Tổng quan về Sở Kế Hoạch Đầu Tư Tỉnh Bình Định
Giới thiệu chung, lịch sử hình thành và phát triển
Tên đơn vị: Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Tỉnh Bình Định Địa chỉ : Số 35 - Đường Lê Lợi – Thành phố Quy Nhơn - Tỉnh Bình Định Điện thoại: (056) 822628
Email : sokhdtbd@dng.vnn.vn
Thuộc loại hình đơn vị: Sở, Ban, Ngành.
Lĩnh vực hoạt động: Quản lý nhà nước.
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển.
Ngay sau thành công của Cách mạng Tháng 8, Ủy Ban Nghiên Cứu Kế Hoạch Kiến Thiết được thành lập vào tháng 12/1945, sau đó đổi tên thành Ban Kinh tế Chính phủ vào tháng 5/1950 Năm 1955, Ủy Ban Kế Hoạch Quốc Gia được thành lập, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Sau khi miền Nam giải phóng thống nhất đất nước, hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi được hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình, và Ủy ban Kế hoạch tỉnh Nghĩa Bình ra đời, tồn tại trong 15 năm từ 1976 đến 1991, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội của địa phương.
Khi tỉnh Bình Định tái lập vào năm 1989, Ủy ban Kế hoạch tỉnh trở lại với tên gọi cũ Đến ngày 07 tháng 6 năm 1996, cơ quan này chính thức đổi tên thành Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định, tên gọi vẫn được giữ đến hiện nay.
Thời kỳ 10 năm sau thống nhất đất nước (1975 - 1985), trước thời kỳ đổi mới:
Kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976 - 1980) đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam thống nhất thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, nhằm phát huy tối đa thế mạnh của đất nước Thực hiện Nghị quyết Đại hội V của Đảng bộ tỉnh, mục tiêu của kế hoạch là đảm bảo sự phát triển cân đối, toàn diện và vững mạnh của kinh tế và văn hoá địa phương Trong giai đoạn 1981 - 1985, kế hoạch 5 năm lần thứ 3 tập trung đổi mới phương pháp và cơ chế kế hoạch hóa, giảm bớt chi tiêu pháp lệnh và tăng quyền tự chủ cho các địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Chính sách đổi mới cơ chế khoán sản phẩm trong nông nghiệp do Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết số 12 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra đã thúc đẩy phát triển nông nghiệp mạnh mẽ, giúp mở ra nhiều thành tựu to lớn trong sản xuất nông nghiệp Điều này góp phần quan trọng vào việc đổi mới cơ cấu nền kinh tế của tỉnh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp địa phương Nhờ những bước đột phá này, tỉnh đã đạt được những thành tựu đáng kể trong tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
Trong giai đoạn 20 năm đổi mới (1986-2005), chính sách kế hoạch hóa đã có bước đổi mới căn bản, nổi bật là thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng bộ thành phố và Quyết định số 217/HĐBT về tự chủ cho các doanh nghiệp quốc doanh, giảm mạnh chỉ tiêu pháp lệnh, thúc đẩy chuyển đổi từ bao cấp sang cơ chế tín dụng trong đầu tư Ngành nông nghiệp đạt được bước đột phá với Nghị quyết 10 (Khoán 10), giúp nhanh chóng đi vào cuộc sống, đồng thời các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh dần được hợp thức hóa bằng pháp luật Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1991-1995), mục tiêu chính là duy trì ổn định kinh tế - xã hội, thoát khỏi khủng hoảng và lạm phát, tạo đà phát triển trong thời gian tới, giúp tỉnh đạt được nhiều thành tựu quan trọng Trong thời kỳ này, nền kinh tế tiếp tục phát triển mạnh mẽ nhưng đối mặt với nhiều thách thức từ các biến động chính trị, kinh tế toàn cầu, đặc biệt là khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến việc làm, đầu tư và xuất khẩu của địa phương. -Nắm bắt tinh thần 20 năm đổi mới với giải pháp sáng tạo từ Draft Alpha giúp bạn xây dựng thương hiệu doanh nghiệp vững mạnh ngay hôm nay [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha)
Trong giai đoạn 1991-2000, tỉnh đã thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối những năm 1980 và hạn chế tác động của khủng hoảng tài chính khu vực những năm 1997-1999, đạt được các mục tiêu lớn của chiến lược phát triển Các thành phần kinh tế quốc doanh, ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài đã hình thành và phát triển nhanh chóng, tạo bước đột phá trong lực lượng sản xuất Nhịp độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm là 10,25%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 23,86%, năng suất lúa đạt trên 10 tấn/ha, dự án đầu tư phát triển hàng năm gần 4000 tỷ đồng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, khai thác tối đa các thế mạnh như công nghiệp, cảng biển, thương mại, dịch vụ và xuất khẩu Cơ sở hạ tầng, đô thị và nông thôn được đầu tư, nâng cấp mạnh mẽ, góp phần thay đổi diện mạo và nâng cao chất lượng cuộc sống Các lĩnh vực văn hóa - xã hội như giáo dục, y tế, dân số, giải quyết việc làm, báo chí và nghệ thuật đã có nhiều tiến bộ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân.
