1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGUYÊN TẮC XÉT XỬ KỊP THỜI, CÔNG BẰNG, CÔNG KHAI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

97 5 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên Tắc Xét Xử Kịp Thời, Công Bằng, Công Khai Trong Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
Tác giả Vũ Đức Thiên
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Khắc Hải
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 104,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYÊN TẮC XÉT XỬ KỊP THỜI, CÔNG BẰNG, CÔNG KHAI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAMSự ra đời của Hiến pháp 2013 và BLTTHS 2015 là một bước tiến lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự nói chung, góp phần bảo vệ quyền công dân, quyền con người, bảo vệ thiết chế, chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong Hiến pháp hiện hành không phải vô cớ mà các nhà lập pháp xếp chương quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nằm ở vị trí thứ 2 so với vị trí chương 5 của Hiến pháp 1992 đồng thời bổ sung thêm quy định về quyền con người chứ không chỉ đơn thuần là quyền và nghĩa vụ của công dân. Có thể thấy rằng để hội nhập được với quốc tế Việt Nam buộc phải thay đổi về tư duy và coi trọng hơn các quyền cơ bản của con người. Và một trong những quyền cơ bản của con người và cũng là nguyên tắc tiến hành tố tụng đó là Tòa án phải xét xử kịp thời, công bằng, công khai.Xuất phát từ quy định tại Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp 2013, BLTTHS 2015 đã cụ thể hóa tại Điều 25 về nội dung Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai như sau:Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng.Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai.Thực tiễn áp dụng nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai thời gian qua cho thấy những kết quả tích cực đạt được góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân và duy trì công lý trong xã hội. Bên cạnh đó vẫn tồn tại một sô hạn chế, thiếu sót có thể kể đến như: Có những vụ án nhận được sự quan tâm của dư luận tuy nhiên công tác xét xử chưa kịp thời, gây nhiều bức xúc trong người nhà nạn nhân và người dân vi phạm nguyên tắc xét xử kịp thời; vi phạm thời hạn tố tụng đối với vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn; Vụ án có tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội tương đương nhau nhưng các tòa trong cùng 01 tỉnh xử không thống nhất, vi phạm nguyên tắc xét xử công bằng; Vụ án có dấu hiệu xử nhẹ cho bị cáo, vi phạm nguyên tắc xét xử công bằng; Việc công bố các bản án thuộc trường hợp phải công bố còn chậm, nhiều bản án chưa được chú trọng công bố vi phạm nguyên tắc xét xử công khai…. Những hạn chế, thiếu sót trên là những hạn chế thiếu sót tiêu biểu được chỉ ra, xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó có cả nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, đây là những vấn đề từ thực tiễn đặt ra đòi hỏi có những giải pháp khắc phục.Chính vì những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KHẮC HẢI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Trường Đại học Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Đức Thiên

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ NGUYÊN TẮC XÉT XỬ KỊP THỜI, CÔNG BẰNG, CÔNG KHAI 7

1.1 Khái niệm, nội dung và ý nghĩa nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai 7

1.1.1 Khái niệm nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai 7

1.1.2 Nội dung nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai 13

1.1.3 Ý nghĩa nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai 17

1.2 Mối liên hệ giữa nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai và các nguyên tắc khác trong luật tố tụng hình sự Việt Nam 19

1.3 Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 23

1.3.1 Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 23

1.3.2 Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 25

1.4 Các biện pháp của cơ quan tiến hành tố tụng trong triển khai và quán triệt thực hiện nguyên tắc kịp thời, công khai, minh bạch 36

1.4.1 Tăng cường năng lực trong nhận thức của các chủ thể thực hiện

nguyên tắc kịp thời, công khai, minh bạch trong tố tụng hình sự

Trang 5

1.4.2 Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật 38

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC XÉT XỬ KỊP THỜI, CÔNG KHAI, CÔNG BẰNG TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG 40

2.1 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai 40

2.1.1 Những kết quả đạt được 40

2.1.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 44

2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 60

2.2 Những yêu cầu và cơ sở tiếp tục hoàn thiện nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai 61

2.2.1 Yêu cầu của thực tiễn xét xử các vụ án hình sự 61

2.2.2 Yêu cầu và cơ sở của cải cách tư pháp tại Việt Nam 62

2.2.3 Yêu cầu từ các cam kết quốc tế của Việt Nam 65

2.2.4 Yêu cầu nâng cao bảo vệ các quyền con người 67

2.3 Giải pháp về pháp luật và bảo đảm áp dụng nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai 69

2.3.1 Giải pháp về pháp luật 69

2.3.2 Giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật 74

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sựCCTP: Cải cách tư pháp

TNHH: Trách nhiệm hữu hạnTNHS: Trách nhiệm hình sự

TTHS: Tố tụng hình sự

UBND: Ủy ban nhân dân

VKSND: Viện kiểm sát nhân dânXHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự ra đời của Hiến pháp 2013 và BLTTHS 2015 là một bước tiến lớntrong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự nói chung, góp phầnbảo vệ quyền công dân, quyền con người, bảo vệ thiết chế, chế độ xã hội chủnghĩa Trong Hiến pháp hiện hành không phải vô cớ mà các nhà lập pháp xếpchương quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dânnằm ở vị trí thứ 2 so với vị trí chương 5 của Hiến pháp 1992 đồng thời bổsung thêm quy định về quyền con người chứ không chỉ đơn thuần là quyền vànghĩa vụ của công dân Có thể thấy rằng để hội nhập được với quốc tế ViệtNam buộc phải thay đổi về tư duy và coi trọng hơn các quyền cơ bản của conngười Và một trong những quyền cơ bản của con người và cũng là nguyêntắc tiến hành tố tụng đó là Tòa án phải xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Xuất phát từ quy định tại Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp 2013, BLTTHS

2015 đã cụ thể hóa tại Điều 25 về nội dung Tòa án xét xử kịp thời, công bằng,công khai như sau:

Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng.Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiêntòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định Trường hợp đặc biệtcần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệngười dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chínhđáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên áncông khai

Trang 8

Thực tiễn áp dụng nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khaithời gian qua cho thấy những kết quả tích cực đạt được góp phần quan trọngtrong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân và duy trì công lý trong

xã hội Bên cạnh đó vẫn tồn tại một sô hạn chế, thiếu sót có thể kể đến như:

Có những vụ án nhận được sự quan tâm của dư luận tuy nhiên công tác xét xửchưa kịp thời, gây nhiều bức xúc trong người nhà nạn nhân và người dân viphạm nguyên tắc xét xử kịp thời; vi phạm thời hạn tố tụng đối với vụ án xét

xử theo thủ tục rút gọn; Vụ án có tính chất và mức độ nguy hiểm của hành viphạm tội tương đương nhau nhưng các tòa trong cùng 01 tỉnh xử không thốngnhất, vi phạm nguyên tắc xét xử công bằng; Vụ án có dấu hiệu xử nhẹ cho bịcáo, vi phạm nguyên tắc xét xử công bằng; Việc công bố các bản án thuộctrường hợp phải công bố còn chậm, nhiều bản án chưa được chú trọng công

bố vi phạm nguyên tắc xét xử công khai… Những hạn chế, thiếu sót trên lànhững hạn chế thiếu sót tiêu biểu được chỉ ra, xuất phát từ nhiều nguyên nhântrong đó có cả nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, đây là nhữngvấn đề từ thực tiễn đặt ra đòi hỏi có những giải pháp khắc phục

Chính vì những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Nguyên tắc xét xử

kịp thời, công bằng, công khai trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài

luận văn thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan tới đề tài trên, có một số công trình đề cập đến như:

Nguyễn Ngọc Chí, Giáo trình các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình

sự, nxb Đại học quốc gia Hà Nội; Chủ biên: Nguyễn Văn Huyên, Lê Lan Chi; Nguyễn Minh Khuê, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm

Trang 9

2015, nxb Lao động, 2016; Nguyễn Ngọc Chí chủ biên; Trịnh Tiến Việt, Trần Thu Hạnh, Nguyễn Thị Lan, Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp

hình sự, nxb.Hồng Đức, 2015; “Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam”,

Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân; “Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam; “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự”, GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nxb Tư pháp, 2011; PGS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên) Bình luận khoa học bộ luật tố tụng hình sự, nxb

CAND, 2004;

Luận văn thạc sĩ: Đỗ Thị Kiều, Quyền xét xử công bằng và vấn đề đảm bảo quyền được xét xử công bằng ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội; Phan Thị Thanh Mai chủ nhiệm đề tài, Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường Trường Đại học Luật Hà Nội; Phạm Ngọc Thành (2014), Vai Trò Của Thực Tiễn Xét Xử Trong Việc Phát Triển Và Hoàn Thiện Các Quy Định Của Phần Chung Luật Hình Sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Khoa luật Đại

học quốc gia Hà Nội

Bài báo, tạp chí: Phạm Thị Thanh Xuân, Bàn về quyền của người bị buộc tội được xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai với một Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, Tạp chí Khoa học Kiểm sát Số 2/2017, tr 44 – 50; Nguyễn Trần Như Khuê, Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng và công khai theo Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tap chí Khoa học pháp lý Số 4(107)/2017, tr 63 - 66, 80; Lê Lan Chi, Ảnh hưởng của mô hình tố tụng hình sự tới tính độc lập của tòa án, Tạp chí Nhà

Trang 10

nước và Pháp luật Số 8/2014, tr 66 – 70; Trần Thu Hạnh, Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của thẩm phán trong pháp luật Liên minh châu Âu và một số quốc gia châu Âu, Tạp chí Luật học Số 2/2014, tr 61 – 72.

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở khái quátchung hoặc được thể hiện một phần trong kết quả của các công trình nghiêncứu khác về nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai theo luật

cũ là BLTTHS 2003 Trong bối cảnh hiện nay, khi Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2015 đã có hiệu lực thi hành được hơn 4 năm, thực tiễn áp dụng đã giúpchúng ta có những đánh giá về điểm tiến bộ, tích cực hay những tồn tại, hạn

chế đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Nguyên

tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai trong tố tụng hình sự Việt Nam”

vừa mang tính cấp thiết và không trùng lặp với các công trình đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và quy định về nguyên tắcxét xử kịp thời, công bằng, công khai trong tố tụng hình sự Việt Nam, luậnvăn đưa ra các giảm pháp nhằm bảo đảm việc áp dụng nguyên tắc này đượcchính xác, hiệu quả

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiêncứu sau:

Trang 11

- Phân tích những vấn đề lý luận bao gồm: Đưa ra khái niệm, phân tíchnội dung, vai trò và ý nghĩa của nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, côngkhai trong pháp luật Việt Nam.

- Đánh giá thực trạng áp dụng nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng,công khai và những khó khăn, bất cập từ thực tiễn áp dụng, qua đó đề xuấtcác giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc xét xử kịp thời, côngbằng, công khai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguyên tắc xét xử kịp thời, côngbằng, công khai trong tố tụng hình sự Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu trong phạm vi quy định của pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam về xét xử kịp thời, công bằng, công khai, đặc biệt tại quy địnhcủa BLTTHS 2015 Các số liệu, bản án được thu thập, nghiên cứu, trích dẫntrong luận văn được giới hạn ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, trong khoảng thờigian từ năm 2017 đến 2021, trên phạm vi cả nước

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng phương pháp luận duyvật biện chứng, phương pháp luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm, định hướng củaĐảng và nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự,

Trang 12

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủnghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, luận văn sử dụng cácphươngpháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, quy nạp và diễndịch, đánh giá, logic, lịch sử, thống kê…để nghiên cứu đề tài Cụ thể:

Tại chương 1 của luận văn: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích,tổng hợp, so sánh để làm rõ những nội dung liên quan về lý luận nguyên tắcxét xử kịp thời, công bằng, công khai như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nộidung

Cũng tại chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, quy nạp,diễn dịch, phương pháp logic để làm rõ thực trạng pháp luật tố tụng hình sự

về nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Tại chương 2 của luận văn: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích,tổng hợp, so sánh và thống kê để làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật đối vớiquy định nguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai đồng thời, phương phápđánh giá, phân tích, logic, luận giải được sử dụng trong việc đề xuất các giảipháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, côngkhai

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận: Luận văn bổ sung thêm vào là nguồn tài liệu tham khảotrong các công trình nghiên cứu về đề tài liên quan đến nguyên tắc xét xử kịpthời, công bằng, công khai

Về mặt thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu trong luận văn sẽ là nguồn tàiliệu tham khảo cho những người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố

Trang 13

tụng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Đồng thời sẽ là tài liệu thamkhảo hữu ích tại các cơ sở đạo tạo chuyên ngành luật trong cả nước.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm hai chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

về nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Chương 2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc xét xử kịp thời, công khai,

công bằng trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và một số giải pháp bảođảm áp dụng

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VIỆT NAM VỀ NGUYÊN TẮC XÉT XỬ KỊP THỜI,

CÔNG BẰNG, CÔNG KHAI 1.1 Khái niệm, nội dung và ý nghĩa nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai

1.1.1 Khái niệm nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai

1.1.1.1 Khái niệm nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tố tụng hình sự

Bất kỳ hoạt động có mục đích nào trong cuộc sống cũng đều phải dựatrên cơ sở nguyên tắc nhất định Đây chính là tư tưởng và định hướng chủ đạogiúp các chủ thể thực hiện hiệu quả công việc trong một lĩnh vực cụ thể

Nguyên tắc là luận điểm gốc của học thuyết nào đó, tư tưởng chỉ đạocủa quy tắc hoạt động hay là niềm tin, quan điểm đối với sự vật và chính quanđiểm, niềm tin đó xác định quy tắc hành vi, đồng thời cũng có thể là nguyên

lý cấu trúc hoạt động của bộ máy dụng cụ thiết bị nào đó Ngoài ra, nguyêntắc có thể là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được thể hiện xuyên suốttoàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhânphải tuân theo

Nguyên tắc là những yêu cầu nền tảng đòi hỏi các chủ thể phải tuân thủtheo đúng trình tự để đạt được mục đích đề ra một cách tối ưu nhất Đây là hệthống những tư tưởng, quan điểm tồn tại xuyên suốt trong một hoặc toàn bộgiai đoạn nhất định và bằng cách thức, sự ràng buộc nào đó sẽ khiến mỗi cánhân hay tổ chức phải tuân theo

Trang 15

Theo Từ điển tiếng Việt, nguyên tắc với nghĩa chung nhất được hiểu là

“điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”[19,tr.511] Nguyên tắc được coi là cái không thể thiếu trong hoạt động

nhận thức và thực tiễn của con người, bảo đảm cho những hoạt động đó điđúng hướng và đạt hiệu quả cao

Thuật ngữ nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tố tụng hình sự là thuậtngữ cơ bản được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên việc đưa ra khái niệm, địnhnghĩa lại chưa thật sự được quan tâm, nghiên cứu và được nhìn nhận khácnhau dưới nhiều góc độ nghiên cứu có thể kể đến như:

Tác giả Đào Trí Úc cho rằng việc sử dụng “khái niệm các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự” là sự nhầm lẫn “bắt nguồn từ việc coi tố tụng hình

sự và pháp luật tố tụng hình sự là một Theo đó, không có nguyên tắc của luật

tố tụng hình sự mà chỉ có nguyên tắc của tố tụng hình sự và “Việc hình thànhcác nguyên tắc của tố tụng hình sự không phải là ngẫu nhiên, càng không phải

là ý chí chủ quan của các nhà làm luật, mà nguyên tắc của tố tụng hình sự, xétcho cùng là sản phẩm phát triển của xã hội và đồng thời là thành tựu của hoạtđộng tư pháp trong lĩnh vực tố tụng hình sự” Tác giả cho rằng:

Khi bàn về các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam, đa số cáctác giả đều hàm ý: đó là những nguyên tắc cơ bản, chi phối hoặc làtất cả các giai đoạn, hoặc chí ít cũng là một số giai đoạn quan trọngcủa tố tụng hình sự Xuất phát từ quan niệm, các nguyên tắc của tốtụng hình sự Việt Nam là những chế định pháp lý, được thể hiện bởinhững qui phạm pháp luật tố tụng hình sự, thể hiện bản chất của tốtụng hình sự và mang tính định hướng cho hoạt động và hành vi tố

Trang 16

Không đồng ý với quan niệm trên, PGS TS Phạm Hồng Hải đưa rađịnh nghĩa:

Nguyên tắc tố tụng hình sự Việt Nam là những quan điểm, tưtưởng, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về quá trình giải quyết vụ án hình sự

đã được thể chế hoá trong Bộ luật tố tụng hình sự mà các cơ quantiến hành tố tụng, người tến hành tố tụng, người tham gia tố tụng,các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân phải tuântheo

Theo quan điểm của học viên thì 02 quan điểm trên đều chưa thuyếtphục, học viên đồng tình với quan điểm của tác giả Nguyễn Ngọc Chí khi chorằng:

Khi nguyên tắc quy định trong BLTTHS thì phải coi chúng lànhững nguyên tắc của tố tụng hình sự, ngoài ra nếu các tư tưởng,quan điểm nào đó là các quan điểm, tư tưởng chủ đạo của luật tốtụng hình sự thì chúng cũng đồng thời là các nguyên tắc của luật tốtụng hình sự (ví dụ, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa tronghoạt động tố tụng, nguyên tắc nhân đạo của luật tố tụng hình sự …vừa là nguyên tắc của tố tụng hình sự vừa là nguyên tắc của luật tốtụng hình sự) [5]

PGS.TSKH Lê Cảm cho rằng những nguyên tắc được qui định trongBLTTHS là nguyên tắc của luật tố tụng hình sự và được định nghĩa như sau:

Nguyên tắc của luật tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo và địnhhướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật tố tụng hình sự, cũng

Trang 17

như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng pháp luật tốtụng hình sự thông qua một hay nhiều quy phạm (chế định) của nó -của nguyên tắc tương ứng mà ta nghiên cứu [2,tr.57]

Một số tác giả khác cho rằng:

Nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là những phương châmđịnh hướng chi phối toàn bộ hay một số hoạt động tố tụng hình sựđược ghi nhận trong Hiến pháp, BLTTHS và các văn bản có liênquan Nguyên tắc cơ bản được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo đốivới toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự hoặc đối với một số hoạtđộng tố tụng nhất định như hoạt động điều tra truy tố xét xử… Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là những tư tưởng xuấtphát điểm, có tính chủ đạo, định hướng cho toàn bộ hoạt động xây dựng và ápdụng pháp luật tố tụng hình sự, chi phối tất cả hoặc chí ít cũng là một số giaiđoạn tố tụng hình sự quan trọng, thể hiện bản chất của luật tố tụng hình sự vàđược thể hiện trong các quy phạm pháp luật TTHS [6;tr.73]

Như vậy, trong khoa học luật hình sự cơ bản đều thống nhất quan điểm:

Nguyên tắc của luật hình sự là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự

Có hai nhóm nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự: Một là nhómnguyên tắc đặc thù có những nguyên tắc sau: Nguyên tắc suy đoán vô tội;Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần

vì một tội phạm; Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền

Trang 18

Nguyên tắc trách nhiệm thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theopháp luật trong tố tụng hình sự; Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ

án hình sự; Nguyên tắc đảm bảo quyền được bồi thường của người bị thiệt hạitrong hoạt động tố tụng hình sự

Thứ hai là nhóm nguyên tắc khác gồm có: Nguyên tắc đảm bảo phápchế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệquyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; Nguyên tắc đảmbảo quyền bình đẳng trước pháp luật; Nguyên tắc đảm bảo quyền bất khả xâmphạm về thân thể; Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhânphẩm, tài sản của cá nhân, danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân,…

1.1.1.2 Khái niệm nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Xét xử kịp thời, công bằng, công khai là đòi hỏi khách quan của hoạtđộng tố tụng và trở thành nguyên tắc của tố tụng hình sự

Theo Từ điển Luật học thì “xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng nhiệm vụ của Tòa án Tòa án là cơ quan duy nhất của một nước đảm nhiệm chức năng xét xử, không ai có thể buộc tội mà không qua xét xử của Tòa án và kết quả xét xử phải được công bố bằng bản án”[31, tr.522]

Vì xét xử là hoạt động của Tòa án, một hoạt động đặc trưng của việcthực hiện chức năng tư pháp của Nhà nước, nên hoạt động này được tiến hànhtheo cách thức hay thủ tục nhất định dựa trên những nguyên tắc tố tụng hếtsức nghiêm ngặt Bởi vì kết quả của nó ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợiích của cá nhân, tổ chức, cơ quan có liên quan

Trang 19

Xét xử kịp thời hay nói cách khác là xét xử nhanh chóng (expeditioushearing) là nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo đảm quyền conngười, định hướng về mặt lập pháp cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật tốtụng hình sự Đòi hỏi về quyền được Tòa án xét xử và xét xử kịp thời chính làbảo đảm hàng đầu cho quyền tiếp cận công lý của người dân và sự thể hiệntrên thực tế chức năng hiến định của Tòa án nhân dân ở nước ta về duy trì vàbảo vệ công lý (xem Điều 102 Hiến pháp năm 2013) Tiếp cận công lý vừa làmục tiêu của hoạt động tư pháp, vừa là điều kiện bảo đảm tăng cường tráchnhiệm tư pháp và mức độ liêm chính của nó Đặt ra thời hạn tố tụng chính làxác định giới hạn các thẩm quyền của các cơ quan tố tụng bởi kéo dài vô cớtình trạng và địa vị “người bị buộc tội” đối với con người chính là sự hạn chếquyền con người và xóa bỏ công lý.

Nguyên tắc về quyền tiếp cận công lý đặt ra vấn đề về thời hạn hợp lýcủa một vụ án, bởi thực tế tố tụng hình sự của các quốc gia trên thế giới đềucho thấy rằng, rất khó có thể đặt ra một thời gian có tính mặc định về thời hạnđiều tra và xét xử một vụ án hình sự Cho nên, ở vấn đề này chỉ có thể nói đếnyêu cầu về một thời hạn hợp lý để không cho phép tình trạng kéo dài vô địnhmột vụ án Theo đó, độ kéo dài được coi là “hợp lý’ được căn cứ vào hai yếu

tố chính: mức độ phức tạp của vụ án và mức độ thực thi trách nhiệm của các

cơ quan tiến hành tố tụng

Xét xử kịp thời không chậm trễ nhằm đảm bảo quyền con người củanhững người bị buộc tội Bởi lẽ, khi bị đưa vào vòng quay tố tụng với tư cách

bị can, bị cáo, những người này có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tốtụng hình sự như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khởi nơi cứ trú và bị hạn chế một

số quyền trong khi họ chưa bị coi là có tội thì tính thân của nguyên tắc suy

Trang 20

đoán vô tội Chính vì vậy, xét xử kịp thời, tòa án sẽ nhanh chóng đưa ra phánquyết trong nhiều trường hợp tòa tuyên họ vô tội, trả tự do và khôi phụcquyền lợi cho họ.

