1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp nhận án lệ trong hệ thống pháp luật thành văn kinh nghiệm từ nhật bản

75 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếp nhận án lệ trong hệ thống pháp luật thành văn kinh nghiệm từ Nhật Bản
Tác giả Nguyễn Gân Hà
Trường học Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại Luận văn cử nhân luật
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁN L Ệ 1.1. L ị ch s ử hình thành và phát tri ể n c ủ a án l ệ (10)
    • 1.2. Khái ni ệ m án l ệ (14)
    • 1.3. C ấ u trúc c ủ a án l ệ (17)
      • 1.3.1. Ratio decidendi (lý do đƣa ra quyết định) (17)
      • 1.3.2. Obiter dictum (bình luận của thẩm phán) (20)
    • 1.4. Nguyên t ắ c stare decisis (21)
      • 1.4.1. Lịch sử hình thành và phát triển (21)
      • 1.4.2. Nội dung của nguyên tắc stare decisis (22)
      • 1.4.3. Ý nghĩa của nguyên tắc stare decisis (22)
    • 1.5. Các nhân t ố quan tr ọ ng trong vi ệ c áp d ụ ng án l ệ (23)
      • 1.5.1. Công nh ậ n án l ệ là ngu ồ n lu ậ t (23)
      • 1.5.2. Vai trò của thẩm phán (25)
      • 1.5.3. Hệ thống tòa án (26)
      • 1.5.4. Các tuyển tập bản án (27)
    • 1.6. Ảnh hưở ng c ủ a án l ệ đố i v ớ i các h ệ th ố ng pháp lu ậ t thành văn (28)
  • CHƯƠNG 2: ÁP D Ụ NG ÁN L Ệ T Ạ I NH Ậ T B Ả N - KINH NGHI Ệ M CHO (10)
    • 2.1.1. Lịch sử phát triển của hệ thống pháp luật Nhật Bản (31)
    • 2.1.2. Hệ thống tòa án Nhật Bản (35)
    • 2.1.3. Ảnh hưởng của các truyền thống pháp luật đối với pháp luật Nhật Bản (37)
      • 2.1.3.1. Ảnh hưởng của truyền thống pháp luật thành văn (37)
      • 2.1.3.2. Ảnh hưởng của truyền thống pháp luật thông luật (40)
    • 2.2. Áp d ụ ng án l ệ t ạ i Nh ậ t B ả n – kinh nghi ệ m cho Vi ệ t Nam (46)
      • 2.2.1. Thực tiễn áp dụng án lệ tại Nhật Bản (46)
        • 2.2.1.1. Các trường hợp án lệ được áp dụng (46)
        • 2.2.1.2. Các trường hợp án lệ không được áp dụng (49)
      • 2.2.2. Vai trò của Tòa tối cao (61)
      • 2.2.3. Các tập bản án (66)

Nội dung

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁN L Ệ 1.1 L ị ch s ử hình thành và phát tri ể n c ủ a án l ệ

Khái ni ệ m án l ệ

Hiện nay, chƣa có định nghĩa chính xác và thống nhất về án lệ, có rất nhiều các quan điểm khác nhau khi tiếp cận khái niệm án lệ

Về mặt pháp lý tại Việt Nam, án lệ được ghi nhận trong Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 của Tòa án nhân dân tối cao, định nghĩa án lệ là các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán và các quyết định giám đốc thẩm của Tòa chuyên trách do Hội đồng Thẩm phán thông qua, có giá trị tham khảo trong giải quyết các vụ việc cụ thể Khái niệm này chỉ bao gồm hai loại quyết định trên và các án lệ chỉ có tính chất tham khảo, không mang tính bắt buộc pháp lý Ngoài ra, định nghĩa này mang tính cụ thể, chính xác như một điều luật, nhưng chưa bao quát tất cả các khía cạnh cần có của một khái niệm pháp lý toàn diện.

13 Xem Michael Bogdan, Lu ậ t so sánh, chú thích số 2, tr 106

Về mặt học thuật, từ điển Black’s Law đƣa ra khái niệm precedent và case law nhƣ sau:

Precedent refers to an adjudged case or court decision that serves as a legal example or authority for resolving similar cases or legal questions that arise in the future It provides a foundational reference for courts when making rulings on cases with comparable circumstances, ensuring consistency and predictability in the application of the law.

