịch, gồm 68 chi nhánh, 195 phòng giao dịch và 1 văn phòng đại diện Các điểm giao dịch của ngân hàng có mặt tại hầu hết các địa bàn kinh tế trọng điểm, phủ sóng khắp 45 tỉnh thành trên cả nước và còn có chi nhánh, văn phòng đại diện tại nước ngoài Điều này mang lại lợi thế cạnh tranh lớn cho Sacombank trong việc mở rộng thị trường, tiếp cận khách hàng mới và triển khai các dịch vụ ngân hàng bán lẻ một cách toàn diện và hiệu quả.

Ngoài ra, Sacombank sở hữu mạng lưới ngân hàng đại lý gồm hơn 10.200 đại lý tại hơn 275 ngân hàng thuộc 80 quốc gia trên toàn thế giới, giúp các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và ngoại hối trở nên tiện ích hơn cho khách hàng doanh nghiệp Năm 2008, Sacombank đã vinh dự nhận giải thưởng “Ngân hàng có dịch vụ ngoại hối tốt nhất Việt Nam” do Tổ chức Global Finance của Mỹ trao tặng.

Sacombank luôn nhận được đánh giá cao từ khách hàng về chất lượng dịch vụ và các tiện ích mà ngân hàng mang lại Năm 2008, Sacombank đã vinh dự nhận hai giải thưởng danh giá: “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2008” do các tổ chức uy tín toàn cầu là Global Finance (Mỹ) và FinanceAsia (Anh Quốc) bình chọn, khẳng định vị thế và chất lượng dịch vụ hàng đầu của ngân hàng.

Về hệ thống công nghệ thông tin: Sacombank đã đầu tư hệ thống Corebanking

T24 giúp đáp ứng các yêu cầu xử lý thông tin hiệu quả, nâng cao chất lượng quản lý ngân hàng Đồng thời, hệ thống này là nền tảng để mở rộng các dịch vụ ngân hàng điện tử và các dịch vụ ngân hàng hiện đại khác, thúc đẩy sự phát triển của công nghệ ngân hàng.

Sacombank xác định rõ chiến lược phù hợp với từng giai đoạn, linh hoạt ứng biến theo tình hình thực tế Trong năm 2008, thời điểm ngành tài chính – ngân hàng đối mặt khủng hoảng sâu, Sacombank nhanh chóng điều chỉnh hoạt động để phù hợp với chính sách kiểm chế lạm phát của Nhà nước Ngân hàng ưu tiên hàng đầu là "An toàn" hơn "Hiệu quả", chủ động giảm dư nợ để hạn chế rủi ro tín dụng và bảo vệ hệ thống khách hàng truyền thống Năm 2009, dù còn nhiều khó khăn do hậu quả khủng hoảng, Sacombank đã dần phục hồi và đặt mục tiêu tăng trưởng cao dựa trên nguyên tắc an toàn và hiệu quả, qua đó thể hiện thành công trong chiến lược phát triển của mình.

Hệ thống quản trị và điều hành của tổ chức đã được cải tiến liên tục theo các tiêu chuẩn quốc tế, nhờ sự tư vấn từ IFC và ANZ, mang lại hiệu quả tích cực và nâng cao hiệu suất hoạt động.

Hiện nay, đội ngũ nhân sự của Hội đồng quản trị và Ban điều hành có hơn 58% cán bộ, nhân viên có trình độ đại học trở lên, gồm 4.167 người Các lãnh đạo chủ chốt sở hữu nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực quản trị tài chính ngân hàng, kết hợp giữa kiến thức kinh doanh và kỹ năng quản lý theo các tiêu chuẩn quốc tế Trong số đó, có 2 nhân sự cao cấp đến từ Tập đoàn Tài chính Quốc tế IFC và Ngân hàng ANZ, đều có kinh nghiệm lâu năm trong ngành tài chính ngân hàng Đội ngũ nhân sự trẻ, được đào tạo bài bản, nhiệt huyết, chuyên nghiệp, luôn tận tâm trong phục vụ khách hàng và có trình độ nghiệp vụ vượt trội, góp phần nâng cao năng lực hoạt động của tổ chức.