Công bằng là một phạm trù khoa học được nghiên cứu bởi nhiều lĩnhvực khoa học khác nhau bao gồm cả triết học, chính trị, pháp lý… Công bằngđược coi là một hiện tượng xã hội có ý nghĩa khách quan mà con người cầnhướng tới trong tư duy, nhận thức và hành động Chính vì vậy, công bằng vừa

là mục đích, vừa là chuẩn mực để đánh giá sự tồn tại, phát triển của cộngđồng, của xã hội loài người Sự thiết lập công bằng dựa vào ý chí chủ quan,

do con người (nhóm, thậm chí là giai cấp) quyết định là duy tâm, là trái quyluật tự nhiên, xã hội và tư duy Có chăng, nó chỉ được xác định ở phạm vi vàquan niệm Phạm vi và quan niệm lại phụ thuộc vào quá trình nhận thức dođiều kiện kinh tế và sinh hoạt vật chất quyết định Công bằng trong xã hội cógiai cấp là trật tự giả các mâu thuẫn giai cấp và giải quyết các vấn đề xã hội

Trong từ điển Tiếng Việt “công khai” được giải thích như sau: “Côngkhai là việc không giữ kín mà để cho mọi người đều có thể biết” Tính côngkhai trong công tác xét xử được hiểu là việc xét xử các vụ án được tiến hànhmột cách công khai, mọi người đều có thể tham dự và theo dõi diễn biến củaphiên tòa xét xử

Xét xử công khai (public hearing) là nguyên tắc hoạt động của toà ánnhằm bảo đảm sự giám sát của nhân dân, của công luận đối với hoạt động xét

xử của toà án, bảo đảm chức năng giáo dục của xét xử và tăng cường tráchnhiệm của cơ quan xét xử trước pháp luật Việc xét xử công khai, một mặtbảo đảm cho nhân dân có thể kiểm tra, giám sát được hoạt động của Tòa án,

và mặt khác phát huy được tính giáo dục chính trị - pháp lý và tác dụng phòng

Trang 21

ngừa của hoạt động xét xử Việc xét xử công khai là một trong những bảođảm cho hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn và nâng cao trách nhiệmcủa Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư bào chữa đối với việc thựchiện nghĩa vụ của mình, đối với việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật Nhưvậy, có thể nói nguyên tắc xét xử công khai là những tư tưởng chỉ đạo đòi hỏicác nhà làm luật khi xây dựng pháp luật phải đảm bảo cho hoạt động xét xửđược tiến hành một cách công khai Đối với cơ quan, cá nhân có thẩm quyềnthực hiện công tác xét xử thì pháp luật đòi hỏi phải tuân thủ tính công khaicủa hoạt động xét xử, trừ những trường hợp pháp luật có quy định xử kín.

Như vậy, nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai là những tưtưởng chỉ đạo, định hướng xuyên suốt quá trình trong quá trình thực hiệnchức năng xét xử của Tòa án nhằm đảm bảo việc xét xử được nhanh chóng,chính xác, công khai, đúng người đúng tội

1.1.2 Nội dung nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Vấn đề về xét xử kịp thời, công bằng công khai được đề cập trongnhiều văn kiện pháp lý quốc tế, trong đó được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều

Trang 22

Trong việc xác định các quyền và nghĩa vụ cũng như bất cứ sự buộctội nào đối với họ, mọi người đều có quyền được xét xử công bằng

và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan trong mộtkhoảng thời gian hợp lý Phán quyết sẽ được tuyên bố công khai,tuy nhiên báo chí và công chúng có thể không được phép dự toàn

bộ hoặc một phần phiên xét xử vì lý do về đạo đức, trật tự côngcộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hoặc khi việcgiữ kín đời tư của các bên tham gia tố tụng đòi hỏi, hoặc trongnhững hoàn cảnh đặc biệt, Tòa án xét thấy việc xét xử công khai cóthể làm phương hại đến việc tìm ra công lý[14,tr 247]

Việc xét xử phải công bằng và công khai, khoản 1 Điều 14 Công ướcquốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Mọi người đều

có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án có thẩm quyền,độc lập, không thiên vị” Việc xét xử công bằng, công khai bảo đảm quyềncon người cho người tham gia tố tụng, đồng thời bảo đàm nâng cao hiệu quảgiáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm

Kịp thời, công bằng, công khai là một trong những thuộc tính quantrọng của xã hội dân chủ Trong tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nóiriêng, công khai được hiểu như một tư tưởng xuyên suốt quá trình tổ chức vàhoạt động của nó Do vậy, Hiến pháp nước ta ghi nhận nguyên tắc đó và Bộluật tố tụng hình sự cụ thể hóa và coi đó là một trong những nguyên tắc cơbản của tố tụng hình sự

Việc xét xử kịp thời, công bằng, công khai, một mặt bảo đảm cho nhândân có thể kiểm tra, giám sát được hoạt động của Toà án, và mặt khác pháthuy được tính giáo dục chính trị – pháp lý và tác dụng phòng ngừa của hoạt

Trang 23

động xét xử Việc xét xử công khai là một trong những bảo đảm cho hoạtđộng xét xử được tiến hành đúng đắn và nâng cao trách nhiệm của Thẩmphán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư bào chữa đối với việc thực hiện nghĩa

vụ của mình, đối với việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật

Phiên toà xét xử của Toà án được tiến hành một cách kịp thời, côngbằng, công khai, mọi người đạt độ tuổi nhất định (từ 16 trở lên) có quyềntham dự phiên toà xét xử Phiên toà xét xử có thể được tiến hành tại phòng xét

xử trong trụ sở của Toà án, nhưng cũng có thể được xét xử lưu động tại nơixảy ra việc phạm tội hoặc nơi cư trú của bị cáo nếu xét thấy cần thiết

Thông qua Hiến pháp – đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất cùng vớicác văn bản pháp luật chuyên ngành đều quy định việc xét xử của Tòa ánđược tiến hành công khai, mọi công dân từ đủ 16 tuổi trở lên đều có thể tham

dự và Tòa án phải công bố tất cả các quyết định được thông qua trong quátrình xét xử của vụ án Tòa án xét xử công khai ở trụ sở Tòa án nhưng trongmột số trường hợp cần phát huy mạnh mẽ tác dụng giáo dục và phòng ngừacủa công tác xét xử, thì Tòa án có thể tiến hành các phiên tòa xét xử lưu độngtại nơi xảy ra tội phạm Nguyên tắc xét xử công khai không chỉ áp dụng đốivới hoạt động xét xử sơ thẩm mà còn đối với cả hoạt động xét xử phúc thẩm

Cụ thể hóa nguyên tắc này thông qua các hoạt động của Tòa án quaviệc quy định về công khai quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian, địa điểm

mở phiên tòa phải được niêm yết công khai trước khi xét xử; tại phiên tòacông khai các chứng cứ, tài liệu điều tra trong giai đoạn điều tra, bản cáotrạng… sau khi xét xử cần phải tuyên án công khai và bản án đó Tòa án có thểcông bố trên báo chí, đài phát thanh hoặc bằng các phương tiện thông tin đại

Trang 24

được thực hiện xuyên suốt, pháp luật TTHS cũng đã có những quy định cụ thểnhư quy định về thủ tục chuẩn bị xét xử, thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi,tranh luận, tuyên án…

Tuy nhiên, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai không có nghĩa làtrong tất cả mọi trường hợp với mọi vụ án đều xét xử công khai mà có nhữngtrường hợp đặc biệt cần giữ gìn bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dântộc hoặc bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ hay để bảo vệngười chưa thành niên thì Tòa án được tiến hành xử kín Xử kín là một chếđịnh đã được quy định ngay từ Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 đầu tiêncủa nước ta và được khẳng định lại tại Điều 18 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm

2003 và Điều 25 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Việc quy định xử kín là hoàn toàn hợp lý, vì lợi ích của xã hội, vì lợiích của đương sự, thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với nhân phẩm danh

dự của đương sự trong vụ án Quy định này chẳng những không vi phạm quyđịnh về nguyên tắc xét xử công khai mà nó còn phù hợp với xu hướng pháttriển chung của luật pháp luật TTHS trên thế giới Việc quyết định đưa vụ án

ra xét xử có thể do Toà án quyết định theo ý chí của mình hoặc có thể theo đềnghị của những người tham gia tố tụng Dù phiên toà được tiến hành xét xửkín, nhưng bản án và quyết định của phiên toà đó cũng phải được tuyên côngkhai

1.1.3 Ý nghĩa nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai là sự thể hiện cụ thểcủa việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong TTHS Vấn đềnhân quyền luôn là điểm nóng của hầu hết các quốc gia trên thế giới Đặc

Trang 25

biệt, các thế lực phản động và hiếu chiến luôn lấy vấn đề nhân quyền để kíchđộng nhân dân, chống phá cách mạng Hiện nay, đất nước ta đang trong thời

kỳ phát triển và hội nhập, song Nhà nước luôn chú ý tới việc phát huy toàndiện quyền tự do dân chủ của công dân, bảo đảm các quyền con người ViệcHiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan ghi nhận việc xét xử kịpthời, công bằng, công khai cho bị cáo và có cơ chế đảm bảo thực hiện nguyêntắc này là nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng qua đó thể hiện bản chất ưuviệt của Nhà nước ta

Theo GS.TS Võ Khánh Vinh “Việc xét xử kịp thời, công bằng, côngkhai thể hiện tính dân chủ nhằm tạo điều kiện cho nhân dân kiểm tra, giám sátđược các hoạt động của Tòa án”[33,tr.124], qua đó phát hiện những thiếu sóthoặc sai lầm trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án, bảo vệ quyền và lợiích của Nhà nước, của công dân theo quy định của pháp luật Như vậy có thểthấy xét xử kịp thời, công bằng, công khai nhằm đảm bảo cơ chế kiểm tra vàgiám sát của dân đối với hoạt động xét xử Sự kiểm tra giám sát của dân đốivới hoạt động của nhà nước nói chung và hoạt động xét xử nói riêng, là đòihỏi cấp bách của một xã hội dân chủ Mọi hoạt động của Nhà nước khôngđược công khai, triệt tiêu sự giám sát của dân đều có khả năng dẫn đếnchuyên quyền, quan liêu và tệ hơn nữa là ở nơi đó “quốc nạn tham nhũng”được hoành hành

Xét xử kịp thời, công bằng, công khai nhằm nâng cao tinh thần tráchnhiệm của thẩm phán và hội thẩm nhân dân trước quần chúng Hoạt động xét

xử tại phiên tòa là kịp thời, công bằng, công khai trừ một số trường hợp dopháp luật quy định phải xử kín, vì vậy, ngoài hội đồng xét xử còn có đông đảonhân dân theo dõi phiên tòa, nhất cử nhất động của thẩm phán - chủ tọa phiên

Trang 26

tòa nói riêng, hội đồng xét xử nói chung đều được những người tham gia tốtụng, đương sự của vụ án và những người tham dự phiên tòa quan sát và đánhgiá Đối với các phiên tòa xét xử lưu động, việc lập kế hoạch xét xử phải đượcthẩm phán đặc biệt chú ý Trong kế hoạch xét xử phải xác định trình tự xemxét các tình tiết, các chứng cứ; đánh giá, kiểm tra nguồn của các thông tinnày Việc lập kế hoạch xét xử có tác dụng tránh được những tác động tìnhcảm nhất định do từng loại thông tin gây ra; đảm bảo được tính liên tục, hệthống, toàn diện và đầy đủ của việc nghiên cứu thông tin, đánh giá chứng cứ.Đồng thời dự đoán được những tình huống có thể xảy ra và chuẩn bị kế hoạch

xử lý các tình huống đó một cách chủ động, linh hoạt tại phiên tòa xét xử lưuđộng Phần lớn thẩm phán ý thức được ý nghĩa của việc tuyên truyền, phổbiến và giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử; tuy nhiên vẫn còn một

số thẩm phán chưa ý thức được vấn đề này cho rằng việc giáo dục pháp luật làcủa nhà trường và xã hội chứ không phải là việc của thẩm phán Thực tiễn xét

xử của các Tòa án nước ta những năm qua cho thấy, còn những thẩm phán viphạm pháp luật; có vụ án việc xét xử không đảm bảo tính khách quan, chấtlượng xét xử còn thấp làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của công dân; làm cho uy tín của Tòa án bị ảnh hưởng nghiêmtrọng; vai trò giáo dục công dân của Tòa án qua hoạt động xét xử không đượcphát huy Vì thế, thông qua xét xử kịp thời, công bằng, công khai cũng gópphần nâng cao tinh thần trách nhiệm của thẩm phán và hội thẩm nhân dântrước quần chúng

Ngoài ra xét xử kịp thời, công bằng, công khai còn có tác dụng giáodục ý thức pháp luật cho quần chúng nhân dân Thông qua hoạt động xét xử

là hình thức giáo dục đặc thù nhất và quan trọng nhất của Tòa án, thẩm phánluôn làm cho mọi người thấy rằng bất cứ sự việc vi phạm pháp luật nào đều bị

Trang 27

xử lí theo pháp luật Bằng thái độ khách quan, nghiêm túc của thẩm phántrong quá trình xét hỏi hay trong việc đảm bảo quyền bình đẳng của các bêntrong tranh luận để tìm ra sự thật của vụ án cũng như đảm bảo đầy đủ, đúngyêu cầu các nguyên tắc của quá trình xét xử làm cho những người tham gia tốtụng và đông đảo quần chúng tham dự phiên tòa có thái độ đúng đắn vớinhững hành vi vi phạm pháp luật, giáo dục họ ý thức tuân thủ các quy phạmpháp luật mà Nhà nước đã đề ra, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lítheo từng trường hợp cụ thể mà phiên tòa là một minh chứng cho sự nghiêmminh của pháp luật, qua đó góp phần tích cực vào công tác đấu tranh chống

và đúng pháp luật Nội dung nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai

có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác trong luật tố tụng hình sựViệt Nam, đặc biệt là nguyên tắc xử lý tội phạm Cụ thể như sau:

Trang 28

- Xử lý kịp thời, công bằng mọi hành vi tội phạm thể hiện qua việc xácđịnh: “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng,công minh theo đúng pháp luật” Theo quy định này, mọi tội phạm đều phải

bị xử lý, không có ngoại lệ và bị xử lý một cách công bằng, nghiêm minh,trên cơ sở quy định pháp luật Bị trừng trị là thuộc tính vốn có của tội phạmnên việc bỏ lọt hay dung túng, bao che, không xử lý một tội phạm nào đó là

đã tạo ra ngoại lệ bất công Không chỉ bất công giữa người phạm tội bị xử lývới người phạm tội không bị xử lý mà còn bất công đối với xã hội, đối vớingười bị hại Không chỉ xử lý mọi tội phạm mà việc xử lý tất cả những tộiphạm phải tiến hành trên cơ sở những quy tắc chung thống nhất (quy địnhpháp luật) mới bảo đảm công bằng

- Bảo đảm sự bình đẳng trước luật hình sự của mọi người phạm tội.Đây là một điểm tiến bộ, mới được ghi nhận ở điểm b khoản 1 Điều 3 Bộ luậthình sự năm 2015: “Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật,không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xãhội” Nguyên tắc này yêu cầu trong nội dung quy định pháp luật cũng nhưviệc áp dụng quy định pháp luật đó đều không được phép chứa đựng sự phânbiệt đối xử với người phạm tội bất kể giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thànhphần, địa vị xã hội của người đó Khi khẳng định nguyên tắc này, chính là

“chống lại những biểu hiện phân biệt đối xử giữa người phạm tội có địa vị xãhội khác nhau “dân thì xử nặng, quan thì xử nhẹ” [16, tr.15]

