Lũ trên hệ thống sông Hồng tập trung nhanh, thời gian lũ ở phần thượng lưu các sông cũng chỉ kéo dài từ 3 đến 5 ngày, trong khi các phương pháp dự báo lũ hiện nay chỉ mới đạt thời gian d
Trang 1Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
trường đại học thủy lợi
Báo cáo tổng kết đề tài hợp tác theo nghị định thư với italia
hợp tác Nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo
lũ trung hạn kết nối với công nghệ điều hành
hệ thống công trình phòng chống lũ
cho đồng bằng sông hồng - sông thái bình
Chủ nhiệm đề tài: pgs, ts vũ minh cát
Trang 2********** **********
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
=============================================================
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP NHÀ NƯỚC
H ợp tác nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo lũ trung hạn kết nối
v ới công nghệ điều hành hệ thống công trình phòng chống lũ cho
đồng bằng sông Hồng – sông Thái Bình
BÁO CÁO TỔNG KẾT
C ơ quan quản lý: Bộ Khoa học Công Nghệ
B ộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
C ơ quan chủ trì: Trường Đại học Thuỷ lợi
Ch ủ nhiệm đề tài: PGS.TS Vũ Minh Cát
Trang 3ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP NHÀ NƯỚC
Hợp tác nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo lũ trung hạn kết nối
với công nghệ điều hành hệ thống công trình phòng chống lũ cho
đồng bằng sông Hồng – sông Thái Bình
GIAI ĐOẠN 2006 - 2007
C ơ quan quản lý: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
B ộ Khoa học Công Nghệ
C ơ quan chủ trì: Trường Đại học Thuỷ lợi
Ch ủ nhiệm đề tài: PGS.TS Vũ Minh Cát
Nh ững người thực hiện: PGS.TS Vũ Minh Cát, ĐHTL
PGS.TS Lê V ăn Nghinh, ĐHTL
Ths Đỗ Lệ Thủy, TTDBKTTVTW
Ths Hoàng Thanh Tùng Ths Nguy ễn Hoàng Sơn
Ths Ph ạm Xuân Hoà
NCS Ngô Lê An
Và nh ững cộng tác viên khác
Trang 41.1 Mở đầu 1
1.2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi của đề tài 3
1.4 Nội dung và các phương pháp nghiên cứu 3
1.4.1 Dự báo mưa trung hạn 3
1.4.2 Dự báo lũ trung hạn 4
1.4.3 Tích hợp dự báo mưa lũ trung hạn trong điều hành hệ thống hồ chứa 6
1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 6
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
1.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 11
1.6 Đóng góp của mỗi bên trong đề tài hợp tác nghiên cứu 13
1.6.1 Phía đối tác Italy 14
1.6.2 Phía đối tác Việt Nam 15
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG HỒNG –THÁI BÌNH THU THẬP, PHÂN TÍCH VÀ QUẢN LÝ CÁC TÀI LIỆU CƠ BẢN 19
2.1 Tổng quan về lưu vực sông Hồng – Thái Bình 19
2.1.1 Tổng quan chung 19
2.1.2 Đặc điểm địa hình 20
2.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng và thực vật 21
2.1.4 Đặc điểm khí hậu 22
2.1.5 Đặc điểm hệ thống sông ngòi 25
2.1.6 Đặc điểm dân sinh kinh tế 28
2.2 Thu thập và phân tích tài liệu cơ bản 28
2.2.1 Số liệu khí tượng 28
2.2.1.1 Mạng lưới trạm đo khí tượng 28
2.2.1.2 Đánh giá chung về tài liệu khí tượng 29
Trang 52.2.2.1 Mạng lưới trạm đo đạc thủy văn 31
2.2.2.2 Đánh giá chung về tài liệu khí tượng thuỷ văn 31
2.2.2.3 Đặc điểm thủy văn trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình 32
2.2.3 Số liệu thủy văn các hồ chứa 35
2.2.4 Tài liệu địa hình hệ thống sông Hồng -Sông Thái Bình 36
2.2.4.1 Tài liệu địa hình các hồ chứa 36
2.2.4.2 Bản đồ số DEM thuộc lưu vực sông Hồng 36
2.2.4.3 Tài liệu địa hình hệ thống sông Hồng 36
2.2.4.4 Tài liệu địa hình các khu phân chậm lũ 36
2.2.5 Tài liệu về thảm phủ thực vật và bản đồ đất lưu vực sông Hồng 37
2.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu 37
2.3.1 Cơ sở số liệu bản đồ 38
2.3.2 Cơ sở số liệu KTTV 40
2.3.2.1 Giới thiệu phần mềm WRDB 41
2.3.2.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu KTTV sử dụng phần mềm WRDB 42
2.3.2.3 Khai thác cơ sở dữ liệu KTTV đã xây dựng 58
CHƯƠNG III: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÔNG NGHỆ DỰ BÁO MƯA TRUNG HẠN 65
3.1 Dự báo mưa ở Việt Nam 65
3.1.1 Đặc điểm sự hình thành mưa và tổ hợp các kiểu hình thời tiết gây mưa lớn lưu vực sông Hồng 65
Trang 63.2.1.3 Điều kiện ban đầu và điều kiện biên 74
3.2.1.4 Tiền xử lý và hậu xử lý trong mô hình BoLAM 76
3.2.2 Nghiên cứu ứng dụng mô hình BoLAM cho Việt Nam 76
3.2.2.1 Thay đổi cấu trúc thư mục trong mô hình BoLAM 79
3.2.3 Dự báo thử nghiệm bằng mô hình BOLAM mùa lũ 2007 83
3.3 Một số kết qủa so sánh mô hình BoLAM và mô hình HRM 95
3.4 Kết luận và kiến nghị 102
CHƯƠNG IV: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÔNG NGHỆ DỰ BÁO LŨ 103
4.1 Các phương pháp dự báo thủy văn thường dùng ở Việt Nam 103
a Các phương pháp thường dùng trong dự báo thủy văn 103
1 Phương pháp xu thế 103
2.Phương pháp lưu lượng và mực nước tương ứng 104
3 Phương pháp lượng trữ 104
4 Nhóm các phương pháp phân tích thống kê 105
5 Phương pháp mạng Nơ ron thần kinh – Mạng trí tuệ nhân tạo (Artificial Neural Network) 105
6 Phương pháp sử dụng các mô hình thủy văn và thủy lực 106
7 Phương pháp kỹ thuật số 106
b.Tổng kết các phương pháp thường dùng trong dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn ở Việt Nam 107
1 Các phương pháp dự báo ngắn hạn 108
2 Các phương pháp dự báo trung hạn 108
3 Các phương pháp dự báo dài hạn 109
4.2 Phân tích đặc điểm mưa lũ trên hệ thống sông Hồng 109
4.2.1 Đặc điểm của mưa gây lũ trên lưu vực hệ thống sông Hồng 109
4.2.2 Vai trò của trữ lượng nước trên lưu vực đối với sự hình thành lũ 113
Trang 7Dòng chảy lũ sông Lô 121
4.3 Xây dựng công nghệ dự báo lũ ngắn hạn hệ thống sông Hồng 125
4.3.1 Phương pháp hồi quy đa biến 128
a Cơ sở của phương pháp Hồi quy đa biến 128
b Các giả thiết của phương pháp và quy trình thực hiện phương pháp 128
c Xây dựng ma trận tương quan 129
d Phương trình dự báo và các phép thử 130
a Cấu trúc mạng ANN 138
b Quá trình quét xuôi 139
c Hàm kích hoạt 139
d Chuẩn hoá (Normalization) 140
e Lựa chọn sơ đồ mạng nơ ron thần kinh ban đầu 141
f Phương pháp quét ngược (Back Propagation Method) 141
g Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học theo phương pháp lan truyền ngược sai số 143
h Vấn đề học chưa đủ và học quá thuộc của mạng 144
i Một số giải pháp cho vấn đề học quá của mạng: 144
j Giới thiệu phần mềm neuroSolutions 145
4.3.3 Xây dựng các phương án dự báo lũ ngắn hạn cho các vị trí khác nhau trên hệ thống sông Hồng 147
4.3.3.2 Kết quả dự báo lũ cho sông Thao: 150
Trang 8hệ thống sông Hồng 186
4.4.2 Ứng dụng mô hình HEC-HMS 191
4.4.2.1 Giới thiệu mô hình HEC-HMS 191
4.4.2.2 Xây dựng mô hình HEC-HMS cho lưu vực hệ thống sông Hồng.192 b Kết nối dữ liệu liệu mưa vào dự báo dòng chảy 193
c Tóm tắt một số kết quả tính toán và dự báo dòng chảy từ mưa 196
4.5 Xây dựng công nghệ dự báo lũ cho hệ thống sông Hồng 197
4.5.1 Lập trình kết nối và xây dựng công nghệ 197
4.5.2 Sử dụng công nghệ dự báo ngắn hạn 198
4.5.3 Sử dụng công nghệ dự báo trung hạn bằng mô hình DIMOSHONG 199
4.5.4 Sử dụng công nghệ dự báo trung hạn bằng HEC-HMS 201
4.6 Thử nghiệm công nghệ dự báo lũ trung hạn cho mùa lũ 2007 207
4.6.1 Dự báo thử nghiệm sử dụng mô hình DIMOSHONG 207
4.6.2 Dự báo thử nghiệm sử dụng mô hình HEC-HMS 210
CHƯƠNG V: CÔNG NGHỆ KẾT NỐI DỰ BÁO MƯA VỚI DỰ BÁO LŨ TRUNG HẠN 213
5.1 Xây dựng phần mềm kết nối giữa dự báo mưa với dự báo lũ 214
5.1.1 Lập trình đọc và ghi kết quả dự báo từ BOLAM ra file PPF – file số liệu vào cho DIMOSHONG 214
5.1.2 Lập trình giao diện xử lý số liệu đầu vào và hiển thị kết quả 224
1) Chương trình Nhập dữ liệu 224
2) Chương trình hiển thị kết quả chạy mô hình DIMOSHONG 236
