1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng

102 849 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông Hồng
Người hướng dẫn GS.TS. Lê Kim Truyền, PGS.TS. Dương Thanh Lượng
Trường học Trường Đại học Thủy lợi
Chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng công trình thủy lợi
Thể loại đề tài khoa học cấp nhà nước
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cấp nước mùa cạn cho đồng bằng sông Hồng" đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt với các mục tiêu như sau: 1 Đề xuất được cơ sở khoa học để điều hành cấp nước và phân p

Trang 1

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC

NGHIấN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC

VÀ THỰC TIỄN ĐIỀU HÀNH CẤP NƯỚC MÙA CẠN CHO ĐỒNG BẰNG SễNG HỒNG

Báo cáo đề tài nhánh

Phân tích, đánh giá hiện trạng hệ thống công trình

cấp nước đồng bằng sông hồng

Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Lê Kim Truyền

Chủ nhiệm chuyên đề: PGS.TS Dương Thanh Lượng

6757-1

12/3/2007

Hà Nội, tháng 12 năm 2007

Trang 2

TT Họ và tên Đơn vị Chức danh Thành viên

đề tài nhánh

Trang 3

Đề tài nhánh “Phân tích và xử lý số liệu thủy văn” là đề tài số 1 trong tổng số 11 đề tài nhánh của đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp nhà nước

“Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn điều hành cấp nước cho mùa cạn

đồng bằng sông Hồng” Đề tài nhánh thực hiện các nội dung chính sau:

- Thu thập, phân tích, xử lý các số liệu khí tượng thủy văn

- Các tài liệu địa hình

- Các tài liệu thủy văn quan trắc tại các tuyến công trình

Các nội dung trên được phân tích, trình bày cụ thể trong nội dung của bốn chuyên đề thành phần thể hiện trong báo cáo này

Đề mục nghiên cứu không thể triển khai thành công và đạt được kết quả nếu thiếu sự động viên và chỉ đạo của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Thủy lợi, Ban chủ nhiệm đề tài, Phòng Quản lý khoa học, khoa Thủy văn – Tài nguyên nước Thay mặt cho nhóm nghiên cứu, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

Nhóm thực hiện chuyên đề xin bày tỏ lòng biết ơn đến Trung tâm tư liệu, Cục mạng lưới, Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia, Đài Khí tượng thủy văn Đông Bắc và rất nhiều cơ quan liên quan đã giúp chúng tôi thực hiện tốt việc thu thập, phân tích và xử lý số liệu

Do thời gian và trình độ có hạn, những kết quả nghiên cứu đạt được chắc còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tế Tập thể tác giả mong tìm được sự cảm thông và nhất là sự góp ý cho những công tác nghiên cứu tiếp của đông đảo các chuyên gia trong và ngoài ngành, các bạn

đồng nghiệp cùng các độc giả đọc báo cáo này

Xin chân thành cám ơn

Hà nội ngày 30 tháng 10 năm 2007

Trang 4

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LƯU VỰC SÔNG HỒNG VÀ SÔNG THÁI

BÌNH 5

1.1 TỔNG QUÁT VỀ LƯU VỰC SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH 5

1.2 HỆ THỐNG SÔNG HỒNG 6

1.3 HỆ THỐNG SÔNG THÁI BÌNH 8

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH HỒ CHỨA LỚN TRÊN THƯỢNG NGUỒN 11

Chương 2: VỊ TRÍ, ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 14

2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TRÌNH LẤY NƯỚC TRÊN HỆ THỐNG SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH 14

2.2 PHÂN BỐ CÁC CÔNG TRÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC 15

Chương 3: HIỆN TRẠNG CÔNG TRÌNH TƯỚI Ở CÁC VÙNG THUỘC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH 21

3.1 PHÂN VÙNG THỦY LỢI 21

3.2 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 23

3.3 HIỆN TRẠNG CÁC CỐNG LẤY NƯỚC VÙNG ẢNH HƯỞNG TRIỀU 46

3.4 CÁC CÔNG CỐNG TƯỚI VÙNG SÔNG ÍT HOẶC KHÔNG ẢNH HƯỞNG TRIỀU 47 Chương 4 : PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG TRONG 52 4.1 ĐẶC ĐIỂM CHẾ ĐỘ DÒNG CHẢY NHỮNG NĂM KIỆT 52

4.2 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG CHẾ ĐỘ ĐIỀU TIẾT PHÁT ĐIỆN VÀ CẤP NƯỚC CÁC HỒ CHỨA HOÀ BÌNH, THÁC BÀ TRONG THỜI KỲ MÙA KIỆT 61

4.2.1 Phân tích chế độ điều tiết của hồ Hoà Bình trong thời kỳ mùa kiệt 61

4.2.2 Phân tích chế độ điều tiết của hồ Thác Bà trong thời kỳ mùa kiệt 73

4.2.3 Một số kết luận về hiện trạng chế độ điều tiết các hồ chứa thượng nguồn trong thời kỳ mùa kiệt 74

4.3 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG ĐIỀU TIẾT CÁC HỒ CHỨA THƯỢNG NGUỒN ĐẾN KHẢ NĂNG CẤP NƯỚC HẠ DU NHỮNG NĂM HẠN 75

4.3.1 Về phạm vi ảnh hưởng của chế độ điều tiết hồ chứa thượng nguồn đến các công trình cấp nước hạ du 75

4.3.2 Phân tích ảnh hưởng điều tiết ngày đêm hồ Hoà Bình đến sự thay đổi mực nước tại các cửa lấy nước vùng hạ du 77

4.4 KẾT LUẬN 90

Trang 5

Gần đây, về mùa cạn việc lấy nước trên hệ thống sông Hồng gặp phải nhiều khó khăn, sông thường không cung cấp đủ nước tưới Điều đó đặt ra một vấn đề là cần phải nghiên cứu để chọn ra một phương pháp điều hành cấp nước hợp lý trên cơ sở hài hòa hoặc tối ưu hóa điều hành để phát huy những nguồn lợi và giảm thiểu những tác động tiêu cực mà hệ thống sông tạo ra

Muốn làm được điều đó phải xem xét mạng lưới sông Hồng trên quan điểm hệ thống

với các bộ phận tạo nên nó (các lưu vực, các tuyến sông, các điểm lấy nước, các hồ điều

tiết, ) đồng thời cũng cần xem xét nó trong một vấn đề chung gọi là quản lý tổng hợp sử

dụng nước trên toàn lưu vực với các nội dung phòng lũ, trữ nước và phát điện trong mùa

lũ, cân đối nguồn nước cho các mục đích sử dụng khác nhau trong mùa cạn bao gồm cấp nước, phát điện, giao thông và môi trường

Về dòng chảy mùa cạn và giải quyết mâu thuẫn giữa phát điện với nhu cầu cấp nước cho hệ thống sông Hồng còn tồn tại một số bất cập như sau:

1) Nhiệm vụ cấp nước cho hạ lưu đã thay đổi so với thiết kế ban đầu Nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế có xu thế ngày càng tăng, thậm chí là tăng đột biến do phát triển kinh tế, dân số tăng, đặc biệt là cấp nước vụ đông đang trở thành vụ chính do tăng vụ và thâm canh

2) Tình hình thời tiết có nhiều biến động do ảnh hưởng của các hiện tượng khí hậu đặc biệt làm cho các chu kỳ khô hạn có xu thế gia tăng và nước đến trong mùa cạn ít làm tăng tính khốc liệt của tình hình thiếu nước

3) Đối với hồ chứa Hoà Bình và Thác Bà mới chỉ có quy trình vận hành chống lũ mà chưa có quy trình cấp nước trong mùa cạn cho vùng đồng bằng, vì vậy chưa chủ động trong việc lập kế hoạch hàng năm cho phát điện và cấp nước

rất cấp thiết, do đó đề tài cấp nhà nước "Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn điều hành

Trang 6

cấp nước mùa cạn cho đồng bằng sông Hồng" đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn phê duyệt với các mục tiêu như sau:

1) Đề xuất được cơ sở khoa học để điều hành cấp nước và phân phối nước cho toàn mùa kiệt và những năm hạn

2) Đề xuất được quy trình vận hành các hồ chứa phục vụ phát điện và cấp nước trong thời kỳ mùa kiệt trên hệ thống sông Hồng

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, đề tài gồm những nội dung chính như sau:

1) Thu thập, phân tích và sử lý số liệu khí tượng thuỷ văn, số liệu về quy hoạch và dân sinh kinh tế, tài liệu về địa hình, các số liệu quan trắc thuỷ văn tại các tuyến công trình

2) Điều tra đánh giá hiện trạng công trình lấy nước và tình hình sử dụng nước hệ thống sông Hồng, điều tra hiện trạng xâm nhập mặn và vận hành cấp nước các công trình lấy nước đồng bằng sông Hồng

3) Điều tra hiện trạng điều hành cấp nước hồ chứa Hoà Bình, Thác Bà và công tác quản lý nước trong thời kỳ kiệt, phân tích, đánh giá hiện trạng công trình

khoa học và thực tiễn cho việc thực hiện đề tài chung "Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực

tiễn điều hành cấp nước mùa cạn cho đồng bằng sông Hồng"

Khi thực hiện được đề tài này, nhóm đề tài được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, đơn

vị trong việc thu thập các số liệu về các hệ thống công trình lấy nước trên hệ thống sông Hồng, tìm hiểu các giải pháp chống hạn để đảm bảo nước tưới cho nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh, các ý kiến khoa học về việc xây dựng, quản lý, điều hành hệ thống thủy lợi

Nhóm tác bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới Cục Thủy lợi - Bộ Nông nghiệp và PTNT, các sở Nông nghiệp và PTNT, các Chi cục Thủy lợi của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Viện Quy hoạch thủy lợi, Viện Khoa học thủy lợi, các công ty khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống, Nam Đuống, Bắc Hưng Hải, Bắc Thái Bình, Nam Thái Bình, Phù Sa - Đông Mô, Sông Nhuệ, Đan Hoài, và nhiều đơn vị, cá nhân khác

Chúng tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Thủy lợi và các đơn vị, cá nhân trong Trường đã tạo điều kiện, giúp đỡ và phối hợp với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 7

CHUƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LƯU VỰC SÔNG HỒNG VÀ SÔNG

THÁI BÌNH

1.1 TỔNG QUÁT VỀ LƯU VỰC SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH

Lưu vực sông Hồng - Thái Bình trải dài từ vĩ độ 20o00 tới 25o30’ và từ kinh độ

100o00’ đến 107o10’ Đông Lưu vực tiếp giáp với lưu vực sông Trường Giang và Châu Giang của Trung Quốc ở phía Bắc, lưu vực sông Mê Công ở phía Tây, lưu vực sông Mã

ở phía Nam và vịnh Bắc Bộ ở phía Đông

Tổng diện tích lưu vực sông Hồng - Thái Bình khoảng 169 nghìn km2 Trong đó, phần diện tích ở Việt Nam khoảng 86,7 nghìn km2, bằng 26 % diện tích nước ta và bằng khoảng 51 % so với toàn bộ lưu vực; phần ngoài nước khoảng 82,3 nghìn km2, bằng khoảng 49 % tổng diện tích Lưu vực

Hình 1.1 Vị trí địa lý lưu vực sông Hồng - Thái Bình trên lãnh thổ Việt Nam

Lưu vực sông Hồng - Thái Bình liên quan tới 26 tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, Tây Bắc và Đông Bắc có tổng diện tích tự nhiên khoảng 115.750.000

km2

Như vậy, toàn bộ phía Bắc nước ta, bao gồm vùng Đồng bằng sông Hồng, Tây Bắc, Đông Bắc, với khoảng 75,4 % diện tích thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình, cùng với các hệ thống sông khác như: Bằng Giang, Kỳ Cùng ở Lạng Sơn, thượng nguồn sông Mã,

Trang 8

sông Mê Công ở Sơn La, Lai Châu (cũ) và các sông ven biển Quảng Ninh bao trùm toàn

bộ 26 tỉnh, thành phố trên tổng số 64 tỉnh, thành phố cả nước và khoảng 35 % diện tích lãnh thổ nước ta

Lưu vực sông có vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, bao gồm 8 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và năm 2004 đã bổ sung thêm 3 tỉnh mới là: Hà Tây, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh Đây là vùng kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung, bởi lưu vực có một tiềm năng kinh tế đa dạng và dồi dào, một nguồn nhân lực phong phú và năng động, lại nằm ở một vị trí địa lý vô cùng trọng yếu, có thủ đô Hà Nội

và cảng Hải Phòng, cảng hàng không quốc tế Nội Bài và trung tâm du lịch nổi tiếng ở tỉnh Quảng Ninh

Dân số sống trên lưu vực khoảng 29,26 triệu người, trong đó 20 % sống ở đô thị, 80

% còn lại sống ở khu vực nông thôn Mật độ trung bình ở vùng đồng bằng Bắc Bộ khoảng 1.000 người/ km2, bình quân trên lưu vực là 277 người/ km2

Lưu vực sông Hồng - Thái Bình có thế mạnh về phát triển các ngành kinh tế như sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, đánh bắt thủy - hải sản, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, du lịch và dịch vụ và năng lượng, chủ yếu là thủy điện và các dạng năng lượng khác, giao thông vận tải và viễn thông Với thế mạnh

