Đảng ta cũng đã thể hiện rõ quan điểm về pháttriển bền vững trong chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội của đất nớc: “ Phát triểnnhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trởng kinh tế đi đôi vớ
Trang 1Lời mở đầu
Nhiều khái niệm “tăng trởng kinh tế” và quan điểm về “ phát triển và pháttriển bền vững” ra đời Tăng trởng đã nhập vào phát triển nh một bộ phận của pháttriển Tăng trởng nặng về số lợng, phát triển coi trọng chất lợng, tăng trởng gần
nh chỉ là về kinh tế, phát triển bao quát hơn nhiều, gồm khắp các mặt của đời sốngxã hội Vậy “phát triển và phát triển bền vững” là gì, có mối quan hệ nh thế nàovới tăng trởng kinh tế Cho đến nay, giới khoa học trên thế giới có những câu trảlời khác nhau tuy không trái nhau mà về cơ bản gần nhau hoặc thống nhất vớinhau trên một số điểm quan trọng Đó là coi “phát triển và “phát triển bền vững”
là quá trình qua đó một xã hội ngời cùng nhau phấn đấu đạt tới chỗ thoả mãn đợccác nhu cầu mà xã hội ấy coi là cơ bản và hiện đại.” Cuối thế kỉ 20 và đầu thế kỉ
21, Hội nghị thợng đỉnh và một loạt các hội nghị chuyên đề về Liên hợp quốc đa
ra và nhấn mạnh quan điểm và thực tiễn “phát triển bền vững” Hiện nay, quanniệm phát triển bền vững phổ biến trên toàn thế giới bao gồm ba khía cạnh: tăngtrởng kinh tế, giữ gìn môi trờng và an sinh xã hội
Ngày nay, Việt Nam đã hội nhập với thế giới, cùng với quá trình nhận thứctăng lên và thấy đợc tầm quan trọng của việc phát triển bền vững, Việt Nam đã cónhững thay đổi trong t duy cũng nh hành động của quá trình phát triển kinh tế - xãhội Chính phủ Việt Nam hiện nay không chỉ chú trọng đến đẩy nhanh tốc độ pháttriển kinh tế nói chung mà còn rất chú ý đến bảo đảm mối quan hệ giữa tăng trởngkinh tế và phát triển bền vững Đảng ta cũng đã thể hiện rõ quan điểm về pháttriển bền vững trong chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội của đất nớc: “ Phát triểnnhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, côngbằng xã hội và bảo vệ môi trờng” ( Đại hội Đảng lần thứ IX), đồng thời gắn sựphát triển kinh tế với giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo đảm an ninh quốcphòng Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nớc nh Nghị quyết của Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ
đã ban hành Định hớng chiến lợc phát triển bền vững ( Chơng trình nghị sự 21 củaViệt Nam)
Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào sự phát triển bềnvững của đất nớc nói chung cũng nh trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn ở nớc
ta nói riêng nên tôi đã chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp nông thôn ” cho bài tiểu luận
Triết học của mình
1
Trang 2Nội dung
1 Tăng trởng và phát triển kinh tế.
1.1 Tăng trởng kinh tế.
1.1.1 Khái niệm, nguồn gốc tăng trởng kinh tế.
Hiện nay thuật ngữ “tăng trởng kinh tế” đợc sử dụng rộng rãi và có nhiềucách tiếp cận khác nhau Tăng trởng kinh tế là “ sự gia tăng sản lợng thực tế củamột nền kinh tế theo thời gian”; là “ sự tăng lên của sản lợng hàng hóa và dịch vụtrong một nớc do sự tăng lên của thu nhập quốc dân và sản phẩm bình quân đầungời”
Tăng trởng kinh tế đợc đo bằng nhiều hình thức khác nhau nh: Tổng sảnphẩm quốc dân GNP; tổng sản phẩm quốc nội GDP; GNP/ngời/năm; GDP/ ng-ời/năm Tốc độ tăng trởng kinh tế là mức ( % ) đợc tăng thêm của sản lợng GNP,GDP, GNP/ ngời; hay GDP/ đầu ngời của năm này so với năm trớc hay giai đoạnnày so với giai đoạn trớc
Để giải thích nguồn gốc của tăng trởng kinh tế các nhà kinh tế học dùng cácmô hình kinh tế
Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sảnxuất nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trởng kinh tế Nhng đất
Trang 3sản xuất lại có giới hạn do đó ngời sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấuhơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu đợc ngày càng giảm dẫn đến chí phísản xuất lơng thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nong phẩm tăng, tiền lơngdanh nghĩa tăng và lợi nhuận của nhà t bản công nghiệp giảm Mà lợi nhuận lànguồn tích lũy để mở rộng đầu t dẫn đến tăng trởng Nh vậy, do giới hạn đất nôngnghiệp dẫn đến xu hớng giảm lợi nhuận của cả ngời sản xuất nông nghiệp và côngnghiệp và ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế Nhng thực tế mức tăng trởng ngàycàng tăng cho thấy mô hình này không giải thích đợc nguồn gốc của tăng trởng
Mô hình hai khu vực tăng trởng kinh tế dựa vào sự tăng trởng hai khu vựcnông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L labor),yếu tố tăng năng suất do đầu t và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh
tế Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T.Oshima
Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trởng kinh tế là do lợng vốn (yếu tố
K, capital) đa vào sản xuất tăng lên
Mô hình Robert Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sảnxuất chỉ ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hởng trongdài hạn, tăng trởng sẽ đạt trạng thái dừng Một nền kinh tế có mức tiết kiệm caohơn sẽ có mức sản lợng cao hơn không ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế trong dàihạn (tăng trởng kinh tế bằng không (0))
Mô hình Kaldor: Tăng trởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình
Lý thuyết tăng trởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô Keynes tiêu biểu là môhình Harrod - Domar Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản: (1) giá cả cứngnhắc, và (2) nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng lao động Nguồngốc tăng trởng kinh tế là do lợng vốn (yếu tố K, capital) đa vào sản xuất tăng lên
Từ đó, họ suy luận ra đợc rằng một khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trởngcân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trởng không cân bằng thì sẽ càng ngàycàng không cân bằng (mất ổn định kinh tế)
3
Trang 4Trong khi đó, lý thuyết tăng trởng tân cổ điển xây dựng mô hình của mìnhdựa trên hệ giả thiết mà hai giả thiết căn bản là: (1) giá cả linh hoạt, và (2) nềnkinh tế ở trạng thái toàn dụng lao động Mô hình tăng trởng kinh tế của họ chothấy, khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trởng cân bằng mà chuyển sang trạngthái tăng trởng không cân bằng thì đó chỉ là nhất thời, và nó sẽ mau chóng trở vềtrạng thái cân bằng.