Case law refers to the body of reported judicial decisions that collectively form a body of jurisprudence, serving as a vital source of law for specific legal issues It is distinguished from statutory law and other legal sources, representing law evidenced or established through adjudicated cases Ultimately, case law plays a crucial role in shaping legal principles and guiding judicial interpretation within the legal system.

Khái niệm “precedent” nhấn mạnh tính bị ràng buộc bởi các vụ việc trước đó, thể hiện vai trò của tiền lệ pháp trong hệ thống pháp luật Học thuyết Precedent bao gồm hệ thống các nguyên tắc, tri thức và quan điểm lý luận để xác lập, áp dụng và điều chỉnh case law Trong đó, “case law” được hiểu là các vụ việc cụ thể được xem như nguồn luật, khác với luật thành văn hay các nguồn luật khác Tuy nhiên, ranh giới giữa hai khái niệm này không rõ ràng, và trong thực tế, chúng thường được sử dụng lẫn lộn trong quá trình nghiên cứu và áp dụng pháp luật.

14 Xem Ngô Kim Hoàng Nguyên, Making and applying case law in Viet Nam legal system, chú thích số 5, tr 5

15 Đỗ Thành Trung, Án l ệ và v ấn đề th ừ a nh ậ n án l ệ ở Vi ệ t Nam hi ệ n nay, luận văn thạc sĩ, (2008), tr 6

16 Xem Ngô Kim Hoàng Nguyên, Making and applying case law in Viet Nam legal system, chú thích số 5, tr 6

Nguồn luật hình thành từ các phán quyết hoặc quyết định của tòa án, được áp dụng để giải quyết các vụ việc giống hoặc tương tự trong tương lai, giúp tạo ra sự rõ ràng và nhất quán trong quá trình xét xử các trường hợp pháp lý tương tự.

Tại Việt Nam, các học giả định nghĩa án lệ là “đường lối giải quyết của cơ quan tài phán (tòa án và trọng tài) đối với một vấn đề pháp lý trong vụ việc cụ thể và được vận dụng trong các hoàn cảnh có vấn đề pháp lý tương tự.” Khái niệm này nhấn mạnh về tính vận dụng của án lệ thay vì tính ràng buộc, phù hợp với thực tiễn pháp lý hiện nay Theo tác giả, việc đưa ra khái niệm như vậy trong nghiên cứu án lệ tại Việt Nam là hợp lý, vì nó phản ánh đúng bản chất của án lệ đồng thời tránh gây áp lực quá mức cho sự phát triển của pháp luật hiện hành Hiện nay, án lệ vẫn còn mới mẻ và chưa được công nhận như một nguồn luật chính thức tại Việt Nam.

Tham khảo những khái niệm trên, ta thấy cần lưu ý những điểm sau để có một cái nhìn khái quát về án lệ:

Án lệ là nguồn luật hình thành trong quá trình xét xử thực tế, giúp thẩm phán giải quyết các vấn đề pháp luật chưa được luật và các án lệ trước đó đề cập tới Thẩm phán ban hành án lệ mới nhằm xử lý các câu hỏi pháp lý chưa có lời giải rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành.

Thứ hai, án lệ nằm trong các phán quyết, quyết định của tòa án

17 Xem Ngô Kim Hoàng Nguyên, Making and applying case law in Viet Nam legal system, chú thích số 5, tr 6

18 Đỗ Văn Đại, “Nên đưa án lệ vào Hi ến pháp”, Tạp chí pháp luật TPHCM ngày 03/06/2013, http://phapluattp.vn/20130602101144606p0c1063/nen-dua-an-le-vao-hien-phap.htm

Thứ ba, chủ thể ban hành, áp dụng và thay đổi án lệ là thẩm phán

Án lệ thể hiện rõ thái độ đánh giá của thẩm phán, qua đó phản ánh vai trò vô cùng quan trọng của họ trong quá trình áp dụng pháp luật Thẩm phán đóng vai trò trung tâm trong việc xác định ý nghĩa và hướng dẫn thực hiện án lệ phù hợp với từng tình huống cụ thể Chính nhờ vai trò quyết định của thẩm phán, án lệ trở thành công cụ quan trọng trong việc xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật.