CHƯƠNG VI: KẾT NỐI MÔ HÌNH DỰ BÁO MƯA LŨ TRONG ĐIỀU HÀNH HỆ THỐNG HỒ CHỨA PHÒNG CHỐNG LŨ 257
6.1 Xây dựng mô hình kết nối dự báo mưa lũ với điều hành hệ thống hồ chứa phòng lũ 257
6.1.1 Giới thiệu tóm tắt mô hình HEC-HMS về khả năng điều tiết hồ chứa 257
Trang 96.2 Lựa chọn hệ thống kịch bản về mưa và dòng chảy lũ phục vụ điều hành thử
nghiệm theo mô hình dự báo lũ trung hạn 265
6.2.1 Những căn cứ để thiết lập hệ thống kịch bản 265
6.2.2 Lựa chọn kịch bản mưa lũ 266
6.3 Phương án vận hành hệ thống hồ chứa phòng lũ theo thời gian dự kiến của dự báo hạn trung (từ 3 đến 5 ngày) 268
6.3.1 Điều tiết các hồ trong thời kỳ lũ sớm 268
6.3.2 Điều tiết các hồ trong thời kỳ lũ chính vụ 269
6.3.3 Điều tiết các hồ trong thời kỳ lũ muộn 270
6.3.4 Vận hành đảm bảo an toàn công trình 271
6.4 Kết quả vận hành thử nghiệm hệ thống hồ chứa theo các kịch bản đề ra 272
1 Trận lũ lịch sử năm 1971 xảy ra trong thời kỳ lũ sớm từ 15 tháng 6 đến 15 tháng 7 .272
2 Trận lũ lịch sử năm 1971 xảy ra trong thời kỳ lũ chính vụ từ 16 tháng 7 đến 25 tháng 8 275
3 Trận lũ lịch sử năm 1971 xảy ra trong thời kỳ lũ muộn từ 26 tháng 8 đến 15 tháng 9 279
6.5 Thử nghiệm mô hình vận hành trong mùa lũ 2007 283
CHƯƠNG VII: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 287
7.1 Kết luận 287
a Về khoa học công nghệ 287
b Về mặt hợp tác quốc tế 290
Trang 10Hình 2.2: Giao diện trang đầu của Chương trình quản lý cơ sở dữ liệu 38
Hình 2.3: CSDL quản lý bản đồ DEM có độ phân giải khác nhau của cả nước 39
Hình 2.4: CSDL quản lý toàn bộ bản đồ quét tỷ lệ 1:50.000 của cả nước 39
Hình 2.5: Sơ đồ cấu trúc CSDL trong WRDB 42
Hình 2.6: Sơ đồ mạng lưới trạm khí tượng thủy văn trên hệ thống sông Hồng - Thái Bình 43
Hình 2.7: Giao diện bảng support 48
Hình 2.8: Các yếu tố đo 49
Hình 2.9: Phân nhóm các yếu tố đo 50
Hình 2.10: Phân nhóm các yếu tố đo 50
Hình 2.11: Sơ đồ nhập dữ liệu cho CSDL KTTV 57
Hình 2.12: Ví dụ nhập dữ liệu mực nước và lưu lượng trạm Sơn Tây 58
Hình 2.13: Dữ liệu mực nước và lưu lượng trạm Sơn Tây trong bảng Import 58
Hình 2.14: Bảng thống kê theo trạm và thông số 59
Hình 2.15: Lọc dữ liệu mực nước trạm có mã trạm là 74165 60
Hình 2.16: Sắp xếp dữ liệu từ lớn đến nhhỏ theo mã trạm và theo kết quả 60
Hình 2.17 Lựa chọn dữ liệu mực nước trạm Sơn Tây bằng QBE Query 61
Hình 2.18: Đường quá trình mực nước trạm Mường Tè và Lai Châu trên cùng một trục tọa độ 61
Hình 2.19: Mối tương quan mực nước tại 2 trạm Mường Tè và Lai Châu 62
Hình 2.20: Đường dẫn chọn các vùng dữ liệu quan tâm 62
Hình 2.21: Chọn các vùng dữ liệu quan tâm 63
Hình 2.22: Kiểm tra vùng dữ liệu được chọn 63
Hình 3.1: Biểu đồ quy trình chạy mô hình BoLAM trên máy tính PC-Linux 78
Hình 3.2: Cấu trúc thư mục mới của mô hình BoLAM 80
Trang 11Hình 3.4: Ví dụ minh họa dự báo +24h cho trường gió và độ cao địa thế vị mực
500mb của mô hình BoLAM_FATHER (trái) và BoLAM_SON (phải) 83Hình 3.5: Ví dụ minh họa dự báo +24h cho trường nhiệt độ tại độ cao 2m của mô
hình BoLAM_FATHER (trái) và BoLAM_SON (phải) 83Hình 3.6: Miền số liệu đầu vào của mô hình toàn cầu GFS và miền tính toán của
mô hình khu vực BoLAM cho phiên bản FATHER và SON 85Hình 3.7: Lượng mưa phân tích trên khu vực Bắc Bộ từ ngày 26/07/2007 đến ngày
28/07/2007 87Hình 3.8: Tổng lượng mưa từ tháng 02/2007 đến tháng 08/2007 theo phân tích
(trái, trên) và dự báo với hạn dự báo 1 ngày (phải, trên), 2 ngày (trái,
dưới) và 3 ngày (phải, dưới) theo BoLAM_FATHER .90Hình 3.9: Tổng lượng mưa từ tháng 02/2007 đến tháng 08/2007 theo phân tích
(trái, trên) và dự báo với hạn dự báo 1 ngày (phải, trên), 2 ngày (trái,
dưới) và 3 ngày (phải, dưới) theo BoLAM_SON .91Hình 3.10: Phân bố sai số hệ thống (ME) từ tháng 02 đến tháng 08/2007 theo
phân tích và dự báo với hạn dự báo 1 và 2 ngày theo BoLAM_FATHER (các hình bên trái) và BoLAM_SON (các hình bên
phải) 92Hình 3.11: Phân bố sai số hệ thống tần suất (FB) với ngưỡng mưa 10mm/ngày từ
tháng 02/2007 đến tháng 08/2007 theo phân tích và dự báo với hạn dự báo 1 và 2 ngày theo BoLAM_FATHER (hình trái) và BoLAM_SON (hình phải) .93Hình 3.12: Phân bố hệ số tương quan (COR) từ tháng 02 đến tháng 08/2007 theo
phân tích và dự báo với hạn dự báo 1 và 2 ngày theo BoLAM_FATHER (hình trái) và BoLAM_SON (hình phải) 94
Trang 12HRM (phải) 96
Hình 3.15: Tổng lượng mưa từ tháng 02/2007 đến tháng 08/2007 theo phân tích (trái) và dự báo với hạn dự báo ngày thứ hai từ BoLAM (giữa) và HRM (phải) 97
Hình 3.16: Phân bố sai số hệ thống (ME) từ tháng 02/2007 đến tháng 08/2007 theo phân tích và dự báo với hạn dự báo ngày thứ nhất và ngày thứ hai từ BoLAM (trái) và HRM (phải) 98
Hình 3.17: Phân bố sai số hệ thống tần suất (FB) với ngưỡng mưa 10mm/ngày từ tháng 02/ 2007 đến tháng 08/2007 với hạn dự báo ngày thứ nhất và ngày thứ hai từ BoLAM (trái) và HRM (phải) 99
Hình 3.18: Phân bố hệ số tương quan (COR) từ tháng 02, 2007 đến tháng 08, 2007 theo phân tích và dự báo với hạn dự báo ngày thứ nhất và ngày thứ hai từ BoLAM (trái) và HRM (phải) 100
Hình 3.19: Phân bố điểm số kỹ năng thực với ngưỡng mưa 10mm/ngày từ tháng 02/2007 đến tháng 08/2007 theo phân tích và dự báo với hạn dự báo ngày thứ nhất và ngày thứ hai từ BoLAM (trái) và HRM (phải) 101
Hình 4.1: Một số phương pháp thường dùng trong dự báo thủy văn 103
Hình 4.2: Sơ đồ mô phỏng phương pháp dự báo kỹ thuật số 107
Hình 4.3: Quy trình dự báo theo phương pháp tương quan đa biến 130
Hình 4.4: Mạng Nơ ron Thần kinh 3 lớp 139
Hình 4.5: Một neron thần kinh với hàm kích hoạt F 139
Hình 4.6: Hàm kích hoạt Logistic 140
Hình 4.7: Sơ đồ khối của thuật toán quét ngược 142
Hình 4.8- Giao diện chính của phần mềm NeuroSolutions 5.0 146
Hình 4.9- Giao diện chính của phần mềm NeuroSolutions 5.0 cho excel 147
Hình 4.10: Sơ đồ áp dụng NeuroSolutions cho Excel 147
Hình 4.11: Các bước xây dựng phương án dự báo 148
Hình 4.12: Sơ đồ mạng lưới sông Hồng-Thái Bình sử dụng trong viêc xây dựng ương án dự báo tại 150
Trang 13báo với thời gian dự kiến 24h 152Hình 4.14: đường quá trình dự báo và thực đo trạm Yên Bái khi dự báo thử
nghiệm với thời gian dự kiến 24h 152Hình 4.15: đường quá trình dự báo và thực đo trạm Phú Thọ khi xây dựng PT dự
báo với thời gian dự kiến 24h 155Hình 4.16: đường quá trình dự báo và thực đo trạm Phú Thọ khi dự báo thử
nghiệm với thời gian dự kiến 24h 155Hình 4.17: đường quá trình dự báo và thực đo trạm Yên Bái khi xây dựng mạng
với thời gian dự kiến 24h 157Hình 4.18: đường quá trình dự báo và thực đo trạm Yên Bái khi dự báo kiểm tra
với thời gian dự kiến 24h 157Hình 4.19: đường quá trình dự báo và thực đo trạm Phú Thọ khi xây dựng mạng
thời gian dự kiến 24h 159Hình 4.20: đường quá trình dự báo và thực đo trạm Phú Thọ khi dự báo kiểm tra
với thời gian dự kiến 24h 159Hình 4.21: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán tại Hàm Yên trước
(t+24) khi xây dựng mạng 164Hình 4.22: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán tại Hàm Yên trước
(t+24) khi dự báo kiểm tra 165Hình 4.23: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán tại Bắc Mê trước
(t+24) khi xây dựng mạng 166Hình 4.24: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán tại Bắc Mê trước
(t+24) khi dự báo kiểm tra 166Đường quá trình mực nước tính toán và thực đo trạm Lai Châu (trước
Trang 14Hình 4.29: Đường quá trình mực nước dự báo và thực đo trạm Quỳnh Nhai với
thời gian dự kiến 24h – giai đoạn kiểm định 174
Hình 4.30: Đường quá trình mực nước dự báo và thực đo trạm Tạ Bú với thời gian dự kiến 24h 175
Hình 4.31: Tóm tắt sơ đồ xử lý và xây dựng các file DEM cho mô hình 180