Trong giai đoạn 2001-2005, tỉnh đã thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, đạt nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch, với tốc độ tăng trưởng bình quân 9,1% mỗi năm, nâng cao năng lực cạnh tranh và vai trò vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Các ngành kinh tế chủ lực phát triển đột phá, thị trường trong nước và quốc tế mở rộng, huy động vốn đầu tư tăng 12,7%/năm, gấp hơn 1,2 lần mục tiêu đề ra, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững Công tác hội nhập kinh tế quốc tế và môi trường đầu tư được đẩy mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa Khoa học công nghệ đóng góp tích cực vào quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nâng cao tiềm lực khoa học toàn diện Văn hoá và các hoạt động xã hội được quan tâm, phát triển mạnh mẽ về quy mô và chất lượng, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiến bộ, đậm đà bản sắc dân tộc Chính sách xã hội luôn được chú trọng, giải quyết các vấn đề cấp bách, góp phần tạo diện mạo mới tích cực trên nhiều lĩnh vực của tỉnh.
Dự thảo kế hoạch 5 năm 2006-2010 đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, đồng thời công tác rà soát, điều chỉnh và bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 đã cơ bản hoàn thành Việc này góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế và đảm bảo mục tiêu dài hạn của quốc gia Các bước chuẩn bị kế hoạch được thực hiện rõ ràng, hợp lý để phù hợp với bối cảnh kinh tế hiện tại và xu hướng phát triển của đất nước.
Ngành Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định đã liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từ khi thành lập, đặc biệt trong những năm gần đây Sở luôn đi đầu trong công cuộc đổi mới và cải cách thủ tục hành chính, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vai trò tham mưu tổng hợp của sở đã góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh và đất nước Nhờ những nỗ lực này, Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Định đã vinh dự nhận nhiều danh hiệu cao quý từ Nhà nước, Chính phủ, các Bộ ngành trung ương và chính quyền tỉnh.
Năm 2000: Huân chương Lao động hạng ba.
Năm 2002: Cờ thi đua xuất sắc của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Năm 2002,2003,2004,2005: 4 năm liền được trao tặng danh hiệu Đơn vị Văn Hoá Năm 2005: Huân chương Độc lập hạng ba.
Ngày 4/12/2008, Tổng Cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp Giấy chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 cho Sở Kế hoạch và Đầu tư, xác nhận năng lực trong các lĩnh vực như cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đầu tư, thẩm định dự án đầu tư nhóm B, C, và thẩm định kế hoạch đấu thầu cũng như hồ sơ mời thầu, kết quả chọn nhà thầu trong lĩnh vực xây dựng cơ bản sử dụng nguồn vốn.
Và nhiều Bằng khen của UBND thành phố, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ ngành Trung ương.
Và nhiều Bằng khen của UBND thành phố, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ ngành Trung ương.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Sở
Sở Kế hoạch và Đầu tư có tổ chức bộ máy gồm Ban giám đốc, các phòng chức năng, các đơn vị trực thuộc, cùng một số hội đồng và ban phục vụ khác nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả Cơ cấu tổ chức này giúp Sở thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về kế hoạch và đầu tư công, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Việc tổ chức bộ máy rõ ràng, chuyên nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả công tác và đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh.
- Ban giám đốc: Gồm Giám đốc và các Phó giám đốc
Giám đốc sở là người đứng đầu chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh và pháp luật về toàn bộ hoạt động của sở cũng như việc thực hiện nhiệm vụ được giao Ông/bà phải báo cáo công tác định kỳ hoặc khi có yêu cầu trước UBND tỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Hội đồng nhân dân tỉnh Vai trò của Giám đốc sở là đảm bảo hoạt động của sở đạt hiệu quả, phù hợp với quy định pháp luật và kế hoạch phát triển của tỉnh.
- Các phó giám đốc giúp giám đốc và chịu trách nhiệm trước giám đốc, trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công.
Chủ tịch UBND tỉnh quyết định bổ nhiệm giám đốc và phó giám đốc sở dựa trên tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định, phù hợp với các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ Các quyết định về miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với giám đốc và phó giám đốc được thực hiện theo pháp luật hiện hành.
Ngành Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định đã trải qua hơn 50 năm phát triển, góp phần quan trọng vào sự lớn mạnh của kinh tế địa phương Bộ máy tổ chức của Sở ngày càng được củng cố và hoàn thiện cả về số lượng lẫn chất lượng cán bộ, chuyên viên nhằm đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao Hiện tại, hệ thống tổ chức của Sở gồm nhiều phòng ban chức năng, nhằm tăng cường hiệu quả công tác và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của tỉnh Bình Định.
Ban giám đốc, 06 phòng chức năng và 01 Trung tâm xúc tiến đầu tư.