Thứ tư, thẩm phán có quyền vận dụng án lệ đã có khi xét xử các vụ việc tương tự trong tương lai, giúp đảm bảo tính nhất quán và công bằng trong quá trình xử lý vụ án Tuy nhiên, thẩm phán cũng có quyền từ chối vận dụng án lệ nếu vụ việc mới không có yếu tố tương đồng hoặc phù hợp với án lệ đã được ban hành Việc áp dụng hoặc từ chối án lệ đều nhằm mục đích đảm bảo tính khách quan và đúng quy định của pháp luật trong quá trình xét xử.

Án lệ là nguồn luật hình thành trong quá trình xét xử thực tế, thể hiện qua các phán quyết, quyết định do thẩm phán tuyên Án lệ có giá trị pháp lý quan trọng, được áp dụng trong các vụ việc tương tự về sau, góp phần đảm bảo tính nhất quán và công bằng trong xét xử.

C ấ u trúc c ủ a án l ệ

Một án lệ có cấu trúc gồm hai phần chính: phần mang tính chất ràng buộc và là cơ sở pháp lý để giải quyết các vụ án tương tự trong tương lai, được gọi là ratio decidendi hoặc lý do đưa ra quyết định Phần còn lại của án lệ là những bình luận, nhận xét không bắt buộc áp dụng đối với các vụ việc sau này, gọi là obiter dicta hoặc dictum.

1.3.1 Ratio decidendi (lý do đƣa ra quyết định)

Tính ràng buộc của một bản án lệ của tòa án cấp trên đối với tòa án cấp dưới hoặc của chính tòa án đó trong những trường hợp phản ánh nguyên tắc của học thuyết tiền lệ dựa trên ratio decidendi Các học giả đã phân tích khái niệm ratio decidendi theo nhiều hướng khác nhau nhằm tìm kiếm phương pháp đáng tin cậy nhất để xác định phần nào thực sự là ratio decidendi của bản án Việc xác định chính xác này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính nhất quán và dự đoán được trong quá trình xét xử của các cơ quan tư pháp.

Theo lý thuyết của giáo sư Montrose, ratio decidendi được hiểu là những nguyên tắc pháp lý làm nền tảng cho quyết định của thẩm phán, tuy nhiên tính bắt buộc và xác định rõ ràng của phần này khiến việc phân biệt trở nên khó khăn Nhiều học giả phản đối quan điểm này vì khái niệm nguyên tắc quá chung chung và thực tế, các nguyên tắc của thẩm phán thường quá rộng hoặc quá hẹp, hay chỉ đưa ra các kết luận mà không đính kèm nguyên tắc rõ ràng, gây khó khăn trong xác định phần nào là ratio decidendi Thậm chí, có các án lệ mang tính chất vừa rộng vừa hẹp ở các mặt khác nhau, khiến khái niệm lý thuyết trở nên kém hiệu quả trong việc xác định chính xác nguyên tắc quyết định của vụ án.

Trong các nghiên cứu về ratio decidendi, lý thuyết của giáo sư Goodhart nổi bật với tính thực tiễn cao, bởi vì nó nhấn mạnh vào vai trò của phần tình tiết (fact) của vụ việc Phán quyết của thẩm phán luôn phải phản ánh đúng tình tiết cụ thể của vụ án để đảm bảo tính hợp lý và phù hợp của quyết định Lý thuyết này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa tình tiết vụ án và việc xác định quy luật pháp lý (ratio decidendi), góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình áp dụng pháp luật.

19 Ông là trưởng khoa Luật tại Đại học Queen, Belfast

20 J L Montrose, Ratio decidendi and the House of Lords (Ratio Decidendi và Viện nguyên lão), The Modern Law Review, Vol.20, (1957), tr 124

21 Ông là giáo sƣ tại Đại học Bond và Đại học Adelaire

22 H.K Lucke, Ratio Decidendi: Adjudicative Rational and Source of Law (Ratio Decidendi: sự hợp lý trong xét xử và nguồn của luật), Bond law review, Vol.1, (1989), tr 39

23 Ông là giáo sƣ tại Đại học Oxford

Giáo sư Goodhart tóm tắt nguyên tắc xác định vụ việc dựa trên việc xác định (a) những sự thật liên quan và (b) quyết định dựa trên những tình tiết đó Trong vụ Hambrook vs Stokes, một phụ nữ đã thiệt mạng do chấn động khi chứng kiến vụ tai nạn xe do người lái xe cẩu thả gây ra, đe dọa tính mạng của con bà Phán quyết của vụ án cho rằng việc xem xét “người bị nạn là mẹ của đứa trẻ” là tình tiết liên quan, chính là ratio decidendi Nếu thẩm phán có ý kiến rằng đó không phải tình tiết liên quan, phán quyết sẽ trở thành án lệ ràng buộc, ảnh hưởng đến các vụ tương tự như người qua đường mất mạng khi nhìn thấy trẻ bị tai nạn do lỗi của người lái xe.