Hình 4.32: Bản đồ DEM lưu vực sông Hồng 181
Hình 4.33: Mạng lưới sông lưu vực sông Hồng tính đến Sơn Tây theo định dạng của DIMOSHONG 183
Hình 4.34: Bản đồ thổ nhưỡng dạng Grid lưu vực sông Hồng cả phần lãnh thổ Trung Quốc 185
Hình 4.35: Bản đồ địa chất dạng Grid lưu vực sông Hồng cả phần lãnh thổ Trung Quốc 186
Hình 4.36: Vị trí các trạm đo mưa vực sông Hồng cả phần lãnh thổ Trung Quốc đưa vào mô hình (trong trường hợp sử dụng số liệu thực mưa đo vào dự báo) 186
Hình 4.37: Mô phỏng mưa lũ cho năm 1971 187
Hình 4.38: Mô phỏng mưa lũ cho năm 1996 188
Hình 4.39: Mô phỏng mưa lũ cho năm 2000 189
Hình 4.40: Mô phỏng mưa lũ cho năm 2002 190
Hình 4.41: Sơ đồ mô phỏng lưu vực hệ thống sông Hồng đến Hà Nội bằng phần mềm HEC-HMS 3.01 193
Hình 4.42: Thư mục chứa các File dữ liệu 194
Hình 4.43: Menu dự báo 194
Hình 4.44: Cửa sổ lọc dữ liệu 195
Hình 4.45: Kết quả lọc dữ liệu 195
Hình 4.46: Menu ghi kết quả 196
Hình 4.47: Hộp hội thoại ghi kết quả 196
Trang 15Hình 4.49: Giao diện chương trình dự báo lũ hệ thống sông Hồng 198
Hình 4.50: Giao diện chương trình dự báo lũ ngắn hạn hệ thống sông Hồng 199
Hình 4.51: File Bolam 200
Hình 4.52: Hộp hội thoại thông số 200
Hình 4.53: Kết quả chạy mô hình 201
Hình 4.54: Danh sách các trạm khí tượng – thủy văn 202
Hình 4.55: Menu lọc dữ liệu 202
Hình 4.56: kết quả lọc dữ liệu 203
Hình 4.57: Tải chương trình DSS 204
Hình 4.58: Mở File DSS 205
Hình 4.59: Ghi lại dữ liệu 205
Hình 4.60: Dòng chảy ban đầu 206
Hình 4.61: Thông số hồ Hòa Bình 206
Hình 4.62:Thử nghiệm công nghệ dự báo lũ trung hạn cho mùa lũ 2007 207
Hình 4.63: Đường quá trình dòng chảy dự báo và dòng chảy thực đo tại trạm Tạ Bú tháng 7/2007 208
Hình 4.64: Đường quá trình dòng chảy dự báo và dòng chảy thực đo tại trạm Yên Bái trận lũ tháng 7/2007 209
Hình 4.65: Đường quá trình dòng chảy dự báo đến trạm Bắc Mê trận lũ tháng 7/2007 210
Hình 4.66: Đường quá trình dự báo và thực đo dòng chảy vào hồ Hoà Bình từ 16/7 đến 12/9/2007 211
Trang 16Hình 5.4: Giao diện phần nhập dữ liệu cho Thông số DIMOSHONG 234
Hình 5.5: Giao diện phần nhập dữ liệu cho Thông số BOLAM 235
Hình 5.6: Giao diện phần Kết quả nhập số liệu 236
Hình 5.7 : Hộp hội thoại thông báo lỗi đường dẫn 237
Hình 5.8: Giao diện chương trình Xem kết quả 237
Hình 5.8: Giao diện phần Lựa chọn trạm cần hiển thị kết quả dự báo 238
Hình 5.10: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận lũ 8/2002 243
Hình 5.11: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận lũ 8/2002 243
Hình 5.12: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận lũ 8/2002 244
Hình 5.13: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa thực đo cho trận lũ 8/2002 244
Hình 5.14: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa thực đo cho trận lũ 7/2000 245
Hình 5.15: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa thực đo cho trận lũ 7/2000 245
Hình 5.16: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận lũ 7/2000 246
Hình 5.17: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận lũ 7/2000 246
Hình 5.18: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận lũ 7/2000 247
Hình 5.19: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận lũ 7/2000 247
Hình 5.20: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa thực đo cho trận lũ 8/1996 248
Trang 17Hình 5.22: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa thực đo cho trận lũ
8/1996 249Hình 5.23: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa thực đo cho trận lũ
8/1996 249Hình 5.24: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận
lũ 8/1996 250Hình 5.25: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận
lũ 8/1996 250Hình 5.26: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận
lũ 8/1996 251Hình 5.27: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa Thực đo cho trận
lũ 7/1971 251Hình 5.28: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa Thực đo cho trận
lũ 7/1971 252Hình 5.29: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa Thực đo cho trận
lũ 7/1971 252Hình 5.30: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa Thực đo cho trận
lũ 7/1971 253Hình 5.31: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận
lũ 7/1971 253Hình 5.32: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận
lũ 7/1971 254Hình 5.33: Kết quả mô phỏng đường quá trình lũ sử dụng mưa BOLAM cho trận
lũ 7/1971 254
Trang 18Hình 6.4: Đường quá trình lưu lượng đến hồ Hòa Bình và lưu lượng xả ra khỏi hồ
từ 20/07/07 – 24/08/07 262Hình 6.5: Quan hệ mực nước –dung tích hồ chứa hồ Tuyên Quang 263Hình 6.6: Quan hệ mực nước –dung tích hồ chứa hồ Thác Bà 263Hình 6.7: Mực nước tại Hà Nội năm 1971 khi chưa có sự điều tiết của hồ Hòa
Bình, Tuyên Quang, Thác Bà và khi có sự điều tiết của hồ Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà 273Hình 6.8 :Đường mực nước, dung tích, lưu lượng đến và lưu lượng xả hồ Hòa
Bình điều tiết theo dạng lũ năm 1971 274Hình 6.9 :Đường mực nước, dung tích, lưu lượng đến và lưu lượng xả hồ Tuyên
Quang điều tiết theo dạng lũ năm 1971 275Hình 6.10 :Đường mực nước, dung tích, lưu lượng đến và lưu lượng xả hồ Hòa
Bình điều tiết theo dạng lũ năm 1971 276Hình 6.11:Đường mực nước, dung tích, lưu lượng đến và lưu lượng xả hồ Tuyên
Quang điều tiết theo dạng lũ năm 1971 277Hình 6.12:Đường mực nước, dung tích, lưu lượng đến và lưu lượng xả hồ Thác
Bà điều tiết theo dạng lũ năm 1971 278Hình 6.13: Mực nước tại Hà Nội năm 1971 khi chưa có sự điều tiết của hồ Hòa
Bình, Tuyên Quang, Thác Bà và khi có sự điều tiết của hồ Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà 279Hình 6.14:Đường mực nước, dung tích, lưu lượng đến và lưu lượng xả hồ Hòa
Bình điều tiết theo dạng lũ năm 1971 280Hình 6.15:Đường mực nước, dung tích, lưu lượng đến và lưu lượng xả hồ Tuyên
Quang điều tiết theo dạng lũ năm 1971 281Hình 6.16:Đường mực nước, dung tích, lưu lượng đến và lưu lượng xả hồ Thác
Bà điều tiết theo dạng lũ năm 1971 282Hình 6.17: Mực nước tại Hà Nội năm 1971 khi chưa có sự điều tiết của hồ Hòa
Bình, Tuyên Quang, Thác Bà và khi có sự điều tiết của hồ Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà 283
Trang 19Hình 6.19: đường quá trình mực nước tính toán và thực đo năm 2007 tạiHà Nội từ
7h ngày 21/07 đến 07h ngày 12/09/2007 285
Trang 20Bảng 2.1: Lượng mưa trung bình năm và lượng mưa ứng với các tần suất ở một số
trạm trên lưu vực 24
Bảng 2.2 Tổng hợp tổng số lượng sông 27
Bảng 2.3 Chiều dài sông hệ thống sông Hồng – Thái Bình (phần trong nước) 27
Bảng 2.5 Đặc trưng dòng chảy năm trung bình nhiều năm hệ thống sông Hồng - Thái Bình 33
Bảng 2.5: Thống kê tài liệu thủy văn thu thập được tại một số trạm chính 43
Bảng 2.6: Thống kê tài liệu khí tượng một số trạm chính thu thập được 46
Bảng 2.7: Bảng thống kê đặc trưng một số trạm thủy văn trong lưu vực 52
Bảng 2.8: Bảng mẫu dạng tabular format 56
Bảng 3.1: Các hình thế thời tiết gây mưa lớn ở Bắc Bộ 67
Bảng 3.2: Đặc trưng đỉnh lũ đặc biệt lớn trên các sông thuộc sông Hồng 68
Bảng 3.3 Các chi phí tính toán thời gian chạy mô hình BoLAM 78
Bảng 3.4: Danh sách các khối chương trình bị thay đổi hoặc viết mới trong phiên bản mô hình BoLAM được cài đặt tại TT DBKTTV TƯ 81
Bảng 3.5: Cấu hình động lực, vật lý và phương pháp số của 2 phiên bản mô hình BoLAM trong nghiên cứu dự báo định lượng mưa cho khu vực 85
Việt Nam 85 Bảng 4.1: Quan hệ mức độ lũ với tổ hợp mưu và trữ lượng nước trên lưu vực 115
Bảng 4.2: Các trận lũ lớn xảy ra vào tháng VII & VIII trên sông Hồng 115