Tổng số cán bộ CNVC hiện có là 36 người, 31 biên chế và 05 hợp đồng ngắn hạn cho các công việc như: Lái xe, bảo vệ, tạp vụ
Tình hình đội ngũ công chức, viên chức hiện có như sau:
- Tuổi đời và trình độ chuyên môn
Từ 30 đến 40 tuổi: 10 người (8 đại học)
41 đến 50 tuổi: 13 người (10 đại học, 1 trung cấp)
51 đến 55 tuổi: 6 người (4 đại học) trên 55 tuổi: 2 người (1 đại học, 1 trung cấp)
Đội ngũ công chức, viên chức của Sở hiện nay phần lớn được đào tạo bài bản, có trình độ nghiệp vụ vững vàng và kinh nghiệm công tác chuyên môn Họ có phẩm chất chính trị cao, tinh thần trách nhiệm và đảm bảo đủ sức khỏe để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Trung Tâm Xúc Tiến Đầu
Phó Giám Đốc Phó Giám Đốc
Hiện nay, có một số công chức, viên chức do lớn tuổi gặp khó khăn trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, học vi tính và ngoại ngữ Việc đào tạo liên tục là cần thiết để đảm bảo năng lực làm việc và phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ ngày càng hiện đại Đặc biệt, các cán bộ cao tuổi cần được hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để cập nhật kiến thức và kỹ năng mới nhằm nâng cao hiệu quả công việc.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của Sở Địa chỉ liên hệ của các phòng ban
Minh Tâm Giám đốc: Lê Văn Tâm P.Giám đốc: Nguyễn Thúc Đỉnh Điện thoại : 056 822535
Email:minhtam@binhdin h.gov.vn Điện thoại : 056 822352 Email:levantambd@dng. vnn.vn Điện thoại : 056 822442 Email:thucdinh@binhdinh.gov.vn
Phòng Hành chính tổ chức Phó Trưởng phòng : Nguyễn Thị Trước Điện thoại : 056 822628
Phòng Kế hoạch Quy hoạch Tổng hợp Trưởng Phòng : Nguyễn Văn Dũng Điện thoại : 056 822849; 816675
Phòng Kế hoạch Kinh tế ngành Trưởng Phòng : Mai Xuân Hạ Điện thoại : 056 825847
Phòng Đăng ký kinh doanh Trưởng Phòng : Phạm Đình Tòng Điện thoại : 056 826083 Email : dkkdbd@vnn.vn
Phòng Văn hóa – Xã hội Phó Trưởng phòng : Lê Lâm Ba Điện thoại : 056 822832
Phòng Thanh tra Phó Chánh Thanh tra : Trần Vũ Thanh
Trung tâm xúc tiến đầu tư Giám đốc : Nguyễn Thành Hải Điện thoại: 056 818888, Fax : 818887 Email : ipcbinhdinh@vnn.vn
Dự án Hạ tầng CSNT dựa vào cộng đồng Giám đốc dự án : Nguyễn Minh Tâm Điện thoại : 056 822535 , Fax : 812505
Email : mailto:vantrivn@yahoo.com
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Kế Hoạch và Đầu Tư tỉnh Bình Định
3.1 Vị trí, chức năng chung của Sở.
Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh là cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, chịu trách nhiệm tham mưu tổng hợp về quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Thông qua chức năng này, sở đề xuất các chủ trương và biện pháp quản lý đầu tư trực tiếp của nước ngoài cũng như các nguồn viện trợ tại tỉnh Đồng thời, sở đảm nhiệm vai trò đầu mối phối hợp giữa các sở ban ngành và các đơn vị trực thuộc tỉnh nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả.
Sở Kế hoạch và Đầu tư chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của UBND tỉnh nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả và phù hợp với chiến lược phát triển địa phương Đồng thời, đơn vị còn nhận sự hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giúp nâng cao chất lượng các kế hoạch và dự án đầu tư Việc phối hợp chặt chẽ giữa Sở và Bộ đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh đạt hiệu quả cao nhất.
3.2 Nhịêm vụ, quyền hạn chung của Sở.
Tổ chức nghiên cứu, tổng hợp trình UBND tỉnh các kế hoạch trung hạn, ngắn hạn để xác định các chương trình, dự án ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với chiến lược của tỉnh Đồng thời, lựa chọn các danh mục công trình, dự án trọng điểm về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo cân đối các nguồn vốn như tài chính, ngân sách, vốn đầu tư xây dựng, viện trợ và hợp tác quốc tế Việc ký kết, đàm phán và xây dựng hợp đồng với đối tác nhằm thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu hiệu quả và phù hợp chiến lược phát triển của tỉnh Ngoài ra, xây dựng và quản lý các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện, thành phố và các ngành kinh tế khác nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và thống nhất cho toàn bộ khu vực.
- Phối hợp với Sở Tài chính lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương trong lĩnh vực phụ trách, trình UBND tỉnh.