đó, lưu vực sông Hồng - Thái Bình, mà trọng tâm là tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng

- Quảng Ninh và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nói lên như là một lưu vực có tiềm năng kinh tế quan trọng vào bậc nhất nước ta hiện nay

Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy xuống phía đông nam vào Việt Nam và cuối cùng đổ ra Biển Đông Khi vào Việt Nam sông Hồng, chảy giữa hai dãy núi Hoàng Liên Sơn và Con Voi về phía đông nam xuống vùng đồng bằng, chảy qua châu thổ sông Hồng và cuối cùng đổ ra Biển Đông

Sông Đà có diện tích lưu vực khoảng 52.600 km2 và chiều dài sông khoảng 980 km, khoảng 45% sông ở Trung Quốc và 55% còn lại ở Việt Nam Sông Lô có diện tích lưu vực khoảng 39.000 km2 trong đó có 22.748 km2 là ở Việt Nam Chiều dài sông Lô vào khoảng 470 km

Sông Thái Bình bắt nguồn từ Việt Nam về phía bắc của Hà Nội, chảy về phía đông nam và cuối cùng đổ ra Biển Đông Ở phía nam Hà Nội, sông Đuống tách từ sông Hồng

và nhập vào sông Thái Bình chảy về phía đông Hệ thống sông Thái Bình do 3 sông: Cầu, Thương và Lục Nam hợp thành Hệ thống sông nằm ở khu vực đông bắc Bắc Bộ, phía tây và phía bắc giáp lưu vực sông Hồng, phía đông giáp hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng Giang, phía đông nam giáp lưu vực các sông nhỏ ở Quảng Ninh và phía nam giáp vịnh Bắc Bộ Phần phía tây và tây bắc là vùng núi cao thuộc cánh cung sông Gâm, Ngân Sơn - Yên Lạc quy tụ về dãy núi Tam Đảo

Các phần sau đây là mô tả tóm tắt các phụ lưu và phân lưu chính của hệ thống sông Hồng - Thái Bình

1.2 HỆ THỐNG SÔNG HỒNG

Sông Thao:

Sông Thao là dòng chính của sông Hồng, bắt nguồn từ dãy núi Nguỵ Sơn cao trên 2.000m thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Sông Thao có chiều dài sông 902 km (tính đến

Trang 9

Việt Trì) trong đó trong nước là 332 km, diện tích lưu vực là 51.800 km2 (phần trong nước là 12.000 km2)

Lưu vực sông Thao nằm ở vị trí chuyển tiếp từ Đông Bắc sang Tây Bắc của Bắc Bộ Giới hạn phía đông là dãy núi con Voi, nơi phân chia đường phân nước lưu vực giữa sông Chảy và sông Thao, đỉnh núi cao nhất 1.252 m Giới hạn phía Tây là dãy Hoàng Liên Sơn - Puluông, đây là đường phân nước của 2 lưu vực sông đà và sông Thao với đỉnh Phan-xi-păng cao nhất nước ta 3143 m

Hình 1.2 Bản đồ lưu vực sông Hồng - Thái Bình

Sông Đà

Sông Đà là sông cấp I của hệ thống sông Hồng, cũng bắt nguồn từ vùng núi cao Vân Nam Trung Quốc Diện tích lưu vực là 52.900 km2, trong đó 26800 km2 nằm trong lãnh thổ nước ta Sông Đà chảy vào nước ta từ Pa Tháp - Mường Tè tỉnh Lai Châu, nhập lưu sông Thao tạo thành sông Hồng tại Trung Hà Lưu vực nằm ở phía tây bắc bắc bộ, kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có bề rộng trung bình 80 km Phía đông có dãy núi Hoàng Liên Sơn - Pù Luông với các đỉnh cao từ 2.500 m đến trên 3.000 m, là đường phân nước giữa sông Thao và sông Đà Phía Tây có dãy núi cao Pu-đen-đing (1.886 m)

và Đôi Thôi (1.198 m) là đường phân nước giữa sông Đà với sông Mê Công và sông Mã Hướng dốc chung của địa hình theo hướng Tây bắc - Đông nam rõ rệt

Trang 10

ta

Sông Chảy

Sông Chảy là sông nhánh lớn thứ hai trong của sông Lô, bắt nguồn từ núi Tây Con Lĩnh cao 2419 m, diện tích lưu vực là 6.500 km2, trong đó 4.580 km2 nằm trong lãnh thổ nước ta, chiều dài dòng chính là 319 km Lưu vực sông chảy được giới hạn phía bắc là vùng núi cao 1.500m, đường phân nước giữa sông Chảy và sông Lô Dãy núi Con voi kéo dài từ Tây Bắc xuống Tây Nam phân cách giữa sông Chảy và sông Thao, phía đông

và đông nam là dãy núi Tây Côn Lĩnh và dãy núi thấp phân chia lưu vực giữa sông Chảy

và dòng chính sông Lô

Sông Phó Đáy

Sông Phó đáy là sông nhành của sông Lô, diện tích lưu vực 1.610 km2 và chiều dài dòng chính là 170 km, bắt nguồn từ vùng núi Tam Tao cao trên 1.000m, chảy theo hướng gần đông bắc và tây nam, nhập vào sông Lô gần Việt Trì, cách cửa sông Lô 2 km Sông Phó Đáy được giới hạn về phía Bắc - Tây Bắc bởi cánh cung sông Gâm, phía Đông và Nam là dãy núi Tam Đảo Nằm giữa hai dãy núi cao và kéo dài vì vậy thung lũng sông Phó đáy cũng hẹp và kéo dài

1.3 HỆ THỐNG SÔNG THÁI BÌNH

Hệ thống sông Thái Bình bao gồm 3 sông chính hợp thành tại Phả lại là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam; dòng chính là sông Cầu Hệ thống sông Thái Bình có diện tích lưu vực tính đến Phả Lại bằng 12.680 km2, độ cao bình quân từ 150 m đến 200

m, thấp hơn các khu vực xung quanh Mật độ sông suối phân bố không đều từ 0,5 đến 1,5 km/km2 Mạng lưới sông suối trên lưu vực xắp xếp như một hình quạt mở rộng về phía đông bắc và điểm quy tụ ở Phả Lại

Sau đây giới thiệu một số nhập lưu chính tạo thành hệ thống sông Thái Bình:

Sông Cầu

Sông Cầu là dòng chính của sông Thái Bình, bắt nguồn từ vùng núi Tam Tao và hợp lưu với sông Thương ở Phả Lại Diện tích lưu vực 6.030 km2 chiếm 47% diện tích lưu vực sông Thái Bình tính đến Phả Lại, chiều dài sông chính tính đến Phả Lại bằng 288

km

Lưu vực sông Cầu phía tây, tây bắc giáp lưu vực sông Phó Đáy và sông Gâm Phía Bắc, đông bắc giáp lưu vực sông Kỳ Cùng, sông Thương Phía Nam giáp sông Hồng Lưu vực sông Cầu có dạng dài, hệ số tập trung nước lớn, mạng lưới sông suối khá phát triển Mật độ sông suối trung bình từ 0,95 km ÷ 1,2 km/ km2

Trang 11

Bảng 1.1 Đặc trưng hình thái một số sông chính trong hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình

Diện tích lưu vực (km 2 ) Chiều dài (km)

Nước ngoài

Toàn

bộ

Trong nước

Nước ngoài

Sông Thương là một trong ba sông nhánh của sông Thái Bình Diện tích lưu vực

6.650 km2, chiều dài lưu vực 157 km Sông Thương bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước

gần bản Thi thuộc tỉnh Lạng Sơn

Ở thượng lưu sông Thương, thung lũng hẹp, độ rộng trung bình chỉ vào khoảng 6

km, dòng sông thẳng, bờ phải có núi đá vôi dựng đứng sát bờ sông, độ dốc đáy sông tới

30%o Ở trung lưu sông Thương (từ Chi Lăng đến Bố Hạ) thung lũng sông mở rộng, độ

dốc đáy sông hạ thấp Núi đá voi đã phân bố xa bờ Hạ lưu (từ Bố Hạ về cửa sông) lòng

sông rộng, trung bình 70-120m, độ dốc đáy sông rất nhỏ Sông Thương có độ dốc đáy

sông trung bình 0,56%o

Sông Lục Nam

Sông Lục Nam có thể coi là sông nhánh cấp một của sông Thương, có diện tích là

Trang 12

3.070 km2, chiều dài 175 km Sông Lục Nam chảy chủ yếu theo hướng đông bắc tây nam

Phía bắc là dãy núi Tháp Bảo Đài, phía nam và đông là cánh cung Đông Triều

Sông Đáy

Sông Đáy vốn là một phân lưu bên bờ phải sông Hồng với diện tích lưu vực xấp xỉ

5.800 km2 Chiều dài sông vào khoảng 239 km bắt đầu từ hạ lưu đập Đáy qua các tỉnh Hà

Tây, Hà Nam, Nam Định và đổ vào vịnh Bắc Bộ ở cửa Đáy (Ninh Bình) Nhìn chung, về

mặt tổng thể, lưu vực sông Đáy dài và hẹp Từ vị trí bắt nguồn, sông chảy qua một vùng

đồng bằng rộng lớn, địa hình bằng phẳng nên độ dốc lòng sông rất nhỏ

Lưu vực sông Hồng-Thái Bình liên quan tới 26 tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng

bằng sông Hồng, Tây Bắc và Đông Bắc có tổng diện tích tự nhiên khoảng 115.750.000

km2

Tài nguyên nước mặt lưu vực sông Hồng - Thái Bình được phân chia theo các lưu

vực sông như sau:

- Sông Đà đến Hoà Bình, 55,4 tỷ m3, chiếm 41,4 %;

- Sông Thao đến Yên Bái, 24,2 tỷ m3, chiếm 18,1 %;

- Sông Lô đến Phù Ninh, 32,6 tỷ m3, chiếm 24,4 %;

- Sông Thái Bình đến Phả Lại 7,9 tỷ m3, chiếm 5,9 %;

Và khu vực đồng bằng, sông Đáy, 7,7 tỷ m3, chiếm 5,8 % tổng lượng dòng chảy trên

lưu vực (bảng 1.2)

Bảng 1.2: Phân bố tổng lượng nước trung bình năm ở các sông

Sông và vị trí trạm quan

toàn lưu vực

Tỷ m3 toàn lưu vực % so với

Dòng chảy mùa kiệt ngày nay và trong tương lai đã chịu tác động rất lớn do tác động

của con người đó là xây dựng các công trình điều tiết nước, lấy nước, cải tạo dòng chảy

v.v Các công việc này phát triển mạnh nhất là từ thập kỷ 80 trở lại đây, đặc biệt là từ

sau khi hồ Hoà Bình đi vào vận hành khai thác

Trên địa phận lưu vực thuộc Trung Quốc do không có số liệu mà chỉ được thông tin

là: trên sông Nguyên đã làm một số hồ chứa dẫn nước tưới với dung tích 409.106 m3 dẫn

26,7 m3/s; sông Lô chứa 326.106 m3 dẫn 48,4 m3/s, sông Lý Tiên chứa 6,8.106 m3 dẫn 7,1

Trang 13

m3/s (là số liệu năm 1960); ngoài ra còn các công trình thuỷ điện từ 1000 KW ÷ 4000

KW Có hai công trình trên sông Nguyên ở Nam Khê (5 m3/s) và Nghiệp Hảo (6 m3/s)

Từ 1960 đến nay chắc chắn đã có nhiều công trình mới ra đời nên chưa thể khẳng định được tác động của chúng đến các dòng chảy của các sông đổ về Việt Nam

Hồ chứa Thác Bà, hoàn thành năm 1972, nói chung có thể bổ sung thêm khoảng 100

m3/s cho các tháng mùa kiệt Song do vừa phát điện vừa điều tiết cấp nước cho hạ du nên việc cấp nước khó theo quy trình vận hành được, mà phải căn cứ vào điều kiện khí tượng thuỷ văn để có yêu cầu khi cần thiết

Hồ chứa Hoà Bình, hoàn thành và đưa vào sử dụng từ 1990 làm khả năng điều tiết mùa kiệt tăng vọt thêm khoảng 300 ÷ 400 m3/s Do là hồ lợi dụng tổng hợp: Chống lũ, phát điện, điều tiết nước mùa kiệt nên các nhiệm vụ chỉ có thể thoả mãn tương đối nhưng

ta vẫn có đủ khả năng để điều hành chống hạn khi thời tiết khắc nghiệt xảy ra ở Bắc bộ như năm 1998 hay chính đợt hạn vào các năm 2001, 2003, 2004, 2005 và 2006 vừa qua

Từ dưới Việt Trì và Phả Lại các công trình thuỷ lợi chủ yếu lấy nước là cống và trạm bơm Nhìn chung, từ sau khi công trình Thuỷ điện Hoà Bình hoàn thành và đưa vào sử dụng, ngoài việc chống lũ, hai hồ chứa thuỷ điện lớn trên lưu vực đã điều tiết dòng chảy mùa cạn tăng thêm trung bình khoảng 43 triệu m3/ngày Lưu lượng bổ sung này tương đương với khoảng 50 % lưu lượng trung bình trong 3 tháng mùa cạn của sông Hồng tại Sơn Tây ở trong điều kiện tự nhiên - chưa có sự điều tiết của các hồ chứa Việc bổ sung nguồn nước từ hai hồ chứa này có ý nghĩa quyết định, đảm bảo cho việc khai thác, sử dụng nguồn nước ở khu vực đồng bằng sông Hồng - Thái Bình trong mùa cạn