Khái niệm về ratio decidendi hiện nay vẫn chưa thống nhất, khiến việc xác định phần nào là bộ phận quan trọng của phán quyết luôn gặp khó khăn Ngay cả các thẩm phán ra quyết định cũng có thể không chắc chắn rằng phần lý do họ đưa ra đã đúng và phù hợp Tại Anh, đôi khi thẩm phán đã vượt ra ngoài giới hạn của ratio decidendi ban đầu, và ranh giới giữa chúng thường do các thẩm phán của các vụ án sau, luật sư thực hành hoặc các nhà nghiên cứu luật xác định Việc xác định chính xác ratio decidendi là một thách thức trong quá trình phân tích pháp lý và phát triển hệ thống pháp luật.

24 Xem H.K Lucke, Ratio Decidendi, chú thích số 22, tr 40

25 Xem H.K Lucke, Ratio Decidendi, chú thích số 22, tr 41

26 Xem Michael Bogdan, Lu ậ t so sánh, chú thích số 2, tr 90

15 ranh giới phần nào là ratio decidendi là một khó khăn ngay cả tại các quốc gia đã có truyền thống áp dụng án lệ lâu đời

1.3.2 Obiter dictum (bình luận của thẩm phán)

Black’s Law Dictionary định nghĩa obiter dictum là các ý kiến “bao gồm nhưng không giới hạn các minh họa, phân tích hoặc tranh luận” trong quá trình giải quyết vụ việc Giáo sư Bogdan coi obiter dictum “chỉ là tuyên cáo, không chi phối quyết định và không có tính bắt buộc đối với các vụ việc tương lai”, trong khi giáo sư Cross nhấn mạnh rằng nó thể hiện những ý kiến luật nhưng không phải là phần chính của phán quyết dựa trên logic Ranh giới giữa ratio decidendi và obiter dictum không luôn rõ ràng, có khi obiter dictum lại được vận dụng như một ratio decidendi, vì vậy không nên đặt ra khái niệm cứng nhắc cho obiter dictum Việc quan trọng là xác định phần nào của án lệ là ratio decidendi trong quá trình áp dụng vào các vụ việc cụ thể.

27 Ông là giáo sƣ ngành Luật so sánh và Tƣ pháp quốc tế thuộc khoa Luật Đại học Lund

28 Xem Michael Bogdan, Lu ậ t so sánh, chú thích số 2, tr 90

29 Ông là giáo sƣ ngành luật Anh tại Đại học Oxford

Rupert Cross's "Precedent in English Law," second edition published by Oxford's Clarendon Press in 1968, provides a comprehensive analysis of the role of precedent in the legal system According to Cross, legal precedents are fundamental to the development and application of common law, ensuring consistency and predictability in judicial decisions Although direct access to original sources was unavailable, the author references Ngô Kim Hoàng Nguyên to support the discussion on the importance of precedent in maintaining legal stability within the English legal tradition.

Making and applying case law in Viet Nam legal system, chú thích số 5, tr 7

31 Xem Rupert Cross, Precedent in English Law, chú thích số 30, tr 81

Nguyên t ắ c stare decisis

1.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Vào thế kỷ 12, cùng với sự ra đời của thông luật và tích lũy các bản án, nguyên tắc stare decisis hình thành để điều chỉnh việc tuân thủ những quyết định pháp lý trước đó Nguyên tắc này xuất phát từ cụm Latin “stare decisis et non quieta movere”, có nghĩa là “tuân theo những quyết định đã ra và không sách nhiễu những gì đã ổn định”, nhằm duy trì sự ổn định trong hệ thống pháp luật Tuy nhiên, cho đến thế kỷ 19, nguyên tắc stare decisis vẫn chưa được coi là bắt buộc đối với cả thông luật lẫn luật công bằng tại Anh, do nhiều lý do lịch sử và pháp lý.

Trong giai đoạn này, hệ thống tòa án được tổ chức rất phức tạp, gây khó khăn trong việc thực thi pháp luật thống nhất Cụ thể, Tòa án hoàng gia (King’s Court) chủ yếu áp dụng thông luật, trong khi Tòa án công lý (Court of Chancery) lại dựa trên luật công lý, dẫn đến sự phân chia rõ ràng giữa các hệ thống xét xử.