Sacombank tận dụng tối đa thế mạnh về mạng lưới hoạt động và công nghệ ngân hàng hiện đại thông qua các liên doanh liên kết, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ kỹ thuật từ các định chế tài chính quốc tế như IFC và Ngân hàng ANZ Ngân hàng cũng phát huy tối đa nội lực của mình nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, sẵn sàng đối mặt với các thách thức và đối thủ nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế.

2.3.2 Những mặt hạn chế của Sacombank

Những cơ hội và thách thức về mặt cạnh tranh trong quá trình hội nhập của

2.4.1 Cơ hội của Sacombank trong quá trình hội nhập

Hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra cơ hội cho các ngân hàng trong nước, đặc biệt là Sacombank, tiếp cận thị trường tài chính toàn cầu và nâng cao năng lực quản trị, điều hành Việc này giúp ngân hàng phát triển các sản phẩm dịch vụ mới như thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, tín dụng thương mại quốc tế, ngân hàng điện tử, quản lý quỹ, môi giới tiền tệ và quản lý rủi ro, trong đó các hoạt động nghiệp vụ còn nhiều hạn chế trước đây Đồng thời, việc tăng vốn ngân hàng trở nên dễ dàng hơn nhờ các lợi thế này, và Sacombank còn có cơ hội tiếp thu kiến thức quản lý và công nghệ hiện đại thông qua các đối tác chiến lược là các ngân hàng danh tiếng quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Dự báo nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định trong những năm tới nhờ vào sự gia tăng đầu tư nước ngoài, phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân, và các cải cách sâu rộng trong khu vực kinh tế nhà nước Quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu mang lại nhiều cơ hội mới, trong khi chính trị – xã hội ổn định cùng với khuôn khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng ngày càng hoàn thiện, minh bạch hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường dịch vụ ngân hàng nói chung và Sacombank nói riêng.

Vào thứ ba, nhận thức của người dân đã ngày càng nâng cao, khiến nhu cầu về chất lượng dịch vụ ngân hàng và các tiện ích ngân hàng trở nên lớn hơn Điều này tạo cơ hội phát triển các sản phẩm công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và mở ra triển vọng thúc đẩy sự chuyển đổi số trong ngành.

Vào thứ tư, các chương trình kích cầu và hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ được triển khai đồng loạt và mạnh mẽ, với việc điều chỉnh lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc phù hợp với biến động của nền kinh tế Những chính sách này đã tạo ra hiệu ứng tích cực, giúp nền kinh tế Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn của khủng hoảng kinh tế năm 2008-2009 Ngoài ra, gói hỗ trợ lãi suất dành cho doanh nghiệp và cá nhân sản xuất đã thúc đẩy ngân hàng và doanh nghiệp vay vốn mạnh mẽ hơn, góp phần cải thiện tình hình kinh tế dần dần nhờ vào các chính sách hỗ trợ này.

2.4.2 Thách thức đối với Sacombank trong quá trình hội nhập

Trong quá trình hội nhập kinh tế, cạnh tranh ngày càng quyết liệt và gay gắt, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng Xu hướng hội nhập quốc tế đang diễn ra tất yếu, làm tăng cạnh tranh giữa các ngân hàng trên thị trường tài chính Sacombank phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng lớn từ các ngân hàng quốc doanh về quy mô vốn, hệ thống mạng lưới, cơ sở vật chất cũng như sự hỗ trợ của nhà nước Đồng thời, các ngân hàng nước ngoài sở hữu lợi thế về vốn và công nghệ, làm gia tăng áp lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng Việt Nam.