Theo dõi và nắm bắt tình hình hoạt động của các đơn vị kinh tế trên địa bàn tỉnh, đồng thời quản lý các chương trình, dự án quốc gia để đảm bảo phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh UBND tỉnh quyết định các chủ trương, biện pháp nhằm gắn kết các hoạt động này, thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững của địa phương.
Hướng dẫn các ngành và UBND các huyện, thành phố xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Việc này nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của tỉnh thông qua việc chỉ đạo và hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho bộ phận Kế hoạch và Đầu tư của các sở, ngành, cũng như UBND các huyện, thành phố Các nội dung này giúp đảm bảo công tác lập kế hoạch và quản lý dự án phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Phổ biến và hướng dẫn thực hiện pháp luật Nhà nước về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh là nhiệm vụ chính của tổ chức này Họ đóng vai trò là đầu mối tiếp nhận hồ sơ dự án của các chủ đầu tư trong và ngoài nước muốn đầu tư tại địa phương, đảm bảo quá trình đăng ký đầu tư diễn ra thuận lợi và đúng quy định Đồng thời, tổ chức còn thu thập và tổng hợp các kiến nghị, đề xuất từ các Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để trình UBND tỉnh xem xét, quyết định Các hoạt động này nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế địa phương theo đúng luật pháp nhà nước.
Là đầu mối quả lý việc sử dụng các nguồn ODA và các nguồn viện trợ khác.
Theo dõi và kiểm tra các cơ quan, đơn vị của tỉnh trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển địa phương Nghiên cứu và đề xuất các chủ trương, biện pháp nhằm đảm bảo hoàn thành các mục tiêu quy hoạch đã đề ra Trực tiếp điều hành thực hiện kế hoạch trong một số lĩnh vực theo phân công của Chủ tịch UBND tỉnh.
Tham gia nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế toàn quốc nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển kinh tế đất nước Đồng thời, kiến nghị các giải pháp phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương để thúc đẩy sự phát triển bền vững Việc đề xuất này dựa trên các nguyên tắc chung đã được quy định, đảm bảo tính nhất quán và hợp lý trong các chính sách kinh tế quốc gia.
Chức năng chính của nhiệm vụ bao gồm làm nhiệm vụ Thường trực hoặc Chủ tịch Hội đồng xét duyệt các định mức kinh tế - kỹ thuật, thẩm định các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài, đồng thời thực hiện thẩm định xét thầu theo phân công của UBND tỉnh, đảm bảo quy trình đầu tư và đấu thầu minh bạch, hiệu quả.
Làm cơ quan đầu mối chung tiếp nhận, xét đơn và hồ sơ xin thành lập doanh nghiệp Phối hợp với các ngành chức năng liên quan để thẩm định và trình UBND tỉnh quyết định việc thành lập các doanh nghiệp theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Chức năng quản lý và cấp giấy phép đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp hoạt động tại tỉnh nhằm đảm bảo hoạt động hợp pháp và đúng quy định Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, xem xét hồ sơ và trình UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp Đồng thời, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp để xử lý các vi phạm và đảm bảo tuân thủ pháp luật về kinh doanh.
Quản lý và quyết định công tác tổ chức cán bộ, thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ theo phân cấp của UBND tỉnh, đảm bảo sự phát triển nguồn nhân lực phù hợp UBND tỉnh còn tham gia ý kiến phối hợp với UBND huyện, thành phố để nâng cao hiệu quả hoạt động Ngoài ra, kiến nghị tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh và các địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Hàng tháng, hàng quý và hàng năm, các địa phương báo cáo chi tiết về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho UBND tỉnh và Bộ Kế hoạch và Đầu tư Các báo cáo này bao gồm các hoạt động của các Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đảm bảo quản lý hiệu quả và thu hút đầu tư quốc tế Việc báo cáo định kỳ giúp đảm bảo sự minh bạch, theo dõi tiến độ và điều chỉnh các chính sách kịp thời phù hợp với mục tiêu phát triển của địa phương.
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND tỉnh giao.
3.3 Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng trong Sở.
3.3.1 Phòng Văn hoá, Xã hội
Nội dung tổng hợp bao gồm kế hoạch phát triển các ngành Văn hóa thông tin, nhằm thúc đẩy truyền thống văn hóa và nâng cao năng lực truyền thông Phát thanh truyền hình được ưu tiên phát triển để mở rộng phạm vi tiếp cận và nâng cao chất lượng nội dung Ngành thể dục thể thao hướng tới tăng cường sức khỏe cộng đồng và phát triển tài năng thể thao quốc gia Lĩnh vực lao động, thương binh, xã hội tập trung xây dựng các chính sách hỗ trợ và chăm sóc tốt hơn cho người lao động và thương binh Ngành giáo dục - đào tạo đặt mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng cơ sở vật chất và nâng cao kỹ năng cho đội ngũ giảng viên Phát triển khoa học - công nghệ, môi trường nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo vệ môi trường bền vững Ngành y tế, dân số, gia đình và trẻ em tập trung vào nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, kiểm soát dân số và đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ em Các lĩnh vực liên quan còn hướng đến xây dựng chính sách toàn diện nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của cộng đồng.