- Bảo đảm tính tương xứng giữa tính chất, mức độ nguy hiểm của hành

vi phạm tội với biện pháp (chế tài) xử lý Những hành vi phạm tội có tínhnguy hiểm cao phải bị trừng trị nghiêm khắc, ngược lại khi có những tình tiếtlàm giảm bớt tính nguy hiểm của tội phạm thì biện pháp xử lý áp dụng phải

Trang 29

thể hiện sự khoan hồng Bộ luật hình sự quy định nghiêm trị những ngườiphạm tội mà chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn

đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, dùng thủđoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quảnghiêm trọng; khoan hồng, giảm nhẹ đối với người tự thú, thành khẩn khaibáo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyệnsửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng(điểm c khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự) Như vậy, mặc dù không được gọitên là nguyên tắc của luật hình sự nhưng các nguyên tắc xử lý tội phạm ở đây

đã thể hiện những nội dung cơ bản của Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng

và công khai trong luật hình sự

- Nguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai với nguyên tắc bảo đảmpháp chế

Kịp thời, công bằng, công khai là sự thể hiện quan điểm của Nhà nướctrong việc tôn trọng các giá trị cao quý của con người (nhân phẩm, danh dự)trong xã hội và coi một người có đủ tư cách công dân với các quyền, nghĩa vụ

do Hiến pháp và pháp luật quy định, khi người đó chưa bị Tòa án (cơ quan cóthẩm quyền xét xử) kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật Vì vậy, đểloại trừ, ngăn ngừa sự tùy tiện, lộng quyền, áp đặt hay vi phạm pháp luật từphía cơ quan tiến hành tố tụng, người THTT mà Hiến pháp và Bộ luật Tốtụng hình sự Việt Nam đã quy định rõ các hoạt động TTHS phải tuân thủnghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa "Mọi hoạt động TTHScủa cơ quan THTT, người THTT và người tham gia tố tụng phải được tiếnhành theo quy định của Bộ luật này"

Trang 30

Pháp chế là nguyên tắc chung trong việc tổ chức xã hội cũng như tổchức và hoạt động của các cơ quan nhà nước nói riêng Nội dung nguyên tăcnày đòi hỏi trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xãhội và mọi công dân phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật Tố tụng hình sự làtrình tự thủ tục các hoạt động nhằm giải quyết vụ án hình sự cũng đòi hỏi phảiđảm bảo tính pháp chế Đây là tư tưởng quan điểm có tính chất nền tảng, chỉđạo định hướng đối với các quy định của tố tụng hình sự và thực tiễn thựchiện các hoạt động tố tụng hình sự Trong BLTTHS hiện hành thì nguyên tắcnày được cụ thể hóa tại Điều 7 Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tốtụng hình sự “ Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quyđịnh vủa Bộ luật này Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật nàyquy định” Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc baotrùm nhất được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tung hình sự, từnhững quy định chung cho đến những quy định cụ thể Nguyên tắc này khôngchi định hướng cho hoạt động tố tụng hình sự mà còn định hướng cho việcxây dựng pháp luật trong thực tiễn Nguyên tắc đảm bảo tính pháp chế trongBLTTHS, là nhân tố phát triển tính đúng đắn của lĩnh vực TTHS Trở lại vớinguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai, hai nguyên tắc này có mối quan hệmất thiết với nhau Nguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai với mục đíchbảo vệ quyền của người bị buộc tội, bảo đảm quyền con người, bảo đảm việcxét xử phải được tiến hành, kịp thời, công bằng, công khai và đúng pháp luật.

Nguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai có quan hệ chặt chẽ vớinguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Ngay trong nội dung đầu tiêncủa nguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai đã đề cập “Tòa án xét xử kịpthời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng.…” Có thể thấy rằng mọi

Trang 31

quyết hoạt động của cơ quan THTT, người tiến hành tố tụng phải tuân theonhững trình tự thủ tục do BLTTHS 2015 quy định Đây là bước đầu để hoànthiện một hệ thống pháp luật TTHS không chỉ có ý nghĩa chính trị, xã hội vàpháp lý quan trọng, mà còn là "lá chắn thép" trong việc phòng chống oan sai,tôn trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người Kịp thời, công bằng,công khai và pháp chế là hai nguyên tắc phải được bảo đảm xuyên suốt quátrình tiến hành tố tụng, thống nhất các trình tự thủ tục các hoạt đồng nhằmgiải quyết vụ án Tuân thủ nguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai vànguyên tắc pháp chế sẽ góp phần cho tố tụng hình sự đạt được mục đích củamình là không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, bảo vệ trật tự

xã hội đồng thời bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự

1.3 Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai trong pháp luật

tố tụng hình sự Việt Nam

1.3.1 Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai trong Bộ luật

tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003

Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai được ghi nhận rải ráctrong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 ở các Điều luật sau:

Điều 18 Xét xử công khai

Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều cóquyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định

Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong

mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu

Trang 32

chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín, nhưng phải tuyên án côngkhai.

Điều 19 Bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án

Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơndân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi củađương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tàiliệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án Tòa

án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đónhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án

Thông qua Hiến pháp - đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất cùng với cácvăn bản pháp luật chuyên ngành đều quy định việc xét xử của Tòa án đượctiến hành công khai, mọi công dân từ đủ 16 tuổi trở lên đều có thể tham dự vàTòa án phải công bố tất cả các quyết định được thông qua trong quá trình xét

xử của vụ án Tòa án xét xử công khai ở trụ sở Tòa án nhưng trong một sốtrường hợp cần phát huy mạnh mẽ tác dụng giáo dục và phòng ngừa của côngtác xét xử, thì Tòa án có thể tiến hành các phiên tòa xét xử lưu động tại nơixảy ra tội phạm Nguyên tắc xét xử công khai không chỉ áp dụng đối với hoạtđộng xét xử sơ thẩm mà còn đối với cả hoạt động xét xử phúc thẩm[16; tr.65]

Cụ thể hóa nguyên tắc này thông qua các hoạt động của Tòa án qua việc quyđịnh về công khai quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian, địa điểm mởphiên tòa phải được niêm yết công khai trước khi xét xử; tại phiên tòa côngkhai các chứng cứ, tài liệu điều tra trong giai đoạn điều tra, bản cáo trạng…sau khi xét xử cần phải tuyên án công khai và bản án đó Tòa án có thể công

bố trên báo chí, đài phát thanh hoặc bằng các phương tiện thông tin đại chúng

Trang 33

khác để mọi người được biết Để đảm bảo cho nguyên tắc công khai đượcthực hiện xuyên suốt, pháp luật TTHS cũng đã có những quy định cụ thể nhưquy định về thủ tục chuẩn bị xét xử, thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranhluận, tuyên án…

Tuy nhiên, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai không có nghĩa làtrong tất cả mọi trường hợp với mọi vụ án đều xét xử công khai mà có nhữngtrường hợp đặc biệt cần giữ gìn bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dântộc hoặc bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ hay để bảo vệngười chưa thành niên thì Tòa án được tiến hành xử kín Xử kín là một chếđịnh đã được quy định ngay từ Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 đầu tiêncủa nước ta và được khẳng định lại tại Điều 18 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm

2003 Việc quy định xử kín là hoàn toàn hợp lý, vì lợi ích của xã hội, vì lợiích của đương sự, thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với nhân phẩm danh

dự của đương sự trong vụ án Quy định này chẳng những không vi phạm quyđịnh về nguyên tắc xét xử công khai mà nó còn phù hợp với xu hướng pháttriển chung của luật pháp luật TTHS trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay haikhái niệm “thuần phong mỹ tục của dân tộc” và “bí mật của đương sự theoyêu cầu chính đáng của họ” vẫn chưa được cơ quan có thẩm quyền giải thíchmột cách cụ thể, chi tiết để áp dụng thống nhất Vì thế, trên thực tế một vụ án

có thuộc trường hợp xử kín hay không chủ yếu dựa vào đánh giá chủ quancủa cơ quan xét xử