Thứ hai, các ngân hàng ngày càng hiểu rõ thị trường Việt Nam và môi trường pháp lý của đất nước Đội ngũ lao động được chọn lọc và đào tạo bài bản cùng với công nghệ ngân hàng tiên tiến sẽ giúp các ngân hàng trong nước tăng thị phần hoạt động Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra những thách thức lớn đối với các ngân hàng trong nước, bao gồm Sacombank, trong việc duy trì và mở rộng vị thế cạnh tranh trên thị trường.

Các ngân hàng nước ngoài có sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa dạng, ứng dụng công nghệ hiện đại và quản lý tiên tiến, cùng với quy mô hoạt động toàn cầu và nguồn vốn dồi dào, tạo ra áp lực cạnh tranh lớn đối với các ngân hàng trong nước Sự phát triển của thị trường vốn, thị trường bảo hiểm và các kênh huy động vốn mới như tiết kiệm bưu điện đang tác động mạnh tới nhu cầu của doanh nghiệp và cá nhân về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

Trong bối cảnh các chính sách mở cửa và tiêu chuẩn quốc tế ngày càng được áp dụng tại Việt Nam, các ngân hàng như Sacombank cần tăng cường thực hiện các quy định về kế toán, kiểm toán và quản lý rủi ro theo chuẩn mực quốc tế Việc này góp phần nâng cao hiệu quả quản trị ngân hàng, đảm bảo sự an toàn và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng Việt Nam trong quá trình cải cách.

Trong bối cảnh nền kinh tế trải qua biến động lớn gần đây, nhu cầu vốn liên tục tăng giảm đã thúc đẩy các ngân hàng thương mại (NHTM) thay đổi chính sách lãi suất và tăng cường huy động vốn qua nhiều kênh khác nhau Một số ngân hàng không có nhu cầu vốn thêm nhưng buộc phải tăng lãi suất để giữ chân khách hàng rút vốn, dẫn đến cạnh tranh lãi suất gay gắt giữa các ngân hàng Cuộc cạnh tranh này xuất phát từ cả những nhu cầu thực tế lẫn những nhu cầu không thực, gây ra những bất lợi tiềm tàng khi lãi suất ngân hàng có xu hướng tăng trong thời gian qua Điều này đặt ra những thách thức lớn và rủi ro tiềm ẩn cho nền kinh tế cũng như hoạt động của các NHTM.

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2010, dự báo cho thấy nền kinh tế thế giới vẫn sẽ đối mặt với nhiều khó khăn Tình hình diễn biến này ảnh hưởng nghiêm trọng đến các doanh nghiệp chủ yếu hoạt động xuất khẩu, gây ra tác động tiêu cực đến hoạt động của các ngân hàng Những thách thức này đòi hỏi các doanh nghiệp và ngân hàng phải thích nghi và tìm kiếm các giải pháp bền vững để vượt qua giai đoạn khó khăn.

Chương II của Luận văn khái quát sơ lược quá trình hình thành và phát triển, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Sacombank, đánh giá năng lực cạnh tranh của Sacombank dựa vào những tiêu chí đã được đề cập trong Chương 1 trên cơ sở có sự so sánh với một vài NHTM khác là đối thủ cạnh tranh của Sacombank

Dựa trên những thành quả đã đạt được và những điểm mạnh, điểm yếu của Sacombank, bài viết xác định rõ các cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việc phân tích này giúp định hướng chiến lược phù hợp, thúc đẩy sự phát triển bền vững và mở rộng thị trường của Sacombank trong bối cảnh toàn cầu hóa.

nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA SACOMBANK TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.1 Định hướng phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam và Sacombank đến năm 2020

3.1.1 Định hướng phát triển hệ thống NHTM Việt Nam đến năm 2020

Một trong những bước quan trọng là hình thành đồng bộ khung pháp lý minh bạch và công bằng nhằm thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính Việc này bao gồm áp dụng đầy đủ các thiết chế và tiêu chuẩn quốc tế về an toàn trong hoạt động tiền tệ và ngân hàng Đồng thời, cần xóa bỏ phân biệt đối xử giữa các loại hình tổ chức tín dụng và loại bỏ các hình thức bảo hộ, bao cấp trong lĩnh vực ngân hàng để thúc đẩy sự cạnh tranh bình đẳng và hiệu quả trong ngành tài chính.