1.1.2 Bản chất của tăng trởng kinh tế.
Tăng trởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảngthời gian nhất định (thờng là một năm) Sự gia tăng đợc thể hiện ở quy mô và tốc
độ Quy mô tăng trởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trởng
đ-ợc sử dụng với ý nghĩa so sánh tơng đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậmgiữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dới dạng hiện vật hoặcgiá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và đ ợc tính chotoàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu ngời
Nh vậy, bản chất của tăng trởng là phản ánh sự thay đổi về lợng của nềnkinh tế Ngày nay, yêu cầu tăng trởng kinh tế đợc gắn liền với tính bền vững hayviệc bảo đảm chất lợng tăng trởng ngày càng cao Theo khía cạnh này, điều đợcnhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả chỉ tiêu quy mô và tốc độtăng thu nhập bình quân đầu ngời Hơn thế nữa, quá trình ấy phải đợc tạo nên bởinhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điềukiện một cơ cấu kinh tế hợp lý
1.1.3 Các nhân tố ảnh hởng và những điều kiện đảm bảo tăng trởng kinh tế.
Sau khi nghiên cứu về tăng trởng kinh tế của các nớc phát triển lẫn các nớc
đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát triểnkinh tế phải đợc đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trởng kinh tế
là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, t bản và công nghệ Bốn nhân tố này khácnhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đa đến kết quảtơng ứng
Thứ nhất, nguồn nhân lực: Chất lợng đầu vào của lao động tức là kỹ năng,kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trởngkinh tế Hầu hết các yếu tố khác nh t bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thểmua hoặc vay mợn đợc nhng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tơng tự Cácyếu tố nh máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thểphát huy đợc tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe
và kỷ luật lao động tốt Thực tế nghiên cứu các nền kinh tế bị tàn phá sau Chiếntranh thế giới lần thứ II cho thấy mặc dù hầu hết t bản bị phá hủy nhng những nớc
có nguồn nhân lực chất lợng cao vẫn có thể phục hồi và phát triển kinh tế một
Trang 5cách ngoạn mục Một ví dụ là nớc Đức, "một lợng lớn t bản của nớc Đức bị tàn
phá trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lợng lao
động nớc Đức vẫn tồn tại Với những kỹ năng này, nớc Đức đã phục hồi nhanhchóng sau năm 1945 Nếu không có số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có
sự thần kỳ của nớc Đức thời hậu chiến."
Thứ hai, nguồn tài nguyên thiên nhiên: Đây là một trong những yếu tố sảnxuất cổ điển, những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt làdầu mỏ, rừng và nguồn nớc Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để pháttriển kinh tế, có những nớc đợc thiên nhiên u đãi một trữ lợng dầu mỏ lớn có thể
đạt đợc mức thu nhập cao gần nh hoàn toàn dựa vào đó nh ả rập Xê út Tuy nhiên,các nớc sản xuất dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải quy luật, việc sở hữu nguồntài nguyên thiên nhiên phong phú không quyết định một quốc gia có thu nhập cao.Nhật Bản là một nớc gần nh không có tài nguyên thiên nhiên nhng nhờ tập trungsản xuất các sản phẩm có hàm lợng lao động, t bản, công nghệ cao nên vẫn có nềnkinh tế đứng thứ hai trên thế giới về quy mô
Thứ ba, t bản: Là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ t bản
mà ngời lao động đợc sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ t bảntrên mỗi lao động) và tạo ra sản lợng cao hay thấp Để có đợc t bản, phải thực hiện
đầu t nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tơng lai Điều này đặc biệt quan trọng trong
sự phát triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu t tính trên GDP cao thờng có
đ-ợc sự tăng trởng cao và bền vững Tuy nhiên, t bản không chỉ là máy móc, thiết bị
do t nhân dầu t cho sản xuất nó còn là t bản cố định xã hội, những thứ tạo tiền đềcho sản xuất và thơng mại phát triển T bản cố định xã hội thờng là những dự ánquy mô lớn, gần nh không thể chia nhỏ đợc và nhiều khi có lợi suất tăng dần theoquy mô nên phải do chính phủ thực hiện Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đờng giaothông, mạng lới điện quốc gia ), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi
Thứ t, công nghệ: Trong suốt lịch sử loài ngời, tăng trởng kinh tế rõ ràngkhông phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tbản, ngợc lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Côngnghệ sản xuất cho phép cùng một lợng lao động và t bản có thể tạo ra sản lợng caohơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càngnhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vậtliệu mới có những bớc tiến nh vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất.Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu;công nghệ có phát triển và ứng dụng một cách nhanh chóng đợc là nhờ "phần th-ởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chế cho phép những sáng chế, phát minh đợcbảo vệ và đợc trả tiền một cách xứng đáng
5
Trang 6Từ sự nghiên cứu về tăng trởng kinh tế ở phần trên ta nhận thấy khái niệm tăng tr
“ ởng kinh tế chỉ phản ánh sự gia tăng về mặt l” ợng của một trạng thái, một nền kinh tế; nó cha nói lên điều gì về mặt bản chất xã hội của nền kinh tế đó Đây
là kinh tế tự thân ; kinh tế vì kinh tế Để khắc phục tình trạng này, các nhà kinh“ ”
tế học đa ra phạm trù thứ hai phản ánh đợc cả mặt l “ ợng lẫn mặt chất của” “ ”
nền kinh tế, phạm trù phát triển kinh tế “ ”
