Sáp nhập dọc: Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó Sáp nhập mở rộng thị trường: Diễn ra đối với hai
Trang 1Nội dung bài làm:
Bài viết đánh giá thực trạng M&A trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại việt nam gồm 3 chương:
1 Khái niệm về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp
2 Sự cộng hưởng trong M&A
3 Phân loại M&A
4 Phương thức thực hiện mua bán và sát nhập doanh nghiệp
Phần II: THỰC TRẠNG
1 Vài nét sơ qua về thực trạng M&A trên thế giới
2 Khái quát về tình hình mua bán và sáp nhập tại Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực
3 Nhân tố tác động tới M&A tài chính ngân hàng thời gian gần đây
4 Tổng quan hoạt động M&A trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
từ năm 1998 tới nay
Phần III: XU HƯỚNG
1 Xu hướng những năm gần đây.
2 Định hướng tương lai của hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng.
3 Giải pháp phát triển M&A
4 Kết Luận
Trang 2M&A (mua lại và sáp nhập) dường như trở thành một cụm từ được phát âm cùng nhau, cùng nghĩa với nhau, tuy nhiên trên thực tế chúng có những điểm khác biệt và cần hiểu rõ giữa sáp nhập và mua lại:
Sáp nhập: là hình thức kết hợp mà hai công ty thường có cùng quy mô, thống nhất
gộp chung cổ phần Công ty bị sáp nhập chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công
ty bị sáp nhập để trở thành một công ty mới
Mua lại: là hình thức kết hợp mà một công ty mua lại hoặc thôn tính một công ty
khác, đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới Tuy nhiên thương vụ này không làm ra đời một pháp nhân mới
Hợp nhất : là hai hoặc một số công ty cùng loại ( công ty bị hợp nhất) có thể hợp
nhất thành một công ty mới ( công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang
1.2 Phân biệt hợp nhất, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp
Mặc dù Mua bán và Sáp nhập thường được đề cập cùng nhau nhưng hai thuật ngữ Mua bán và Sáp nhập vẫn có sự khác biệt về bản chất
Khi một công ty mua lại hoặc thôn tính một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sởhữu mới thì thương vụ đó được gọi là Mua bán Dưới khía cạnh pháp lý, công ty bị mua lại không còn tồn tại, bên mua đã “nuốt chửng” bên bán và cổ phiếu của bên muakhông bị ảnh hưởng
Theo nghĩa đen, Sáp nhập diễn ra khi hai doanh nghiệp, thường có cùng quy mô, đồngthuận hợp nhất lại thành một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ Loại hình này thường được gọi là “Sáp nhập ngang bằng” Cổ phiếu của cả hai công ty sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếu của công ty mới sẽ được phát hành Một thương vụ Mua bán cũng có thể được gọi là Sáp nhập khi cả hai bên đồng thuận liên kết cùng nhau vì lợi ích chung Nhưng khi bên bị mua không không muốn bị thâu tóm thì sẽ được coi
là một thương vụ Mua bán Một thương vụ được coi là Mua bán hay Sáp nhập hoàn toàn phụ thuộc vào việc, thương vụ đó có được diễn ra một cách thân thiện giữa hai bên hay bị ép buộc thâu tóm nhau
Trang 32 Sự cộng hưởng trong M&A
Là động cơ quan trọng nhất giải thích cho mọi thương vụ Mua bán hay Sáp nhập Cộng hưởng giúp nâng cao hiệu quả và giá trị của doanh nghiệp mới Lợi ích mà các doanh nghiệp kỳ vọng sau mỗi thương vụ M&A bao gồm:
• Giảm nhân viên: khi hai hay nhiều doanh nghiệp Sáp nhập lại đều có nhu cầu giảm
việc làm, đặc biệt với công việc văn phòng, tài chính kế toán hay marketing Điều này đòi hỏi doanh nghiệp tăng năng suất lao động, cũng cũng là dịp để các doanh nghiệp sa thải những vị trí làm việc kém hiệu quả
• Đạt được hiệu quả dựa vào quy mô: Một doanh nghiệp lớn sẽ có ưu thế hơn khi
tiến hành giao dịch hoặc đàm phán với các đối tác Mặt khác,quy mô lớn cũng giúp doanh nghiệp giảm thiểu được các chi phí phát sinh không cần thiết
• Trang bị công nghệ mới: Thông qua việc Mua bán hoặc Sáp nhập, các công ty có
thể chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cho nhau, từ đó, công ty mới có thể tận dụng công nghệ được chuyển giao nhằm tạo lợi thế cạnh tranh
• Tăng cường thị phần và danh tiếng trong ngành: Một trong những mục tiêu của
Mua bán & Sáp nhập là nhằm mở rộng thị trường mới, tăng trưởng doanh thu và thu nhập Sáp nhập cho phép mở rộng các kênh marketing và hệ thống phân phối Cộng hưởng là động cơ quan trọng và kì diệu nhất giải thích cho mọi thương vụ Mua bán hay Sáp nhập Cộng hưởng sẽ cho phép hiệu quả và giá trị của doanh nghiệp mới (saukhi Sáp nhập) được nâng cao Lợi ích mà các doanh nghiệp kỳ vọng sau mỗi thương
vụ M&A bao gồm:
• Giảm nhân viên: Thông thường, khi hai hay nhiều doanh nghiệp Sáp nhập lại đều