Thứ hai, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng trong nước Chủ động hội nhập quốc tế về lĩnh vực tài chính ngân hàng theo lộ trình phù hợp, đảm bảo phù hợp với khả năng kiểm soát hệ thống của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việc này giúp tăng cường sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.

Thứ ba, mục tiêu cải cách căn bản và triệt để nhằm phát triển hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam theo hướng hiện đại, đa năng, đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức tín dụng Các tổ chức tín dụng sẽ có quy mô hoạt động lớn và tiềm lực tài chính mạnh mẽ, tạo nền tảng xây dựng hệ thống các tổ chức tín dụng hiện đại, đạt trình độ phát triển tiên tiến trong khu vực Châu Á Đồng thời, áp dụng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng để nâng cao năng lực cạnh tranh với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới.

Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Sacombank trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

3.2.1 Nhóm giải pháp ở cấp độ vĩ mô 3.2.1.1 Đối với Chính Phủ

Chính phủ cần đảm nhận vai trò quản lý và điều tiết nền kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế để duy trì một nền kinh tế ổn định, tăng trưởng bền vững, từ đó tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại phát triển an toàn và hiệu quả Việc kết hợp hài hòa và hiệu quả giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là yếu tố quan trọng để điều tiết vĩ mô và đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế Chính sách tiền tệ cần được điều hành thận trọng, linh hoạt, phù hợp với biến động thị trường, trong đó tăng cường vai trò của nghiệp vụ thị trường mở, điều chỉnh lãi suất và tỷ giá hối đoái nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, cần nâng cao công tác phân tích và dự báo các diễn biến của kinh tế trong và ngoài nước để hỗ trợ công tác điều hành chính sách tiền tệ, giúp ứng phó kịp thời với các biến động để đảm bảo ổn định kinh tế Việc áp dụng các mô hình kinh tế hiện đại vào dự báo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, tỷ giá là rất quan trọng nhằm đưa ra các đối sách phù hợp, hạn chế tác động tiêu cực đến nền kinh tế trong nước.

Ngày thứ ba tập trung hoàn thiện khung pháp lý và cải tiến cơ chế, thủ tục hành chính nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các ngân hàng thương mại Cần hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời ban hành các hướng dẫn đầy đủ, thống nhất để các ngân hàng có cơ sở pháp lý rõ ràng cho hoạt động kinh doanh, như luật Ngân hàng Thương mại, luật Các tổ chức tín dụng, luật Phá sản, luật Cạnh tranh Ngoài ra, xây dựng khung pháp lý cho các mô hình tổ chức tín dụng mới và các tổ chức hỗ trợ như công ty xếp hạng tín dụng, công ty môi giới tiền tệ nhằm thúc đẩy sự phát triển và mở rộng hệ thống các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế.

Chính quyền tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực ngân hàng để giảm thiểu thời gian và các bước thủ tục rườm rà Các quy trình liên quan đến công chứng hợp đồng giao dịch và đăng ký giao dịch đảm bảo tài sản được đơn giản hóa nhằm thúc đẩy hoạt động ngân hàng hiệu quả hơn Điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, giảm bớt gánh nặng thủ tục và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao dịch tài chính.

Vào thứ năm, Chính phủ cần ban hành các chính sách thiết thực nhằm hỗ trợ các ngân hàng thương mại (NHTM) hình thành và phát triển thành các tập đoàn tài chính Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để các ngân hàng tiếp cận các nguồn tài trợ song phương và đa phương từ Chính phủ nước ngoài cùng các tổ chức tài chính quốc tế, nhằm thúc đẩy đầu tư hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ.