1.2 Phát triển kinh tế.
Hiện nay, mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua thờigian, khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất
Trong báo cáo về phát triển thế giới năm 1992, Ngân hàng thế giới đa ra
định nghĩa về phát triển kinh tế nh sau: “Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhândân Nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khỏe và bình đẳng về cơhội là tất cả những thành phần cơ bản của phát triển kinh tế Tăng trởng kinh tế làmột cách cơ bản để có thể có đợc sự phát triển”
Phát triển kinh tế đợc hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.Phát triển kinh tế đợc xem nh là quá trình biến đổi cả về lợng và về chất, nó là sựkết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội
ở mỗi quốc gia
Theo cách hiểu nh vậy, phát triển phải là một quá trình lâu dài và do cácnhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Nội dung của phát triển kinh tế đợckhái quát qua ba tiêu thức:
Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thunhập bình quân trên một đầu ngời Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi vềlợng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của mộtquốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển
Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thứcphản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia Để phân biệt các giai
đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nớc vớinhau, ngời ta thờng dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu nghành kinh tế mà quốc gia
đạt đợc
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuốicùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trởng haychuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dỡng, sự tănglên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nớc sạch, trình
độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân v.v Hoàn thiện các tiêuchí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển
Trang 7Nh vậy, thông qua việc tìm hiểu về tăng trởng và phát triển kinh tế nh trên,
có thể rút ra kết luận: Tăng trởng kinh tế là yếu tố hợp thành của phát triển kinh
tế Không có tăng trởng kinh tế thì không có gì để nói về phát triển kinh tế Tuy nhiên, đây chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ của sự phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là quá trình vận động của nền kinh tế từ thấp đến cao cả về lợng lẫn về chất Tăng trởng kinh tế và phát triển kinh tế phải gắn với tiến
bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trờng Và từ đó hình thành nên sự phát triển bền vững Chính bởi lẽ đó mà vấn đề tiếp theo cần đợc nghiên cứu là vấn đề phát triển bền vững.
2 Phát triển bền vững.
2.1 Cơ sở lý luận của phát triển bền vững.
Vấn đề phát triển bền vững đợc đặt ra cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Tuynhiên để thực hiện đợc sứ mệnh của thời đại, mỗi con ngời, mỗi dân tộc đều phải
có sự hiểu biết thấu đáo và đặc biệt cần có những lý luận soi đờng làm cơ sở chonguyên tắc phát triển bền vững Sự vận dụng nguyên lý phát triển của phép biệnchứng trong triết học Mác_Lênin một cách linh hoạt và sáng tạo cho phù hợp vớihoàn cảnh mỗi thời kỳ đã đáp ứng đầy đủ chức năng làm cơ sở cho nguyên tácphát triển bền vững
Đối lập với phơng pháp biện chứng siêu hình, phép biện chứng khẳng địnhmọi sự vật hiện tợng trong thế giới đều tồn tại trong sự vận động biến đổi và pháttriển
Phát triển là quá trình vận động của các sự vật hiện tợng từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phát triển là khuynhhớng chung nhất, chủ yếu nhất và tất yếu của vận động Vận động gồm có bakhuynh hớng :
Trong thực tế đối tợng vật chất vô sinh đã hình thành nên đối tợng vật chấthữu sinh, các đối tợng vật chất hữu sinh lại phát triển từ đơn bào tới đa bào, từ
7
Trang 8động vật bậc thấp tới động vật bậc cao Sinh ra từ giới tự nhiên, con ngời và xã hộicũng luôn phát triển qua các xã hội từ thấp tới cao, từ nguyên thuỷ tới các xã hộichiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa Sự phản ánh thếgiới vật chất vào ý thức con ngời cũng luôn luôn vận động và phát triển, phản ánhthế giới vật chất ngày càng đầy đủ hơn, chính xác hơn Bất cứ một đối tợng vậtchất hay tinh thần nào cũng nằm trong vòng quay của sự phát triển và vì lẽ đó,cuộc sống của chúng ta đã, đang và sẽ phát triển – đây là điều tất yếu.