Tuy nhiên, để đảm bảo khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn nước được điều tiết từ các hồ chứa khai thác sử dụng tổng hợp này, cần phải tiếp tục làm rõ thêm nhiều vấn đề về cơ chế, chính sách; quy trình vận hành và phối hợp quy trình vận hành của các công trình; sự phối hợp, chia sẻ lợi ích, trách nhiệm giữa các ngành sử dụng nước, các địa phương, trên phạm vi toàn lưu vực

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH HỒ CHỨA LỚN TRÊN THƯỢNG NGUỒN

Trang 14

+ Sau khi có Thuỷ điện Sơn la: 3 tỷ m3 (từ +98,8m ~ +115 m)

- Công suất bảo đảm:

+ Sau khi có Thuỷ điện Sơn la: 671 MW

- Lưu lượng lớn nhất qua nhà máy: 2400 m3/s

- Lưu lượng nhỏ nhất theo thiết kế đảm bảo cấp nước hạ du: 600 m3/s

- Công suất đảm bảo: 41,0 MW

- Lưu lượng lớn nhất qua tuốc bin: 420 m3/s

Ghi chú: Theo thiết kế kỹ thuật các thông số như sau:

- Công suất lắp máy: 108 MW

- Công suất đảm bảo: 39,2 MW

- Lưu lượng lớn nhất qua tuốc bin: 400 m3/s

Từ năm 1977 đến nay, do thiết bị các tổ máy được thay thế nên các thông số cơ bản của nhà máy thuỷ điện đã thay đổi theo các thống kê ở trên

3 Công trình thuỷ điện Tuyên quang

Trang 15

Công trình Thuỷ điện Tuyên quang đang được xây dựng và dự kiến sẽ đưa vào khai thác năm 2007 Các thông số chính như sau:

Hình thức điều tiết: Điều tiết nhiều năm

- Mực nước gia cường ứng với lũ 0.01%: 123,89 m

- Mực nước gia cường ứng với lũ 0.02%: 122,55 m

- Mực nước dâng bình thường MNDBT: 120,00 m

- Dung tích điều tiết nhiều năm Vnn: 622×106 m3

- Dung tích điều tiết năm Vn: 1070×106 m3

- Dung tích chết Vc: 561×106 m3

- Dung tích phòng lũ Vpl: (1000 ÷1500)×106 m3

- Công suất lắp máy Nlm: 342 MW

- Lưu lượng max Qmax qua nhà máy: 750 m3/s

4 Hồ chứa Sơn La

- Hình thức điều tiết: Điều tiết mùa

- Mực nước dâng bình thường: 215 m

- Lưu lượng lớn nhất qua nhà máy: 3460 m3/s

Trang 16

Loại hình các công trình cấp nước phù hợp với từng vùng địa hình, nhu cầu dùng nước và khả năng về tài nguyên nước, tần suất đảm bảo phụ thuộc vào hộ sử dụng nước (nông nghiệp 75 %, công nghiệp và dân sinh thường 95÷99 % và được ưu tiên cao)

Hệ thống các công trình thuỷ lợi trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình như hồ chứa, cống điều tiết, trạm bơm lập nên một hệ thống cấp nước cho lưu vực sông Hồng

1 Khu vực miền núi

Thường đồng ruộng phân tán, nhỏ hẹp, dân cư phân tán; công trình cấp nước phổ biến là các đập dâng và kênh dẫn nước lợi dụng dòng chảy cơ bản; những khu vực đồng ruộng tập trung có điều kiện thì làm hồ chứa điều tiết dẫn nước để tưới, cấp nước sinh hoạt, chăn nuôi và kể cả phát điện, có nơi dòng chảy dồi dào làm thuỷ luân và trạm bơm điện

2 Khu vực trung du

Loại hình công trình đa dạng có cả các loại ở miền núi và đồng bằng với nhiều quy

mô khác nhau từ nhỏ đến lớn, bao gồm cả loại hình công trình độc lập và khai thác, sử dụng nước theo hệ thống

- Hệ thống đập dâng kênh dẫn khá lớn như: Liễn Sơn - Bạch Hạc, Thác Huống - Núi Cốc, Cầu Sơn - Cấm Sơn cùng với các đập dâng, hồ nhỏ

- Những hồ chứa vừa cũng được xây dựng khá nhiều không chỉ điều tiết cấp cho vùng trung du mà còn cho cả các khu vực đồng bằng như các hồ: Đại Lải, Núi Cốc, Cấm Sơn, Đồng Quan, Suối Hai, Đồng Mô - Ngải Sơn, Tân Xã,

- Các hệ thống tưới bằng trạm bơm lớn lấy trực tiếp từ sông trục cấp cho đồng ruộng và dân cư như Bạch Hạc, Cầu Trắng, Lê Tính

Trang 17

Bắc Thái Bình và Nam Thái Bình

hệ thống thuỷ nông được lấy trên các sông qua cống điều tiết dưới đê, sau đó được phụ trợ bằng các trạm bơm Vị trí các cống và trạm bơm được thể hiện trên bản đồ trong hình

bị bơm tay), nước mưa hứng từ mái nhà và các nguồn nước mặt (ao hồ, sông ngòi và kênh mương) Tuy nhiên, phần lớn người dân nông thôn phụ thuộc vào nguồn nước ngầm

và trong nhiều trường hợp, những nguồn nước này không đáng tin cậy và bị nhiễm bẩn Toàn lưu vực có 2.531 trạm bơm khai thác, sử dụng nước tưới cho nông nghiệp thì ở Đồng bằng sông Hồng có 2.198 công trình cấp nước tưới cho khoảng 371 nghìn ha, chiếm 86%, phần còn lại ở khu vực miền núi, trung du của lưu vực chỉ có khoảng trên

300 công trình cấp nước tưới cho khoảng 60 nghìn ha, chiếm 14% so với tổng năng lực cấp nước tưới bằng loại hình này trên phạm vi toàn lưu vực

Như vậy, trên phạm vi lưu vực, việc khai thác sử dụng nước tưới bằng các công trình trạm bơm là chủ yếu và tập trung ở khu vực đồng bằng

2.2 PHÂN BỐ CÁC CÔNG TRÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC

1 Phân bố các công trình khai thác, sử dụng nước theo lưu vực sông

Trên phạm vi toàn lưu vực hiện có gần 5.500 công trình cấp nước tưới cho khoảng

750 nghìn ha và tiêu cho khoảng 530 nghìn ha; trong đó:

- Khu vực đồng bằng sông Hồng có gần 3.170 công trình, cấp nước tưới cho khoảng 570 nghìn ha, chiếm 58 % về số lượng và 77 % về diện tích;

Trang 18

- Khu vực thuộc lưu vực sông Đà có 646 công trình, cấp nước tưới cho

khoảng 30 nghìn ha, chiếm 12 % về số lượng và 3 % về diện tích;

- Khu vực đồng bằng sông Lô có trên 1.000 công trình, cấp nước tưới cho

khoảng 26 nghìn ha, chiếm 19 % về số lượng và 3,5 % về diện tích;

- Khu vực thuộc lưu vực sông Thao có 283 công trình, cấp nước tưới cho

khoảng 44 nghìn ha, chiếm 5 % về số lượng và 6 % về diện tích;

- Khu vực thuộc thượng lưu sông Thái Bình có 352 công trình, cấp nước tưới

cho khoảng 78 nghìn ha, chiếm 6 % về số lượng và 10 % về diện tích

Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng, năng lực và tỷ lệ cấp nước tưới, tiêu

Số công trình Năng lực tưới Năng lực tiêu

Tỷ lệ

%

Diện tích, ha

5 Khu vực thượng lưu

2 Phân bố các công trình khai thác, sử dụng nước theo loại hình

Trên phạm vi toàn lưu vực, có:

- Trên 1.900 hồ đập cấp nước tưới cho khoảng 154 nghìn ha, chiếm 21 %;

- 2.531 trạm bơm cấp nước tưới cho khoảng 432 nghìn ha, chiếm 58 %;

- 330 cống có cấp nước tưới khoảng 145 nghìn ha, chiếm 20 %

- và một số công trình kết hợp với thuỷ điện, thuỷ luân, công trình tạm, nhỏ lẻ khác

Bảng 2.2 Tổng hợp các loại hình khai thác, sử dụng nước

TT Loại hình khai thác, sử dụng nước Tổng số

công trình

Tổng năng lực cấp nước tưới, ha Tỷ lệ %

Trang 19

Bảng 2.3 Tổng hợp loại hình khai thác sử dụng nước tưới bằng trạm bơm

TT Loại hình khai thác,

sử dụng nước

Tổng số công trình

Tổng năng lực cấp nước tưới, ha Tỷ lệ %

1 Đồng bằng sông Hồng 2.198 371.645 86,1

Bảng 2.4 Tổng hợp loại hình khai thác sử dụng nước tưới từ hồ, đập

TT Loại hình khai thác,

sử dụng nước

Tổng số công trình

Tổng năng lực cấp nước tưới, ha Tỷ lệ %

Bảng 2.5 Tổng hợp loại hình khai thác sử dụng nước tưới từ cống

TT Loại hình khai thác,

sử dụng nước

Tổng số công trình

Tổng năng lực cấp nước tưới, ha Tỷ lệ %

Bảng 2.6 Tổng hợp loại hình khai thác sử dụng nước tưới từ loại khác ở các vùng khác nhau

TT Loại hình khai thác, sử dụng nước công trình Tổng số Tổng năng lực cấp nước tưới, ha Tỷ lệ %

Trang 20

3 Phân bố các công trình khai thác, sử dụng nước theo quy mô

Bảng 2.7 Tổng hợp quy mô khai thác, sử dụng nước trên toàn lưu vực

TT Quy mô khai thác sử dụng nước công trình Số lượng số công trình Tỷ lệ % theo Năng lực cấp nước, ha Tỷ lệ % theo năng lực cấp nước

Trang 21

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí các cống lấy nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình

Trang 22

Hình 3.2 Sơ đồ vị trí các trạm bơm trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình

Trang 23

Chương 3 HIỆN TRẠNG CÔNG TRÌNH TƯỚI Ở CÁC VÙNG

THUỘC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH

3.1 PHÂN VÙNG THỦY LỢI

Toàn bộ diện tích đất vùng đồng bằng sông Hồng được chia làm 21 khu thủy lợi như sau:

1 Khu thủy nông Liễn Sơn thuộc lưu vực sông Phó Đáy

Khu thủy nông Liễn Sơn thuộc lưu vực sông Phó Đáy Lưu vực sông Phó Đáy có diện tích đất tự nhiên 151.235 ha, trong đó đất nông nghiệp là 26.678 ha, đất canh tác 18.873 ha bao gồm diện tích của các tỉnh Bắc Cạn (H Chợ Đồn 15/22 xã và thị trấn), tỉnh Vĩnh Phúc (H Lập Thạch 21 xã, thị trấn) và tỉnh Tuyên Quang (Yên Sơn 7 xã / 36 xã, Sơn Dương 18/33 xã)

2 Khu Bắc Đuống

Bao gồm diện tích đất đai của các huyện Tiên Sơn, Quế Võ, Yên Phong, Thị xã Bắc Ninh, Thuận Thành, Gia Lương và một phần các huyện Đông Anh, Gia Lâm và Mê Linh với tổng diện tích tự nhiên là 80.910 ha, diện tích đất nông nghiệp là 48.663 ha, diện tích đất canh tác là 45.043 ha

3 Khu sông Nhuệ (Vùng hữu sông Hồng)

Khu vực có địa hình đồng bằng lòng máng thấp, trũng ở giữa mà sông Nhuệ là trục chính, cao ở hai bên ven sông Hồng và sông Đáy Đất đai thuộc nhóm phù sa sông Hồng

có độ phì cao Diện tích tự nhiên là 132.356 ha, trong đó diện tích đất canh tác là 81.148

ha Đặc biệt đây là khu vực có thủ đô Hà Nội, là vùng dân cư kinh tế trọng điểm của cả nước Khu vực này bao gồm 4 quận nội thành thành phố Hà Nội, huyện Thanh Trì, huyện

Từ Liêm, huyện Đan Phượng, huyện Đan Hoài, huyện Thanh Oai, huyện Thường Tín và Thị Xã Hà Đông, huyện Phú Xuyên, huyện Ứng Hòa, huyện Kim Bảng, huyện Duy Tiên (Hà Nam)

4 Khu Sông Tích - Thanh Hà (Vùng hữu sông Hồng)

Khu sông Tích - Thanh Hà có diện tích tự nhiên là 183.221 ha, trong đó diện tích canh tác là 79.222 ha gồm TX Sơn Tây, Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức Trong đó vùng núi Ba Vì gồm 7 xã miền núi có nhiều ruộng màu,