Tổng hợp, theo dõi và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư phát triển là hoạt động then chốt nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của các ngành, lĩnh vực chính Các báo cáo định kỳ về các lĩnh vực như Giáo dục và Đào tạo, Khoa học công nghệ, Môi trường, Y tế, Dân số, Gia đình và Trẻ em giúp đảm bảo sự cập nhật và điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế Đồng thời, việc theo dõi các hoạt động của các hội đoàn thể, Lao động, Thương binh và xã hội, cũng như phát triển thể dục thể thao, Văn hóa Thông tin, Phát thanh-Truyền hình góp phần nâng cao đời sống văn hóa, xã hội và sức khỏe cộng đồng.
+ Thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác được lãnh đạo giao
- Định biên và phân công: hiện có 3 công chức, viên chức phân công như sau:
1 Phó trưởng phòng phụ trách chung, trực tiếp theo dõi các lĩnh vực Y tế, Dân số, KHH Gia đình trẻ em, các hội đoàn thể có liên quan.
1 Chuyên viên theo dõi các ngành: Giáo dục – Đào tạo, Khoa học và công nghệ môi trường.
1 Chuyên viên theo dõi các ngành: Lao động - Thương binh và xã hội, Thể dục - Thể thao, Văn hóa-Thông tin, phát thanh - Truyền hình.
3.3.2 Phòng kế hoạch quy hoạch tổng hợp
+ Tổng hợp xây dựng kế hoạch ngắn hạn, trung hạn về phát triển kinh tế – xã hội và đầu tư.
Hoạt động của sở Kế Hoạch và Đầu Tư Bình Định
Thực hiện công tác chuyên môn
1.1 Công tác tham mưu tổng hợp, thực hiện chế độ báo cáo:
Trong giai đoạn qua, Sở đã phối hợp chặt chẽ với các ngành của tỉnh để tham mưu hiệu quả về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo phù hợp với chính sách, đường lối của trung ương và thực tế địa phương Sở đã thực hiện tốt nhiệm vụ tổng hợp, đưa ra các báo cáo chính xác về tình hình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, phục vụ các kỳ họp của Thường vụ tỉnh ủy, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh đúng thời gian qui định Những nhiệm vụ cụ thể liên quan đến tham mưu và báo cáo đã được hoàn thành đầy đủ và đúng tiến độ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh một cách bền vững.
Trong năm đầu tiên, đã hoàn thành việc giao kế hoạch Nhà nước cho các sở, ban, ngành, huyện và thành phố, giúp các đơn vị thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đồng thời, phối hợp với các cơ quan chức năng để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tại các công trình, đảm bảo tiến độ và chất lượng Việc khai thác nguồn lực tại địa phương được phân bổ hợp lý, tận dụng hiệu quả các nguồn đầu tư từ trung ương, địa phương và nhân dân Dù đối mặt với những khó khăn khách quan như thiên tai, tác động của sự kiện 11/9 tại Hoa Kỳ, và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn duy trì mức khá cao và ổn định, mặc dù chưa đạt kế hoạch đề ra trong các năm 2000 và 2008.
Trong giai đoạn 1996-2005, kinh tế tỉnh Bình Định ghi nhận mức tăng trưởng liên tục qua từng năm Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) của Bình Định (theo giá 1994) đã có những bước phát triển ấn tượng, phản ánh sự ổn định và phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế địa phương Quá trình này thể hiện nỗ lực của tỉnh trong việc thúc đẩy các ngành kinh tế chủ đạo và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường regiona.
Từ năm 1995, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 2.388,7 tỷ đồng và đến năm 2005 đã tăng lên 5.626 tỷ đồng, phản ánh sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Trong giai đoạn 1996-2005, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm đạt khoảng 9%, với ngành công nghiệp - xây dựng dẫn đầu mức tăng 14,7%, trong khi lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 6,49% và ngành dịch vụ tăng 9,09%, thể hiện sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành kinh tế.
Trong giai đoạn 2001-2005, kinh tế tỉnh tiếp tục tăng trưởng mạnh, với tổng sản phẩm trên địa bàn (theo giá 1994) năm 2005 đạt 5.610 tỷ đồng, gấp 1,54 lần so với năm 2000 Đến năm 2007, tổng sản phẩm này vượt trên 7.000 tỷ đồng, thể hiện sự phát triển bền vững của nền kinh tế địa phương Nhịp độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm giai đoạn 2001-2005 đạt khoảng 9%, phù hợp với chỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết của Đại hội XVI (đạt từ 9-10%), trong khi năm 2006 tăng trưởng lên tới 12%, cho thấy bước tiến rõ rệt của kinh tế tỉnh.