Hỗ trợ xử lý nợ tồn đọng liên quan đến các chương trình vay vốn của Chính phủ nhằm lành mạnh hóa hệ thống tài chính ngân hàng và tăng cường năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Việc này giúp giảm thiểu rủi ro tài chính, thúc đẩy sự ổn định và phát triển bền vững của ngành ngân hàng Việt Nam Chính sách hỗ trợ này còn góp phần tăng cường lòng tin của nhà đầu tư và khách hàng, đồng thời thúc đẩy quá trình phục hồi kinh tế sau các khó khăn.

3.2.1.2 Đối với NHNN Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần tập trung tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) để đảm bảo hoạt động ngân hàng diễn ra an toàn và lành mạnh NHNN cần cải tiến quy trình xét duyệt, thẩm định hồ sơ xin cấp phép mới một cách nghiêm túc, chặt chẽ, đồng thời tổng hợp phân tích tình hình hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Việc công bố thông tin tài chính của các ngân hàng cần được thực hiện kịp thời, đầy đủ và trung thực để đảm bảo minh bạch và nâng cao uy tín của hệ thống ngân hàng.

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước cần ban hành các quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá tình hình tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và cá nhân Điều này giúp các ngân hàng thương mại phân loại nợ chính xác, trích lập dự phòng rủi ro phù hợp và phản ánh đúng thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng theo các thông lệ quốc tế.

Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể điều chỉnh biểu phí thanh toán điện tử để thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng Các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng có thể giảm phí để khuyến khích khách hàng sử dụng hệ thống thanh toán điện tử, góp phần nâng cao tiện ích và phát triển dịch vụ chuyển tiền hiện đại và cạnh tranh hơn trên thị trường.

3.2.2 Nhóm giải pháp đối với Sacombank 3.2.2.1 Tăng vốn tự có

Vốn tự có là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong hoạt động của Ngân hàng Thương mại, quyết định sức mạnh tài chính và khả năng cạnh tranh trên thị trường Vốn tự có đóng vai trò thiết yếu trong việc chống đỡ và bảo vệ ngân hàng trước các rủi ro tiềm ẩn Chính vì vậy, các ngân hàng luôn chú trọng đến việc tăng vốn tự có để duy trì sự ổn định và phát triển bền vững Các giải pháp nhằm tăng vốn tự có bao gồm nhiều phương án nhằm củng cố nguồn lực tài chính của ngân hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường tài chính.

Thứ nhất, tăng vốn từ nguồn nội bộ, chủ yếu là từ lợi nhuận để lại, đây là nguồn bổ sung vốn có ý nghĩa rất quan trọng Biện pháp này có ưu điểm là giúp ngân hàng không phải phụ thuộc vào thị trường vốn và không phải chịu chi phí cao do tìm kiếm nguồn tài trợ từ bên ngoài, đồng thời không làm loãng quyền kiểm soát nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg của Ngân hàng cũng như không đe dọa đến việc mất quyền kiểm soát của cổ đông hiện hữu Do vậy, ngân hàng cần xác định tỷ lệ lợi nhuận giữ lại hợp lý để tránh tình trạng chi trả cổ tức quá cao làm tăng trưởng vốn chậm hoặc ngược lại lợi nhuận giữ lại cao, tăng trưởng vốn nhanh nhưng tốc độc tăng lợi nhuận không theo kịp làm giảm thu nhập của cổ đông Nếu ngân hàng có tỷ lệ lợi nhuận để lại để bổ sung vốn tự có, hợp lý, ổn định qua các năm và tương ứng với tốc độ tăng trưởng tài sản có thì Ngân hàng đó có dấu hiệu tốt, thể hiện sự phát triển ổn định của ngân hàng

Bạn cần tăng vốn từ bên ngoài để nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng, có thể thực hiện bằng cách phát hành cổ phiếu mới hoặc trái phiếu chuyển đổi Phát hành cổ phiếu giúp ngân hàng mở rộng vốn mà không phải gánh chịu rủi ro tài chính trực tiếp nếu hoạt động kinh doanh không hiệu quả hoặc xảy ra thua lỗ, đồng thời còn tăng khả năng vay nợ Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi ngân hàng phải đối mặt với chi phí phát hành cao.