có nhu cầu giảm việc làm, nhất là các công việc gián tiếp như: công việc văn phòng, tài chính kế toán hay marketing Việc giảm thiểu vị trí công việc cũng đồng thời với đòi hỏi tăng năng suất lao động Đây cũng là dịp tốt để các doanh nghiệp sa thải những vị trí làm việc kém hiệu quả
• Đạt được hiệu quả dựa vào quy mô: Một doanh nghiệp lớn sẽ có ưu thế hơn khi
tiến hành giao dịch hoặc đàm phán với các đối tác Mặt khác, quy mô lớn cũng giúp doanh nghiệp đó giảm thiểu được các chi phí phát sinh không cần thiết
• Trang bị công nghệ mới: Để duy trì lợi thế cạnh tranh, bản thân các công ty luôn
cần sự đầu tư về kỹ thuật và công nghệ để vượt qua các đối thủ khác Thông qua việc Mua bán hoặc Sáp nhập, các công ty có thể chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cho nhau, từ đó, công ty mới có thể tận dụng công nghệ được chuyển giao nhằm tạo lợi thế cạnh tranh
• Tăng cường thị phần và danh tiếng trong ngành: Một trong những mục tiêu của
Mua bán & Sáp nhập là nhằm mở rộng thị trường mới, tăng trưởng doanh thu và thu nhập Sáp nhập cho phép mở rộng các kênh marketing và hệ thống phân phối Bên cạnh đó, vị thế của công ty mới sau khi Sáp nhập sẽ tăng lên trong mắt cộng đồng đầutư: công ty lớn hơn có lợi thế hơn và có khả năng tăng vốn dễ dàng hơn một công ty nhỏ
Trên thực tế, sự cộng hưởng sẽ không tự đến nếu không có sự Mua bán & Sáp nhập Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, khi hai công ty tiến hành Sáp nhập lại có hiệu ứng ngược lại Đó là trường hợp: một cộng một lại nhỏ hơn hai Do đó, việc phân tíchchính xác mức độ cộng hưởng trước khi tiến hành những thương vụ M&A rất quan trọng Khá nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đã cố tình vẽ ra bức tranh cộng hưởng để tiến hành các vụ M&A nhằm trục lợi từ việc định giá doanh nghiệp Vị thế của công
ty mới sau khi Sáp nhập sẽ tăng lên, công ty lớn hơn khả năng tăng vốn dễ hơn một công ty nhỏ
Trên thực tế, sự cộng hưởng sẽ không tự đến nếu không có sự Mua bán & Sáp nhập
Trang 4Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, khi hai công ty tiến hành Sáp nhập lại có hiệu ứng ngược lại Đó là trường hợp: một cộng một lại nhỏ hơn hai Do đó, việc phân tíchchính xác mức độ cộng hưởng trước khi tiến hành những thương vụ M&A rất quan trọng
3 Phân loại M&A
3.1.Dựa trên mối quan hệ giữa các doanh nghiệp mua bán và sát nhập
Sáp nhập ngang (hay còn gọi là Sáp nhập cùng ngành): Diễn ra đối với hai công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và sản xuất cùng dòng sản phẩm và thị trường
Sáp nhập dọc: Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng( giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó)
Sáp nhập mở rộng thị trường: Diễn ra đối với hai công ty bán cùng loại sản phẩm nhưng ở những thị trường khác nhau
Sáp nhập mở rộng sản phẩm: Diễn ra đối với hai công ty bán những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau trong cùng một thị trường
Sáp nhập kiểu tập đoàn: hai công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưngmuốn đa dạng hóa hoạt động lĩnh vực kinh doanh đa ngành nghề
3.2 Phân loại dựa trên cơ cấu tài chính
Sáp nhập mua: xảy ra khi một công ty mua lại một công ty khác
Sáp nhập hợp nhất: tạo ra một thương hiệu công ty mới được hình thành và cả hai công ty được hợp nhất dưới một pháp nhân mới Tài chính của hai công ty
sẽ được hợp nhất trong công ty mới
4 Phương thức thực hiện mua bán và sát nhập doanh nghiệp
4.1 Đề nghị thầu
Là hình thức doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư có ý định mua toàn bộ doanh nghiệp mục tiêu, đề nghị các cổ đông hữu của doanh nghiệp đó bán lại cổ phần của họ với một mức giá cao hơn giá thị trường rất nhiều Giá chào mua thường phải đủ hấp dẫn để đa
số cổ đông tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu cũng như quản lý doanh nghiệp của mình;
4.2 Ủy quyền hành động
Là hình thức doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư lôi kéo cổ đong bất mãn của bên bán, dựa vào đối tượng này loại bỏ ban quản trị cũ, lập hội đồng quản trị mới
4.3 Thương lượng tự nguyện
Là hình thức phổ biến trong các vụ sáp nhập mang tính tự nguyện Khi hai doanh nghiệp nhận thấy các lợi ích tương đồng về văn hóa tổ chức, hoặc thị phần, sản phẩm người điều hành các bên tham gia cùng thương lượng để đạt tới thỏa thuận chung cùng có lợi
Trang 54.4 Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Là hình thức doanh nghiệp có ý định thâu tóm sẽ mua dần cổ phiếu của công ty mục tiêu trên thị trường chứng khoán cho đến khi đạt được tỷ lệ sở hữu nhất định tại công