Bảng 4.3: Tỷ lệ đóng góp (%) vào đỉnh lũ tại Sơn Tây của từng sông trong các trận lũ lơn đã xẩy ra trên sông Hồng 116
Bảng 4.4: Thời gian truyền lưu lượng từ Hòa Bình về hạ lưu sông Hồng dưới tác động của công trình Hòa Bình 125
Bảng 4.5 Tiêu chuẩn đánh giá phương án dự báo bằng hệ số tương quan của biên độ dự báo 135
Trang 21Bảng 4.7: Đánh giá phương án dự báo tại trạm Bảo Hà và Yên Bái (trước 24h)
trên sông Thao bằng phương pháp hồi quy đa biến 151
Bảng 4.8: Phương trình dự báo lũ tại trạm Yên Bái (trước 12h) và Phú Thọ (trước
24h) trên sông Thao bằng phương pháp hồi qui đa biến 153
Bảng 4.9: Đánh giá phương án dự báo tại trạm Yên Bái (trước 12h) và Phú Thọ
(trước 24h) trên sông Thao bằng phương pháp hồi quy đa biến 153
Bảng 4.10: Đánh giá phương án dự báo tại trạm Bảo Hà (trước 12h) trên sông
Thao bằng phương pháp mạng trí tuệ nhân tạo 155
Bảng 4.11: Đánh giá phương án dự báo tại trạm Yên Bái (trước 24h) trên sông
Thao bằng phương pháp mạng trí tuệ nhân tạo 156
Bảng 4.12: Đánh giá phương án dự báo tại trạm Yên Bái (trước 12h) trên sông
Thao bằng phương pháp mạng trí tuệ nhân tạo 157
Bảng 4.13: Đánh giá phương án dự báo tại trạm Phú Thọ (trước 24h) trên sông
Thao bằng phương pháp mạng trí tuệ nhân tạo 158
Bảng 4.14: Dự báo trực tiếp mực nước 24h tại trạm Hàm Yên theo phương pháp
Bảng 4.18: Đánh giá phương án trực tiếp mực nước 24h theo phương pháp mạng
trí tuệ nhân tạo ANN tại trạm Hàm Yên 164
Trang 22Bảng 4.22: Phương trình dự báo lũ tại trạm Quỳnh Nhai (thời gian dự kiến 24h)
bằng phương pháp hồi qui đa biến 170
Bảng 4.23: Đánh giá kết quả dự báo mực nước trạm Quỳnh Nhai với thời gian dự
kiến 24h 171
Bảng 4.24: Phương trình dự báo lũ tại trạm Tạ Bú (thời gian dự kiến 24h) bằng
phương pháp hồi qui đa biến 171
Bảng 4.25: Đánh giá kết quả dự báo mực nước trạm Tạ Bú (thời gian dự kiến
24h) 172
Bảng 4.26: Cấu trúc mô hình mạng thần kinh (BPNN) được xây dựng cho các
trạm trên sông Đà 173
Bảng 4.27: Kết quả dự báo các trạm bằng mô hình trí tuệ nhân tạo 173
Bảng 4.28 Bảng phân loại đất theo USDD- SCS-CN được sử dụng xây dựng bản
đồ lưới (grid) lớp phủ bề mặt 184
Bảng 4.29: Kết quả đánh giá sai số dự báo từ mô hình DIMOSHONG 210
Bảng 4.30: Kết quả đánh giá sai số dự báo từ mô hình HEC 213
Bảng 6.1: Kịch bản các phương án vận hành hệ thống phòng lũ 267
Bảng 6.2: Quy định về mực nước trước lũ trong các hồ thời kỳ lũ sớm 268
Bảng 6.3: Quy định về mực nước trước lũ trong các hồ thời kỳ chính vụ 269
Bảng 6.4: Cao trình mực nước trước lũ 275
Bảng 6.5: thống kê sai số dự báo tại trạm Sơn Tây và Hà Nội 285
Trang 23NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
GFS (Cơ quan thời tiết quốc gia Hoa Kỳ USNWS) GSM (Cơ quan khí tượng Nhật Bản – JMA)
MNDBT Mực nước dâng bình thường
Trang 25CH ƯƠNG I: MỞ ĐẦU
1.1 M ở đầu
Dự báo khí tượng thủy văn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều hành
hệ thống các hồ chứa thượng nguồn phục vụ phát điện, cấp nước và chống lũ cho hạ
du Đối với những nước nằm trong khu vực nhiệt đới như nước ta thì lũ chủ yếu hình thành từ mưa Tương tác giữa bức xạ mặt trời và các nhân tố mặt đệm hình thành các
tổ hợp thời tiết gây mưa Nước mưa sau khi đã lấp đầy chỗ trũng, ngấm xuống đất thì
chảy tràn trên bề mặt lưu vực vào các sông suối nhỏ, rồi chảy ra những sông lớn hơn Trên cơ sở bản chất vật lý của hiện tượng, việc dự báo lũ tại 1 địa điểm nào đó sẽ bao
gồm các công đoạn như: i) Dự báo thời tiết bao gồm các yếu tố như nhiệt độ, nắng, gió, độ ẩm, mưa, bốc hơi; ii) Mô phỏng quá trình mưa rơi xuống lưu vực, chảy tràn trên sườn dốc và chảy vào sông suối; iii) Dự báo dòng chảy trên cơ sở qui luật chảy truyền từ những vùng cao xuống các vùng thấp
Dựa vào thời gian dự kiến, người ta chia dự báo nói chung thành 3 hạn: dự báo
ngắn hạn với thời gian dự kiến nhỏ hơn hoặc bằng 24 giờ; dự báo trung hạn với thời gian dự kiến từ 2 đến 5 ngày, và dự báo dài hạn thời gian dự báo lớn hơn 5 ngày
Lũ trên hệ thống sông Hồng tập trung nhanh, thời gian lũ ở phần thượng lưu các sông cũng chỉ kéo dài từ 3 đến 5 ngày, trong khi các phương pháp dự báo lũ hiện nay
chỉ mới đạt thời gian dự kiến 24 đến 36 giờ, do đó các quy trình vận hành hệ thống công trình phòng lũ hạ du cũng chỉ được xây dựng với thời gian dự kiến 24 đến 36 giờ
Để công tác điều hành các công trình phòng lũ cho hạ du có hiệu quả, các nhà khoa
học đã nghĩ tới việc kéo dài thời gian dự kiến thông qua việc dự báo mưa Điều đó có nghĩa là nếu như chúng ta dự báo được lượng mưa trước một khoảng thời gian (chẳng
hạn 24 đến 36 giờ) thì cũng có nghĩa là đã kéo dài được thời gian dự báo lũ lên gấp đôi
Hiện nay trên thế giới công nghệ dự báo mưa và dự báo lũ đã phát triển ở mức
độ cao Công nghệ dự báo hiện đại trong đó kết hợp nhiều mô hình toán đã kết nối với
hệ thống cơ sở dữ liệu như hệ thông tin địa lý (GIS), các vệ tinh, Rada để tăng tính
Trang 26Châu Âu Các mô hình tích hợp trên có khả năng dự báo hạn trung có độ chính xác
tương đối cao với thời gian dự kiến từ 3 đến 5 ngày
Xuất phát từ nhu cầu cần thiết phải nâng cao chất lượng dự báo và kéo dài thời gian dự báo mưa lũ trên hệ thống sông Hồng phục vụ điều hành hệ thống liên hồ chứa phòng lũ cho hạ du thì việc nghiên cứu và áp dụng các công nghệ mới trên thế giới về
dự báo mưa lũ trung hạn là rất cần thiết Chính vì vậy trường Đại học Thủy lợi đã được Bộ Khoa học Công nghệ và Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn giao nhiệm vụ thực hiện đề tài ”Hợp tác nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo lũ trung
h ạn kết nối với công nghệ điều hành hệ thống công trình phòng chống lũ cho đồng
b ằng sông Hồng – sông Thái Bình” trong khuôn khổ nghị định thư đã được ký kết
giữa 2 chính phủ Việt Nam và Italy về hợp tác khoa học công nghệ
Tham gia vào thực hiện nghiên cứu này phía đối tác Italia gồm các chuyên gia
của Đại học Brescia, Đại học Bách khoa Milano – nơi xây dựng và phát triển mô hình
thủy văn DIMOSOP và các chuyên gia của Viện Nghiên cứu Khoa học Khí Quyển và Khí hậu Bologna (Institute of Atmospheric Sciences and Climate in Bologna (ISAC-CNR) – nơi xây dựng và phát triển mô hình dự báo thời tiết BOLAM Phía Việt Nam, tham gia vào đề tài này ngoài các chuyên gia, giảng viên của trường Đại học Thủy lợi còn có các chuyên gia đầu ngành về dự báo mưa lũ trung hạn của Trung tâm Dự báo KTTVTW, nơi sẽ tiếp nhận kết quả của đề tài, cải tiến, hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện Việt Nam để đưa vào dự báo tác nghiệp trong tương lai
1.2 M ục tiêu và nội dung nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là: “Hợp tác nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo mưa lũ trung hạn kết nối với công nghệ điều hành hệ thống công trình phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng – Thái Bình”
Với mục tiêu đã nêu trên, các nội dung chính của đề tài bao gồm:
1 Hợp tác nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo mưa trung hạn
2 Hợp tác nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo lũ trung hạn
3 Hợp tác nghiên cứu xây dựng công nghệ tích hợp giữa dự báo mưa và lũ trung hạn
4 Kết nối dự báo mưa lũ trung hạn với công nghệ điều hành hệ thống công trình phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng – Thái Bình
Trang 27Hồng và sông Thái Bình, nhưng kết quả đưa ra sẽ chỉ là các khu vực nằm trong lãnh
thổ Việt Nam Công nghệ dự báo lũ trung hạn sẽ được thực hiện cho mọi vị trí của lưu
vực sông Hồng – sông Thái Bình, nhưng kết quả đưa ra là các vị trí thuộc thượng nguồn của các hồ chứa hiện tại bao gồm Hoà Bình, Tuyên Quang, Thác Bà Phần kết