Việc phát hành trái phiếu chuyển đổi giúp ngân hàng tăng vốn mà không làm loãng quyền sở hữu, đồng thời giảm thu nhập trên mỗi cổ phiếu Trái phiếu chuyển đổi là hình thức phát hành trái phiếu có lãi suất cố định, có thể chuyển thành cổ phiếu thường trong tương lai theo một lịch trình xác định trước Thông thường, lãi suất của trái phiếu chuyển đổi thấp hơn trái phiếu thông thường và có thể cao hơn mức lãi suất tiền gửi, đặc biệt đối với các ngân hàng lớn, uy tín như Sacombank, có tính thanh khoản cao trên thị trường chứng khoán Việc phát hành trái phiếu chuyển đổi mang lại lợi ích lớn cho ngân hàng và cổ đông, giúp tăng vốn nhanh chóng, tối ưu hóa cấu trúc vốn và duy trì lợi thế cạnh tranh.

Việc chuyển đổi trái phiếu mang lại lợi ích giúp tránh tình trạng tăng lượng cổ phiếu trên thị trường, qua đó hạn chế giảm thu nhập của cổ đông Nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu chuyển đổi nhận được lợi thế của một khoản đầu tư an toàn với thu nhập cố định, đồng thời tiềm năng tăng giá trị của thị trường vốn Ngoài ra, họ còn có quyền và cơ hội sở hữu cổ phiếu của ngân hàng, mở ra nhiều cơ hội sinh lời hấp dẫn.

Ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định để phục vụ các dự án lớn có thời gian dài và thu nhập cao hơn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Với uy tín của Sacombank, nhà đầu tư dễ dàng chấp nhận mua trái phiếu chuyển đổi với mức lãi suất thấp, giúp ngân hàng tối ưu hóa lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Ngày đăng: 15/08/2023, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín, “Báo cáo thường niên 2005, 2006, 2007, 2008, 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên 2005, 2006, 2007, 2008, 2009
2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín, “Báo cáo tài chính 2005, 2006, 2007, 2008, 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính 2005, 2006, 2007, 2008, 2009
Tác giả: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín
3. Nguyễn Xuân Thắng (chủ biên), "Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam" , NXB KHXH, HN – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Thắng
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2007
4. PGS.TS Trần Huy Hoàng (chủ biên), “Quản trị Ngân hàng Thương mại”, NXB Lao Động 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Ngân hàng Thương mại
Tác giả: PGS.TS Trần Huy Hoàng
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2007
5. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng (2005), “Chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020”, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2005
6. Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, “Báo cáo phân tích ngành ngân hàng Việt Nam tháng 06/2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo phân tích ngành ngân hàng Việt Nam tháng 06/2009
7. Công ty Tư vấn Quản lý MCG (2006), “Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa dịch vụ tài chính: trường hợp ngành ngân hàng”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa dịch vụ tài chính: trường hợp ngành ngân hàng
Tác giả: Công ty Tư vấn Quản lý MCG
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
8. CEIM và UNDP (2003), “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia” (dự án VIE 01/025), NXB Giao thông vận Tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Tác giả: CEIM, UNDP
Nhà XB: NXB Giao thông vận Tải
Năm: 2003
9. Phạm Văn Năng (chủ biên, 2003), “Tự do hóa tài chánh và hội nhập quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam”, Cục xuất bản, Bộ văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do hóa tài chánh và hội nhập quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Năng
Nhà XB: Cục xuất bản
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w