ít lúa, biện pháp tưới chủ yếu bằng hồ, đập tự chảy

5 Khu Hữu Đáy (Vùng hữu sông Hồng)

Bao gồm diện tích đất đai của các huyện Kim Bảng, huyện Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam) Tổng diện tích tự nhiên 14.457 ha trong đó đất nông nghiệp 3.434 ha, đất canh tác 2.944 ha

6 Khu Bắc Nam Hà (Vùng hữu sông Hồng)

Là một khu hoàn toàn đồng bằng bao gồm diện tích đất đai của hai tỉnh Hà Nam và Nam Định Tỉnh Hà Nam gồm các huyện: Lý Nhân trừ 1/2 xã huyện Thanh Liêm, thị xã Phủ Lý, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Định gồm các huyện ý Yên, Vụ Bản, thành phố Nam

Trang 24

Định, huyện Mỹ Lộc

7 Khu Bắc Ninh Bình (Vùng hữu sông Hồng)

Khu bắc Ninh Bình bao gồm diện tích đất đai huyện Gia Viễn (16 xã) và huyện Nho Quan(22 xã) với tổng diện tích tự nhiên: 58.703 ha trong đó đất nông nghiệp: 21.812 ha, đất canh tác 17.967 ha

8 Khu Nam Ninh Bình (Vùng hữu sông Hồng)

Bao gồm diện tích đất đai của 6 huyện: Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn, thị

xã Ninh Bình, Thị xã Tam Điệp, Huyện Nho Quan (11 xã), huyện Gia Viễn (4 xã) và 3 nông trường (tỉnh Ninh Bình)

Tổng diện tích tự nhiên 79.497 ha trong đó đất nông nghiệp 45.819 ha, đất canh tác 37.657 ha

9 Khu Trung Nam Định (Vùng hữu sông Hồng - Thủy nông Bắc Nam Hà)

Bao gồm diện tích đất đai của 3 huyện tỉnh Nam Định: Huyện Nam trực, huyện Nghĩa Hưng, 9 xã huyện Trực Ninh Đây là khu vực gần biển chịu ảnh hưởng của thủy triều, trong đó có huyện Nghĩa Hưng nằm sát biển với tổng diện tích tự nhiên: 46.940 ha trong đó: đất nông nghiệp 30.102 ha, đất canh tác 26.106 ha

10 Khu Nam Nam Định (Vùng hữu sông Hồng - Thủy nông Bắc Nam Hà)

Khu thủy lợi Nam Nam Định bao gồm diện tích đất đai của 4 huyện: Xuân Trường, Hải Hậu, Giao Thủy, và 6 xã huyện Trực Ninh (tỉnh Nam Định) Tổng diện tích tự nhiên 66.136 ha trong đó đất nông nghiệp 40.893 ha, đất canh tác 32.827 ha

11 Khu Bắc Thái Bình (Vùng tả sông Hồng)

Hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình được giới hạn bởi Sông Hồng ở phía tây, sông Luộc, sông Hóa ở phía bắc, sông Trà Lý ở phía Nam và phía Đông là Biển Đông Vùng Bắc Thái Bình bao gồm 4 huyện: Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy và 2 xã Hoàng Diệu, Đông Hòa của thành phố Thái Bình, diện tích tự nhiên 87.341 ha, diện tích canh tác 54.628 ha Toàn vùng diện tích yêu cầu tưới là 54.628 ha

12 Khu Nam Thái Bình (Vùng tả sông Hồng)

Khu Nam Thái Bình gồm đất đai của 3 huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và thị xã Thái Bình Toàn khu có diện tích tự nhiên 67.217 ha, diện tích nông nghiệp 43.552

ha, diện tích canh tác 39.369 ha

13 Khu Bắc Hưng Hải (Vùng tả sông Hồng)

Bao gồm diện tích đất đai của 4 tỉnh: Tỉnh Hải Phòng có 7 huyện: Cầm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, thành phố Hải Dương, tỉnh Hưng Yên bao gồm toàn bộ đất đai của toàn tỉnh: tỉnh Bắc Ninh gồm có 2 huyên Gia Lương, Thuận Thành, thành phố Hà Nội là huyện Gia Lâm Tổng diện tích tự nhiên 21.2501 ha, đất

nông nghiệp 143.840 ha, đất canh tác 126.854 ha

14 Khu Chí Linh (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Khu Chí Linh bao gồm trọn vẹn diện tích của huyện Chí Linh - Hải Dương, có diện tích tự nhiên là 28.190 ha, diện tích canh tác là 7.439 ha

15 Khu Nam Sách - Thanh Hà (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Trang 25

Bao gồm diện tích của 2 huyện Nam Sách và Thanh Hà thuộc tỉnh Hải Dương Diện tích tự nhiên là 29.172 ha, diện tích canh tác là 16.342 ha

16 Khu Kinh Môn Hải Dương (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Khu Kinh Môn Hải Dương bao gồm diện tích của huyện Kinh Môn - Hải Dương, có diện tích tự nhiên là 16.349 ha, diện tích canh tác là 8.531 ha

17 Khu Thủy Nguyên - Hải Phòng (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Bao gồm diện tích của huyện Thủy Nguyên, tỉnh Hải Phòng Tổng diện tích tự nhiên 24.272 ha, diện tích canh tác 10.286 ha

18 Khu An Kim Hải (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Bao gồm diện tích của huyện Kim Thành - Hải Dương, huyện An Hải và 3 quận Hồng Bàng, Lê Chân và Ngô Quyền của thành phố Hải Phòng Tổng diện tích tự nhiên là 33.481 ha, diện tích canh tác là 13.530 ha

19 Khu Đa Độ (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Khu Đa Độ bao gồm diện tích của 2 huyện An Lão, Kiến Thủy, quận Kiến An và Thị

xã Đồ Sơn, Hải Phòng Diện tích tự nhiên là 33.972 ha và diện tích canh tác là 16.180 ha

20 Khu Vĩnh Bảo (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Bao gồm toàn bộ diện tích của huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng Diện tích tự nhiên là 18.055 ha, diện tích canh tác là 11.093 ha

21 Khu Tiên Lãng (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Bao gồm toàn bộ diện tích của huyện Tiên Lãng, Hải Phòng Diện tích tự nhiên là 18.904 ha, diện tích canh tác là 13.402 ha

3.2 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

1 Khu thủy nông Liễn Sơn thuộc lưu vực sông Phó Đáy

Khu Thủy nông Liễn Sơn nằm trên địa bàn 7 huyện thị tỉnh Vĩnh Phúc, có nhiệm vụ tưới cho 26.138 ha diện tích canh tác với hệ số tưới là 0,65 l/s/ha cho vụ chiêm Nguồn nước tưới chủ yếu cho khu vực là sông Hồng và sông Phó Đáy Công trình tưới gồm có Đập Liễn Sơn, trạm bơm Bạch Hạc, trạm bơm Đại Định và trạm bơm Liễu Trì Hiện trạng các trạm bơm và đập trên như sau:

a Đập Liễn Sơn:

Đập dâng nước Liễn Sơn bằng bê tông trọng lực kiểu Ofixêrop chặn ngang sông Phó Đáy tại xã Liễn Hoà huyện Lập Thạch Đập dài: L = 150 m chia làm 3 khoang

Cao trình đỉnh đập: ∇đỉnh đập = + 16,55 m

Cao trình chân đập: ∇chân đập = + 11,49 m

Cống lấy nước 5 cửa: Nằm bên tả là cửa nước vào kênh chính tả ngạn Qtk=17 m3/s Cống lấy nước 1 cửa: Nằm bên bờ hữu là cửa lấy nước vào kênh chính hữu ngạn:

Qtk=1,5 m3/s tưới cho huyện Lập Thạch

Cống xả cát: Nằm bên phía trái của đập tràn cống 3 cửa hình chữ nhật kích thước

Trang 26

(1,1×1,65 m)

b Trạm bơm Bạch Hạc:

Trạm bơm Bạc Hạc có kiểu hướng trục, trục đứng có 5 tổ máy, Q=8000 m3/h,

Nđ/c=30 KW Nguồn lấy nước từ sông Lô tại thị trấn Bạch Hạc: Qtk=9 m3/s (theo dự án còn thực tế thường xuyên phải bơm 5 máy tương ứng với Q=11 m3/s) Hệ thống kênh tưới:

Kênh chính tả ngạn dài: 50,065 km lấy nước từ cống 5 cửa Liễn Sơn có Q=17 m3/s Kênh chính hữu ngạn dài: 18,074 km lấy nước từ cống 1 cửa Liễn Sơn: có Q = 1,5

Trạm bơm Bạch Hạc được xây dựng từ năm (1963-1965), Lưu lượng thiết kế là 9

m3/h nhưng trạm thường xuyên phải hoạt động cả 5 tổ máy (QTT=11 m3/h) mới đủ để tiếp nước vào kênh Liễn Sơn Đến nay qua quá trình hoạt động đã 35 năm, tuy đã được tu bổ sửa chữa nhiều lần nhưng máy móc và công trình có nhiều bộ phận bị hư hỏng cần được thay thế, sửa chữa nhằm duy trì năng lực Do công trình đặt ngoài đê vì vậy, hàng năm cửa lấy nước thường bị bồi lắng, thường xuyên phải nạo vét rất tốn kém

c Trạm bơm Đại Định:

Trạm bơm Đại Định được xây dựng tại xã Cao Đại huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc có nhiệm vụ lấy nước từ sông Hồng tiếp nguồn vào hệ thống kênh chính Liễn Sơn (kênh 6B) để bổ sung cho 9.012 ha, diện tích canh tác của 24 xã thuộc các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên và một phần diện tích của huyện Mê Linh với Qtk=11 m3/s, quy mô 6 máy × 8000m3/s

2 Khu Bắc Đuống

Bao gồm diện tích đất đai của các huyện Tiên Sơn, Quế Võ, Yên Phong, Thị xã Bắc Ninh, Thuận Thành, Gia Lương và một phần các huyện Đông Anh, Gia Lâm và Mê Linh với tổng diện tích tự nhiên là 80.910 ha, diện tích đất nông nghiệp là 48.663 ha, diện tích đất canh tác là 45.043 ha

Hệ thống được bao bọc bởi các hệ thống sông: sông Cầu, sông Cà Lồ ở phía Bắc, sông Đuống ở phía Nam Hệ thống này bao quanh vùng đất thấp, cao trình đất đai trong

hệ thống biến đổi từ +6,0m đến +2,0m theo xu thế thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Dọc theo bờ trái sông Đuống, đoạn từ xã Yên Viên - Từ Sơn đến xã Chi Lăng - Quế

Võ - tỉnh Bắc Ninh: gồm có 4 cống tưới dưới đê và 3 trạm bơm tiêu với tổng diện tích tưới hơn 3 nghìn ha và tiêu cho 10,58 nghìn ha Các cống là: cống Thôn (km10+645), Dương Hà (km13+543); Thịnh Liên (km21+359) và cống Thái Hòa (km44+990); các trạm bơm: Phù Đổng (xã Phù Đổng), Tân Chi (xã Minh Đạo), và Chân Cầu (xã Bồng Lai) Trong đó, cống Thôn là cống đầu mối lấy nước tưới tại sông Đuống

Dọc theo bờ phải sông Cầu, đoạn từ xã Tam Giang - Yên Phong đến xã Phù Lương - Quế Võ: có tất cả 20 cống tưới, tiêu, kết hợp (17 cống dưới đê, 3 cống nội đồng) và 4

Trang 27

trạm bơm lớn có nhiệm vụ tưới, tiêu, kết hợp Từ km32+275 đến km49+980 có 7 cống và

1 trạm bơm: Võng Nguyệt, Yên Ninh, Đồng Vòi, Phấn Động 1+2, Đại Lâm, Vạn Phúc và trạm bơm Đặng Xá; từ km50+070 đến km59+555 có 9 cống: Vạn An, Đặng Xá, Xuân Viên 1+2, Hữu Chấp Tây, Bến Đình, Hữu chấp Đông, Cổ Mễ, Mễ Sơn; cuối cùng từ km60+250 đến km73+300 là 4 cống và 3 trạm bơm: cống Trúc Tây, Kim Đôi, cống Kiệm, Xuân Thuỷ và trạm bơm Kim Đôi (kết hợp), Quang Biểu, Hiền Lương Trong đó, trạm bơm Hiền Lương là trạm bơm tiêu lớn nhất ra sông Cầu, với diện tích tiêu hơn 10 nghìn ha

Dọc theo bờ phải sông Cà Lồ, đoạn từ xã Thuỵ Lâm - Đông Anh đến xã Hòa Tiến - Yên Phong - Bắc Ninh: có 3 cống Đò Lo, Cầu Mạ và Cầu Giăng

Vùng giáp ranh với huyện Đông Anh, từ xã Thuỵ Lâm - Đông Anh đến xã Yên Viên

có trạm bơm Trịnh Xá (Dục Tú - Đông Anh), đây là trạm bơm tưới lớn nhất trong hệ thống, trạm bơm này lấy nước từ sông Ngũ Huyện Khê và cấp nước tưới cho hơn 27 nghìn ha hoa màu

Hệ thống thủy nông Bắc Đuống có nhiệm vụ cấp nước tưới cho vụ Đông Xuân, cung cấp nước kịp thời cho từng giai đoạn phát triển của cây trồng, ứng với mỗi vụ thì hệ thống có quy trình tưới tiêu tương ứng