nối dự báo mưa lũ trung hạn với công nghệ điều hành hệ thống công trình phòng lũ cho đồng bằng sông Hồng – sông Thái bình chỉ là kết nối và thử nghiệm một số kịch
bản đề ra nhằm hỗ trợ cho việc điều hành các hồ chứ không phải đi xây dựng quy trình
vận hành cho các hồ chứa trên lưu vực nghiên cứu
1.4 N ội dung và các phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung chính nêu trong phần (1.2), các phương pháp nghiên
cứu được sử dụng để nghiên cứu là điều tra, thu thập số liệu, các thông tin liên quan; phân tích, tổng hợp số liệu, thông tin; phương pháp mô hình hoá và phương pháp chuyên gia Phương pháp nghiên cứu cụ thể cho từng vấn đề được tóm tắt dưới đây:
1.4.1 D ự báo mưa trung hạn
Trước đây, dự báo thời tiết nói chung và dự báo mưa nói riêng ở nước ta chủ
yếu dựa vào phương pháp sinop, nghĩa là sử dụng các bản đồ để dự tính sự tiến triển
của các hình thế thời tiết và trên cơ sở đó dự báo các yếu tố Tuy nhiên, từ năm 1997
trở lại đây, với sự trợ giúp của các cơ quan khí tượng khu vực và toàn cầu, Trung tâm
dự báo khí tượng thuỷ văn trung ương (TTDBKTTVTW) đã bước đầu ứng dụng các
mô hình số trị vào dự báo thời tiết như sử dụng mô hình GME-HRM (Global Model for Europe-High-resolution Regional Model) do Tổng cục thời tiết CHLB Đức (DWD) cung cấp Việc áp dụng các mô hình số trị vào dự báo thời tiết, bão, ATNĐ, mưa… đang rất được quan tâm nghiên cứu và phát triển ở các nước tiên tiến trên thế giới vì
Trang 28Tượng Hoa Kỳ, NASA, và nhiều trường đại học trên thế giới (Hoa Kỳ, Âu Châu,
Hồng Kông và Đài Loan) dùng để dự báo thời tiết
− Mô hình BOLAM do Viện Nghiên cứu Khoa học Khí Quyển và Khí hậu Bologna (Institute of Atmospheric Sciences and Climate in Bologna (ISAC-CNR), Italia xây
dựng và phát triển từ những năm 1990, đây là một trong những mô hình khí tượng
hiện đại có độ chính xác cao, hiện nay được các nước Châu Âu sử dụng rất nhiều
để dự báo thời tiết
− Các mô hình khác như mô hình dự báo số trị phân giải cao GME-HRM (Global Model for Europe-High-resolution Regional Model) do Tổng cục thời tiết CHLB Đức (DWD) xây dựng và phát triển …vv
Trong khuôn khổ dự án hợp tác về khoa học công nghệ giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Italy theo nghị định thư đã ký kết, chúng tôi lựa chọn mô hình BOLAM vào nghiên cứu và ứng dụng dự báo mưa trung hạn cho lưu vực sông Hồng
và sông Thái Bình Mô hình này được chính TS Buzzi – tác giả của mô hình cùng tham gia nghiên cứu, mô phỏng và chuyển giao cho Trường Đại học Thủy lợi và Trung tâm Dự báo KTTVTW để áp dụng cho khu vực nghiên cứu
liệu đầu vào được đồng thời thực hiện theo hai hướng chính sau:
- Nhận dạng lũ: Các nghiên cứu của các nhà khoa học Trường Đại học Thuỷ lợi Hà
Nội tập trung phân tích rõ tính chất phân kỳ của lũ, tổ hợp lũ và những dấu hiệu
nhận biết về quy mô lũ trên sông Hồng
- Dự báo dòng chảy lũ: Các nghiên cứu về dự báo lũ tác nghiệp do Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn trung ương và Viện nghiên cứu khí tượng thuỷ văn thực
hiện
Từ năm 1992 đến nay, để đáp ứng yêu cầu điều hành hồ chứa Hòa Bình, chúng
ta đã tiến hành dự báo dòng chảy đến hồ trước 1-2 ngày và 5-10 ngày Tuy nhiên, khi
thời gian dự báo càng dài thì độ chính xác càng thấp Công cụ dự báo chủ yếu là các
phương pháp truyền thống, thống kê đơn giản
Trang 29Dự báo dòng chảy ngắn hạn sử dụng các biểu đồ kinh nghiệm, mô hình SSARR
dạng thu gọn, mô hình diễn toán lũ trong sông, quan hệ mưa rào dòng chảy, phương pháp mực nước tương ứng Mức bảo đảm của dự báo thuỷ văn đạt mức 80% - 85% với
thời gian dự kiến trên sông Đà từ 24-30 giờ; nếu kéo dài thời gian dự kiến tăng thêm 12-24 giờ nữa thì độ chính xác giảm xuống còn 70-75%
Dự báo dòng chảy trung hạn được tiến hành với việc sử dụng các mô hình mưa rào - dòng chảy như mô hình TANK; mô hình HBV của Viện Khí tượng Thuỷ văn
Thụy Điển, Mô hình SSARR, Muskingum, mô hình HEC-RESSim kết hợp với các mô hình thuỷ lực 1 chiều và 2 chiều đã được nghiên cứu ứng dụng trong diễn toán lũ trên
hệ thống sông Hồng Đó là các mô hình VRSAP, KOD01 Hiện nay các mô hình MIKE11 và MIKE21 đang được nghiên cứu thử nghiệm trong dự báo tác nghiệp
Ngoài các mô hình thủy văn có thông số gộp đã nêu trên đây, gần đây xu thế áp
dụng các mô hình thủy văn có thông số phân bố cũng đã được áp dụng nhiều trên thế
giới như:
- Mô hình Marine của Viện Cơ học chất lỏng Toulouse, Cộng hoà Pháp xây dựng
Mô hình này đang được Viện Cơ học Việt nam và Trung tâm Dự báo KTTVTW nghiên cứu và áp dụng trong đề tài NCKH cấp Bộ đã được nghiệm thu và đang được dự báo thử nghiệm
- Mô hình DIMOSOP do Trường Đại học Bách khoa Milano và Brescia, Italia xây
dựng Mô hình này đã được sử dụng rất nhiều và cho kết quả rất tốt ở một số nước Châu Âu như Italia, Pháp, Thụy Sĩ trong dự báo lũ trung hạn
- Mô hình TOP MODEL của Hoa kỳ, và nhiều mô hình khác của Nhật…
Trong khuôn khuôn khổ dự án hợp tác khoa học công nghệ giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Italia theo nghị định thư, chúng tôi lựa chọn mô hình DIMOSOP để
tiến hành dự báo lũ trung hạn cho hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình vì mô hình được chính GS TS Ranzi – tác giả của mô hình cùng tham gia nghiên cứu, mô phỏng
và chuyển giao cho Trường ĐH Thủy lợi và Trung tâm Dự báo KTTVTW Thêm vào
đó, điểm nổi bật của mô hình DIMOSOP so với các mô hình thủy văn thông số tập
Trang 30sánh và đánh giá, đồng thời sử dụng các phương pháp phân tích thống kê, mạng Trí tuệ nhân tạo để xây dựng các phương án dự báo ngắn hạn cho hệ thống sông nghiên cứu
để từ đó phát triển thành một công nghệ dự báo lũ (cả ngắn hạn và trung hạn) phục vụ điều hành hệ thống hồ chứa chống lũ cho hạ du
1.4.3 Tích h ợp dự báo mưa lũ trung hạn trong điều hành hệ thống hồ chứa
Hiện nay, trên hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình đã hình thành hệ thống liên hồ chứa gồm có 3 hồ chứa là hồ Hoà Bình, hồ Tuyên Quang, và hồ Thác Bà trên 3 sông của hệ thống tham gia vào phòng lũ, cấp nước, và phát điện Trong tương lai sẽ
có hồ Sơn La, và một số hồ nữa trên các nhánh sông của sông Đà Vì vậy vấn đề điều hành hệ thống hồ chứa trên phục vụ đa mục tiêu, đem lại hiệu quả kinh tế lớn nhất là
vấn đề cấp bách
Chính phủ vừa qua đã phê duyệt Qui hoạch phòng chống lũ hệ thống sông
Hồng, sông Thái Bình - Quyết định số 92/2007/QĐ-TTg ngày 21/06/2007 Tuy nhiên
Qui hoạch này mới chỉ tập trung vào vấn đề phòng chống lũ mà chưa xem xét đến các
vấn đề khác của điều hành, để mang lại hiệu quả kinh tế lớn nhất Ở các nước phát triển, để điều hành hệ thống liên hồ chứa, người ta thường xây dựng một quy trình với nhiều phương án vận hành đã được tối ưu hoá đáp ứng được sự thay đổi của các mục tiêu trong từng điều kiện cụ thể và nó sẽ được vận hành khá linh hoạt, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết cụ thể Vì vậy, vấn đề dự báo lũ trung hạn là một vấn đề quan trọng
và ưu tiên hàng đầu để có thể vận hành tốt hệ thống liên hồ đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất và an toàn
Trong đề tài này chúng tôi tiến hành lập trình đưa ra công nghệ kết nối dự báo
mưa và dự báo lũ trung hạn phục vụ dự báo tác nghiệp (công nghệ kết nối BOLAM – DIMOSOP) và thử vận hành một vài phương án phòng lũ, chứ không đi sâu vào tìm ra
tập hợp các phương án vận hành tối ưu hệ thống liên hồ chứa đáp ứng đa mục tiêu do
hạn chế về kinh phí và thời gian thực hiện Việc kết nối cũng chỉ thực hiện trong điều
kiện có 3 hồ Hòa Bình, Tuyên Quang và Thác Bà