Là hình thức chủ yếu của vận động, sự phát triển có nguồn gốc và động lực
là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập Trong mỗi sự vật, hiện tợng đều tồn tại nhữngmặt, những yếu tố liên hệ hữu cơ, ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau Khi các yếu tốcân bằng với nhau hoặc có khả năng chuyển hoá lẫn nhau, nhng chúng sẽ tác độnglẫn nhau theo khuynh hớng ngợc chiều nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau tạo điềukiện cho sự phát triển Bởi vì trong quá trình đấu tranh của các mặt đối lập sẽ dẫn
đến những thắng lợi tất yếu của cái mới, cao hơn, hoàn thiện hơn, tiến bộ hơn
Cách thức của sự phát triển là do quy luật những thay đổi về lợng dẫn đến
sự thay đổi về chất và ngợc lại quy định Chất là tính quy định vốn có của các hiệntợng, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, những yếu tố cấu thành, làmcho sự vật hiện tợng là nó và phân biệt nó với sự vật, hiện tợng khác Chất còn gắnliền với cấu trúc, tức là hình thức tổ chức sắp xếp các yếu tố, bộ phận cấu thànhnhững sự vật, hiện tợng khác nhau về chất Lợng là tính quy định bên trong sự vật,hiện tợng nhng không nói lên: “Nó là gì?” mà chỉ biểu hiện về quy mô, trình độ,tốc độ, mức độ của chúng…Sự thống nhất biện chứng hữu cơ của chất và lSự thống nhất biện chứng hữu cơ của chất và lợngtrong khuôn khổ nhất định gọi là độ
Sự thay đổi của lợng trong khuôn khổ của độ, của sự vật hiện tợng thì diễn
ra một cách thờng xuyên liên tục Nhng không làm thay đổi về chất tức là sự vậthiện tợng vẫn còn là nó Sự thay đổi về lợng có đặc điểm là: Diễn ra một cách tuần
tự và dần dần Sự biến đổi đó có khuynh hớng đợc tích luỹ lại để đạt tới điểm nút
Điểm nút là điểm giới hạn mà có thể xảy ra bớc nhảy vọt về chất của các sự vậthiện tợng Khi biến đổi về lợng đã đợc tích luỹ đầy đủ tức là đạt tới là đạt tới điểmnút thì chúng chuyển thành biến đổi về chất trong bớc nhảy vọt, sự vật hiện tợngkhông còn là nó nữa, mà đã chuyển hoá thành cái khác
Nh vậy là sự biến đổi về lợng, khi đã đạt tới điểm nút thì dẫn tới sự biến đổi
về chất Ngợc lại, sự biến đổi về chất cũng gây ra sự biến đổi về lợng trong sự vật,hiện tợng mới Trong sự vật hiện tợng mới, sự biến đổi diễn ra thờng xuyên, dầndần và tuần tự…Sự thống nhất biện chứng hữu cơ của chất và lvà đợc tích luỹ…Sự thống nhất biện chứng hữu cơ của chất và lđến một lúc nào đó đạt tới điểm nút lại dẫn tới
sự nhảy vọt về chất, các sự vật hiện tợng lại biến đổi thành các sự vật hiện tợngkhác Cứ nh vậy, sự vận động và phát triển là quá trình tác động lẫn nhau, chuyển
Trang 9hoá lẫn nhau một cách vô tận của các biến đổi về lợng và các biến đổi về chất theoqui luật trên.
Sự phát triển đời sống kinh tế - xã hội của chúng ta cũng phải tuân theo quiluật trên Chúng ta cần có những tích luỹ về lợng để tạo những bớc nhảy vọt vềchất Vì lẽ đó, chúng ta cần nhận thức đợc đâu là lợng, đâu là chất trong quá trìnhphát triển
Nguồn tài nguyên phục vụ cho hoạt động của các ngành kinh tế: Nôngnghiệp sử dụng đất, nớc; công nghiệp sử dụng khoáng sản( than đá, dầu mỏ,quặng mỏ…Sự thống nhất biện chứng hữu cơ của chất và l) hay nói cách khác tài nguyên thiên nhiên chính là lợng - là nhân tốquyết định sự phát triển
Tuy vậy nguồn tài nguyên hiện nay cũng dần dần cạn kiệt do sự khai tháckhông hợp lý, sử dụng lãng phí Hiện trạng của tài nguyên hiện nay là hết sức
đáng lo ngại vì nó sẽ làm cho sự phát triển không đợc thực hiện đúng cách thức
Có thể, ngay hôm nay điều đó cha đợc biểu hiện một cách rõ rệt, cụ thể
nh-ng nếu chúnh-ng ta khônh-ng hành độnh-ng kịp thời để nh-ngăn chặn sự suy giảm tài nh-nguyênnày thì ngày mai thôi, chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả khôn lờng vàngày hôm sau nữa thế hệ sau chúng ta cũng khó tránh khỏi những tai hoạ màchúng ta - thế hệ đi trớc để lại Và nh vậy, sự phát triển bền vững sẽ không đợcthực hiện
Vậy thì bằng cách nào để khắc phục tình trạng cạn kiệt tài nguyên? Câu trảlời là cần phải có một nền khoa học công nghệ tiên tiến, vừa tăng khả năng sửdụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời khoa họccông nghệ này phải mang tính nhân bản, phục vụ cho sự phát triển chung và đúnghớng Muốn vậy mặt trận văn hoá phải là: “Trợ thủ đắc lực cho khoa học côngnghệ nhân bản” Không những thế văn hoá cần phải tạo ý thức đạo đức cho mỗingời trong công việc ổn định dân số, không để cho vấn đề dân số tác động tiêu cực
đến tài nguyên
Cùng với đó là ý thức về quan hệ hợp tác quốc tế - cùng nhau bảo vệ giữ gìn
và phát triển vì mục đích chung: Phát triển bền vững
Tuy vậy, không chỉ đơn thuần tăng cờng tích luỹ về lợng tài nguyên màphải cần chú ý đến các biến đổi về chất, về các bớc nhảy vọt hay sự phát triển, đổimới của kinh tế xã hội trong từng thời kì để có phơng thức tích luỹ về lợng mộtcách hợp lý
Khuynh hớng của sự phát triển là khuynh hớng tiến lên quanh co theo đờng
“xoáy trôn ốc” của sự phủ định của phủ định
Phép biện chứng dùng khái niệm phủ định để chỉ sự thay thế của một sự vậthiện tợng này bằng một sự vật hiện tợng khác Trong các sự phủ định, những sựphủ định nào gắn liền với sự phát triển, tạo tiền đề, điều kiện cho sự phát triển thì
9
Trang 10đó là sự phủ định biện chứng, đó chính là sự thay thế cái cũ bằng cái mới cao hơn,phức tạp hơn, hoàn thiện hơn.