Vận hành cống lấy nước chính: cống Long Tửu, cống Thôn và cống Thái Hòa lấy nước tưới rồi từ đó dẫn vào các kênh tưới: Kênh Bắc, kênh Nam và Kênh Kim Đôi, để lấy nước

Trạm bơm Trịnh Xá: Hoạt động từ năm 1964, có 8 tổ máy loại O4-87 của Liên Xô

cũ, lưu lượng thiết kế mỗi máy 10.000m3/h, đây là trạm bơm tưới tiêu kết hợp Diện tích thiết kế tưới cho 27.649 ha, thực tế mới tưới được 15.440 ha của vùng tưới Bắc Đuống,

hệ thống kênh tưới bao gồm: 2 tuyến kênh tưới chính dài: 62,3 km, kênh cấp 1 dài 116

km, và hàng trăm km kênh tưới cấp II

3 Khu sông Nhuệ (Vùng hữu sông Hồng)

Khu vực có địa hình đồng bằng lòng máng thấp, trũng ở giữa mà sông Nhuệ là trục chính, cao ở hai bên ven sông Hồng và sông Đáy Đất đai thuộc nhóm phù sa sông Hồng

có độ phì cao Diện tích tự nhiên là 132.356 ha, trong đó diện tích đất canh tác là 81.148

ha Đặc biệt đây là khu vực có thủ đô Hà Nội, là vùng dân cư kinh tế trọng điểm của cả nước Khu vực này bao gồm 4 quận nội thành thành phố Hà Nội, huyện Thanh Trì, huyện

Từ Liêm, huyện Đan Phượng, huyện Đan Hoài, huyện Thanh Oai, huyện Thường Tín và Thị Xã Hà Đông, huyện Phú Xuyên, huyện Ứng Hòa, huyện Kim Bảng, huyện Duy Tiên (Hà Nam)

Hệ thống thuỷ nông sông Nhuệ là một trong những hệ thống thuỷ nông chính của thành phố Hà Nội, hệ thống này thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, kẹp giữa sông Hồng, sông Đáy và sông Châu, kéo dài từ 20º32’40” đến 21º09’ vĩ độ Bắc, từ 105º37’30” đến 106º02’ kinh độ Đông Phía Bắc và Đông giáp sông Hồng, phía Tây giáp sông Đáy, Nam giáp sông Châu

Dọc theo bờ phải sông Hồng, đoạn từ xã Đông Ngạc - Hà Nội đến xã Tường Xá - Duy Tiên - Hà Nam: gồm có các cống kết hợp với trạm bơm tưới, tiêu hoặc tưới tiêu kết hợp như: Liên Mạc, Nhật Tân, Yên Sở và Hồng Vân, Bộ Đầu, Khai Thái, Yên Lệnh Trong đó, cống Liên Mạc là cống đầu mối lớn nhất trong hệ thống (xã Thuỵ Phương, huyện Từ Liêm), cống có nhiệm vụ cấp nước tưới cho trên 60 nghìn ha canh tác của

Trang 28

thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây, Hà Nam

Dọc theo bờ trái sông Đáy, đoạn từ xã Trung Văn - Hà Nội đến xã Phù Vân - Phủ Lý

- Hà Nam: gồm có các công trình tưới tiêu kết hợp như: đập Đáy, TB Song Phương, cống

La Khê, TB Ngọ Xá 1+2, cống + TB Vân Đình, cống Ngoại Độ, TB Quế 1, 2, cống Phủ Lý Trong đó, đập Đáy là công trình phân lũ lớn nhất của thủ đô Hà Nội và các tỉnh thuộc hạ lưu sông Đáy Với hình thức đập gồm 6 khoang, cửa van hình quạt, với tổng chiều dài là hơn 200m, lưu lượng phân lũ thiết kế là 5 nghìn m3/s Tại hệ thống cống trình đầu mối còn có cống dưới đê Vân Cốc (gồm 26 cửa với tổng chiều dài 390m), cống được thiết kế kết hợp với đê sông Hồng đoạn Vân Cốc - Hát Môn dài 10 km để tạo thành tuyến phân lũ vòng ngoài của đập đáy

Dọc theo bờ trái sông Châu Giang, đoạn từ phường Quang Trung - Phủ Lý đến xã Tường Xá - Duy Tiên - Hà Nam: gồm một loạt các cống tưới, tiêu kết hợp như: cống Điệp Sơn, các TB: Bước, Đại Sơn, Châu Sơn, Lạc Tràng, Lạc Tràng 1+2+3 Trong đó, trạm bơm Lạc Tràng là trạm bơm tiêu lớn nhất của ra sông Châu với công suất tiêu là 22,2 m3/s, tiêu cho 3,5 nghìn ha (bằng 65% thiết kế)

Theo thiết kế, hệ thống Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng và sông Nhuệ được thiết

kế tưới cho 81,148 nghìn ha và hệ số tưới mặt ruộng là 0,2-0,9 l/s/ha Cũng theo thiết kế,

hệ thống đảm bảo tiêu với tần suất P=10%, hệ số tiêu q=5,84-6,2 l/s/ha

Nguồn cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống chủ yếu là nước sông Hồng (chủ yếu tưới trong vụ Đông Xuân) Sông Nhuệ là sông trục chính tưới, tiêu kết hợp của hệ thống, lấy nước tưới từ sông Hồng qua cống đầu mối Liên Mạc (là cống đầu mối cấp đặc biệt, với lưu lượng tưới thiết kế 36,25 m3/s cấp nước tưới cho trên 60 nghìn ha canh tác của TP.Hà Nội, tỉnh Hà Tây và Hà Nam), ngoài ra còn một số cống hỗ trợ khác như cống Mộc Nam, cống Bá Giang Hầu hết các sông trục trong hệ thống đều làm nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp

Toàn hệ thống chia thành 2 vùng tưới chính:

- Vùng tưới tự chảy: nằm dọc 2 bờ sông Nhuệ, sông Vân Đình và Duy Tiên

và các vùng phía Nam hệ thống có cao độ thấp hơn +3 m

- Vùng tưới bằng động lực: Nằm ven sông Đáy, sông Hồng có cao độ mặt ruộng lớn hơn +3 m

Hệ thống thủy nông Sông Nhuệ có nhiệm vụ cấp nước tưới cho vụ Đông Xuân, cung cấp nước kịp thời cho từng giai đoạn phát triển của cây trồng ứng với mỗi vụ thì hệ thống có quy trình tưới tiêu tương ứng Tương ứng với từng mực nước thượng lưu của cống Liên Mạc thì lần lượt 9 cống tưới, tiêu chính (Cống Liên Mạc 1+2, cống Hà Đông,

La Khê, Đồng Quan, Hòa Mỹ, Vân Đình, Nhật Tựu và Điệp Sơn) phải đóng mở cho phù hợp Tuỳ từng khu vực cần nước tưới mà điều tiết 9 cống trên theo quy trình hợp lý

Trang 29

Bảng 3.1 Các công trình lấy nước đầu mối trên hệ thống thủy nông sông Nhuệ

TK Vị trí

1 Liên Mạc I Cấp nước và chống lũ

cho sông Hồng

4 cửa × 3 m + 6 m (âu tàu) 26-80

km53+700,sông Hồng

2 Liên Mạc II ĐT hạ lưu Liên Mạc;

hỗ trợ chống lũ và GTVT 3 cửa × 6 m + 6 m 26-80

km1+104, sông Nhuệ

3 Hà Đông Tưới là chủ yếu và thoát lũ cho sông Nhuệ với Qmax = 143.75 m3/s 2 cửa × 3,5 m + 6 m

km16+182, sông Nhuệ

4 Đồng Quan Thiết kế tưới,

với MNTK, P10% = 5.78 m 5 cửa × 2,5 m + 6 m

km43+750, sông Nhuệ

5 Nhật Tựu Thiết kế tưới, với MNTK, P10% = 5.21 m 8 cửa × 2,5 m

+ 6 m (âu tàu)

km63+405, sông Nhuệ

Bảng 3.2 Các trạm bơm tưới đầu mối trên hệ thống thủy nông sông Nhuệ

Lưu lượng (m3/s) Diện tích, ha

TT Hệ thống sông Sông Tên trạm bơm Số máy Loại máy

(m 3 /h) tiêu tưới tiêu tưới

1 Hồng Dòng Chính Vĩnh Tuy 5 5 5 1.000 1.100 1,1 47

2 Thái Bình Đáy Song Phương 25 0 25 1.000 6,9 2.200

3 Thái Bình Đáy Vân Đình 28 0 28 8.000 62,2 13.666

4 Thái Bình Đáy Ngoại Độ 15 0 15 - 33,3 6.682

5 Thái Bình Đáy Quế 1,2 9 0 9 - 20 4.100

6 Thái Bình Đáy Lạc Tràng 10 0 10 - 22.2 4.200

4 Khu Sông Tích - Thanh Hà (Vùng hữu sông Hồng)

Khu sông Tích - Thanh Hà có diện tích tự nhiên là 183.221 ha, trong đó diện tích canh tác là 79.222 ha gồm TX Sơn Tây, Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức Trong đó vùng núi Ba Vì gồm 7 xã miền núi có nhiều ruộng màu,

ít lúa, biện pháp tưới chủ yếu bằng hồ, đập tự chảy

Hiện trạng các công trình thủy lợi trong khu có các công trình lớn như hồ Suối Hai dung tích hữu ích 42,3.106 m3 làm nhiệm vụ tưới cho 2.956 ha và phục vụ cấp nước cho

du lịch; hồ Đồng Mô - Ngải Sơn diện tích tưới thiết kế là 4.000 ha, thực tế tưới 3.928 ha; trạm bơm Phù Sa lấy nước sông Hồng có diện tích tưới thiết kế là 10.000 ha, thực tế tưới 7.150 ha, ngoài ra còn một số các trạm bơm như Cộng Hoà, Hạ Dục, An Mỹ, Bạch Tuyết, Phù Lưu Tế… và hàng loạt các công trình có quy mô vừa và nhỏ

Tổng số các công trình là 379 công trình trong đó có 128 trạm bơm tưới thiết kế 37.735 ha, tưới thực tế 28.195 ha; 251 hồ, đập tưới thiết kế: 17.848 ha, tưới thực tế 43.345 ha, diện tích yêu cầu tưới là 61.550 ha Như vậy so với diện tích yêu cầu tưới diện tích còn lại chưa tưới được là 12.238 ha, diện tích tưới được đạt 70%

Trang 30

5 Khu Hữu Đáy (Vùng hữu sông Hồng)

Bao gồm diện tích đất đai của các huyện Kim Bảng, huyện Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam) Tổng diện tích tự nhiên 14.457 ha trong đó đất nông nghiệp 3.434 ha, đất canh tác 2.944 ha

Nguồn nước cấp cho khu thủy lợi duy nhất là sông Đáy hầu hết là dùng bơm, các trạm bơm đều có diện tích từ 100-500 ha Tổng số có 9 trạm bơm tưới thiết kế 2.661 ha, diện tích tưới chủ động 1.698 ha, diện tích chưa tưới chủ động 888 ha, diện tích tưới chủ động so với diện tích yêu cầu tưới đạt 64%

6 Khu Bắc Nam Hà (Vùng hữu sông Hồng)

Là một khu hoàn toàn đồng bằng bao gồm diện tích đất đai của hai tỉnh Hà Nam và Nam Định Tỉnh Hà Nam gồm các huyện: Lý Nhân trừ 1/2 xã huyện Thanh Liêm, thị xã Phủ Lý, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Định gồm các huyện ý Yên, Vụ Bản, thành phố Nam Định, huyện Mỹ Lộc

Nguồn nước cấp cho khu là sông Hồng, sông Đào Nam Định, sông Châu và Sông Đáy thông qua các trạm bơm lớn như Như Trác, Cổ Đam, Hữu Bị, Cốc Thành, Quan Trung và Triệu Xá Thông số của các trạm bơm này được liệt kê trong bảng sau:

Bảng 3.3 Thông số của một số trạm bơm khu Bắc Nam Hà

cũ (ha)

Diện tích tưới

QH (ha)

Loại máy

Số tổ máy

Công suất tổ máy (m 3 /h hoặc KW)

Cao trình đặt máy (m)

Cao trình đáy

bể hút (m)

Cao trình đáy

bể

xả (m)

Mực nước thiết kế

bể hút (m)

Mực nước thiết kế

bể xả (m)

Lưu lượng thiết

kế (m 3 /s)

Chiều dài kênh dẫn vào trạm bơm (m)

Hiện trạng công trình

1 Như Trác Nhân Thuỷ, Lý Nhân Hữu Hồng 13.650 13.650 TĐ 6 11.000 -4,74 +2,00 +1,00 +5,00 18,00 250

7 Khu Bắc Ninh Bình (Vùng hữu sông Hồng)

Khu bắc Ninh Bình bao gồm diện tích đất đai huyện Gia Viễn (16 xã) và huyện Nho Quan(22 xã) với tổng diện tích tự nhiên: 58.703 ha trong đó đất nông nghiệp: 21.812 ha, đất canh tác 17.967 ha