1.5 T ổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
1.5.1 Tình hình nghiên c ứu trong nước
a D ự báo thời tiết
Trước những năm 1995, dự báo thời tiết chủ yếu dựa vào phương pháp sinop,
có nghĩa là sử dụng các bản đồ để dự tính sự tiến triển của các hình thế thời tiết và trên
cơ sở đó dự báo các yếu tố
Trang 31Từ năm 1997 trở lại đây, với việc trợ giúp của các cơ quan khí tượng khu vực
và toàn cầu, Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn trung ương (TTDBKTTVTW) đã thu được một số sản phẩm dự báo số trị từ các Cơ quan khí tượng Nhật bản (JMA), Cơ quan khí tượng Ôxtrâylia (BOM) (dạng bản đồ (1999), dạng số (đầu năm 2001), mô hình dự báo số trị phân giải cao GME-HRM (Global Model for Europe-High-resolution Regional Model) do Tổng cục thời tiết CHLB Đức (DWD) cung cấp Việc
sử dụng các Radar thời tiết cũng bắt đầu thực hiện Mạng lưới radar thời tiết có 5 trạm
với 7 radar trong đó 2 radar MRL-5 của Liên Xô và TRS-2730 của Pháp đặt tại Phủ
Liễn, 01 radar TRS-2730 của Pháp đặt tại Việt Trì; 02 radar MRL-5 của Liên Xô và TRS-2730 của Pháp đặt tại Vinh; 01 radar DWSR của Mỹ đặt tại Tam Kỳ và 01 radar DWSR đặt tại Nha Trang Việc khai thác các sản phẩm từ radar thời tiết có tác dụng
rất quan trọng đối với dự báo bão, ATNĐ, mưa, dông, tố, lốc
Từ năm 1997, Trung tâm Quốc gia Dự báo Khí tượng Thuỷ văn đã được trang
bị hệ thống thu nhận ảnh mây vệ tinh phân giải cao Đây là một hệ thống hiện đại cho phép thu được các ảnh mây với các dải phổ khác nhau chụp từ vệ tinh địa tĩnh GMS-5
của Nhật có độ phân giải từ 5 đến 7 km Các ảnh vệ tinh dạng số (S-VISSR: Stretched Visible and Infrared Spin Scan Radiometer) của tất cả các kênh ảnh gồm hai ảnh hồng ngoại nhiệt (IR1, IR2), một ảnh hơi nước (WV) và một ảnh hiển thị phổ (VIS) nhận được liên tục từng giờ qua vệ tinh GMS-5 trở thành một công cụ đắc lực trong công tác nghiệp vụ dự báo khí tượng thuỷ văn của Trung tâm
Bên cạnh các sản phẩm định tính như các ảnh mây từ 4 kênh (IR1, IR2, WV và VIS), còn có các sản phẩm ứng dụng đã được tạo ra từ ảnh mây vệ tinh phân giải cao
dạng số như: ảnh tổ hợp từ nhiều kênh phổ; Cường độ mưa và tổng lượng mưa bằng
phương pháp kết hợp các kênh phổ hồng ngoại nhiệt (phương pháp Kurino) Các sản
phẩm dạng số này đã góp phần quan trọng trong dự báo thời tiết, thuỷ văn hàng ngày
và đặc biệt trong mùa bão, lũ
Mặc dù đã được trang bị những thiết bị đo đạc và thu nhận hiện đại và một số
mô hình tính toán của nước ngoài, nhưng do thời tiết mang tính địa phương rất mạnh
ết quả dự báo thời tiết chưa cao, mới chỉ đảm bảo dự báo ngày, còn thời hạn dài
Trang 32một kỹ sư Việt Nam đưa ra mà không có nguồn gốc sử dụng phương pháp nào để xây
dựng Chỉ sau ngày giải phóng, công tác dự báo thủy văn đặc biệt là dự báo lũ mới được quan tâm chú ý và trải qua nhiều giai đoạn:
- Giai đoạn từ 1955 đến 1976: công cụ dự báo thủy văn trên khu vực nghiên cứu được xây dựng chủ yếu theo các phương pháp dự báo truyền thống như phương pháp xu thế, phương pháp mực nước tương ứng Nổi bật nhất là phối hợp phương pháp diễn toán lũ với phương pháp mưa dòng chảy để xử lý gia nhập khu giữa trong những đoạn sông có nhập lưu lớn (1965-1971)
- Giai đoạn từ 1977 đến nay: nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của máy tính điện tử mà
dự báo lũ đã có nhưng đã có những biến đổi mạnh Trong thời kỳ này có rất nhiều
mô hình dự báo lũ (thủy văn, thủy lực) được xây dựng và ứng dụng để dự báo lũ Các mô hình thủy văn như TANK, SSARR, NAM, HEC-HMS, ANN… đã được Trung tâm DBKTTV Quốc gia, Viện nghiên cứu KTTV kết hợp với các phương pháp dự báo truyền thống như phân tích thống kê, nhận dạng hình thế thời tiết gây
mưa lớn, phương pháp hồi quy bội để dự báo lũ Các mô hình thuỷ lực như VRSAP, KOD1, TLUC96… cũng đã được trường ĐHTL và Viện KTTV áp dụng
để dự báo lũ Tuy nhiên, khi lũ lớn, mức đảm bảo của các phương pháp dự báo
ngắn hạn chưa cao, đặc biệt khi kéo dài thời gian dự kiến tăng thêm 12-24 giờ nữa thì độ chính xác giảm xuống còn 70-75%; Hiện nay các mô hình MIKE11 và MIKE21, cùng với xu hướng sử dụng các mô hình phân bố như MARINE cũng đang được nghiên cứu thử nghiệm trong dự báo tác nghiệp
c Nh ững tồn tại của việc dự báo mưa - lũ hiện nay ở nước ta
Ch ất lượng dự báo còn ở mức thấp cụ thể như sau
- Dự báo mưa phục vụ điều hành hồ Hoà Bình thường dùng hiện nay là các phương pháp Synop, thống kê khách quan, phân tích biến trình, động lực thống kê, tương
tự nhân tố Các phương pháp thường đơn giản với các yếu tố dự báo như: mưa, gió, nhiệt độ, độ ẩm
- Mức bảo đảm của dự báo thời tiết ngắn hạn khoảng 80-85%, trung hạn khoảng 70% (tính trung bình trong khoảng hơn 10 năm phục vụ công trình thuỷ điện Hoà Bình) Những trường hợp có mưa lớn diện rộng, diễn biến phức tạp, mức bảo đảm
của dự báo mưa đạt thấp hơn 70%
- Mức bảo đảm của dự báo thuỷ văn ngắn hạn đạt 85 - 90% với thời gian dự kiến là
24 giờ Tất nhiên nếu kéo dài thời gian dự kiến ra 36 - 48 giờ, những trường hợp có
Trang 33mưa lũ lớn đột xuất trong thời gian dự kiến ở vùng hạ lưu sông Đà, Thao, Lô và
Hồng thì trị số dự báo thường có sai số lớn và mức đảm bảo chỉ đạt 70-75%
- Mức bảo đảm dự báo thủy văn trung hạn (trước 5 ngày vào mùa lũ), hạn dài (15 ngày) cho không vượt quá 70%, trong trường hợp lũ lớn còn xuống dưới 60%
V ề lưới trạm, thiết bị quan trắc, hệ thống truyền và xử lý thông tin:
- Về lưới trạm đo mưa: Trên lưu vực sông Đà (tính riêng phần Việt Nam) mật độ
trạm đo mưa là 724 km2
/trạm, khoảng cách trung bình giữa các trạm khoảng 25 -
30 km So với Nhật Bản (290 km2
/trạm) thì lưới trạm đo mưa ở thượng nguồn lưu
vực sông Hồng ở mức quá thấp Mặt khác, nhiều trạm đặt không đúng vị trí mong
muốn, nên số liệu thu được chưa phản ánh đúng chế độ mưa của lưu vực
- Về lưới trạm quan trắc thủy văn: Theo tiêu chuẩn của WMO, mật độ tối thiểu cho các trạm thủy văn vùng ven biển là 2750 km2
/trạm, vùng núi là 1000 km2
/trạm, trong khi đó ở lưu vực sông Đà (phần Việt Nam) mật độ lưới trạm đo mực nước là
2440 km2/trạm; trạm đo lưu lượng nước là 3830 km2
/trạm Như vậy mật độ trạm đo
lưu lượng nước trên lưu vực sông Đà (phần Việt Nam) mới đạt 25 - 28% tiêu chuẩn
Quốc tế Đó là chưa kể đến sự hạn chế rất nhiều về những thông tin cần thiết của
lưu vực trên lãnh thổ Trung Quốc Trên đây chúng ta mới chỉ phân tích số lượng
trạm đo mà ta chưa đề cập đến vị trí mạng lưới trạm đo mưa, lũ đặt chưa hợp lý và
chưa đặc trưng
- Về thiết bị đo: Số trạm tự ghi mưa ít, phần lớn các trạm mưa khí hậu là thùng đo
mưa chưa đáp ứng yêu cầu về dự báo tác nghiệp theo hướng hiện đại
- Thiết bị thông tin tại các trạm đo: Các trạm đo tham gia phát báo đều sử dụng một trong 3 loại phương tiện sau: Vô tuyến điện chuyên ngành, Thuê bao bưu điện, Điện thoại tự động Tại Trung tâm dự báo KTTV Trung ương, hàng ngày thu thập
khối lượng lớn các thông tin từ các trạm mặt đất, cao không trên lưu vực sông Đà,
Hồng; các thông tin khí tượng, radar thời tiết, các thông tin qua mạng GTS, thông tin và sản phẩm dự báo số trị của trung tâm dự báo thế giới (INTERNET) Ngoài các mạng nghiệp vụ, tại Trung tâm Dự báo KTTVTW có một hệ thống thu và xử lý
Trang 34hạn chế về phần mềm quản lý hệ thống, phần mềm khai thác thông tin trong nghiệp
vụ dự báo, tốc độ còn thấp của các kênh thông tin
- Công nghệ thu thập lưu trữ, xử lý, hiển thị thông tin vệ tinh khí tượng và radar thời
tiết vào loại hiện đại Tuy nhiên công nghệ khai thác thông tin trong dự báo bão và
mưa lưu vực sông Đà, Hồng vẫn chưa được xây dựng Thông tin chưa có tính hệ