Trong thiết chế dân chủ thì công khai là một thuộc tính quan trọng, vìvậy công khai được quy định là nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật tố tụng hình

sự Nguyên tắc này một mặt tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền kiểmtra giám sát đối với hoạt động xét xử của cơ quan Tòa án thông qua đó nâng

Trang 34

cao trách nhiệm xét xử của Tòa án, mặt khác có tác dụng góp phần vào việcgiáo dục và nâng cao ý thức pháp luật của công dân, động viên đông đảo mọingười tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Việc xét xửcông khai được áp dụng đối với xét xử sơ thẩm và phúc thẩm trừ nhữngtrường hợp đặc biệt cần giữ bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộchoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu của họ thì Tòa án có quyền xét

xử kín Trong những trường hợp xét xử kín này thì khi tuyên án Tòa án cũngphải tuyên án công khai, trong phiên tòa xét xử công khai mọi người đều cóquyền tham dự trừ trường hợp do pháp luật quy định tại khoản 4 Điều 197BLTTHS[17;tr.27]

1.3.2 Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai trong Bộ luật

tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015

Hiến pháp năm 2013:

Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luậtđịnh, công bằng, công khai Trường hợp xét xử kín theo quy định củaluật thì việc tuyên án phải được công khai [23, Điều 31, Khoản 2].Tòa án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ

bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới

18 tuổi hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự,Tòa án nhân dân có thể xét xử kín [23, Điều 103, Khoản 3]

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng.Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên

Trang 35

tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định Trường hợp đặc biệtcần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệngười dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chínhđáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên áncông khai [25, Điều 25].

Nội dung của nguyên tắc toà án xét xử kịp thời, công khai, công bằng

Điểm mới trong BLTTHS năm 2015 là việc bổ sung hai yêu cầu kháccủa hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án đó là yêu cầu phảixét xử kịp thời và công bằng Việc bổ sung hai yêu cầu này vào tên gọi cũngnhư nội dung nguyên tắc tại Điều 25 BLTTHS năm 2015 bảo đảm sự phù hợpvới Hiến pháp năm 2013, phù hợp với chuẩn mực quốc tế, bảo đảm quyền conngười trong TTHS

Kịp thời, công bằng, công khai là một trong những thuộc tính quantrọng của xã hội dân chủ Trong tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nóiriêng, công khai được hiểu như một tư tưởng xuyên suốt quá trình tổ chức vàhoạt động của nó Do vậy, Hiến pháp nước ta ghi nhận nguyên tắc đó vàBLTTHS 2015 cụ thể hóa và coi đó là một trong những nguyên tắc cơ bảncủa tố tụng hình sự

Theo mô hình tố tụng tranh tụng, quá trình điều tra làm rõ vụ án diễn rathông qua phiên tòa công khai nên nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng,công khai của Tòa án sẽ bảo đảm cho toàn bộ tiến trình giải quyết vụ án khẩntrương, nhanh chóng

Trang 36

Thứ nhất, Xét xử kịp thời không chỉ là nguyên tắc trong xét xử mà còn

là một trong những nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình

sự Bởi lẽ, mặc dù người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khiđược chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa

án có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, không có nghĩa quyền cơ bản của họkhông bị ảnh hưởng Trong quá trình tố tụng, các biện pháp cưỡng chế tốtụng, biện pháp ngăn chặn hoàn toàn có thể được áp dụng đối với người bịbuộc tội khi có căn cứ luật định, dẫn đến một số quyền con người của họ bịhạn chế Do đó, quá trình giải quyết vụ án hình sự càng kéo dài, việc xét xửkhông kịp thời trong mọi trường hợp đều gây ảnh hưởng bất lợi đến đối tượng

bị buộc tội Vì vậy, yêu cầu Tòa án phải bảo đảm xét xử kịp thời trong thờihạn luật định đã nguyên tắc hướng tới bảo đảm quyền con người, quyền côngdân trong TTHS

Xét xử kịp thời, tòa án sẽ nhanh chóng đưa ra phán quyết trong nhiềutrường hợp tòa tuyên họ vô tội, trả tự do và khôi phục quyền lợi cho họ.Khoản 3 Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966quy định:

Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phảiđược sớm đưa ra toà án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyềnthực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp

lý hoặc được trả tự do…

Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định “người bị buộc tội phải đượcTòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định” Khác với Điều 14 (3)(c) củaICCPR, dấu hiệu thời hạn luật định cho hoạt động xét xử trong Hiến pháp vàBLTTHS Việt Nam năm 2015 làm rõ hơn nội hàm khái niệm xét xử kịp thời

Trang 37

Việc vi phạm thời hạn đồng nghĩa với vi phạm nguyên tắc này trongBLTTHS năm 2015 được xây dựng trên tinh thần đề cao quyền con ngườiđược thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và trên tinh thần của ICCPR màViệt Nam là thành viên nhằm khắc phục tình trạng trì hoãn, kéo dài một cách

vô lý thời hạn và thủ tục tố tụng đối với bị cáo Thời gian qua, yêu cầu xét xửkịp thời chưa được quan tâm trong lý luận, trong quan điểm lập pháp cũngnhư thực tiễn tố tụng ở nước ta, bởi khó nhận ra sự vi phạm quyền con ngườitrong việc trì hoãn xét xử bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác

Việc xét xử kịp thời không chỉ có ý nghĩa đối với người bị buộc tội màcòn có ý nghĩa đối với việc thực hiện các nhiệm vụ của tố tụng hình sự, bảođảm xử lí tội phạm nhanh chóng, mặt khác giúp cho các quan hệ xã hội, trật

tự xã hội sớm được ổn định, các thiệt hại do tội phạm gây ra được khắc phụckịp thời, bảo đảm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân

Thứ hai, Xét xử công bằng được hiểu là xét xử “theo đúng lẽ phải,không thiên vị” Điều này có nghĩa là, trong hoạt động xét xử, Tòa án phảibảo đảm xét xử theo đúng quy định của pháp luật, không phân biệt thànhphần, địa vị xã hội, giới tính, tôn giáo, dân tộc của người bị buộc tội Trênmột phương diện nào đó, có thể coi đây là sự cụ thể hóa nội dung của nguyêntắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật ghi nhận tại Điều 9 Bộ luậtTTHS năm 2015

Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bìnhđẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tínngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội Bất cứ người nào

Trang 38

trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phầnkinh tế [25, Điều 9].

Nguyên tắc này đòi hỏi tòa án xét xử công bằng Thể hiện, người bịbuộc tội phải được xét xử bởi một phiên tòa mà ở đó họ được thực hiện cácquyền của mình trong tố tụng hình sự mà Hiến pháp và pháp luật quy địnhnhư: Được biết lý do mình bị khởi tố; được thông báo về phiên tòa; được bàochữa hay nhờ người bào chữa (Có đủ thời gian và điều kiện thuận lợi đểchuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn),được tranh luận tại phiên tòa, đưa ra các chứng cứ và yêu cầu, được xét xử màkhông bị trì hoãn một cách vô lý…

Phiên tòa công bằng là phiên tòa mà ở đó quyền của các bên tham gia

tố tụng được đảm bảo và đúng trình tự, thủ tục luật định, cụ thể như:

Được có mặt trong khi xét xử ( quyền được tham gia phiên tòa) Tạođiều kiện để bị cáo thực hiện các quyền tố tụng quan trọng của mình nhưquyền bào chữa, quyền tranh luận, quyền đưa ra tài liệu, chứng cứ để Hộiđồng xét xử có sự nhìn nhận, đánh gia khách quan, từ đó quyền lợi hợp phápcủa bị cáo sẽ được bảo đảm hơn;