Trong phủ định biện chứng cái mới ra đời thay thế cái cũ, song cái mớikhông xoá bỏ hoàn toàn cái cũ mà chỉ xoá bỏ những yếu tố tiêu cực lỗi thời, đồngthời giữ lại, kế thừa những yếu tố tinh hoa, tích cực còn khả năng phát triển, hoặctạo điều kiện cho sự phát triển của cái mới Song sự kế thừa của phủ định khôngphải là sự kế thừa nguyên xi, mà là sự kế thừa có chọn lọc và cải tạo
Phủ định biện chứng thờng có ít nhất hai lần phủ định, lần thứ nhất gọi làphủ định cái ban đầu còn gọi là cái phủ định Lần thứ hai gọi là phủ định của phủ
định, kết quả là phủ định của phủ định dờng nh trở về cái ban đầu Tuy nhiên làkết quả của sự đấu tranh của các mặt đối lập nên phủ định không trở về cái ban
đầu mà chỉ dờng nh giống với cái ban đầu, song nó đã ở trình độ cao hơn và dựatrên những cơ sở mới tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn, ngoài ra nó còn gồm các yếu tốmới hoặc không có trong cái ban đầu Song các chu kì phát triển trong thực tếkhông phải bao giờ cũng chỉ diễn ra qua hai lần phủ định nh trên …Sự thống nhất biện chứng hữu cơ của chất và l
Nếu chúng ta xem xét kỹ thì trong các chu kỳ ấy thờng có hai lần phủ địnhvới t cách là cái phủ định của phủ định do các chu kỳ phủ định của phủ địnhkhông phải là chu kỳ khép kín Phủ định của phủ định không trùng với cái ban
đầu, đến chu kỳ tiếp theo nó lại bị phủ định với t cách là cái ban đầu…Sự thống nhất biện chứng hữu cơ của chất và lCứ nh vậycác chu kỳ phát triển của sự vật, hiện tợng trong thế giới nối tiếp nhau thành một
đờng xoáy trôn ốc đến vô tận Khuynh hớng của đờng xoáy trôn ốc là tiến lên từthấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp chứ không đơn giản theo đờng thẳng
Cùng với sự cạn kiệt dần dần của tài nguyên, sự tăng dân số chóng mặt là sựxuống cấp của môi trờng một cách nghiêm trọng Môi trờng của chúng ta khôngchỉ đơn thuần là môi trờng sống, môi trờng kinh tế xã hội mà nó còn là môi trờngcủa sự phát triển Trong lòng môi trờng đó đã, đang và sẽ chứa đựng những mặt
đối lập là tiền đề và là điều kiện không thể thiếu của sự phát triển Vậy mà sự pháttriển hiện tại của chúng ta lại đang từng ngày, từng giờ gây ảnh hởng đến cơ sởcủa chính nó Do đó ngày càng phát triển, nền móng của nó ngày càng suy yếunếu chúng ta không nhanh chóng nhìn nhận lại vấn đề Sự phát triển nh vậy gọi là
sự phát triển không bền vững
Sự phát triển bền vững đợc triển khai bắt đầu từ nhận thức và đạo đức củamỗi thực thể trên trái đất Văn hoá đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này Tuyvậy văn hoá cũng cần phải có sự kế thừa, phát huy mặt tích cực của văn hoá truyềnthống Chúng ta phải biết kế thừa những thành tựu về khoa học công nghệ, về hợptác quốc tế đã đạt đợc để tiếp tục phát huy, tạo điều kiện cho phát triển bền vững.Cần chống lại những thái độ phủ định sạch trơn cái cũ, cũng nh kế thùa nguyên xi
Trang 11cái cũ Đồng thời phải xây dựng niềm tin về sự chắc thắng của cái mới dù gay go,phức tạp để có chiến lợc hành động đúng đắn.
2.2 Nguồn gốc lịch sử của thuật ngữ Phát triển bền vững “ ”
Từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trớc, khi tăng trởng kinh tế của nhiềunớc trên thế giới đã đạt đợc một tốc độ khá cao, ngời ta bắt đầu có những lo nghĩ
đến ảnh hởng tiêu cực của sự tăng trởng nhanh đó đến tơng lai con ngời và vấn đềphát triển bền vững đợc đặt ra Theo thời gian, quan niệm về phát triển bền vữngngày càng đợc hoàn thiện
Những ý tởng hàm ý bền vững phát triển sớm xuất hiện trong xã hội loàingời Song đến thập niên đầu của thể kỷ XX, những t tởng này mới phát triển,chuyển hoá thành khái niệm, và cao hơn là hành động và phong trào xã hội Tiênphong cho các trào lu này phải kể đến là giới bảo vệ môi trờng Tây Âu và Bắc Mỹ
Uỷ ban bảo vệ môi trờng Canada đợc thành lập năm 1915, nhằm khuyếnkhích con ngời tôn trọng những chu kỳ tự nhiên và cho rằng mỗi thế hệ có quyềnkhai thác lợi ích từ nguồn vốn thiên nhiên, nhng nguồn vốn này phải đợc duy trìnguyên vẹn cho những thế hệ tơng lai để họ hởng thụ và sử dụng theo một cáchthức tơng tự
Trong báo cáo với nhan đề "Toàn thế giới bảo vệ động vật hoang dã", Hộinghị họp tại Pari (Pháp) năm 1923, Paul Sarasin - nhà bảo vệ môi trờng Thụy Sỹ
đã biện hộ cho việc cần phải bảo vệ thiên nhiên
Mối quan hệ giữa bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài nguyên thiên nhiêncũng là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức quốc tế (UNESCO, WHO, FAO,
và ICSU) Các tổ chức này đã phối hợp chặt chẽ để tìm hiểu diễn biến môi trờng tựnhiên, từ đó đa ra chơng trình hành động hớng các quốc gia phát triển theo môhình bền vững Năm 1951, UNESCO đã xuất bản một tài liệu đáng lu ý với tiêu đề
"Thực trạng bảo vệ môi trờng thiên nhiên trên thế giới vào những năm 50" Tàiliệu này đợc cập nhật vào năm 1954 và đợc coi nh một trong những "tiền thân"của báo cáo Brundtland
Khái niệm về một xã hội bền vững tiếp tục nổi lên trong các công trìnhnghiên cứu của các học giả khoa học Tây phơng đầu những năm 70 của thế kỷ tr-
ớc, với các công trình của Barry Commoner "Vòng tròn khép kín" (1971), HermanDaily "Kinh tế học nhà nớc mạnh" (1973), và công trình "Những con đờng sửdụng năng lợng mềm: về một nền hoà bình lâu dài của Amory Lovins (1977)
Khái niệm phát triển bền vững cũng đợc tiếp tục với những đóng góp quantrọng của Maurice Strong (1972) và Ignacy Sachs (1975) Đặc biệt, khái niệm này
11
Trang 12đợc đề cập toàn diện nhất là công trình của Laster Brown "xây dựng một xã hộibền vững" (1981)
Đầu thập niên 80, thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên đợc sử dụngtrong chiến lợc bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyênthiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chơng trình Môi trờngLiên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO
Tuy nhiên, khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ saubáo cáo Brundtland (1987) Kể từ sau báo cáo Brundtland, khái niệm phát triểnbền vững trở thành khái niệm chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm,
định hớng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề phát triển Nó cũng đợc xem
là giai đoạn mở đờng cho Hội thảo về phát triển và môi trờng của Liên hiệp quốc
và Diễn đàn toàn cầu hoá đợc tổ chức tại Rio de Janeiro vào tháng 6/1992 và Hộinghị thợng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại Johannesburg (2002)