Trong giai đoạn này, chưa có các tập án lệ thống nhất và đáng tin cậy, việc xây dựng tập án lệ chủ yếu thông qua các luật sư để đào tạo nghề cho luật sư trẻ, chưa qua kênh chính thức từ nhà nước Về cuối thế kỷ 19, hệ thống tòa án được hợp nhất từ Tòa thông luật và Tòa công bằng, dẫn đến sự phân cấp rõ ràng hơn trong hệ thống tòa án và quy định thẩm quyền chính xác hơn, giúp xác định dễ dàng hơn mối quan hệ ràng buộc về án lệ theo nguyên tắc stare decisis Đồng thời, chất lượng đội ngũ thẩm phán ngày càng nâng cao, và Ủy ban báo cáo pháp luật (Council on Law Reporting) được thành lập để xây dựng các tuyển tập án lệ có tính chuẩn xác và hệ thống.

32 Xem Đỗ Thành Trung, Án l ệ và v ấn đề th ừ a nh ậ n án l ệ ở Vi ệ t Nam hi ệ n nay, chú thích số 15, tr 6

Ngày càng trở nên quen thuộc và đáng tin cậy, các yếu tố này đã tạo điều kiện thuận lợi để nguyên tắc stare decisis trở thành một nguyên tắc bắt buộc trong hệ thống pháp luật Anh từ thế kỷ 19, góp phần duy trì tính nhất quán và ổn định trong các quyết định tư pháp.

Ngoài biên giới nước Anh, nguyên tắc stare decisis còn được các quốc gia theo truyền thống luật pháp như Hoa Kỳ và Úc áp dụng Tuy nhiên, việc tuân thủ nguyên tắc này tại các quốc gia này có những đặc điểm riêng, phản ánh sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống pháp lý của từng nơi.

Kỳ, một tòa án không bị ràng buộc bởi chính các án lệ của mình 34

1.4.2 Nội dung của nguyên tắc stare decisis Đúng nhƣ tên của nguyên tắc “tuân theo những quyết định đã ra và không sách nhiễu những gì đã ổn định”, nội dung của nguyên tắc stare decisis là sự ràng buộc của những phán quyết, quyết định có trước đối với những vụ việc sau có tình tiết tương tự Nói cách khác, tòa án bị ràng buộc phải tuân theo một án lệ trước đó nếu vụ việc đang xét xử tương tự với án lệ đó Ngược lại, thẩm phán có quyền từ chối áp dụng án lệ nếu chứng minh được vụ việc đang xét xử không tương tự với án lệ Trong thực tế, khi không muốn áp dụng một án lệ cụ thể nào đó, các thẩm phán Anh có thể sẽ né tránh bằng cách chỉ ra sự khác biệt giữa án lệ đó với vụ việc mà ông ta đang xét xử, một chi tiết khác biệt có thể đƣợc coi là đủ 35

1.4.3 Ý nghĩa của nguyên tắc stare decisis

Nguyên tắc stare decisis đóng vai trò vô cùng quan trọng tại các quốc gia không có quy định pháp luật thành văn rõ ràng Theo giáo sư Bogdan, nguyên tắc này giúp duy trì tính ổn định và dự đoán được trong hệ thống pháp luật, đảm bảo các án lệ trước đó được tôn trọng và áp dụng thống nhất trong các vụ việc tương tự.

“điều kiện tiên quyết để duy trì tính có thể tiên liệu ở một mức độ nhất định và sự tôn

33 Xem Ngô Kim Hoàng Nguyên, Making and applying case law in Viet Nam legal system, chú thích số 5, tr 5

34 Xem Michael Bogdan, Lu ậ t so sánh, chú thích số 2, tr 121

35 Xem Michael Bogdan, Lu ậ t so sánh, chú thích số 2, tr 92

Trong hệ thống pháp luật, tính có thể tiên liệu, công bằng và thống nhất là những yếu tố quan trọng đảm bảo tính hợp lý và ổn định của các quyết định pháp lý Khi một vụ việc tương tự đã có án lệ hoặc đã được tòa cấp cao xác lập, phán quyết có thể dự đoán trước (tính có thể tiên liệu), đồng thời phù hợp với án lệ đã được công nhận, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật (tính thống nhất) Thẩm phán cần hạn chế chủ quan để tránh làm sai lệch tính công bằng của phán quyết Theo giáo sư Jeremy Waldron, nguyên tắc stare decisis đòi hỏi các thẩm phán phải cẩn trọng trong việc ban hành các quyết định pháp lý mới, vì những phán quyết này có thể trở thành án lệ mới, ảnh hưởng đến các vụ việc tương tự trong tương lai (tính cẩn trọng và ý thức về tính ràng buộc của án lệ).