Được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọncủa mình để đưa ra những lý lẽ, lập luận chứng minh mình không phạm tội,không liên quan đến vụ án hoặc giảm nhẹ hình phạt; không bị buộc phải đưa

ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội, đượcthông báo về quyền này nếu chưa có sự trợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợgiúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi vàkhông phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả Đây là

Trang 39

quy định để bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền cá nhân và gópphần ngăn ngừa, kiểm soát việc lạm quyền, vi phạm pháp luật của các cá nhântrong các cơ quan bảo vệ pháp luật Trong vụ án hình sự, bị cáo là người dưới

18 tuổi, người có nhược điểm về tinh thần hoặc thể chất, nếu bị cáo hoặcngười nhà của bị cáo không mời luật sư bào chữa, thì cơ quan có thẩm quyềnphải chỉ định người bào chữa cho họ

Được trình bày ý kiến, quan điểm, tranh luận tại phiên tòa, thẩm vấnhoặc yêu cầu thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình, và được mời ngườilàm chứng gỡ tội cho mình tới phiên tòa và thẩm vấn họ tại tòa với nhữngđiều kiện tương tự như đối với những người làm chứng buộc tội mình

Đồng thời, tố tụng áp dụng đối với những người dưới 18 tuổi phải xemxét tới độ tuổi của họ và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách của họ Bất

cứ người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu tòa án cấp cao hơnxem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật

Khi một người bị kết án về một tội hình sự bởi một quyết định chungthẩm và sau đó bản án bị hủy bỏ, hoặc người đó được tha trên cơ sở tình tiếtmới hoặc phát hiện mới cho thấy rõ ràng có sự xét xử oan, thì người đã phảichịu hình phạt theo bản án trên, theo luật, có quyền yêu cầu được bồi thường,trừ trường hợp cơ quan tố tụng chứng minh rằng việc sự thật không được làmsáng tỏ tại thời điểm đó hoàn toàn hoặc một phần là do lỗi của người bị kết ángây ra

Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng.Quyền được xét xử kịp thời, công bằng là một nhân quyền cơ bản và có tínhphổ quát cao, tồn tại trong các vụ án hình sự Việc đối xử với một người khi

Trang 40

họ bị buộc tội phản ánh rõ Nhà nước tôn trọng nhân quyền đến mức nào, bởivậy, quyền được xét xử công bằng đã được coi là một hòn đá tảng của các xãhội dân chủ Giống như đặc tính của mọi nhân quyền là phụ thuộc lẫn nhau,quyền được xét xử công bằng với các quyền khác có mối quan hệ hai chiều.Một phiên tòa công bằng, là yếu tố thiết yếu để đảm bảo các quyền cơ bảnkhác của con người như quyền sống, quyền được an toàn về thân thể, tự dongôn luận…

Thứ ba, Việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi ngườiđều có quyền tham dự Thông thường, việc xét xử được tiến hành ở trụ sở củaTòa án Người dưới 16 tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợpđược Tòa án mời, triệu tập để xét hỏi (khoản 5 Điều 246 BLTTHS 2015) Tuynhiên, thực tế đối với những vụ án quan trọng, số người muốn tham dự đông,Tòa án chỉ có thể mời một số đại biểu cơ quan, đoàn thể và cho phép một sốngười vào tham dự để phù hợp với chỗ ngồi của phòng xử án để đảm bảo trật

tự phiên tòa Trong trường hợp đặc biệt thì Tòa án có thể xử kín nhưng phảituyên án công khai; đó là những trường hợp sau: cần giữ bí mật nhà nước, cầngiữ thuần phong, mỹ tục của dân tộc (một số tội phạm về tình dục, tội phạm

mà bị cáo là người dưới 18 tuổi), cần bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ

bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự Ví dụ, trong những vụhiếp dâm, người bị hại phải kể tỉ mỉ các tình tiết của vụ án, người giám địnhcũng cần đưa ra kết luận về người bị hại… Nếu xét xử công khai sẽ ảnhhưởng đến danh dự, bí mật đời tư, hạnh phúc gia đình hoặc tương lai củangười bị hại; do vậy, trong một số trường hợp quy định hoặc khi người bị hạiyêu cầu thì tòa án phải xem xét, quyết định việc xử kín Nếu tòa án xét xử kínthì người không có nhiệm vụ không được tham dự phiên tòa xét xử đối với

Ngày đăng: 15/08/2023, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Cảm (chủ biên) (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam(Phần chung)
Tác giả: Lê Văn Cảm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
2. Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Sách chuyên khảo Sau đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hìnhsự (Phần chung)
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốcgia Hà Nội
Năm: 2005
3. Lê Văn Cảm (chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam(Phần các tội phạm)
Tác giả: Lê Văn Cảm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2007
4. Lê Lan Chi (2014), “Ảnh hưởng của mô hình tố tụng hình sự tới tính độc lập của tòa án”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (8), tr. 66 – 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của mô hình tố tụng hình sự tới tínhđộc lập của tòa án”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Lê Lan Chi
Năm: 2014
5. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) Trịnh Tiến Việt, Trần Thu Hạnh, Nguyễn Thị Lan (2015), Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) Trịnh Tiến Việt, Trần Thu Hạnh, Nguyễn Thị Lan
Nhà XB: NxbHồng Đức
Năm: 2015
6. Nguyễn Ngọc Chí, Giáo trình các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hìnhsự
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
7. Phí Thành Chung (2016), “Phân hóa trách nhiệm hình sự của đồng phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân hóa trách nhiệm hình sự của đồngphạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, "Tạp chí Nhà nước vàPháp luật
Tác giả: Phí Thành Chung
Năm: 2016
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/05/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày26/05/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luậtViệt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
11. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Phần chung, Nxb Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sựnăm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Nhà XB: Nxb Tư pháp
12. Nguyễn Văn Huyên, Lê Lan Chi, Nguyễn Minh Khuê (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luậnkhoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên, Lê Lan Chi, Nguyễn Minh Khuê
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2016
13. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2010), Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, 1948, Nxb Lao động, xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn quốc tế nhânquyền, 1948
Tác giả: Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2010
14. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Công ướcquốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR)
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
16. Nguyễn Trần Như Khuê (2017), “Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng và công khai theo Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý, 4(107), tr. 63 - 66, 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc xét xử kịp thời, côngbằng và công khai theo Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”,"Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Nguyễn Trần Như Khuê
Năm: 2017
17. Đỗ Thị Kiều (2017), Quyền xét xử công bằng và vấn đề đảm bảo quyền được xét xử công bằng ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền xét xử công bằng và vấn đề đảm bảo quyềnđược xét xử công bằng ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Kiều
Năm: 2017
19. Hoàng Phê (2005), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2005
20. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 – Phần thứ nhất: Những quy định chung, Nxb Thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 – Phầnthứ nhất: Những quy định chung
Nhà XB: Nxb Thông tin và truyền thông
26. Hoàng Thị Sơn, Bùi Kiên Điện (1999), Những nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên tắc cơ bản củaLuật Tố tụng Hình sự Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Sơn, Bùi Kiên Điện
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
27. Phạm Ngọc Thành (2014), Vai Trò Của Thực Tiễn Xét Xử Trong Việc Phát Triển Và Hoàn Thiện Các Quy Định Của Phần Chung Luật Hình Sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai Trò Của Thực Tiễn Xét Xử Trong ViệcPhát Triển Và Hoàn Thiện Các Quy Định Của Phần Chung Luật HìnhSự Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Thành
Năm: 2014
29. Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng hình sựViệt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2018

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu vụ án vi phạm nguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai trong giai đoạn 5 năm từ năm 2017-2021 - NGUYÊN TẮC XÉT XỬ KỊP THỜI, CÔNG BẰNG,  CÔNG KHAI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Bảng s ố liệu vụ án vi phạm nguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai trong giai đoạn 5 năm từ năm 2017-2021 (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w