2.3 Khái niệm, nội dung phát triển bền vững.
Phát triển bền vững là một vấn đề mới nhằm bảo đảm sự phát triển về mọimặt không chỉ trong hiện tại mà còn trong cả tơng lai xa Đây đang là mục tiêu h-ớng tới của nhiều quốc gia trên thế giới Mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù riêng vềkinh tế, chính trị, địa lý, văn hóa để hoạch định chiến lợc phát triển
Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững Tuynhiên, nh trên đã nghiên cứu tìm hiểu, khái niệm "Phát triển bền vững" theo quan
điểm của Uỷ ban Brundtland là chiếc chìa khóa đắc lực giúp cho các quốc giatrong vấn đề phát triển Chính bởi lẽ đó mà ta sẽ đi sâu phân tích khái niệm pháttriển bền vững theo quan điểm này
Theo báo cáo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãnnhững nhu cầu của hiện tại và không phơng hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu củacác thế hệ tơng lai"
Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên đợc tái tạo vàtôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thốngtrợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con ngời, động vật và thực vật Nhng ởmột mức độ nào đó, nó cũng hàm chứa sự bình đẳng giữa những nớc giầu vànghèo và giữa các thế hệ Thậm chí, nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị,coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để ápdụng khái niệm phát triển bền vững
Nh vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" đợc đề cập trong báo cáoBrundtland, không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trờng, hay thậm chíphát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trờng
Trang 13Nội dung của nó còn bao hàm những khía cạnh chính trị - xã hội, đặc biệt làbình đẳng xã hội Mặc dù không loại trừ sự cần thiềt của một số hình thức tăng tr -ởng kinh tế, đặc biệt là ở những nớc nghèo nhất, nhng Brundtland vẫn nhìn nhậnphát triển nh một quá trình phức tạp vợt ra ngoài sự tăng trởng kinh tế giản đơn
Phát triển bao hàm một sự biến đổi kinh tế và xã hội không ngừng, ngay cảkhái niệm hẹp về sự bền vững vật chất cũng hàm chứa mối quan tâm đối với bình
đẳng xã hội liên thế hệ, mối quan tâm cần phải đợc mở rộng một cách hợp lý tới
sự bình đẳng giữa các thế hệ trong quá trình phát triển, bao gồm 3 loại: Giữa cácthế hệ (giữa ngời trẻ và ngời già, giữa thế hệ hiện tại và thế hệ tơng lai), giữa cácquốc gia (tức là giữa Bắc và Nam, giữa những nớc giàu và nớc nghèo), và hơn nữa
là sự bình đẳng trong thế hệ, cũng nh trong các quốc gia (tức là bình đẳng xã hộigiữa nam giới và phụ nữ, giữa các giai tầng xã hội- giầu và nghèo, có quyền lực vàkhông có quyền lực, giữa các nhóm dân tộc và tôn giáo (Sudhiz Anand,Amaztya K.Sen, 1999)
Ngày nay, quan điểm về phát triển bền vững đợc đề cập một cách đầy đủhơn, bên cạnh yếu tố môi trờng tài nguyên thiên nhiên, yếu tố môi trờng xã hội đ-
ợc đặt ra với ý nghĩa quan trọng
Hội nghị Thợng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ởJohannesbug ( Cộng hòa Nam Phi ) năm 2002 đã xác định: Phát triển bền vững làquá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự pháttriển, gồm: Tăng trởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trờng
Ta có thể thấy rất rõ mối quan hệ giữa ba mặt này qua sơ đồ sau:
Mối quan hệ giữa ba mục tiêu: Kinh tế – Xã hội – Môi tr ờng
Kinh tế
Trang 14Nh vậy, tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững chính là sự tăng trởngkinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sửdụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lợng môi trờngsống
Hay nói một cách khái quát, phát triển bền vững là sự phát triển không đơnthuần về yếu tố kinh tế mà còn chú trọng đến vấn đề an sinh xã hội và vấn đề môitrờng tức là phải bảo đảm sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môitrờng đợc bảo vệ, gìn giữ Để đạt đợc điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xãhội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục
đích dung hòa ba lĩnh vực chính: kinh tế, xã hội, môi trờng vì gốc gác của nó làxuất phát từ phạm trù tồn tại xã hội( đó là các nhân tố tất yếu của đời sống baogồm: Môi trờng tự nhiên, dân số và phơng thức sản xuất)