ty này
4.5 Mua lại tài sản doanh nghiệp:
Là hình thức doanh nghiệp sáp nhập có thể đơn phương hoặc cùng doanh nghiệp mục tiêu định giá tài sản của doanh nghiệp Sau đó các bên sẽ tiến hành thương thảo để đưa ra mức giá phù hợp Bên mua tiến hành mua lại tài sản của công ty mục tiêu, không mua phần vốn nhằm tránh các khoản nợ của công ty mục tiêu
Hiệu quả kinh tế: Việc mua lại và hợp nhất doanh nghiệp làm cho doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn hơn, chi phí cố định giảm bớt hoặc không tăng,
do đó làm tăng hiệu quả sản xuất
Việc tăng quy mô sản xuất sẽ đem lại sự cộng hưởng như chúng tôi đã trình bày ở trên
Hiệu quả tài chính: Hiệu quả tài chính qua các giao dịch mua lại có thể là nguồn lợi nhuận kỳ vọng, hoặc có thể đem lại những khoản tiết kiệm như sự giảm thuế, giảm chi phí phát hành chứng khoán, tăng khả năng huu động vốn vay, và giảm chi phí sử dụng vốn
Động lực phát triển của doanh nghiệp: Việc mua lại hay sáp nhập doanh nghiệp sẽ mang lại hiệu quả cao hơn cho doanh nghiệp do thế lực cạnh tranh của doanh nghiệp mạnh hơn trước rẩ nhiều Ngoài ra việc mua lại hay sáp nhập doanh nghiệp là một cách làm hiệu quả và tốn ít thời gian để phát triển quy mô của doanh nghiệp
Động lực đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh:
Đa dạng hóa đầu tư có tác dụng làm giảm rủi ro của doanh nghiệp Việc đầu tưmua một doanh nghiệp không cùng tuyến sản phẩm sẽ đem lại cho công ty một nguồn thu nhập ổn định hơn Đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh sẽ mang lại cho công ty nhiều lợi nhuận hơn cho các cổ đông sau khi hợp nhất
Trang 6PHẦN II: THỰC TRẠNG
1 Vài nét sơ qua về thực trạng M&A trên thế giới
Tổng giá trị của những vụ sáp nhập, mua lại doanh nghiệp (M&A) trên thế giới năm
2008 lên tới 3.460 tỷ USD Giới phân tích dự đoán, cơn sốt M&A sẽ còn tiếp diễn trong năm nay và những năm tới
Theo giới phân tích, các vụ M&A từ năm 2008 tới nay không chỉ đáng chú ý ở con số
mà còn lập kỷ lục ở quy mô giá trị hợp đồng
Mở đầu năm 2009 là cuộc sáp nhập trị giá 39,5 tỷ USD giữa đại gia thép của Pháp
Arcelor và đối thủ Mittal Steel hồi tháng 1 Đến tháng 2, thế giới lại được phen choáng khi tập đoàn Endesa của Tây Ban Nha nhận được lời đề nghị mua hấp dẫn củatập đoàn năng lượng Đức E.ON với giá 66 tỷ USD
Song, con số trên vẫn chưa phải là lớn bởi đến tháng 3, đại gia viễn thông của Mỹ AT&T đã đồng ý mua lại đối thủ BellSouth với giá lên tới 83,4 tỷ USD
Hãng Reuters đã sáp nhập với Thomson - Một trong những ví dụ điển hình về M&A
Ảnh: AFP.
Các chuyên gia cho rằng, một trong những nguyên nhân giúp giá trị các vụ sáp nhập ngày một gia tăng là xu hướng cổ phần hóa, tư nhân hóa đang trở nên phổ biến hơn ở nhiều nước, đặc biệt là tại các nền kinh tế đang phát triển, tạo nguồn hàng dồi dào hơncho các nhà đầu tư đang có tiền nhàn rỗi
Trao đổi với VnExpress, ông Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu Hội nhập kinh tế
quốc tế, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương cho biết, xu hướng sáp nhập, mua lại doanh nghiệp đã xuất hiện từ lâu trên thế giới nhưng đặc biệt trở nên mạnh
Trang 7mẽ trong khoảng 10 năm trở lại đây - sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm
1997
Trong khoảng thời gian đó, các vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp diễn ra mạnh mẽ
ở hầu hết các lĩnh vực, từ bán lẻ, ngân hàng, cho tới truyền thông
Theo ông Thành có nhiều nhân tố thúc đẩy các doanh nghiệp sẵn sàng thực hiện các
vụ M&A Thứ nhất, các công ty muốn sáp nhập với doanh nghiệp khác để làm bàn đạp chinh phục thị trường mới Chẳng hạn cách đây hai năm, hãng sản xuất trang phục thể thao Adidas của Đức đã quyết định mua lại đối thủ Reebok của Mỹ với giá 3,1 tỷ euro (3,8 tỷ USD) nhằm mở rộng sang thị trường Mỹ và cạnh tranh với Nike
Ngoài ra theo ông Thành, các doanh nghiệp cũng thông qua việc sáp nhập để tăng quy
mô và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường
Vụ sáp nhập gần đây nhất giữa hai hãng truyền thông nổi tiếng thế giới Thomson và Reuters là ví dụ điển hình Hai đại gia này hy vọng sẽ hình thành một hãng cung cấp tin tức tài chính lớn nhất thế giới nhằm cạnh tranh với đối thủ truyền kiếp Bloomberg.Giới phân tích cho rằng, với tên gọi mới Thomson-Reuters, hai bên sẽ hỗ trợ lẫn nhau
để tăng danh tiếng chung và giảm chi phí hoạt động của cả tập đoàn khoảng 500 triệu USD trong vòng 3 năm tới