Trong giai đoạn 2006-2007, GDP tăng trưởng 12,5%, phản ánh sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế Các ngành thuộc khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trưởng 14%, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp tăng 5,7% và dịch vụ tăng 10,1%, cho thấy sự đa dạng và ổn định trong các lĩnh vực chính của nền kinh tế Trong hai năm này, các khu vực trên đều duy trì đà tăng bình quân hàng năm 21,3%, 6,2% và 12,7% Giá trị sản xuất công nghiệp cũng tăng trung bình 16% mỗi năm, với tốc độ tăng trưởng 24,4%/năm trong năm 2006 và 2007, thể hiện sự mở rộng mạnh mẽ của ngành công nghiệp Đồng thời, GDP bình quân đầu người (theo giá USD thực tế) tăng từ 219,7 USD năm 2000 lên 401 USD năm, cho thấy sự nâng cao mức sống trung bình của người dân trong khoảng thời gian này. -Tối ưu hóa bài viết SEO với dịch vụ chỉnh sửa cô đọng, đảm bảo giữ ý nghĩa bài phân tích kinh tế chính xác và thu hút.
Bảng 1 Một số chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế theo GDP tỉnh Bình Định Đơn vị: Tỷ đồng
GDP (giá so sánh năm
1 Chia theo ngành kinh tế
2 Chia theo SXVC và phi
- Phi sản xuất vật chất 802,1 1197,2 1978,9 2227,0 2512,9
3 Chia theo NN và phi NN
Bảng 2.Tốc độ tăng trưởng kinh tế (%)
2007 GDP (giá so sánh năm
1 Chia theo ngành kinh tế
2 Chia theo SXVC và phi
- Phi sản xuất vật chất 8.34 10.57 12.54 12.84 12.69
3 Chia theo NN và phi NN
Dựa trên các cơ chế, chính sách của Nhà nước, các ý kiến đóng góp đã được vận dụng phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. -Nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội tỉnh bạn với giải pháp vận dụng chính sách Nhà nước tối ưu! [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha)
Các báo cáo định kỳ về phát triển kinh tế - xã hội và các báo cáo đột xuất luôn được thực hiện đúng hạn, gửi đầy đủ cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, HĐND, UBND tỉnh, và Tỉnh ủy Mối quan hệ chặt chẽ theo ngành dọc của Bộ và Sở đã được duy trì vững chắc, đảm bảo thông tin liên tục và kịp thời hai chiều nhằm nắm bắt chính xác hoạt động của Bộ và báo cáo nhanh tình hình hoạt động của Sở.
Làm đầu mối tổng hợp các Chương trình mục tiêu Quốc gia trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và triển khai các dự án Tham mưu cho UBND tỉnh lồng ghép các chương trình mục tiêu một cách hiệu quả hơn, đặc biệt tại các khu vực khó khăn về phát triển kinh tế, xã hội Điều này giúp thúc đẩy sự phát triển bền vững và đồng đều cho các địa phương, góp phần nâng cao đời sống của người dân.
+ Hoàn thành xây dựng Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010 nhằm phục vụ Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ tỉnh Đồng thời, phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ hoàn thành các văn bản phục vụ Hội nghị quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII Chính quyền địa phương cũng tích cực tham gia các Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XVII, đồng thời xây dựng các chương trình hành động nhằm phát triển kết cấu hạ tầng quan trọng của tỉnh.
Hoàn thành việc rà soát và điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh đến năm 2020 là bước quan trọng trong việc định hướng phát triển bền vững của địa phương Đồng thời, phối hợp với Viện Chiến lược Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) để xây dựng Quy hoạch phát triển kinh tế Hành lang Đông Tây Đường 19 nhằm thúc đẩy liên kết vùng và phát triển hạ tầng Trong chiến lược phát triển tài chính của tỉnh đến năm 2020, các hoạt động này góp phần nâng cao năng lực tài chính, thúc đẩy đầu tư và phát triển kinh tế toàn diện.
+ Tiếp tục soạn thảo trình UBND tỉnh ban hành một số biện pháp khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh.
1.2 Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, các đơn vị đã chấp hành nghiêm túc quy chế đấu thầu và quy chế quản lý đầu tư, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong quá trình thực hiện dự án Việc cải cách thủ tục hành chính đã giúp giảm thiểu thất thoát và lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản, đảm bảo sử dụng ngân sách đúng mục đích, đúng quy trình Nhờ đó, không có trường hợp vi phạm kỹ luật nào xảy ra, góp phần giữ vững kỷ cương, tăng cường hiệu quả quản lý và phát triển các dự án xây dựng cơ bản.
Để ghi kế hoạch các dự án, công trình một cách chủ động trong các năm tiếp theo, cần thực hiện các điều kiện như đẩy mạnh công tác điều tra, khảo sát, lập quy hoạch và kế hoạch chi tiết, đồng thời chuẩn bị các thủ tục hồ sơ dự án và công tác chuẩn bị đầu tư phù hợp Việc này giúp đảm bảo quá trình thực hiện dự án diễn ra thuận lợi, hiệu quả và đáp ứng đúng tiến độ đề ra.