2.4 Phát triển bền vững, xu hớng tất yếu trong quá trình phát triển hiện nay.
Phát triển bền vững đang là mối quan tâm chung hiện nay, tuy nhiên mức
độ nhận thức và hành động nhằm phát triển bền vững của các nớc là khác nhau Sựkhác biệt này phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển cũng nh hình thái phát triểncủa mỗi nớc: những nớc phát triển, đang phát triển và đang trong quá trình chuyển
đổi Với mục tiêu có đợc các khoản lợi nhuận khổng lồ trong thời gian ngắn nhất,
ngay từ những ngày đầu chủ nghĩa t bản đã khai thác nhanh và triệt để nguồn tàinguyên không đợc tái tạo Ngoài ra, sự gia tăng dân số, đặc biệt tại các nớc đangphát triển đã tiêu thụ một lợng năng lợng lớn cha kịp tái tạo Đây là hai trong sốcác nguyên nhân chính dẫn đến: "Khủng hoảng môi trờng tự nhiên, đói nghèo vàgia tăng khác biệt xã hội" Chính những thực tế này đã dần hình thành những nộidung về phát triển bền vững Ngày nay, mối quan hệ giữa bảo vệ thiên nhiên và sửdụng tài nguyên thiên nhiên không chỉ là mối quan tâm của riêng một nớc mà cácnớc cũng nh các tổ chức quốc tế (UNDP, UNESCO, WHO, FAO, và ICSU) Các
tổ chức này đã phối hợp chặt chẽ trong việc tìm hiểu diễn biến môi trờng tự nhiên,
từ đó đa ra chơng trình hành động hớng các quốc gia phát triển theo mô hình bềnvững
Có một điều bất cập về phát triển bền vững đối với tất cả các quốc gia làluôn vì lợi ích của mình mà quên đi lợi ích chung nh việc các nớc phát triển thảihoặc bán rẻ những công nghệ cũ, lạc hậu, gây ô nhiễm cao cho những nớc nghèohoặc bỏ tiền ra mua tài nguyên thô của những nớc đang phát triển để phục vụ pháttriển công nghiệp của nớc mình Điều này đã đẩy nhanh quá trình làm cạn kiệtnguồn tài nguyên thiên nhiên của những nớc nghèo, gây mất cân bằng sinh thái,gây ra thiên tai, lũ lụt, thoái hoá môi trờng,…Sự thống nhất biện chứng hữu cơ của chất và l
Với những nớc đang phát triển là những nớc mới bắt đầu bớc ra khỏi sự phụthuộc quá nhiều vào thiên nhiên Chính phủ cũng nh ngời dân những nớc này, khaithác tài nguyên thiên nhiên để tồn tại, họ chỉ thấy cái lợi trớc mắt là việc làm, thunhập,…Sự thống nhất biện chứng hữu cơ của chất và l nên đã không có ý thức bảo vệ môi trờng Do điều kiện phát triển kinh tếcũng nh nhận thức của những nớc đang phát triển còn kém nên vấn đề bảo vệ môi
Trang 15trờng nói riêng cũng nh phát triển bền vững nói riêng là việc khá xa vời Hơn nữanếu có nhận thức đợc việc làm đó ảnh hởng xấu đến môi trờng thì những nớc nàycũng không có tiền để lựa chọn giải pháp khác và để khắc phục hậu quả ô nhiễmmôi trờng do chính họ gây ra
Đối với những nớc đang trong quá trình chuyển đổi, do một thời kỳ lịch sửphát triển kinh tế theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung và hiện nay đangtrong giai đoạn đầu của sự phát triển Lo ngại sự tụt hậu về kinh tế so với thế giớicộng với những nhận thức sai lầm về hai khái niệm tăng trởng và phát triển, các n-
ớc này vì thế khuyến khích khai thác tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục
vụ cho sản xuất, tăng tốc độ tăng trởng với hy vọng đuổi kịp các nớc khác trongthời gian ngắn Ngoài ra những nớc đang trong quá trình chuyển đổi cũng mắcphải những vấn đề bảo vệ môi trờng, tài nguyên thiên nhiên giống nh những nớc
đang phát triển khác Với những sai lầm về nhận thức và những khó khăn đã dẫntới nguồn tài nguyên thiên nhiên đến bên bờ của khủng hoảng cân bằng sinh thái
Tuy nhiên, ngày nay khi mà mối quan hệ tơng tác giữa các nớc ngày càngphức tạp hơn và những tác động môi trờng không chỉ xảy ra riêng với một quốcgia nào mà xảy ra trên toàn thế giới Nhận thức về bảo vệ môi trờng và các nớchiện có những hành động tích cực nhằm phát triển bền vững đang tăng lên Các n-
ớc phát triển đã giúp đỡ các nớc đang phát triển, các nớc nghèo khắc phục hậu quả
ô nhiễm môi trờng và có những nỗ lực lớn trong việc nghiên cứu nguồn nguyênliệu sạch thay thế…Sự thống nhất biện chứng hữu cơ của chất và l Các nớc đang phát triển đã sử dụng có chọn lọc công nghệnhằm giảm thiểu tác động đến môi trờng Các nớc đang trong quá trình chuyển
đổi đã chuyển hớng từ mục tiêu tăng trởng nhanh sang mục tiêu phát triển bềnvững, hài hoà xã hội
Nh vậy, qua việc phân tích trên ta có thể khẳng định rằng phát triển bềnvững trở thành chìa khóa giúp các quốc gia xây dựng chiến lợc phát triển kinh tế– xã hội, chơng trình hành động và giải pháp tháo gỡ bế tắc trong qua trình pháttriển; đồng thời nó cũng chính là một xu hớng tất yếu trong tiến trình phát triểnhiện nay