thống và chưa liên tục theo thời gian và theo lưu vực Với các phương tiện và công nghệ thu thập, lưu trữ, xử lý thông tin hiện nay của TTDBKTTVTW mới chỉ đảm
bảo các thông tin tối thiểu cho công tác dự báo phục vụ điều hành hồ Hoà Bình
- Nhìn chung, số liệu KTTV từ các trạm trên lưu vực được truyền về Trung tâm sau khoảng 3- 6 giờ; từ các trạm khí tượng thế giới thường sau khoảng 2-3 giờ Thời gian thu nhận thông tin như vậy còn quá chậm Nguyên nhân chủ yếu do phương
tiện truyền tin từ các trạm trong nước về Trung tâm còn lạc hậu; các kênh thông tin
viễn thông khí tượng giữa Hà Nội và Bắc Kinh, Moskva và Băng Cốc còn ở tốc độ
thấp
- Sau khi có thông tin, khâu xử lý số liệu, đưa vào các mô hình dự báo tác nghiệp
cũng phải mất thêm 1 thời gian nữa (ít nhất từ 2-3 giờ) Như vậy, từ khi thu thập số
liệu đến khi phát báo cũng đã mất khoảng 6 - 12 giờ
d Các công trình nghiên c ứu trong nước có liên quan
1) Nhiệm vụ phòng lũ hạ du công trình trong dự án đầu tư thuỷ điện Sơn La, do
Trường ĐH Thủy lợi và Công ty KSTK Điện 1 thực hiện năm 1990
2) Nghiên cứu công nghệ nhận dạng lũ trong điều hành hồ Hoà Bình chống lũ hạ du
và nh hưởng của nó tới đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình (Đề tài nhà nước,
Bộ KH - CN MT) do các nhà khoa học trường ĐH Thủy lợi thực hiện năm 1992 3) Xây dựng công nghệ nhận dạng lũ thượng lưu sông Hồng phục vụ điều hành hồ Hoà Bình chống lũ hạ du - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (cũ), do
Trường Đại học Thủy lợi thực hiện năm 1994
4) Đề tài nghiên cứu xây dựng công cụ dự báo lũ thượng lưu hệ thống sông Hồng do Trung tâm Quốc gia DBKTTV thực hiện 1995 – 1997
5) Đề tài xây dựng công cụ mô phỏng số phục vụ cho đề xuất, đánh giá và điều hành các phương án phòng chống lũ sông Hồng – Thái Bình do Viện cơ học Thực hiện 6) Chương trình cấp Nhà nước về Phòng chống lũ sông Hồng, sông Thái Bình do Cục
Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão chủ nhiệm, chương trình 1999 - 2002
Trang 357) Đánh giá tình hình thời tiết sinh lũ phục vụ cảnh báo và dự báo lũ trên hệ thống sông Hồng, ĐH Thủy lợi, Trung tâm Quốc gia dự báo KTTV, 2002
8) Tuyển tập báo cáo “Khoa học công nghệ dự báo và phục vụ dự báo khí tượng thủy
văn” Hà nội, 26-27/12/2000 Trung tâm quốc gia dự báo KTTV
9) Qui trình vận hành hồ chứa thủy điện Hòa Bình và các công trình cắt giảm lũ sông
Hồng trong mùa lũ hàng năm (gọi tắt là Quy trình vận hành 2005) – Quyết định số 103/PCLBTW ngày 16/6/2005, do Đại học Thủy lợi chủ trì, nhóm chuyên gia thực
hiện 2004 - 2005
10) Quy hoạch phòng chống lũ hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình - Quyết định số
92/2007/Q Đ-TTg ngày 21/06/2007
1.5.2 Tình hình nghiên c ứu ngoài nước
a T ổng quan tình hình nghiên cứu ở ngoài nước của nhiệm vụ
Hiện nay trên thế giới công nghệ dự báo mưa và dự báo lũ đã phát triển ở mức
độ cao Công nghệ dự báo hiện đại trong đó kết hợp nhiều mô hình toán đã kết nối với
hệ thống cơ sở dữ liệu như hệ thông tin địa lý (GIS), các vệ tinh, Rada để tăng tính
hiệu quả của các mô hình toán Các mô hình thuỷ văn – thuỷ lực với công nghệ cao được tích hợp với các mô hình dự báo thời tiết được xây dựng ở Châu Âu, Mỹ , Nhật
và nhiều nước khác trên thế giới Ví dụ ở Châu âu đã tiến hành tích hợp mô hình thuỷ
văn DIMOSOP với mô hình dự báo thời tiết BOLAM trong khuôn khổ nghiên cứu RAPHAEL và MAP-SOP Các mô hình tích hợp trên có khả năng dự báo hạn trung có
độ chính xác cao với thời gian dự kiến từ 3 đến 5 ngày
Dự báo mưa, áp thấp nhiệt đới, bão theo mô hình HRM từ ảnh mây vệ tinh phân
giải cao, ảnh Radar với số liệu đầu vào là các trường phân tích và dự báo của một số
mô hình toàn cầu như GFS (Cơ quan thời tiết quốc gia Hoa Kỳ - USNWS) GSM (Cơ quan khí tượng Nhật Bản - JMA) cũng đã được thực hiện
Việc xử lý số liệu đầu vào của các mô hình dự báo thời tiết được thực hiện theo
hướng hiện đại, chẳng hạn chương trình tính mưa từ ảnh mây vệ tinh kết hợp nhiều
Trang 36Nhằm điều hành thống nhất và có hiệu quả kiểm soát lũ, chia sẻ nguồn nước trên phạm vi quốc gia phần lớn các nước tiên tiến như Nga, Mỹ, Anh, Nhật, Hà Lan, Đan Mạch, Canada, Cộng hoà Liên bang Đức v.v đã xây dựng các trung tâm, chia sẻ thông tin ở các trung tâm này có các trang thiết bị thu phát thông tin hiện đại, các
phần mềm mạnh và đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ Viễn thám cho phép phân tích
ngập lụt, hạn hán và tổn thất thiên tai, nhằm trợ giúp lựa chọn giải pháp phòng tránh
hiệu quả Các trung tâm có trang WEB riêng và thường xuyên phát tin trên mạng Internet
Khoa kỹ thuật dân dụng của Trường đại học Brescia, Italy (cơ quan đối tác khoa học nước ngoài) đã có nhiều năm tham gia giảng dạy và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu có liên quan tới lĩnh vực nguồn nước, đặc biệt là các nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực dự báo lũ, mô hình toán thủy văn, thủy lực trên các lưu vực có địa hình phức tạp
Khoa đã tham gia dự án của Cộng đồng Châu Âu (EU Project "RAPHAEL" - ENV 4-CT97-0552 (http://civserv.ing.unibs.it/raphael/) với tư cách là điều phối viên
của dự án (Giáo sư B Bacchi, chủ nhiệm khoa đồng thời là điều phối viên của dự án)
Mục tiêu của dự án là phát triển, thiết lập và ứng dụng thử nghiệm các mô hình tích
hợp khí tượng và thủy văn cho một vùng nhằm nâng cao chất lượng dự báo lũ trung
hạn và quản lý lũ cho các lưu vực có điều kiện địa hình phức tạp
Giáo sư Roberto Ranzi là điều phối viên của các nghiên cứu tính toán thủy văn
thử nghiệm của “Chương trình Thủy văn hạn trung cho các lưu vực ở vùng An-pơ”,
Chương trình đã tiến hành kiểm nghiệm và ứng dụng dự báo kiểm chứng các công nghệ và phương pháp dự báo lũ hiện đại cho lưu vực miền núi và lưu vực có địa hình
phức tạp thông qua các mô hình tích hợp khí tượng – thủy văn Đây là dự án nằm trong chương trình tài trợ của Hội đồng Nghiên cứu Quốc Gia của Italia
(http://civserv.ing.unibs.it/utenti/ranzi/MAP/maphyd.htm), của Bộ Đại học và Nghiên
cứu của Italia, Cơ quan nghiên cứu không gian của Italia và các tổ chức khác
Bên cạnh đó Tiến sỹ Grossi, trong chương trình nghiên cứu sinh tiến sỹ của mình tại Trường đại học tổng hợp Milan, đã tham gia thực hiện dự án POPSICLE của
cộng đồng Châu Âu (‘Production of Precipitation Scenarios for Impact assessment of
CLimate change in Europe’) Các nghiên cứu của tiến sỹ Grossi chủ yếu là ứng dụng các mô hình thủy văn để phân tích tác động của sự biến đổi các kịch bản mưa theo mùa tới dòng chảy trên các lưu vực tại khu vực miền Trung Italia
Trang 37Hiện nay Khoa đang tiến hành áp dụng mô hình thủy văn (Mô hình DIMOSOP)
đã được thử nghiệm tích hợp thành công với mô hình thời tiết BOLAM dự báo thời gian thực trong khuôn khổ của chương trình nghiên cứu RAPHAEL và MAP-SOP Các mô hình thủy văn – khí tượng tích hợp này đang được các nghiên cứu sinh Việt Nam tại Trường Brescia phát triển ứng dụng cho lưu vực sông Hồng
Mô hình thời tiết BOLAM đã được sử dụng tính toán cho các trận lũ lịch sử trong quá khứ tại Italia, đây là mô hình được phát triển và thiết lập tại CNR-ISAO Các mô hình tích hợp nói trên có thể đưa ra các dự báo trung hạn với kết quả dự báo
trước từ 3 đến 5 ngày có độ chinh xác cao
b Danh m ục các công trình nghiên cứu của đối tác Italia có liên quan
1) Mô phỏng lại “trận lũ thế kỷ” xảy ra năm 1966 tại vùng Florence và Venice bằng
mô hình tích hợp khí tượng – thủy văn do Đại học Brescia và ISAC thực hiện từ 2003-2005
2) Thiết kế hệ thống viễn thám và mô hình tích hợp hệ thống khí tượng thủy văn sử