Việc thẩm định và trình duyệt dự án đầu tư đã được thực hiện nhanh gọn, khoa học hơn, nâng cao trách nhiệm của các đơn vị liên quan khi có công văn yêu cầu từ Sở Kế hoạch và Đầu tư Quá trình khảo sát hiện trường trong thẩm định dự án đã được tăng cường nhằm đảm bảo tính chính xác và hiệu quả Từ đầu năm 2001 đến năm 2007, dự án Hạ Tầng Cơ Sở Nông Thôn Dựa Vào Cộng Đồng (CBRIP) đã được triển khai thành công, là một dự án của Chính phủ Việt Nam sử dụng vốn vay của Ngân hàng Thế Giới theo hiệp định phát triển số 3532 – VN ký ngày 06 tháng 11 năm.
Năm 2001, dự án đã được ký kết giữa Hiệp Hội Phát Triển Quốc Tế và Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam nhằm thúc đẩy các hoạt động phát triển bền vững Dự án nằm trong chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo do Chính phủ ban hành theo Quyết định số 622/QĐ – TTg ngày 22 tháng 5 năm 2001, thể hiện sự cam kết của chính phủ Việt Nam trong việc giảm nghèo và nâng cao đời sống cộng đồng.
Thực hiện các công tác khác
2.1 Về chính trị, tư tưởng:
Trong giai đoạn vừa qua, Cấp ủy và Chi bộ thường xuyên nhấn mạnh trách nhiệm của đảng viên trong việc nêu cao vai trò gương mẫu và trách nhiệm công dân Toàn bộ đảng viên trong Chi bộ đã nỗ lực phấn đấu và đạt tiêu chuẩn đảng viên loại, với 100% hoàn thành tốt các nhiệm vụ Điều này thể hiện sự nỗ lực trong việc thực hiện các chỉ đạo của Đảng và góp phần nâng cao chất lượng tổ chức đảng tại địa phương.
1 và được công nhận chi bộ trong sạch vững mạnh.
Năm 2001, Sở đã tích cực tham gia các lớp nghiên cứu Nghị quyết Đại hội IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội XVI của Đảng bộ tỉnh nhằm nâng cao nhận thức chính trị Đồng thời, các công chức của Sở cũng thường xuyên tham gia các lớp trung cấp chính trị và hoàn chỉnh kiến thức quản lý nhà nước theo quy định, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn và hiệu quả công tác.
2.2 Về học tập chuyên môn, nghiệp vụ:
Sở quan tâm đến việc nâng cao cả kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng chính trị cho công chức Công chức tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng do các bộ, ngành tổ chức, đồng thời tự nghiên cứu tài liệu liên quan đến chuyên môn, cũng như cập nhật tình hình phát triển kinh tế, xã hội trong tỉnh, trong nước và quốc tế Họ cũng sử dụng các phương tiện truyền thông để nắm bắt tin tức, bước đầu khai thác thông tin trên mạng internet nhằm phục vụ tốt hơn cho công việc.
Trong giai đoạn mới, nhiều công chức tiếp tục học các lớp ngoại ngữ và nâng cao trình độ tin học để nâng cao khả năng làm việc Các viên chức chưa có bằng đại học cũng được tạo điều kiện hoàn thành chương trình học và tốt nghiệp đại học, nhằm thúc đẩy sự chuyên nghiệp và phát triển năng lực trong công tác.
2.3.Về công tác đoàn thể:
Công đoàn phối hợp chặt chẽ với chính quyền nhằm củng cố và xây dựng tổ chức vững mạnh Công đoàn luôn chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, viên chức toàn cơ quan, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và tinh thần đoàn kết nội bộ Các ngày lễ lớn trong năm được tổ chức trang trọng, nghiêm túc, thể hiện sự quan tâm và tôn vinh giá trị truyền thống của đơn vị Nhờ những hoạt động đảm bảo mục tiêu chăm lo và phát triển cộng đồng, công đoàn cơ quan đã đạt nhiều danh hiệu xuất sắc trong nhiều năm liên tiếp, ghi nhận những thành tích nổi bật trong công tác chuyên môn và phong trào thi đua.
2.4 Về công tác nội bộ cơ quan:
Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Định đã thực hiện Kế hoạch số 11/KH-UB ngày 10/8/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh về sắp xếp, tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa VIII) Quá trình này bao gồm việc đối chiếu và rà soát toàn bộ tình hình tổ chức cán bộ hiện có để trình UBND tỉnh và Ban Tổ chức Chính quyền Đề án Qua đó, tỉnh Bình Định hướng tới nâng cao hiệu quả bộ máy hành chính và phù hợp với các chính sách tinh giản biên chế của Trung ương.
“Sắp xếp và tinh giản biên chế Sở Kế hoạch và Đầu tư.”