Trang 31

8 Khu Nam Ninh Bình (Vùng hữu sông Hồng)

Bao gồm diện tích đất đai của 6 huyện: Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn, thị

xã Ninh Bình, Thị xã Tam Điệp, Huyện Nho Quan (11 xã), huyện Gia Viễn (4 xã) và 3 nông trường (tỉnh Ninh Bình)

Tổng diện tích tự nhiên 79.497 ha trong đó đất nông nghiệp 45.819 ha, đất canh tác 37.657 ha

9 Khu Trung Nam Định (Vùng hữu sông Hồng - Thủy nông Bắc Nam Hà)

Bao gồm diện tích đất đai của 3 huyện tỉnh Nam Định: Huyện Nam trực, huyện Nghĩa Hưng, 9 xã huyện Trực Ninh Đây là khu vực gần biển chịu ảnh hưởng của thủy triều, trong đó có huyện Nghĩa Hưng nằm sát biển với tổng diện tích tự nhiên: 46.940 ha trong đó: đất nông nghiệp 30.102 ha, đất canh tác 26.106 ha

Các công trình phục vụ tưới là cống và trạm bơm, cống thường lợi dụng lúc thủy triều lên để lấy nước, qua các Sông Hồng, Sông Đáy, Sông Đào, sông Ninh Cơ và một số các trạm bơm nhỏ lấy nước từ các sông trong khu vực Nguồn nước các sông khá dồi dào, địa hình thuận lợi cho tưới tự chảy, riêng ở huyện Nghĩa Hưng có một số diện tích nằm sát biển nên thường bị ảnh hưởng mặn khá lớn, nên thời gian lấy nước không được thường xuyên

Toàn khu có 40 công trình trong đó có 6 trạm bơm tưới thiết kế 4.216 ha, 34 cống tưới thiết kế 26.105 ha Diện tích tưới được so với diện tích yêu cầu tưới đạt 90%

10 Khu Nam Nam Định (Vùng hữu sông Hồng)

Khu thủy lợi Nam Nam Định bao gồm diện tích đất đai của 4 huyện: Xuân Trường, Hải Hậu, Giao Thủy, và 6 xã huyện Trực Ninh (tỉnh Nam Định) Tổng diện tích tự nhiên 66.136 ha trong đó đất nông nghiệp 40.893 ha, đất canh tác 32.827 ha

Nguồn cấp nước tưới cho khu vực này là Sông Hồng, sông Ninh Cơ, sông Sò Khu thủy lợi Nam Nam Định có điều kiện tự nhiên thuận lợi, các công trình tưới đều lợi dụng quy luật của thủy triều, chỉ có một số khu vực cao, thấp cục bộ nên phải tưới bằng bơm Tổng số đến nay toàn khu đã xây dựng được 33 công tưới thiết kế 30.221 ha tưới chủ động 26.210 ha, diện tích còn lại chưa tưới chủ động 4.011 ha Diện tích tưới được so với diện tích yêu cầu tưới đạt 80%

11 Khu Bắc Thái Bình (Vùng tả sông Hồng)

Hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình được giới hạn bởi Sông Hồng ở phía tây, sông Luộc, sông Hóa ở phía bắc, sông Trà Lý ở phía Nam và phía Đông là Biển Đông Vùng Bắc Thái Bình bao gồm 4 huyện: Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy và 2 xã Hoàng Diệu, Đông Hòa của thành phố Thái Bình, diện tích tự nhiên 87.341 ha, diện tích canh tác 54.628 ha Toàn vùng diện tích yêu cầu tưới là 54.628 ha

Hiện có 11 trạm bơm diện tích tưới thiết kế 16.275 ha Phần diện tích còn lại sử dụng các cống dưới đê (trong đó triền sông Luộc có 6 cống, tổng khẩu diện 45 m, triền sông Trà Lý có 10 cống, tổng khẩu diện 39 m, triền sông Hoá có 9 cống, tổng khẩu diện 32,5 m) lấy nước trữ vào sông trục nội đồng như Tiên Hưng, Sa Lung rồi dùng 618 trạm bơm nhỏ bơm nước từ các sông trục lên để tưới cho phần nội đồng, diện tích tưới thiết kế 38.786 ha, diện tích tưới thực tế là 38.786 ha Tổng số công trình tưới là 36 công trình Trong đó có 11 trạm bơm tưới thiết kế 16.275 ha, tưới thực tế 16.275 ha, 25 cống tưới

Trang 32

thiết kế 38.786 ha, tưới thực tế là 38.786 ha Tổng diện tích tưới thiết kế toàn khu Bắc Thái Bình là 54.628 ha, diện tích tưới thực tế 54.628 ha So với diện tích yêu cầu tưới thì diện tích được tưới chủ động hàng năm là tưới hết diện tích, trừ những năm thời tiết khô hạn nguồn nước đến không bảo đảm

12 Khu Nam Thái Bình (Vùng tả sông Hồng)

Khu Nam Thái Bình gồm đất đai của 3 huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và thị

xã Thái Bình Toàn khu có diện tích tự nhiên 67.217 ha, diện tích nông nghiệp 43.552 ha, diện tích canh tác 39.369 ha

Toàn vùng được bao bọc bởi sông Hồng, sông Trà Lý và một mặt giáp biển đông nên chế độ tưới tiêu đều chịu sự chi phối của thuỷ triều và lũ sông

Nguồn nước lấy từ sông Hồng, Trà Lý: Nguồn nước khá dồi dào, chất lượng tốt, đầu nước cao, có khả năng tự chảy tốt Cống tưới lớn hiện có 13 cống Trong số 13 cống tưới lại chủ yếu tập trung ở sông Trà Lý, phía sông Hồng ít cống hơn lại phân bố không đều, nên một số vùng ở xa cống thường vẫn bị hạn Diện tích yêu cầu tưới 39.369 ha, nguồn cấp nước tưới là sông Hồng và sông Trà Lý, nguồn nước dồi dào, chất lượng tốt Đặc biệt

về vụ mùa nước có nhiều phù sa, đầu nước cao có khả năng tự chảy tốt

Phương thức lấy nước tưới: Vào mùa cạn các cống được mở lấy nước vào các sông, sau đó các TB hút nước từ các sông trục để tưới

Các trạm bơm nội đồng gồm 132 trạm bơm nhỏ (gồm 39×540 m3/h, 242×1000 m3/h, 5×1500m3/h, 13×2500m3/h, 32×4000m3/h) bơm nước từ các sông trục lên để tưới cho phần nội đồng Tổng số công trình toàn khu Nam Thái Bình là 13 cống đầu mối và 132 trạm bơm cấp II Diện tích tưới thiết kế 37.078 ha, diện tích tưới chủ động là 36.419 ha

so với diện tích còn lại chưa tưới được là 2.950 ha trong đó có khoảng 2.000 ha là chưa

có công trình tưới tập trung ở các huyện phía Nam tỉnh

Qua đợt điều tra, đánh giá hiện trạng diện tích còn lại chưa tưới được khoảng 2.950

ha Nguyên nhân là do thiếu công trình, diện tích này tập trung ở các huyện phía nam tỉnh Thái Bình như Vũ Thư, Tiền Hải, Kiến Xương Ngoài ra còn nguyên nhân chung của các công trình đầu mối bị hỏng hóc, kênh mương đều bị bồi lấp chưa được nạo vét kịp thời làm ảnh hưởng đến khả năng dẫn nước tưới

13 Khu Bắc Hưng Hải (Vùng tả sông Hồng)

Bao gồm diện tích đất đai của 4 tỉnh: Tỉnh Hải Phòng có 7 huyện: Cầm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, thành phố Hải Dương, tỉnh Hưng Yên bao gồm toàn bộ đất đai của toàn tỉnh: tỉnh Bắc Ninh gồm có 2 huyên Gia Lương, Thuận Thành, thành phố Hà Nội là huyện Gia Lâm Tổng diện tích tự nhiên 212.501 ha, đất

nông nghiệp 143.840 ha, đất canh tác 126.854 ha Hệ thống này được bao bọc bởi các hệ

thống sông, phía Tây giáp sông Hồng, phía Bắc giáp sông Đuống, phía Đông giáp sông Thái Bình và phía Nam giáp sông Luộc

Dọc theo bờ trái sông Hồng đoạn từ xã Ngọc Thuỵ - Gia Lâm đến xã Tân Hưng - Hưng Yên có: cống lấy nước Xuân Quan (km67+00), đây là cống lấy nước lớn nhất của tỉnh Hưng Yên cũng như của toàn bộ hệ thống thuỷ nông Bắc Hùn Hải; tiếp đến Cống Luận - Phụng Công (km80+275), cống Trung Âu - Thắng Lợi (km97+284), cống Liên Khê - Đại Tập cũng làm nhiệm vụ tưới nước và cuối cùng cống tưới nước Nghi Xuyên -

xã Nhuế dương (km104+800) kết hợp tưới nước và tiêu nước ra sông Hồng

Trang 33

Dọc theo bờ trái sông Luộc, đoạn từ xã Tân Hưng - Hưng Yên đến xã Nguyên Giáp - Hải Dương gồm một loạt cống thoát nước ra sông Luộc, phần lớn các cống này kết hợp với trạm bơm tiêu Theo chiều dòng chảy có: 2 cống tiêu Triều Dương A+B tại xã Hải Triều (km4+450) kết hợp với trạm bơm tiêu Triều Dương; 2 cống tiêu Mai Xá 1+2 (thuộc trạm bơm tiêu Mai Xá); tiếp đến là cống tiêu Võng Phan - Tống Trân (km12+20); cống tiêu La Tiến - Nguyên Hòa (km17+20); cống Neo (nhánh Cửu An); các trạm bơm kết hợp với cống tiêu Mỹ Động - Tam Đa, Hiệp Lễ, Cống Sao, Cố Ngựa và cuối cùng là trạm bơm An Thổ (tưới tiêu kết hợp) Trạm An Thổ là trạm tiêu chính của hệ thống Bắc hưng Hải tại sông Luộc Nguồn cấp nước từ sông Luộc chủ yếu tưới cho khu vực Hải Dương, gồm các TB: cống Gạch, Nguyên Giáp, cống Sao và một số cống lấy nước tự chảy khi mực nước sông Luộc cao, như các cống: Rộc chợ, Hà kỳ B, cống Trung, cống Nham, My động Tổng diện tích lấy nước tưới từ sông Luộc là 1.997 ha

Dọc theo bờ phải của sông Đuống, đoạn từ xã Ngọc Thuỵ - Gia Lâm đến xã An Thịnh - Hải Dương, các cống tưới Gia Thượng - Thượng Thanh (km1+936), trạm bơm Gia Thượng tưới 872 ha, cống Kéo Gỗ - Đức Giang (km5+572), Giang Biên - Giang Biên (km5+768), cống Vàng - Hội Xá (km9+996), trạm bơm Vàng tưới 2.023 ha, cống Lời - Đặng Xá (km13+027), cống Phú Mỹ - Đại Đồng Thành (km25+520) tiếp đến là trạm bơm Nghĩa Vi - Song Hồ và cuối cùng là cống Môn Quảng - Lãnh Ngâm (km37+540), trạm bơm Môn Quảng tưới 2.155 ha

Dọc theo bờ phải sông Thái Bình, đoạn từ xã An Thịnh - Hải Dương đến xã Quang Trung - Hải Dương, cống tiêu kết hợp với trạm bơm tiêu Kênh Vàng (km2+000); tiếp đến

là cống tiêu Lai Hạ(km5+000); tiếp đến là các cống tiêu kết hợp với các trạm bơm tiêu Văn Thai (km9+800), Tiên Kiều (km13+000), Đồng liêu (km16+00), Ngọc Đô (km20+100, trạm bơm Bình Hàn), Cầu Cất (22+000, trạm bơm Cầu Dừa), Phúc duyên (24+100, trạm bơm Bỉnh Di), Liễu Xá (km29+000, trạm bơm Thanh An), Nghĩa Xá (km29+500, trạm bơm Nguyên Giáp) và cuối cùng là cống tiêu Cầu Xe (km48+000) kết hợp trạm bơm tiêu (đây là cống tiêu lớn nhất có nhiệm vụ thoát nước cho hệ thống ra sông Thái Bình) Nguồn cấp nước từ sông Thái Bình cho hệ thống Bắc Hưng Hải qua trạm bơm Tiên Kiều, An Thanh và Quang Trung

Công trình đầu mối cống Xuân Quan: lấy nước từ sông Hồng, là công trình cung cấp

nước tưới chủ yếu cho hệ thống Bắc Hưng Hải, cống được xây dựng năm 1958 tại đê tả sông Hồng, cách cầu Long Biên về phía hạ lưu khoảng 10 km Cống có 4 cửa × 3,5 m và một âu thuyền rộng 5 m Qtk = 75 m3/s đảm bảo tưới 116.000 ha Qua hơn 40 năm hoạt động đến nay cống vẫn ổn định, làm việc tốt

Cống Xuân Quan trong suốt thời gian hoạt động, vào vụ đông xuân chưa bao giờ đạt được lưu lượng thiết kế vì độ chênh lệch mực nước thượng hạ lưu rất nhỏ (∆z=1÷3 cm) Theo số liệu thống kê lưu lượng qua cống Xuân Quan hàng năm đạt từ 25 - 50 m3/s, năm cao nhất đo được 65 m3/s, như vậy khả năng dẫn nước của các sông trục trong hệ thống chưa được nạo vét đủ theo mặt cắt thiết kế