2.5 Phát triển bền vững qua một số nghiên cứu ở Việt Nam.
2.5.1 Sự hình thành khái niệm phát triển bền vững ở Việt Nam.
Khái niệm "Phát triển bền vững" du nhập vào Việt Nam muộn (vào khoảngcuối thập niên 80 đầu thập niên 90), nhng nó nhanh chóng đợc thể hiện ở mọi cấp
độ lý luận cũng nh thực tiễn
Khái niệm này cũng đợc giới khoa học nớc ta tiếp thu nhanh chóng, thểhiện qua các công trình nghiên cứu cơ bản cũng nh nghiên cứu ứng dụng pháttriển bền vững Đầu tiên phải kể đến là các công trình do giới nghiên cứu môi tr-
15
Trang 16ờng tiến hành nh "Tiến tới môi trờng bền vững" (1995) do Trung tâm tài nguyên
và môi trờng, Đại học Tổng hợp Hà Nội Công trình này đã tiếp thu và thao táchoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland Cụ thể hoá hệ chỉ báophát triển bền vững nh một tiến trình đòi hỏi sự tiến triển đồng thời của bốn lĩnhvực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi tr-ờng, bền vững về mặt kỹ thuật "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vữngcấp quốc gia ở Việt Nam-giai đoạn 1" (2003) do Viện Môi trờng và Phát triển bềnvững, Hội Liên hiệp Các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trên cơ sởtham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland, và kinh nghiệm các nớc
nh Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã thao tác hoá khái niệm với các tiêu chí cụthể đối với một quốc gia: bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi tr-ờng Đồng thời cũng đề xuất một số phơng án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bềnvững cho Việt Nam "Quản lý môi trờng cho sự phát triển bền vững" (2000) do Lu
Đức Hải và cộng sự tiến hành Công trình này đã trình bày hệ thống quan điểm lýthuyết và hành động quản lý môi trờng cho phát triển bền vững Định hoá sự pháttriển bền vững qua các độ đo: bền vững kinh tế, bền vững môi trờng, bền vững vănhoá - tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững, nh mô hình 3 vòng tròn kinh
tế, xã hội, môi trờng giao nhau của Jacobs và Sadler (1990); mô hình tơng tác đalĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội củaWCED (1987); mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990);mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trờng của Worl Bank
Chủ đề này cũng đợc bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội với cáccông trình "Đổi mới chính sách xã hội Luận cứ và giải pháp"(1997) của PhạmXuân Nam Trong công trình này, tác giả đã làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan
điểm phát triển bền vững: phát triển xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trờng,phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ và cuối cùng là chỉ báo quốc tế về phát triển.Trong một bài viết gần đây đăng trên Tạp chí Xã hội học (2003) của tác giả Bùi
Đình Thanh với tiêu đề "Xã hội học Việt Nam trớc ngỡng của thế kỷ 21", tác giảcũng chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản về phát triển bền vững: Chỉ báo kinh tế; xã hội;môi trờng; chính trị, tinh thần, trí tuệ; văn hoá; Vai trò phụ nữ và Chỉ báo quốc tế.Nhìn chung các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là thao tác hoá kháiniệm phát triển bền vững theo Brundtland, tuy nhiên cần nói thêm rằng nhữngthao tác này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tế ViệtNam, cụ thể là ở cấp độ địa phơng, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đờisống xã hội vẫn cha đợc làm rõ
Khái niệm "Phát triển bền vững" cho thấy nội hàm rất rộng, trong đó mỗithành tố đều có một ý nghĩa cho sự bền vững trong phát triển Một mẫu hình phát
Trang 17triển bền vững là mỗi cộng đồng địa phơng, mỗi vùng, quốc gia không nên quáthiên về thành tố này, và xem nhẹ thành tố kia.
Vấn đề là áp dụng nó nh thế nào ở các cấp độ trên và trong các lĩnh vựckhác nhau của đời sống xã hội
Để chuyển hoá khái niệm phát triển bền vững từ cấp độ lý thuyết áp dụngvào thực tiễn, khái niệm cần đợc làm sáng tỏ sau đó áp dụng trực tiếp đối với cáclĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Cần phải có sự nhìn nhận tổng thể, đa ra quan điểm toàn diện Từ đó tiếnhành xây dựng hệ thống chính sách pháp luật/định chế xã hội hợp lý, bao quát cácthành tố trong nó sẽ là nền tảng hớng đến sự bền vững trong phát triển
"Phát triển bền vững" là khái niệm mới ở Việt Nam Tiến hành xây dựng vàthao tác hoá khái niệm này phù hợp với thực tế Việt Nam và bối cảnh quốc tế hiệnnay sẽ có ý nghĩa quan trọng Các nghiên cứu khoa học môi trờng, khoa học xãhội, trong đó đặc biệt là khoa học kinh tế, khoa học xã hội học, và khoa học phápluật sẽ đóng góp nhiều cho khái niệm, cũng nh hoàn thiện hệ thống quan điểm lýluận về phát triển bền vững ở nớc ta trong những thập niên sắp tới
2.5.2 Nguyên tắc thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam.
Qua một số nghiên cứu về phát triển bền vững ở Việt Nam, vấn đề đặt ra là
để thực hiện thành công mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam cần có nhữngnguyên tắc nh thế nào?
Định hớng chiến lợc phát triển bền vững ở Việt Nam là một chiến lợc khungbao gồm những định hớng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phơng, các
tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằmbảo đảm phát triển bền vững đất nớc trong thế kỷ XXI Có 8 nguyên tắc đợc tậptrung thực hiện:
- Con ngời là trung tâm của phát triển bền vững, đáp ứng ngày càng đầy đủhơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân; xây dựng đất nớcgiàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc nhất quán trongmọi giai đoạn phát triển
- Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắptới, bảo đảm an ninh lơng thực, năng lợng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh
an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa phát triểnkinh tế với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tàinguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trờnglâu bền Từng bớc thực hiện nguyên tắc: "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trờng
đều cùng có lợi"
17