Các nhân t ố quan tr ọ ng trong vi ệ c áp d ụ ng án l ệ

Để án lệ được áp dụng hiệu quả trong hệ thống pháp luật, cần chú trọng đến việc công nhận án lệ như một nguồn luật chính quy Ngoài ra, đội ngũ thẩm phán có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì các án lệ đúng đắn, phù hợp với quy định pháp luật Cấu trúc tổ chức hệ thống tòa án cũng ảnh hưởng đến khả năng áp dụng án lệ một cách thống nhất và hiệu quả Cuối cùng, các tuyển tập bản án phải được xây dựng và cập nhật thường xuyên để hỗ trợ việc tham khảo và áp dụng án lệ chính xác, kịp thời.

1.5.1 Công nhận án lệ là nguồn luật

Trong các quốc gia theo truyền thống luật pháp, án lệ được công nhận là nguồn luật quan trọng nhất và đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống pháp lý Các quyết định của tòa án trước đó phải dựa trên các án lệ có sẵn để đảm bảo tính nhất quán và dự đoán được trong phán quyết Đồng thời, khi không có căn cứ pháp lý rõ ràng để giải quyết vụ việc, thẩm phán có thể công khai thiết lập án lệ mới, có hiệu lực ràng buộc cho các vụ việc tiếp theo.

36 Xem Michael Bogdan, Lu ậ t so sánh, chú thích số 2, tr 80

37 Ông là giáo sư luật và triết tại trường luật Đại học New York, Đại học Oxford và Đại học Victoria

Jeremy Waldron’s article "Stare Decisis and the Rule of Law: A Layered Approach" explores the complex relationship between precedent and legal stability, emphasizing how stare decisis supports the rule of law through a nuanced, multi-layered framework Waldron argues that adherence to precedent promotes consistency and predictability in legal decisions, which are essential for justice and public confidence He advocates for a flexible approach, allowing courts to depart from established precedents when necessary to adapt to social changes or correct injustices This layered perspective balances respect for legal stability with the need for legal evolution, ensuring that stare decisis serves the broader principles of fairness and effective governance The paper from NYU School of Law provides valuable insights into how legal systems can maintain stability while allowing necessary judicial discretion, making it a crucial resource for understanding the role of precedent in the rule of law.

Trong nhiều quốc gia dựa trên truyền thống pháp luật thành văn, án lệ thường không được coi trọng và không luôn được công nhận là một nguồn luật chính thức.

Án lệ thường không được công nhận là một căn cứ pháp luật chính thức, mặc dù vẫn được vận dụng một cách ngầm hiểu, như khi Tòa phá án Pháp (Cour de cassation) muốn huỷ các bản án có mâu thuẫn với phán quyết cũ Để tránh gây khó khăn, tòa này không dẫn chiếu đến án lệ mà phải trích dẫn điều luật hoặc nguyên tắc pháp lý cụ thể Việc này có thể dẫn đến sai sót hoặc thiếu đầy đủ trong trích dẫn, đồng thời làm khó tiếp cận phán quyết đó, dẫn đến hệ quả không mong muốn và thể hiện sự cần thiết phải công nhận án lệ như một nguồn luật chính thức Việc công nhận án lệ giúp chấm dứt tình trạng “án lệ ngầm ẩn”, từ đó phát huy các lợi ích của án lệ một cách minh bạch và công khai, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Trong một số quốc gia theo truyền thống pháp luật thành văn như Nhật Bản, án lệ được công khai ghi nhận vào các phán quyết như một nguồn luật bổ sung, góp phần làm rõ hệ thống pháp luật Tại Tây Ban Nha, mặc dù án lệ không được liệt kê trong danh sách các nguồn luật trong Bộ luật Dân sự, khoản 1 Điều 6 quy định rằng các quyết định pháp lý của tòa án, đặc biệt là vai trò của Tòa tối cao trong việc giải thích luật, tập quán và nguyên tắc chung của pháp luật, vẫn có giá trị như một nguồn luật nhất định Tuy án lệ không chính thức được xếp vào hàng nguồn luật chính thức, nhưng nó vẫn có ảnh hưởng nhất định trong việc hình thành và làm rõ hệ thống pháp luật Tuy nhiên, nguồn luật quan trọng nhất tại các quốc gia theo truyền thống pháp luật thành văn vẫn luôn là pháp luật thành văn, do đó dù án lệ được công nhận, nó vẫn chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật.