Khu vực Bắc Hưng Hải là khu vực ảnh hưởng thuỷ triều khá mạnh, vào vụ đông xuân lượng nước của hệ thống lấy qua cống Xuân Quan hạn chế, phần diện tích cuối hệ thống được lấy nước tưới qua các cống Cầu Xe và An thổ được đóng mở theo chu kỳ của con triều Diện tích được tưới từ nguồn nước này khoảng từ 8.000 ha đến 10.000 ha (tưới

hỗ trợ)

Khi điều hành tưới, sẽ sử dụng các cống Báo đáp, Kênh Cầu, Bá Thuỷ, Neo để điều

Trang 34

tiết mực nước cần thiết trên hệ thống Đối với vụ Đông Xuân, nhiệm vụ cấp nước tưới là chủ yếu thì các cống tưới, các cống điều tiết hoạt động hết công suất; đặc biệt đối với những năm hạn thì cống Cầu Xe, An Thổ còn kiêm luôn nhiệm vụ chống hạn Tổng hợp các công trình tưới trên hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải được thống kê trong bảng sau:

Bảng 3.4 Các công trình lấy nước trên hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải

TT Tên CT Nhiệm vụ Kích thước, m ∇đc QmTK3 /s , Giao thông

XD xong

1 Xuân Quan tưới 4×3,5+5 (AT)=19 -1,0 75,0; P=75% thuyền 30 tấn 1959

2 Báo Đáp tưới 7cửa×5m/cửa = 35 -0,5 73,6 thuyền 30 tấn; 1959

hệ thống như ở huyện Ninh Giang, Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương

14 Khu Chí Linh (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Khu Chí Linh bao gồm trọn vẹn diện tích của huyện Chí Linh - Hải Dương, có diện tích tự nhiên là 28.190 ha, diện tích canh tác là 7.439 ha

Do đặc điểm địa hình, nguồn nước, khu Chí Linh được phân thành 3 tiểu khu:

Trang 35

- Tiểu khu đại thuỷ nông Phao Tân - An Bài: gồm 8 xã và 1 thị trấn, đây là tiểu khu sản xuất lúa quan trọng của Chí Linh

- Tiểu khu Bến Tắm bao gồm 6 xã, là khu vực sản xuất lúa và cây công

nghiệp

- Tiểu khu Hưng Đạo - Lê Lợi: xác định làm một vụ chiêm xuân, sử dụng nước hồ đập để tưới và một số trạm bơm cục bộ ven sông Ngòi Mơ

Tổng công trình tưới toàn khu Chí Linh có 56 công trình trong đó:

+ 20 trạm bơm: diện tích tưới thiết kế 2.933 ha, diện tích thực tưới 1.368 ha

+ 34 hồ, đập: diện tích tưới thiết kế 2.439 ha, diện tích thực tế 919 ha

+ 2 cống: diện tích tưới thiết kế 3.486 ha, diện tích thực tế 1.344 ha

Tổng diện tích tưới toàn khu Chí Linh: diện tích tưới thiết kế 8.858 ha, diện tích thực

tế tưới 3.631 ha So với diện tích yêu cầu tưới là 7.439 ha thì diện tích còn lại chưa tưới chủ động là 3.808 ha Nguyên nhân tồn tại tưới là do một số trạm bơm lớn xây dựng đã lâu đã bị hư hỏng, các hồ chứa lòng hồ bị bồi lấp, do nạn phá rừng đầu nguồn tiểu khu Lê Lợi - Hưng Đạo đang còn lại 588 ha hàng năm bị ngập chỉ cấy được 1 vụ

Bảng 3.5 Các công trình lấy nước trên hệ thống thủy nông Chí Linh

TT Tên trạm bơm Huyện Diện tích tưới (ha) Số tổ máy Công suất 1 máy (m3/h)

Lưu lượng(m3/s)

15 Khu Nam Sách - Thanh Hà (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Bao gồm diện tích của 2 huyện Nam Sách và Thanh Hà thuộc tỉnh Hải Dương Diện tích tự nhiên là 29.172 ha, diện tích canh tác là 16.342 ha

Nguồn nước tưới chính cho khu thuỷ lợi Nam Thanh được lấy từ sông Thái Bình, sông Rạng và sông Hương Cuối sông Hương đã xây dựng cống đập sông Hương

FTK=7.100 ha lấy nước vào kênh rồi dùng trạm bơm để bơm nước tưới cho các khu của huyện Thanh Hà

Dọc theo bờ trái sông Thái Bình, đoạn từ xã Nam Hưng - Nam Sách đến xã Thanh Xuân - Thanh Hà, là hệ thống gốm 14 cống tưới, tiêu, tưới tiêu kết hợp và 3 trạm bơm tiêu chính tiêu nước ra sông Thái Bình, sông Mía Theo chiều dòng chảy, đầu tiên cống lấy nước Đê La(km0+000), Cát Khê (km1+000); cống tưới tiêu kết hợp Mạc Cầu (km11+000), cống +trạm bơm tiêu Chu Đậu; cống tiêu Hùng Thắng (km18+500); cống

Trang 36

tưới Thượng Đạt (km20+000); cống+trạm bơm tiêu Đò Hàn (km23+800); tiếp theo là một loạt cống tiêu: Vũ Lạc (km27+00), Tiên Tiến (km34+800), Tiến Mỹ (km40+800), Cầu Liêu (km44+000), Ba Nữ (kết hợp với trạm bơm tại km45+800) và cuối cùng là cống tiêu Thanh Sơn (km50+000)

Dọc theo bờ phải sông Kinh Thầy, đoạn từ xã Nam Hưng - Nam Sách đến xã Cộng Hòa - Nam Sách, có 2 trạm bơm tiêu chính cho sông Kinh Thầy tại hệ thống Nam Thanh,

đó là trạm bơm Long Động, Nam Thanh

Dọc theo bờ phải sông Lai Vu và sông Rạng, đoạn từ xã Cộng Hòa - Nam Sách đến

xã Thanh Xuân - Thanh Hà, có 4 trạm bơm tiêu chính cho sông Lai Vu và sông Rạng tại

hệ thống Nam Thanh, đó là trạm bơm Ngọc Trì, Cộng Hòa, Cấp Từ và cuối cùng là Đò Phan

Nước được lấy vào hệ thống thông qua 3 cống lấy nước chính ở đầu hệ thống (cống

Đê La tại km0+000 thuộc xã Nam Hưng và cống Cát Khê tại km1+0.000 thuộc xã Hiệp Cát, cống kết hợp trạm bơm Mạc Cầu) và cống Thượng Đạt ở km20+000, rồi theo các kênh chính, các cống lấy nước nội đồng (30 cống tại các xã trong vùng) và các trạm bơm tưới (38 trạm bơm) để phục vụ tưới cho toàn hệ thống

Bảng 3.6 Các công trình lấy nước trên hệ thống thủy nông Nam Sách - Thanh Hà

TT Tên cống HT sông Thuộc Thuộc sông Bờ km Rộng, m ∇ Loại hình

2 Cát Khê Thái Bình Thái Bình Trái 1+ 000 1.50 -1,00 tưới

3 Mạc Cầu Thái Bình Thái Bình Trái 11+000 2.00 -0,90 kết

hợp

Thắng Thái Bình Thái Bình Trái 18+500 2,00 -0,90

5 Thượng

Đạt Thái Bình Thái Bình Trái 20+000 4,50 -1,5 tưới

hợp

7 Gừng Thái Bình Thái Bình Trái 4,00 -1,00 đồng nội

16 Khu Kinh Môn Hải Dương (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Khu Kinh Môn Hải Dương bao gồm diện tích của huyện Kinh Môn - Hải Dương, có diện tích tự nhiên là 16.349 ha, diện tích canh tác là 8.531 ha

Hệ thống này được bao bọc bởi 2 hệ thống sông: phía Bắc và Đông Bắc giáp với sông Kinh Thầy, phía Tây giáp với sông Kinh Môn, phía và Tây Nam giáp sông Cửa Cấm

Dọc theo bờ phải sông Kinh Thầy và sông Cửa Cấm, đoạn từ xã Thăng Long đến xã

An Cường, có 7 cống dưới đê có nhiệm vụ tưới, tiêu và 2 trạm bơm tưới tiêu kết hợp, đó

Trang 37

là: cống lấy nước Bốn Thôn, Bến Triều; các cống tiêu Xóm Trại, An Cường; tiếp đến là cống tưới Phà Thông và cống tiêu An Lưu, Thái Thịnh; trạm bơm Bạch Đằng có nhiệm

vụ tưới tiêu kết hợp và trạm bơm tiêu Phạm Mệnh

Dọc theo bờ trái sông Kinh Môn đoạn từ xã Thăng Long đến xã Minh Hòa, có 3 công trình có nhiệm vụ tưới, tiêu đó là, cống tưới Hiệp Hòa tiếp đến trạm bơm tiêu An Phụ và cống tưới Hiến Thành

Nước được lấy vào hệ thống Kinh Môn theo 2 cống Bốn Thôn, Bến Triều (lấy nước

từ sông Kinh Thầy) và 2 cống Hiệp Hoà, Hiến Thành (sông Kinh Môn) rồi theo các kênh chính, các cống lấy qua kênh (4 cống + hệ thống cống Nam An Phụ) và các trạm bơm tưới (11 trạm bơm nội đồng) để phục vụ nhu cầu tưới của cây trồng trên toàn hệ thống theo các thời điểm

Bảng 3.7 Các cống lấy nước trên hệ thống thủy nông Kinh Môn - Hải Dương

TT Tên cống Thuộc sông Bờ Số cửa Năm KT Lưu lượng,

m3/s Loại hình

Bảng 3.8 Các trạm bơm lấy nước trên hệ thống thủy nông Kinh Môn - Hải Dương

TT Tên trạm bơm Thuộc sông Bờ Loại hình Năm KT máySố

Loại máy (m3/h)

Lưu lượng trạm, m3/s

Diện tích tiêu,

ha

1 Bạch Đằng Kinh Thầy Phải kết

Qua kết quả điều tra, khảo sát hiện trạng, cho thấy kênh mương không hoàn chỉnh,

hệ thống các trạm bơm xây dựng đã lâu không được tu bổ nâng cấp thường xuyên, nguồn nước chưa được đảm bảo chắc chắn do bị ảnh hưởng mặn

17 Khu Thủy Nguyên - Hải Phòng (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Bao gồm diện tích của huyện Thủy Nguyên, tỉnh Hải Phòng Tổng diện tích tự nhiên 24.272 ha, diện tích canh tác 10.286 ha

Dọc theo bờ phải của sông Kinh Thầy, đoạn từ xã An Sơn đến xã Lại Xuân, có 6 cống tưới tiêu kết hợp đó là: Phù Yên 2, cống 32, Núi Trúc, Đầm Lải, Đầm Làng và Đầm

Re

Dọc theo bờ phải của sông Đá Bạch, đoạn từ xã Lại Xuân đến xã Minh Đức: do đoạn hợp lưu của các sông rất phức tạp nên trước cửa sông Đá Bạch có 2 cống kết hợp và 1 cống tiêu đó là: Phi Liệt, Đầm To, Giáo Dưỡng; từ km0+000 đến km9+500 có 8 cống

Trang 38

tưới tiêu kết hợp: cống số 9, Lấy Sa, Đầm số 1, cống số 8, Mỹ Đồng, Cái Thám, Hàm Ếch, cống U Bò

Dọc theo bờ phải của sông Bạch Đằng đoạn từ xã Minh Đức đến xã Phả Lễ, từ km1+400 đến km9+000 có 5 cống kết hợp tưới tiêu: Chiến Thắng, Tân Đức, Minh Đức,

Mi Xuân và Đông Xuân

Dọc theo bờ trái sông Cửa Cấm, đoạn từ xã An Sơn đến xã Lập Lễ có tổng số 27 cống tưới tiêu kết hợp Từ km0+000 đến km9+810 có 9 cống: Đội 5, Ngọc Khê, Vẹt Khê, Cầu Tử Ngoại 1+2, cống Cạn, cống Đông và cống Cao Kênh; từ km11+860 đến km19+510 có 11 cống: Miếu Chợ, Thái Lai, cống 2/9, Bến Kiều, Kền bái Tây, Hoàng Pha, Lôi Đông 1+2, Đông Kem, cống Cạn, Chu Linh, Lâm Đông

Hệ thống kênh cấp nguồn như kênh Hòn Ngọc bị xuống cấp nhiều đoạn bị bồi lắng, các công trình trên kênh (9 cầu, cống) nhỏ, hẹp gây ắc tắc dòng chảy, các cống đầu kênh cấp 1 hư hỏng không chủ động điều tiết nước, hai cống An Sơn 1, 2 trên thực tế không đạt được lưu lượng thiết kế (khả năng cấp nguồn còn thiếu) Hồ sông Giá các cống hai bên bờ hư hỏng, bờ thấp và sạt lở, nhiều đoạn không có bờ, lòng hồ bị lấn chiếm nên không chủ động điều tiết nước Qua đợt điều tra thực địa, cho thấy diện tích hạn thường xảy ra tại những khu vực ở xa nguồn nước Công trình dẫn nước còn thiếu hoặc chưa đồng bộ như các xã Gia Minh, Gia đức, Tân Dương, Thuỷ Triều, Dương Quan, Tam Hưng, Lập Lễ, Hoàng Động, Lại Xuân