Theo ông Trần Duy Hưng, Giám đốc Công ty First Asia Limited, có những trường hợp, doanh nghiệp đang làm ăn rất phát đạt và có tên tuổi vẫn sẵn sàng chịu để doanh nghiệp khác mua lại Ông Hưng cho rằng, điều này là hoàn toàn bình thường bởi trên thế giới người ta quan niệm "cái gì cũng có thể bán miễn là giá mua hấp dẫn"
Mới đây, Công ty chứng khoán Dow Jones, chủ sở hữu tờ Wall Street Journal, cho
biết họ đã chấp thuận lời đề nghị để Công ty News của tỷ phú Rupert Murdoch mua lại quyền sở hữu với giá 5 tỷ USD Tuy vụ mua bán này vẫn chưa hoàn tất, song với cái giá hấp dẫn 60 USD/cổ phiếu mà News đưa ra, nhiều ý kiến cho rằng Dow Jones khó mà cưỡng lại được
2 Khái quát về tình hình mua bán và sáp nhập tại Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực
Tại Việt Nam, vấn đề M&A không phải là mới Mười năm về trước, Ngân hàng Nhànước đã có hẳn một Quy chế về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng cổ phần,
đó là tiền đề pháp lý quan trọng cho những cuộc M&A ngân hàng diễn ra vào các năm
1997, 1998, 1999, 2001, 2003 Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn với quy mô nhỏ đã được M&A như Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã M&A hàng loạt các ngân hàng thương mại khác như Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Trang 8Nông thôn Đồng Tháp, Châu Phú, Đại Nam, Nông thông Cái Sắn; Ngân hàng Thươngmại Cổ phần Đông Á đã M&A Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tứ giác Long
Xuyên; Sacombank M&A Ngân hàng Thạnh Thắng; Ngân hàng Thương mại Cổ phầnPhương Đông M&A với Ngân hàng Nông thôn Tây Đô
Từ năm 2005 trở lại đây, hoạt động mua lại, hợp nhất, sáp nhập các ngân hàng trong nước đã ít đi Tuy nhiên, với tư cách là một hình thức M&A, hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần của NĐT trong và ngoài nướcđể trở thành cổ đông chiến lược đã diễn ra mạnh mẽ và cũng được quy định khá rõ ràng bằng văn bản, nhất là sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO với hàng loạt các cam kết về mở rộng thị trường tài chính, ngân hàng Cụ thể như sau:
Đối với hoạt động đầu tư, góp vốn, mua cổ phần để trở thành cổ đông chiến lược trong nước, Nhà nước cũng đã ban hành các văn bản điều chỉnhhoạt động góp vốn, mua cổ phần cho NĐT trong nước đầu tư vào thị trường Việt Nam nói chung, thị trường ngân hàng nói riêng như Luật Doanh nghiệp (năm 2005), Luật Chứng khoán (năm 2006) và các văn bản hướng dẫn thi hành, Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế cấp giấy phép thành lập ngân hàng, các giới hạn về đầu tư, góp vốn của ngân hàng thương mại, Quyết định số
457/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quyđịnh về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, Quyết định
03/2007/QĐ - NHNN, Quyết định số 34/2008/QĐ-NHNN về việc sửa đổi
bổ sung Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN Một số định chế tài chính lớn của Việt Nam như Vietcombank, BIDV, Viettel cũng đã góp vốn, đầu tư để trở thành cổ đông chiến lược của một số ngân hàng nhỏ
Đối với hoạt động đầu tư, mua cổ phần để trở thành cổ đông chiến lược nước ngoài, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 về việc NĐT nước ngoài mua cổ phần của Ngân hàng Thương mại Việt Nam và để cụ thể hơn, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông
tư số 07/2007/TT- NHNN ngày 29/11/2007, hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 69/2007/NĐ-CP, theo đó NĐT chiến lược nước ngoài là tổ chức tín dụng nước ngoài có uy tín, có năng lực tài chính và khả năng hỗ trợ Ngân hàng Việt Nam trong phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị, điều hành và áp dụng công nghệ hiện đại; có lợi ích chiến lược phù hợp với chiến lược phát triển của Ngân hàng Việt Nam Theo các quy định này thì tổng mức sở hữu cổ phần của NĐT nước ngoài (bao gồm cả cổ đông nước ngoài hiện hữu) và những người có liên quan của các NĐT nước ngoài đó không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam Đồng thời, mỗi loại hình NĐT khác nhau được quyền sở hữu tỷ lệ cổ phần khác nhau và điều kiện cho mỗi NĐT cũng là khác nhau Mức sở hữu cổ phần của một NĐT nước ngoài không phải là tổ chức tín dụng nước ngoài và người có liên quan của NĐT nước ngoài đó không vượt quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam Mức sở hữu cổ phần của một tổ chức tín dụng nước ngoài và người
Trang 9có liên quan của tổ chức tín dụng nước ngoài đó không vượt quá 10% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam Mức sở hữu cổ phần của NĐT chiến lược nước ngoài và người có liên quan của NĐT chiến lược nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.