39 Phụ lục 2 Quyết định số 74/QĐ-TANDTC về phê duyệt đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao”

40 Mary Garvey Algero, The Sources of Law and the Value of Precedent (Các nguồn của luật và giá trị của án lệ), Lousiana Law Review, Vol.65, (2005), tr 789

Trong các hệ thống pháp luật này, 20 được xem như một nguồn luật quan trọng nhưng các thẩm phán vẫn có quyền ra quyết định khác với án lệ trước đó nếu có căn cứ dựa trên các quy định pháp luật phù hợp Chính vì điều này, các quốc gia này gặp khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc stare decisis theo cách bắt buộc, vì họ coi trọng việc linh hoạt điều chỉnh các phán quyết dựa trên tình huống cụ thể và quy định pháp luật hiện hành.

1.5.2 Vai trò của thẩm phán Để án lệ có thểđƣợc áp dụng hiệu quả, thẩm phán là nhân tố quan trọng không thể thiếu Họ chính là chủ thể trực tiếp ban hành án lệ, tuân thủ án lệ và thay đổi án lệ Để thực hiện đƣợc nhiệm vụ này, thẩm phán phải đáp ứng đƣợc một số yêu cầu nhất định: hiểu biết về các án lệ đã công bố, khả năng phân biệt ratio decidendi và obiter dicta, ngoài ra còn có các kỹ năng mềm nhƣ kỹ năng phân tích, kỹ năng lập luận và kinh nghiệm thực tế phong phú… Đặc biệt, tại các quốc gia theo truyền thống pháp luật thành văn, các thẩm phán còn cần phải có kỹ năng chứng minh đƣợc việc áp dụng án lệ không trái với pháp luật thành văn, là nguồn luật ƣu tiên hàng đầu

Tại Anh, chỉ những luật sư có kinh nghiệm lâu năm và được kính trọng mới được bổ nhiệm làm thẩm phán, chủ yếu là các luật sư bào chữa Trước khi trở thành thẩm phán, các luật sư này đã tích lũy nhiều năm nghiên cứu và vận dụng số lượng án lệ lớn, với hơn 350.000 phán quyết được công bố vào những năm 1980 Các luật sư bào chữa có ưu thế hơn các luật sư tư vấn nhờ vào kinh nghiệm vận dụng án lệ trong các phiên xét xử thực tế, giúp họ hiểu biết sâu rộng về án lệ và tích lũy nhiều kỹ năng, kiến thức ngoài lĩnh vực luật Nhờ đó, thẩm phán Anh có thể vận dụng án lệ một cách hợp lý hoặc từ chối vận dụng án lệ phù hợp, đồng thời tạo ra án lệ mới bằng cách rút ra từ các án lệ có sẵn.

41 Xem Michael Bogdan, Lu ậ t so sánh, chú thích số 2, tr 103

42 Xem Michael Bogdan, Lu ậ t so sánh, chú thích số 2, tr 105

Các nguyên tắc đã được thiết lập sẵn và sự kính trọng xã hội đối với các quyết định của họ tạo nên sức thuyết phục đáng kể cho các thẩm phán Những lợi thế này khó có thể đạt được qua một chương trình đào tạo ngắn hạn hoặc chỉ từ vài năm kinh nghiệm, đặc biệt là tại hệ thống pháp luật thành văn như ở Pháp (thường kéo dài khoảng 31 tháng) Vì vậy, các thẩm phán được đào tạo trong hệ thống pháp luật thành văn sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng án lệ một cách linh hoạt Nếu một quốc gia theo truyền thống pháp luật thành văn muốn tiếp nhận và sử dụng án lệ, cần phải thay đổi cách đào tạo thẩm phán và nâng cao chất lượng đào tạo của các thẩm phán đã và đang hành nghề.