Các cống tưới đầu mối An Sơn có hiện tượng nước vật ở hạ lưu cống nên lưu lượng khó đảm bảo được diện tích thiết kế Hơn nữa khi mở đồng thời 2 cống An Sơn, mực nước tại vùng cống giảm, cống An Sơn I chỉ đạt 60% công suất thiết kế

Bảng 3.9 Các công trình lấy nước trên hệ thống thủy nông Thủy Nguyên

1 Phù Yên 2 Lại Xuân Cấm trái K 0+00 KH

2 Đội 5 Phù Ninh Cấm trái K 4+610 KH 0,5 8 1 1,2*2

3 Ngọc Khê Phù Ninh Cấm trái K 4+710 KH -0,5 10 1 2

4 Vẹt Khê Phù Ninh Cấm trái K 5+310 KH 12 1 1,8*2

5 Cầu Tử Ngoại 1 Hợp Thành Cấm trái K 7+100 KH 12 1 D100

6 Cầu Tử Ngoại 2 Hợp Thành Cấm trái K 7+940 KH 0 10 1 1,5*2

7 Đầm Lải Lại Xuân Cấm trái K 8+100 KH 0,5 1 1,2

8 Cạn Hợp Thành Cấm trái K 8+310 KH 0,5 10 1 D60

9 Đông Hợp Thành Cấm trái K 9+260 KH -1 10 1 2

10 Miếu Chợ Hợp Thành Cấm trái K10+260 KH 0,5 9 1 1,77*3

11 Thái Lai Cao Nhân Cấm trái K11+860 KH 0,5 5,5 2 1

12 2/9 Kiền Bái Cấm trái K13+740 KH -1 12,5 3 1,6*2,5

13 Bến Kiều Kiền Bái Cấm trái K14+110 KH

14 Kền Bái Tây Kiền Bái Cấm trái K14+610 KH -1 11,5 2 1,2*

15 Lôi Đông 1 Hoàng Động Cấm trái K16+800 KH

16 Lôi Đông 2 Hoàng Động Cấm trái K17+500 KH -0,5 11 1 0,8*1,5

17 Đông Kem Hoàng Động Cấm trái K18+110 KH 0 1 0,8

18 Cạn Lâm Đông Cấm trái K18+810 KH -1,5

Trang 39

TT Tên cống Xã Sông Bờ Vị trí Nhiệm vụ Z đáy l cửa Số KT

19 Chu Linh Lâm Đông Cấm trái K19+110 KH 1 1,5

20 Lâm Động Lâm Đông Cấm trái K19+510 KH -1,5 12 1 3*3

21 Bính Động Hoa Động Cấm trái K 21+610 KH -1,5 12 6 3 và 6

22 Đầm Tân Hoa Tân Dương Cấm trái K 22+210 KH 12 1 1,2*2

23 Tân Dương Tân Dương Cấm trái K 22+910 KH 0 12 1 2*1

24 Dương Quan Dương Quan Cấm trái K 24+610 KH -1,5 10 1 3*

25 Sáu Phiên Dương Quan Cấm trái K 25+960 KH -1,7 11 1 2*

26 Thuỷ Triều Trung Hà Cấm trái K 27+760 KH 10 1 2,5*1

27 Cống Sơn Lập Lễ Cấm trái K 29+260 KH 10 2 1,2*

28 Núi Trúc Lại Xuân Kinh Thày phải K 2+400 KH -1 1 1,2

29 Cống 32 Lại Xuân Kinh Thày phải K 2+500 KH 0,5 1 1,2

30 Đầm Làng Lại Xuân Kinh Thày phải K 5+200 KH 0,5 1 1,2

31 Đầm Re Lại Xuân Kinh Thày phải K 5+600 KH 0,5 1 1,2

32 Đầm To Lại Xuân Kinh Thày phải K 8+0 KH 0,5 1 1*1,6

33 Phi Liệt Lại Xuân Kinh Thày phải K 8+150 KH 0 4 4

34 Cống số 8 Gia Minh Đá Bạch phải K 7+450 KH -1,5 1 2

35 Mỹ Đồng Gia Minh Đá Bạch phải K 9+00 KH -1,5 1 1,4

36 Cái Thám Gia Minh Đá Bạch phải K 9+500 KH -0,5 1 1,5

37 Cống Số 9 Gia Đức Đá Bạch phải K11+00 KH -0,5 1 1,5

38 Lấy Sa Gia Đức Đá Bạch phải K12+770 KH -1 1 1,5

39 Đầm số 1 Gia Đức Đá Bạch phải K13+300 KH -0,5 1 1,2

40 Hàm Ếch Liên Khê Đá Bạch phải K 0+00 KH -1,5 2 3

41 Chiến Thắng Minh Đức Bạch Đằng phải K 1+400 KH -1 1 1,6

42 Tân Đức Minh Đức Bạch Đằng phải K 2+00 KH -2 2 1,6

43 Minh Đức Minh Đức Bạch Đằng phải K 2+70 KH -2 2 4

44 Mi Xuân Ngũ Lão Bạch Đằng phải K 2+900 KH -0,7 1 1,8

45 Đông Xuân Phả Lễ Bạch Đằng phải K 9+00 KH -1 2 2

46 U Bò Minh Đức Đá Bạch phải K15+500 KH 2 1 1,5

47 An Sơn An Sơn Cấm trái K2+100 tưới -1,5 4 2,5

18 Khu An Kim Hải (Vùng hạ du sông Thái Bình)

Bao gồm diện tích của huyện Kim Thành - Hải Dương, huyện An Hải và 3 quận Hồng Bàng, Lê Chân và Ngô Quyền của thành phố Hải Phòng Tổng diện tích tự nhiên là 33.481 ha, diện tích canh tác là 13.530 ha

Hệ thống An Kim Hải là một hệ thống tưới tiêu kết hợp, với nhiệm vụ chính là cung cấp nước tưới cho toàn bộ hệ thống (vụ Đông Xuân, vụ mùa).Ngoài ra, do địa hình khu vực thấp, lại được bao bọc bởi các con sông nên vụ mùa thường hay có bão và mưa lớn chính vì vậy hệ thống còn phải có nhiệm vụ tiêu thoát nước trong vụ mùa chống úng, lụt

Hệ thống An Kim Hảilấy nước từ sông Rạng,được thiết kế tưới cho 15,571 nghìn ha với ứng với tần suất tưới thiết kế P=75% và hệ số tưới mặt ruộng là 0,7l/s/ha Hệ thống cần tiêu nước với diện tích là 33,01 nghìn ha, tuy nhiên theo năng lực thiết kế thì diện

Trang 40

tích có khả năng tiêu được là 27,19 nghìn ha trong đó, phần lớn là tiêu tự chảy ra các sông (23,9 nghìn ha) còn lại sử dụng bơm động lực là 3,29 nghìn ha chiếm khoảng 12% tổng năng lực tiêu

Đối với vụ đông xuân, nhu cầu lấy nước tưới là chủ yếu, tuỳ theo từng thời kỳ gieo

mạ, cấy… mà cung cấp nước cho kịp thời; đối với vụ mùa, vừa phải cung cấp đủ nước tưới vừa phải chống úng cho cây trồng đặc biệt vào tháng VII-IX

Sự vận hành của hệ thống chỉ tập trung vào 2 cống lấy nước Quảng Đạt, Bằng Lai và

2 cống tiêu nước Hà Liên và Cái Tắt

Hệ thống An Kim Hải, bao gồm 2 cống lấy nước chính lấy nước từ sông Rạng vào hệ thống: Cống Bằng Lai và cống Quảng Đạt (2 cống này cũng kết hợp lấy phù sa cho đồng ruộng) Sau đó nước được chuyển vào hệ thống kênh chính (tưới tiêu kết hợp) và kết hợp với hàng loạt các cống lấy nước nội đồng và trạm bơm tưới Đại Đức (xã Liên Hòa - Kim Thành) để cung cấp nước tưới cho toàn hệ thống Hệ thống An Kim Hải có 2 cống đầu mối tưới chính lấy nước từ sông Rạng là:

- Cống Bằng Lai, xã Kim Đính xây dựng năm 1936, B = 8 m (2cửa), cao độ đáy −1,0 m, năm 1985 được sửa chữa lại, cao độ đáy nâng lên: -0,70m

- Cống Quảng Đạt - xã Ngũ Phúc xây dựng năm 1965 (3cửa), tổng bề rộng B

=10 m, cao độ đáy -1,0 m, QTK của 2 cống 26,2 m3/s

- Trạm bơm Lạch Tray lấy nước từ Đa Độ chuyển qua xi phông Lạch Tray

giải quyết một phần nhu cầu nước cho 9 xã Hải An

Toàn khu An - Kim - Hải đã xây dựng được 90 trạm bơm tưới nội đồng lấy nước trực tiếp từ kênh An Kim Hải cấp cho khu vực Toàn khu có tổng số 93 công trình trong

đó 90 trạm bơm cấp I, II và 3 cống đầu mối tưới thiết kế 15.000 ha, thực tưới 11.148 ha

So với diện tích cần tưới thì diện tích chưa chủ động tưới còn: 2.382 ha Nguyên nhân tồn tại do 2 cống đầu mối Bằng Lai - Quảng Đạt QTK=26,2 m3/s không đủ năng lực để cấp nước tưới

Bảng 3.10 Các công trình lấy nước trên hệ thống thủy nông An Kim Hải

TT trạm bơm Cống, Thuộc sông Bờ Xã Huyện Nhiệm vụ Vị trí

I Cống

1 Quảng Đạt Rạng trái Phúc Ngũ Thành Kim Tưới Ven đê

Đính

Kim

3 Chuẩn Thừng Rạng trái Bình Dân Thành Kim Tưới Ven đê

Ngày đăng: 08/06/2014, 19:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Vị trí địa lý lưu vực sông Hồng - Thái Bình trên lãnh thổ Việt Nam - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 1.1. Vị trí địa lý lưu vực sông Hồng - Thái Bình trên lãnh thổ Việt Nam (Trang 7)
Hình 1.2. Bản đồ lưu vực sông Hồng - Thái Bình - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 1.2. Bản đồ lưu vực sông Hồng - Thái Bình (Trang 9)
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí các cống lấy nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí các cống lấy nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình (Trang 21)
Bảng 3.5. Các công trình lấy nước trên hệ thống thủy nông Chí Linh - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Bảng 3.5. Các công trình lấy nước trên hệ thống thủy nông Chí Linh (Trang 35)
Bảng 3.6. Các công trình lấy nước trên hệ thống thủy nông Nam Sách - Thanh Hà - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Bảng 3.6. Các công trình lấy nước trên hệ thống thủy nông Nam Sách - Thanh Hà (Trang 36)
Hình 4-1a: Quan hệ tổng lượng dòng chảy mùa lũ và mùa kiệt theo tài liệu đo đạc - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 4 1a: Quan hệ tổng lượng dòng chảy mùa lũ và mùa kiệt theo tài liệu đo đạc (Trang 58)
Hình 3-1: Biểu đồ thay đổi lưu lượng qua nhà máy thuỷ điện Hoà Bình của một số năm kiệt - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 3 1: Biểu đồ thay đổi lưu lượng qua nhà máy thuỷ điện Hoà Bình của một số năm kiệt (Trang 64)
Hình 4-3: Quá trình nước đến và xả tại tuyến hồ chứa Hoà bình, quá trình lưu lượng thực đo - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 4 3: Quá trình nước đến và xả tại tuyến hồ chứa Hoà bình, quá trình lưu lượng thực đo (Trang 72)
Hình 4-5: Quá trình nước đến và xả tại tuyến hồ chứa Hoà bình, quá trình lưu lượng thực đo - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 4 5: Quá trình nước đến và xả tại tuyến hồ chứa Hoà bình, quá trình lưu lượng thực đo (Trang 73)
Hình 4-6: Quá trình nước đến và xả tại tuyến hồ chứa Hoà bình, quá trình lưu lượng thực đo - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 4 6: Quá trình nước đến và xả tại tuyến hồ chứa Hoà bình, quá trình lưu lượng thực đo (Trang 73)
Hình 4-7: Quá trình mực nước triều tại cống Nguyệt Lâm trên sông Trà Lý - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 4 7: Quá trình mực nước triều tại cống Nguyệt Lâm trên sông Trà Lý (Trang 76)
Hình 4-8: Quá trình mực nước triều tại cống Năng trên sông Trà Lý - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 4 8: Quá trình mực nước triều tại cống Năng trên sông Trà Lý (Trang 77)
Hình 4-10: Quá trình mực nước tại công trình đầu mối trạm bơm Phù sa - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 4 10: Quá trình mực nước tại công trình đầu mối trạm bơm Phù sa (Trang 83)
Hình 4-12: Quá trình mực nước sông Hồng tháng I+II tại cống Liên mạc từ năm 2002 - Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình cấp nước đồng bằng sông hồng
Hình 4 12: Quá trình mực nước sông Hồng tháng I+II tại cống Liên mạc từ năm 2002 (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w