Do đó, trong thời gian vừa qua, đã có hàng loạt định chế tài chính lớn của nước ngoài như HSBC, ANZ, Sumit-Ormo Mitsui Banking, VOF Investment Limited Bristish Virgin Island, IFC, Mirae Asset, Deutscher Bank AG, OCBC, Maybank, BNP
Paribas đã đầu tư, mua cổ phần để trở thành các cổ đông chiến lược nước ngoài tại các ngân hàng Việt Nam
Ở Việt Nam, hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) mới được quan tâm kể từ khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời và trở nên sôi động hơn trong vài năm trở lại đây Đặcbiệt, năm 2009, trong khi hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) trên thế giới sụt giảm mạnh thì hoạt động M&A tại Việt Nam lại ngược dòng, gia tăng đáng
kể về số lượng Theo thống kê chưa đầy đủ, riêng năm qua, tại Việt Nam đã có
khoảng 278 thương vụ được công bố với trị giá khoảng 1,1 tỷ USD Đây là con số hết sức bất ngờ, bởi cho đến nửa đầu năm 2009, các thương hiệu M&A tại Việt Nam vẫn khá trầm lắng Nhưng trong những tháng cuối năm, các hoạt động này trở nên sôi động với hàng loạt thương vụ đình đám
Theo nghiên cứu của Công ty PricewaterhouseCoopers (PwC) và Thomson Reuters, tổng số các giao dịch mua bán sáp nhập (M&A) tại Việt Nam trong năm 2009 là 295 thương vụ, tăng 77% so với năm 2008.
Tổng giá trị các giao dịch M&A trong năm 2009 là 1,138 tỷ USD trong đó 200 giao dịch là giữa các công ty trong nước, 90 giao dịch là giữa công ty nước ngoài
mua/sáp nhập công ty trong nước và 5 giao dịch thực hiện bởi công ty Việt Nam mua/ sáp nhập với công ty ở nước ngoài.-
Trang 10Triển vọng M&A 2010: Các chuyên gia phân tích độc lập dự kiến rằng tăng trưởng GDP năm 2010 sẽ đạt khoảng 6% Cùng lúc đó, các chuyên gia phân tích của PwC
dự kiến giao dịch M&A ở tất cả các ngành nghề sẽ tăng trưởng trong năm 2010, trong đó các thương vụ giữa các doanh nghiệp trong nước vẫn tiếp tục tăng nhanh do các doanh nghiệp Việt Nam đang tăng trưởng tìm kiếm các mục tiêu sáp nhập & mua lại để đầu tư tiền nhãn rỗi của họ và thúc đẩy tăng trưởng cao hơn.
Các giao dịch trong nước mang tính chiến lược cũng như các thương vụ vốn sở hữu
tư nhân cũng được coi là những diễn biến tạo nên xu hướng tích cực trong năm 2010, được tạo nên bởi sự phục hồi của kinh tế toàn cầu cùng cảm nhận tích cực có được nhờ sự tăng trưởng với tốc độ mạnh mẽ của Việt Nam bất chấp cuộc khủng khoảng mới đây.
Bên cạnh đó, trong tuần đầu tiên của tháng 1, Chính phủ đã thông báo một cách cụ thể dự định khởi động lại tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong năm
2010 Động thái này có thể đưa đến một số thương vụ có qui mô lớn trong năm nay.Một sáng kiến quan trọng khác của Chính phủ, có thể có ảnh hưởng đáng kể đối với môi trường của hoạt động M&A trong năm 2010 là việc sáp nhập theo dự kiến của các doanh nghiệp nhà nước do nhu cầu hợp lý hóa hoạt động của các doanh nghiệp này và cải thiện năng lực cạnh tranh trong hoạt động xuất khẩu để giảm thâm hụt thương mại
Ví dụ, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 1, ba doanh nghiệp sản xuất thủy sản thuộc sở hữu nhà nước sẽ sáp nhập với nhau để thành lập Tổng công
ty Thủy sản Việt Nam (sau các sản phẩm dệt may và dầu thô, thủy sản là loại hàng xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam)
Các chuyên gia của PwC cũng cho biết, xu hướng M&A trong năm 2010 sẽ tập trung ở một số ngành như: nhóm hàng tiêu dùng nhanh, giải trí và truyền thông, ngành dịch vụ tài chính, bất động sản Ngoài ra, một số ngành khác cũng sẽ thu hút M&A như: các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào cho nhóm hàng tiêu dùng nhanh,khu vực sản xuất hàng dệt may, khu vực bán lẻ
Kinh tế khủng hoảng, hậu quả tất yếu sẽ có hàng loạt DN gặp khó khăn và phá sản
Để vượt qua khó khăn, nhiều DN sẽ phải cơ cấu lại Đây chính là cơ hội cho mua, bán
và sáp nhập DN
Trong những năm gần đây, hoạt động mua bán và sáp nhập DN (M&A) ở Việt Nam
đã thực sự sôi động và trở thành vấn đề thời sự trên thị trường tài chính Các con số thống kê cho thấy, năm 2005 chỉ có 18 thương vụ M&A với tổng giá trị là 61 triệu USD, năm 2006 có 32 vụ với tổng giá trị là 245 triệu USD thì chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2007, số vụ M&A là 46 vụ, đạt tổng giá trị là 626 triệu USD (gấp đôi so với