dụng trong dự báo lũ do và Đại học Brescia thực hiện năm 2004
3) Sử dụng công nghệ viễn thám để giám sát sự biến đổi các thông số trong mô hình
thủy văn và dòng chảy do Đại học Brescia thực hiện từ 2000-2002
4) Điều phối trong lĩnh vực thủy văn về chương trình dự báo hạn trung cho vùng núi
An Pơ, trong giai đoạn thử nghiệm có sử dụng phương pháp dự báo lũ thời gian
thực bằng các mô hình tích hợp khí tượng – thủy văn do Đại học Brescia và Đại
học Bách khoa Milano thực hiện từ năm 1999
5) Điều phối dự án nghiên cứu của Cộng đồng Châu Âu –RAPHAEL về phát triển, thiết lập và ứng dụng thử nghiệm các mô hình tích hợp khí tượng và thủy văn cho
một vùng nhằm nâng cao chất lượng dự báo lũ trung hạn và quản lý phòng lũ cho các lưu vực có điều kiện địa hình phức tạp do Đại học Brescia, Đại học Bách khoa Milano và ISAC thực hiện từ năm1998 -2000
1.6 Đóng góp của mỗi bên trong đề tài hợp tác nghiên cứu
Trang 38Bologna (Institute of Atmospheric Sciences and Climate in Bologna (ISAC-CNR) –
nơi xây dựng và phát triển mô hình dự báo thời tiết BOLAM nghiên cứu đề tài ”Hợp
tác nghiên c ứu xây dựng công nghệ dự báo lũ trung hạn kết nối với công nghệ điều
hành h ệ thống công trình phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng – sông Thái
Bình” Đề tài được thực hiện trong 2 năm 2006 - 2007 theo hợp đồng của Bộ Khoa
học & Công nghệ ký với trường Đại học Thủy lợi
Theo văn bản thỏa thuận giữa Đại học Thủy lợi và Đại học Brescia, phía đối tác chuyển giao cho phía Việt Nam 2 mô hình (1) dự báo mưa trung hạn BOLAM và (2)
dự báo lũ trung hạn DIMOSOP
Đây là 2 mô hình đã khá hoàn chỉnh, đã được thử nghiệm và đưa vào dự báo tác nghiệp cho vùng trung âu đạt kết quả tốt Tuy nhiên, khi áp dụng cho vùng nhiệt đới
như Việt nam thì chắc chắn phải có hiệu chỉnh, nâng cấp, thử nghiệm ít nhất từ 2 - 3
năm mới có thể đưa vào dự báo tác nghiệp được
Vì là đề tài hợp tác nghiên cứu, nên đóng góp của mỗi bên được thể hiện như sau:
1.6.1 Phía đối tác Italy
Từ tháng 3/2006, các đối tác Italy đã cho phép các cán bộ Việt nam tiếp cận các
mô hình dự kiến chuyển giao là BOLAM và DIMOSOP
4 cán bộ của trường đại học Thủy lợi và trung tâm dự báo quốc gia đã được cử sang Italy học tập, nghiên cứu mô hình với sự giúp đỡ trực tiếp của tiến sĩ Buzzi và giáo sư Ranzi là tác giả phát triển các mô hình trên Giáo sư Ranzi còn là chủ nhiệm
của đề tài hợp tác phía Italy Cũng trong khuôn khổ của đề tài này, 1 cán bộ của đại
học Thủy lợi hiện là nghiên cứu sinh của GS Ranzi được nghiên cứu mô hình trong
thời gian khá dài, đã giúp các cán bộ phía Việt nam rất nhiều trong việc tìm hiểu, rút
ngắn thời gian tiếp cận và kiểm soát các mô hình nghiên cứu Trong thời gian học tập, các cán bộ của Việt Nam còn được làm việc trực tiếp với các cán bộ của Viện Nghiên
cứu Khoa học Khí Quyển và Khí hậu Bologna, đại học Brescia học hỏi tích lũy thêm kinh nghiệm xử lý các mô hình
Phía Italy đã làm việc và cho phép chúng ta kết nối với nguồn dữ liệu toàn cầu, khu vực là đầu vào của mô hình dự báo mưa BOLAM
Giáo sư Ranzi cùng các chuyên gia khác đã sang Việt Nam cùng với các cán bộ
của trường đại học Thủy lợi cài đặt, hiệu chỉnh và chạy thử mô hình gốc; đi thực địa
một số điểm trên lưu vực nghiên cứu để hiểu biết thêm các điều kiện của Việt nam như
Trang 39tình hình sông suối, mặt đệm, các công trình trên sông v.v nhằm hiệu chỉnh bước đầu các thông số của mô hình và đổi tên mô hình dự báo lũ trong hạn DIMOSOP thành DIMOSHONG với các thông số gần với điều kiện của lưu vực sông Hồng hơn
Đào tạo các chuyên gia, các nghiên cứu sinh với mục tiêu hợp tác lâu dài về khoa học công nghệ trong lĩnh vực khí tượng thủy văn và mở rộng ra các hướng khác
như kết nối các mô hình thành một khối cùng với xây dựng các trạm quan trắc tự động
để dự báo thời gian thực, một hướng tiếp cận hiện đại mà chúng ta mong đợi trong
những năm tới
Với kế hoạch rất cụ thể và những đóng góp có hiệu quả của chuyên gia, chỉ trong một thời gian ngắn, các cán bộ phía Việt nam thuộc trường đại học Thủy lợi và Trung tâm dự báo KTTV trung ương đã tiếp nhận và cài đặt, chạy thông 2 mô hình trên các máy tính của 2 cơ quan
1.6.2 Phía đối tác Việt Nam
Như đã trình bày ở trên, các mô hình được thiết lập cho một khu vực nhất định
với điều kiện khí hậu và mặt đệm đặc trưng, nên khi chuyển sang ứng dụng cho lưu
vực sông Hồng, nhất thiết cần có các nghiên cứu hiệu chỉnh để phù hợp với điều kiện
của chúng ta
a) Đối với mô hình BOLAM
Mô hình dự báo thời tiết do trung tâm dự báo KTTV trung ương tiếp nhận chuyển giao, cài đặt và sử dụng Như đã biết, phiên bản mô hình BoLAM được chuyển giao là phiên bản nghiên cứu nên gây ra nhiều khó khăn trong quá trình cài đặt và chạy
thử nghiệm Để tạo ra những phù hợp cho chạy nghiệp vụ với điều kiện tại Việt Nam, chúng tôi đã nghiên cứu cải tiến như sau:
- Thay đổi cấu trúc thư mục mô hình về cấu trúc thư mục chuẩn của một mô hình dự báo thời tiết số trên hệ điều hành Linux và sắp xếp lại các chương trình mã nguồn theo cấu trúc thư mục này
- Thay đổi bộ biên dịch cho toàn bộ mã nguồn mô hình BoLAM Cụ thể, sử dụng bộ
Trang 40- Phát triển một bộ chương trình hậu xử lý cho mô hình BoLAM phục vụ bài toán
hiển thị kết quả (sử dụng phần mềm đồ họa GrADS-Grid Analysis and Display System) và đánh giá kết quả (chuyển định dạng đầu ra của BoLAM về dạng mã NetCDF-Network Common Data Form để phù hợp với chương trình đánh giá nghiệp vụ tại TT DBKTTV TƯ)
- Thay đổi lưới sai phân ngang của mô hình BoLAM (sử dụng lưới kinh vĩ có độ phân giải như nhau thay vì sử dụng lưới sai phân quay)
Với những thay đổi này đã cải thiện được thời gian chạy mô hình, xuất nhập kết
quả theo các trường trực tiếp phục vụ các dự báo khác Trong năm 2006, các cán bộ
của trung tâm dự báo KTTV trung ương đã cài đặt và chạy thông chương trình Từ tháng 1/2007 đến tháng 8/2007 đã chạy thử nghiệm dự báo thời tiết cho khu vực Việt Nam song song với các mô hình khác, nhằm so sánh kết quả, đánh giá sai số và tiếp
tục cải tiến mô hình
b) Đối với mô hình DIMOSHONG
Trường đại học Thủy lợi là cơ quan tiếp nhận, cải tiến cho phù hợp và ghép nối
với các mô hình dự báo khác phục vụ điều hành phòng chống lũ cho đồng bằng sông
Hồng DIMOSOP là mô hình thủy văn thông số tập trung có ưu điểm hơn hẳn các mô hình thông số tập trung khác là khả năng sử dụng thông tin toàn cầu như bản đồ đất,
hiện trạng sử dụng đất, địa hình, lớp phủ, hệ thống sông suối dưới dạng số, nghĩa là cho phép nhập trực tiếp các thông tin đầu vào ở dạng ô lưới Tuy nhiên, khi áp dụng vào nước ta, các cán bộ của trường đã xử lý một số lỗi gặp phải và cùng chuyên gia xử
lý, nâng cấp một số modul thuộc mô hình Những cải tiến, nâng cấp bao gồm:
- Sai khác giữa hệ qui chiếu tài liệu hiện có và hệ qui chiếu mà mô hình yêu cầu Chúng tôi sử dụng phần mềm ArcGIS 9.0 để chuyển đổi
- DEM thu thập được gồm nhiều mảnh, mỗi mảnh chỉ bao một khu vực trong lưu
vực nghiên cứu Sử dụng phần mềm ArcGIS 9.0 để ghép mảnh DEM rồi cắt về khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, xuất hiện các lỗi trên dữ liệu DEM như lỗi giá trị
sụt giảm (sink) hoặc nâng cao đột ngột (peak) Chúng tôi dùng ArcGIS 9.0 hoặc HEC-geo-HMS để xử lý
- Các lỗi khi xây dựng mạng sông suối từ DEM ở những vùng mà độ cao là không
rõ ràng hoặc chuyển tiếp rất nhanh trong khu vực hẹp mà độ phân giải của DEM không thể hiện được Đối với lỗi này, chúng tôi đề xuất hiệu chỉnh với việc sử
dụng các bản đồ số địa hình với tỷ lệ lớn chuyển sang DEM, sau đó dùng kỹ thuật Fussion trong GIS để chỉnh sửa