Năm 2001, Sở đề xuất UBND tỉnh thành lập Ban Quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn dựa trên cộng đồng Việc này tạo điều kiện thuận lợi cho Ban Quản lý hoạt động và chuẩn bị tốt công tác tiếp nhận nguồn vốn đầu tư từ ngân sách này.
Công tác quản trị cơ quan được triển khai hiệu quả, đảm bảo đáp ứng nhu cầu công tác chuyên môn và thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức Trang thiết bị làm việc ngày càng được nâng cao nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Cơ quan phối hợp chặt chẽ với Công đoàn tổ chức các hoạt động chăm sóc và phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng Đồng thời, việc triển khai công tác tin học hoá quản lý nhà nước và công tác văn thư lưu trữ theo hướng chuyên nghiệp đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và tổ chức trong cơ quan.
2.5 Về công tác thi đua:
Năm 2001 đánh dấu bước ngoặt trong thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005, với nhiều sự kiện quan trọng liên quan đến công tác thi đua Đây là năm thứ 3 triển khai chỉ thị 35/KT-TW ngày 03/6/1998 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong giai đoạn mới, đồng thời thực hiện Nghị định 56/1998-NĐ-CP của Chính phủ về quy định các hình thức, đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng Ngay từ đầu năm, các cơ quan đã tổ chức quán triệt Nghị định 56/1998, hướng dẫn của Viện Thi đua khen thưởng và chỉ đạo công tác thi đua của Ủy ban Nhân dân tỉnh Dựa trên các văn bản hướng dẫn này, Sở đã phát động phong trào thi đua lập thành tích xuất sắc, chào mừng các ngày lễ lớn trong năm và theo 5 nội dung phát động của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cuối mỗi năm, Hội đồng thi đua khen thưởng của Sở tổ chức họp xét thi đua - khen thưởng và đề nghị các mức khen thưởng phù hợp, phản ánh kết quả thi đua năm 2001.
- Huân chương Lao động hạng 3: 01 cá nhân.
- Bằng khen của Chính phủ: 02 cá nhân.
- Bằng khen của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: 01 tập thể phòng và 4 cá nhân
- Bằng khen của UBND tỉnh: gồm tập thể Sở, 2 phòng và 02 cá nhân.
Những khuyết điểm cần khắc phục
Ngoài những kết quả đã đạt được, Sở Kế hoạch và Đầu tư cần nhận diện và khắc phục những khuyết điểm còn tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới Việc xác định rõ các điểm cần cải thiện sẽ giúp cơ quan này phát huy vai trò hỗ trợ phát triển kinh tế và thúc đẩy các dự án đầu tư một cách hiệu quả hơn Tăng cường công tác quản lý, cải thiện quy trình và nâng cao năng lực nhân lực là những giải pháp cần thiết để Sở Kế hoạch và Đầu tư hoạt động bền vững và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu phát triển của địa phương.
3.1 Về công tác chuyên môn
Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan tham mưu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, nhưng chưa chú trọng đẩy mạnh cải tiến công tác lập kế hoạch và nghiên cứu chính sách Việc nâng cao năng lực xây dựng và trình các chính sách, cơ chế phù hợp sẽ giúp khai thác tối đa tiềm năng của tỉnh và thúc đẩy hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế – xã hội.
Việc phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương còn chưa chặt chẽ và chưa thực hiện kiểm tra thực tế kỹ lưỡng tại một số công trình Điều này dẫn đến các sai sót trong quá trình tham mưu trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt các dự án Cần tăng cường phối hợp và thực hiện kiểm tra thực tế để nâng cao tính chính xác và hiệu quả trong công tác lập kế hoạch và tham mưu cho chính quyền địa phương.
+ Chưa triển khai thực hiện công tác thông tin và kiểm tra doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh.
+ Công tác hợp tác đầu tư hoạt động chưa hiệu quả.
Năng lực của nhiều công chức còn hạn chế khi chưa thể bắt kịp xu hướng đổi mới, thiếu tích cực trong việc nghiên cứu tài liệu và đề xuất công việc phù hợp Việc đẩy mạnh học tập để đáp ứng tiêu chuẩn quy định cũng đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả công tác của cán bộ, viên chức.
3.2 Về công tác nội bộ cơ quan
Phần lớn công chức, viên chức của Sở đều đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nhờ vào nỗ lực cá nhân và điều kiện khách quan, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận hạn chế không đáp ứng được tiêu chuẩn chuyên môn Tình trạng dư thừa và thiếu hụt đội ngũ công chức, viên chức cùng lúc đang là vấn đề nan giải, gây ảnh hưởng đến hiệu quả công việc chung Việc phân bổ khối lượng công việc chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng một số người phải làm việc quá tải trong khi số khác lại có ít công việc, gây mất cân đối và gây áp lực không cần thiết.
+ Việc điều hành trong cơ quan, nhất là cấp phòng không cụ thể, chưa dứt khoát và chưa chủ động.