cả năm 2006 và gấp 15 lần so với cùng kỳ năm 2006)
Trang 11Trong một khía cạnh khác của M&A là chuyển nhượng dự án cũng đang diễn ra rất sôi động Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì tính đến 31/12/2007 có 1.092 dự án có chuyển nhượng vốn, với tổng giá trị 16,8 tỷ USD Đánh giá về xu hướng M&A trên thị trường Việt Nam, ông Phan Hữu Thắng - Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho rằng, Việt Nam là một nền kinh tế trẻ, có tốc độ tăng trưởng cao, hội tụ được các yếu tố hấp dẫn cho thị trường M&A Theo ông Thắng, trong kế hoạch phát triển 500.000 doanh nghiệp tới năm 2010, dự kiến có tới 35-50% số doanh nghiệp của Việt Nam trong vòng 6-10 năm tới có thể sáp nhập hoặc
bị sáp nhập với các đối tác Nguyên nhân là do sự cạnh tranh trên thị trường, do xuất hiện các cơ hội kinh doanh mới, nhu cầu mở rộng kinh doanh hoặc cần thiết phải thay đổi hướng đầu tư, hay chỉ đơn giản là do đề nghị hấp dẫn từ phía người mua
“Trong những năm tới, hoạt động M&A sẽ phát triển mạnh mẽ và tác động sâu sắc tớicách thức kinh doanh, góp phần quan trọng trong việc tái cấu trúc nền kinh tế của ViệtNam” ông Thắng nhấn mạnh
Những tháng đầu năm 2008, tình hình kinh tế khó khăn, thị trường vốn khá ảm đạm nhưng không vì thế mà hoạt động M&A bị ngừng lại Thông tin sơ bộ cho thấy, từ đầu năm 2008 đến nay, các hoạt động M&A cũng diễn ra khá mạnh mẽ, thể hiện thông qua một số thương vụ như: Indochina Capital Vietnam Holding mua 20% cổ phần của Công ty Thời trang Việt – Ninomaxx, Tập đoàn Goldman Sachs đầu tư 30%
cổ phần của Công ty cổ phần Diana, hay việc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho Eximbank bán 25% vốn điều lệ cho 4 nhà đầu tư nước ngoài là: Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC), VOF Investment Limited-British Virgin
Islands, Mirae Asset Exim Investment Limited thuộc tập đoàn Mirae Asset Hàn Quốc
và Mirae Asset Maps Opportunity Vietnam Equity Balanced Fund 1
Điểm qua các vụ M&A cho thấy, việc sáp nhập và mua bán DN đang diễn ra mạnh
mẽ hơn những gì chúng ta cảm nhận Rất nhiều các đại gia tài chính thế giới đã có mặt tại Việt Nam và bước đi đầu tiên họ thể hiện sức mạnh của mình trên thị trường chính là việc mua lại một phần, góp vốn hay thậm chí mua đứt các DN Việt Nam Điều đó cho thấy M&A ở Việt Nam thực sự là một thị trường tiềm năng
Bất chấp những khó khăn kinh tế vĩ mô, Việt Nam vẫn là một thị trường mua lại, sáp nhập hấp dẫn Theo báo cáo mới nhất của công ty kiểm toán
PricewaterhouseCoopers (PwC) công bố ngày 29/7, trong 6 tháng đầu năm 2008 đã
có 48 thương vụ mua lại, sáp nhập (M&A) được thực hiện tại Việt Nam với tổng giá trị là 347 triệu USD
Theo PwC, một số thương vụ M&A điển hình trong 6 tháng đầu năm 2008 có thể kể
Trang 12đến là: Swiss Re mua lại 25% cổ phần tại công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (tháng 1/2008) với trị giá 81,9 triệu USD; Kamaz Inc - tập đoàn sản xuất ôtô của Nga
- mua 12,5% cổ phần của công ty VMIC ở Cẩm Phả Quảng Ninh (tháng 2/2008) và
dự kiến sẽ tăng lên 36%; Morgan Stanley mua lại 48,33% cổ phần của công ty chứng khoán Hướng Việt
Một thương vụ đáng chú ý khác trong tháng 2/2008 là Franklin Resources Inc mua lại49% cổ phần của công ty Quản lý quỹ Vietcombank Ngân hàng Berhard, - một trong những ngân hàng lớn nhất của Malaysia - mua 15% cổ phần của Ngân hàng An Bình (tháng 3/2008); tiếp đó là Carlsberg trở thành đối tác chiến lược của Tổng công ty Bia
- Rượu - Nước giải khát Hà Nội với 16% cổ phần vào tháng 5/2008
So sánh với 6 tháng đầu năm 2007 thì giá trị các thương vụ M&A tại Việt Nam năm nay tuy thấp hơn, nhưng số lượng lại nhiều hơn 1 thương vụ (6 tháng đầu năm 2007,
có 47 thương vụ M&A tại Việt Nam với tổng giá trị là 736 triệu USD)
Mặc dù giá trị các thương vụ thấp hơn năm trước, nhưng các chuyên gia của PwC chorằng còn quá sớm để kết luận rằng hoạt động M&A có suy giảm hay không
Báo cáo của PwC về M&A được thực hiện 2 lần 1 năm và theo số liệu 6 tháng cuối năm 2007, tổng giá trị thương vụ M&A là 1.132 triệu USD (gần gấp đôi số 6 tháng cuối năm), do đó các chuyên gia PwC dự báo hoạt động M&A sẽ tiếp tục tăng trong 6tháng cuối năm 2008 PwC cho biết các thương vụ M&A trong lĩnh vực tài chính sẽ tăng trong những tháng tới vì sự thâm nhập của dich vụ ngân hàng hiện đại tại Việt Nam hiện nay còn thấp và một số tổ chức tài chính nhỏ có thể gặp khó khăn với khả năng tín dụng hiện tại, do đó có thể cân vốn từ các đối tác chiến lược nước ngoài
Về mặt ngắn hạn, PwC cho rằng M&A tại các công ty chứng khoán sẽ trở nên phổ biến Các công ty này chịu ảnh hưởng do thị trường chứng khoán giảm sút, trong khi
đó, sự giảm lòng tin thể hiện trong các phiên giao dịch gần đây cũng gây khó khăn cho việc duy trì mức lợi nhuận như năm 2007 Với những áp lực đó, lĩnh vực chứng khoán đang phải đối mặt với hiện tại và sự thật là ở Việt Nam đã có rất nhiều công ty thành lập công ty chứng khoán như là một công ty con không thuộc lĩnh vực kinh doanh chính và vốn nhỏ, do đó rất dễ hiểu khi một số công ty phải tính đến chuyện giải thể hoặc bán lại cho đối thủ hoặc nhà đầu tư nước ngoài
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư nước ngoài cũng rất muốn tham gia một số lĩnh vực như lĩnh vực viễn thông khi tiến hành cổ phần hóa hay lĩnh vực bán lẻ và phân phối khi thịtrường mở cửa vào năm 2009
Một lĩnh vực khác cũng thu hút sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư nước ngoài là lĩnhvực vật liệu xây dựng PwC tin tưởng rằng với việc thực hiện những cam kết WTO, Việt Nam sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn cho hoạt động M&A trong năm 2008 và những năm tiếp theo
Thêm vào đó, việc nới lỏng các qui định liên quan đến người nước ngoài làm việc tại
Trang 13Việt Nam cũng là một lý do quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động M&A tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của PwC và Thomson Reuters, mức tăng trưởng giá trị giao dịch M&A của Việt Nam đã đăng ký cao hơn mức năm 2008 là 2%, với giá trị là 1,138 tỉ USD, trong đó, giá trị hợp đồng mà các công ty nước ngoài mua và sáp nhập các công
ty Việt Nam tăng 18%
Trong mấy năm qua, số lượng hợp đồng mua bán và sáp nhập ở Việt Nam tăng khá nhanh, nhưng vẫn còn cách biệt khá xa so với mức độ của các thị trường trưởng thành Trong năm 2009, tổng giá trị hợp đồng mua bán và sáp nhập ở Trung Quốc đạt 101,579 tỉ USD; Đông Nam Á là trên 46 tỉ USD
Các thương vụ M&A đáng chú ý được công bố trong năm bao gồm: HSBC Insurance (Asia Pacific) Holdings Limited (HSBC) ký thỏa thuận tăng tỷ lệ cổ phần nắm giữ của công ty này tại Tập đoàn Bảo Việt (Bao Viet Holdings), tập đoàn dịch vụ tài chính và bảo hiểm hàng đầu của Việt Nam, từ mức 10% hiện nay lên 18% với trị giá khoảng 105,3 triệu USD
Công ty Cổ phần Ximăng Hà Tiên 2 (HT2) đã đồng ý sáp nhập với Công ty Cổ phần Ximăng Hà Tiên 1 Giá trị của thương vụ ước tính là 133 triệu USD
Công ty Cổ phần Vincom, một công ty bất động sản có trụ sở tại Việt Nam, đã đồng ýmua lại 44,25% cổ phần tại Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Địa ốc Hoàng Gia, một công ty bất động sản khác có trụ sở tại Việt Nam, với giá trị 50,5 triệu USD
Thương vụ M&A ngoài nước đáng chú ý nhất trong năm 2009 đã được công bố trong tháng 12 là khi Tổng công ty Dầu Việt Nam (PV Oil) ký một thỏa thuận chuyển nhượng tài sản với tập đoàn Shell
Theo thỏa thuận này, Shell sẽ chuyển giao 100% cổ phần tại các cơ sở kinh doanh củamình ở Lào cho PV Oil Thương vụ mua lại này là một trong những bước đầu tiên của
PV Oil trong chiến lược phát triển ra thị trường khác trong khu vực
PwC dự kiến trong năm 2010, có sự tăng trưởng trong các thương vụ M&A ở tất cả các ngành nghề, trong đó các thương vụ giữa các doanh nghiệp trong nước vẫn tiếp tục tăng nhanh do các doanh nghiệp Việt Nam đang tăng trưởng tìm kiếm các mục tiêu M&A để đầu tư tiền nhãn rỗi và thúc đẩy tăng trưởng cao hơn
Trang 14Các giao dịch trong nước mang tính chiến lược cũng như các thương vụ vốn sở hữu tưnhân cũng được coi là những diễn biến tạo nên xu hướng tích cực trong năm 2010.
3 Các nhân tố tác động tới M&A tài chính ngân hàng trong thời gian gần đây
Có nhiều yếu tố chi phối hoạt động M&A trong lĩnh vực tài chính ngân hàng và còn tùy thuộc vào từng thời điểm khác nhau với đặc thù riêng của mỗi quốc gia, ngành nghề Ở Việt Nam vài năm trở lại đây, do ảnh hưởng bởi sức ép ngày càng lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài cũng như các quy định về mặt pháp lý, không ít doanh nghiệp đã tìm đến M&A như một phương thức hữu hiệu để bảo vệ chính mình Trong điều kiện như vậy, M&A của các chủ thể kinh doanh dịch vụ tài chính ngân hàng bị chi phối bởi nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
3.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Sự tham gia của các công ty nước ngoài là nhân tố quan trọng gây sức ép cạnh
tranh ngày càng lớn trong ngành Bằng các cam kết song phương và đa phương, nước ta bước vào hội nhập kinh tế bằng việc đón nhận sự tham gia của các đối tác nước ngoài vào thị trường nội địa Nhiều năm trở lại đây, xu thế đó ngày càng phát triển và đem lại không ít thuận lợi cũng như khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam
Trong lĩnh vực ngân hàng, mốc 01/4/2007 có ý nghĩa rất quan trọng, đây là thời điểm mà từ đó về sau các ngân hàng nước ngoài được chính thức thành lập chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Mặc dù còn những hạn chế về việc huy động vốn bằng VND từ các thể nhân trong nước và những quy định về thành lập chi nhánh con trực thuộc, song hoạt động của những chi nhánh này tại Việt Nam rất khả quan
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), hiện nay khối các tổ chức tín dụng (TCTD) ở nước ta có khoảng 45 chi nhánh của 33 ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng liên doanh với 20 chi nhánh phụ thuộc, 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 08 TCTD có vốn ñầu tư nước ngoài và 56 văn phòng đại diện Nếu tính đến số lượng và thị phần thì các TCTD này chiếm tỷ lệ không lớn, chỉ xấp xỉ 20% Nhưng xét cả một quá trình của hơn 3 năm hoạt động và trong một tương lai dài hạn thì những kết quả này cho thấy đây thực sự sẽ
là cản trở không hề nhỏ đối với khối ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước Vớinhững hậu thuẫn vững chắc từ những định chế tài chính lớn, với kinh nghiệm và công nghệ hiện đại, việc cạnh tranh để giành thị phần dựa vào những lợi thế trêndường như nghiêng hẳn về phía ngoại Trong khi các ngân hàng nội lại vượt trội vềmức độ quen thuộc với thị trường, thị phần lớn sẵn có Thị trường tài chính của Việt Nam còn rất non trẻ, ngoài Ngân hàng Chính sách và 4 NHTM Nhà nước, thì phần lớn các NHTMCP còn lại đều có quy mô trung bình và nhỏ Đặc điểm của các ngân hàng này là tập trung kinh doanh dịch vụ ngân hàng bán lẻ, chủ yếu ở các nội đô lớn
Trang 15và mạng lưới còn rất mỏng Những yếu điểm như vậy khiến cho các ngân hàng này không khỏi lo lắng tìm kiếm đối tác là các định chế tài chính lớn để tồn tại.Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, hoạt động của khối nước ngoài thậmchí còn mạnh mẽ hơn, có thể nói là chiếm thị phần lấn át so với các doanh nghiệptrong nước Hiện nay, thị trường của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo hiểm
có 49 doanh nghiệp cùng hoạt động (27 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 11 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm), trong đó có 21 doanh nghiệp nước ngoài với không ít những tên tuổi lớn như Prudential, AIA, Manulife, Daiichi Life…
Theo nhiều nghiên cứu, thị trường bảo hiểm Việt Nam mà đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ đang còn rất tiềm năng, có thể nói là hàng đầu ở Châu Á Sức hấp dẫn ñó khiến các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng muốn tham gia và tham gia là điều tất yếu Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này có quy mô nhỏ, hoạt động kém hiệu quả hay cho đến nay vẫn chưa đáp ứng đủ mức vốn pháp định theo yêu cầu
Trên một phân khúc thị trường tài chính khác, nhiều công ty chứng khoán (CTCK) cũng đang đứng trước lựa chọn hoặc là tìm đối tác hợp nhất, sáp nhập hoặc là giảithể Khác với các ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm, cho tới nay vẫn chưa có công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Từ năm 1995, Chính phủ cho phép thành lập CTCK liên doanh nước ngoài với tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần của ñối tác nước ngoài tại các doanh nghiệp này tối đa là 49% Theo một nghiên cứu mớiđây, từ khi được cấp phép góp vốn tại thị trường chứng khoán Việt Nam, đã có 12 thương vụ mua bán cổ phần của các CTCK diễn ra, trong đó 11 thương vụ có bên đi mua là các công ty nước ngoài và hầu hết trong số đó nắm giữ tỷ lệ tối đa được phép
là 49% Tuy nhiên, sự cải thiện cơ cấu tài chính cũng như hiệu quả hoạt động một cách đáng kể của các CTCK có liên doanh với đối tác nước ngoài cho thấy sức ép lớn lên vai các CTCK quy mô nhỏ và 100% vốn trong nước
Thị trường tài chính Việt Nam ngày càng có sự tham gia của nhiều gương mặt lớn đến
từ các cường quốc trên thế giới Trong lĩnh vực ngân hàng có thể kể đến như HSBC, Standard Chartered, ANZ Thị trường bảo hiểm Việt Nam hơn một thập kỷ qua cũng
bị chia sẻ một tỷ lệ thị phần không nhỏcho các doanh nghiệp lớn đến từ Anh, Mỹ, Nhật Bản như Prudential, AIA, Daiichi Mutual Life Với những lợi thế vượt trội vềthâm niên hoạt động, kinh nghiệm quản lý, uy tín, khả năng cạnh tranh của những doanh nghiệp này là không thể chối cãi Trong khi, nếu xét trên những phương diện
đó, các doanh nghiệp trong nước, kể cả doanh nghiệp Nhà nước vẫn yếu thế hơn, nhất
là về quy mô vốn, kế đến là kinh nghiệm hoạt động trên trường quốc tế, đầu tư khoa học công nghệ
Mặc dù Chính phủ Việt Nam vẫn ñang duy trì những quy ñịnh nhằm bảo vệ các doanh nghiệp trong nước trước sức ép đến từ bên ngoài như việc hạn chế tỷ lệ góp vốn tại các CTCK, các NHTM, quy định về thành lập công ty con, công ty 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Song, những cam kết quốc tế song phương cũng như
đa phương mà đặc biệt là cam kết trong lộ trình gia nhập WTO đã và đang nhanh