1.5.3 Hệ thống tòa án Để án lệ có thể đƣợc áp dụng hiệu quả, hệ thống tòa án cần đáp ứng một số yêu cầu nhất định Thứ nhất, hệ thống tòa án cần đƣợc phân cấp Ngay tại các quốc gia áp dụng án lệ lâu đời, các tòa án cùng cấp không nhất thiết phải tuân thủ theo án lệ của nhau mà chỉ phải tuân thủ án lệ của các tòa cấp cao hơn, ví dụ nhƣ tại Anh, thẩm phán của Tòa công lý cấp cao (High court of Justice) không bị ràng buộc bởi những phán quyết của các tòa ngang hàng Hơn nữa, trong một hệ thống tòa án đã phân cấp, tòa án ở vị trí cao nhất luôn có một vị thế hết sức quan trọng, các án lệ của tòa án này hầu nhƣ luôn có giá trị ràng buộc ở một chừng mực nào đó với tất cả các tòa cấp thấp Thế nên tòa án ở vị trí cao nhất sẽ phải đi đầu trong việc ban hành các án lệ, thay đổi hoặc ủng hộ việc thay đổi các án lệ không còn phù hợp, đồng thời hướng dẫn, chỉ đạo việc

Ở Anh, các toà án không chỉ áp dụng luật mà còn tạo ra và thay đổi luật thông qua các bản án của mình Thẩm phán thường biện luận rằng họ chỉ “tìm ra” các quy định pháp luật đã có trong các án lệ sẵn có, nhằm tránh xung đột về vai trò giữa việc lập pháp và xét xử Điều này phản ánh thực tế rằng hệ thống pháp luật Anh dựa vào các tiền lệ để xây dựng các quy định pháp lý mới (Xem Michael Bogdan, Luật so sánh, chú thích số 2, tr 89)

44 Xem Michael Bogdan, Lu ậ t so sánh, chú thích số 2, tr 138

Tòa án cấp cao nhất trước đây tại Anh là Viện nguyên lão (House of Lords) từng bị ràng buộc bởi chính các phán quyết và quyết định của mình, nhưng hiện nay đã thay đổi để đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật và giám sát việc áp dụng án lệ của các tòa cấp thấp Việc này giúp các tòa án cấp thấp tuân thủ án lệ một cách hiệu quả hơn, đồng thời tạo điều kiện cho việc bác bỏ án lệ thông qua các phương thức lập pháp phù hợp Nhờ đó, hệ thống tư pháp trở nên linh hoạt và thích nghi tốt hơn với sự phát triển của pháp luật.

Năm 1966, Viện nguyên lão đã xác nhận quyền quyết định của mình, khẳng định rằng họ có thể thay đổi quyết định trước đó khi có đủ cơ sở để làm như vậy Điều này cho thấy vai trò quan trọng của Viện nguyên lão trong quá trình ra quyết định, đảm bảo sự linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế Quy định này góp phần nâng cao tính chính xác và khách quan trong các quyết định của Viện nguyên lão.

Thứ hai, cần quy định rõ thẩm quyền phúc thẩm của các tòa án để đảm bảo tính rõ ràng trong hệ thống tư pháp Các tòa cấp dưới chỉ bị ràng buộc bởi án lệ của tòa cấp trên có thẩm quyền phúc thẩm, như trong hệ thống tòa án Anh, vụ việc xét xử ở tòa địa phương sẽ được phúc thẩm tại tòa phúc thẩm mà không bị ràng buộc bởi án lệ của Tòa công lý cấp cao, bất kể vị trí của tòa trong hệ thống tòa án.

1.5.4 Các tuyển tập bản án

ÁP D Ụ NG ÁN L Ệ T Ạ I NH Ậ T B Ả N - KINH NGHI Ệ M CHO

Lịch sử phát triển của hệ thống pháp luật Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc đảo nằm ở phía Đông Bắc Châu Á, gần các nước Nga, Hàn Quốc và Trung Quốc Truyền thống, văn hóa Nhật Bản đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng từ Trung Quốc, nhưng với tinh thần dân tộc mạnh mẽ, người Nhật đã chọn lọc và biến đổi những ảnh hưởng này thành bản sắc riêng của mình Những tác động của văn hóa Trung Quốc đã góp phần hình thành một số nguyên tắc trong pháp luật Nhật Bản, trong đó nổi bật là nguyên tắc “Hòa” Trong xã hội Nhật Bản, giải quyết mâu thuẫn bằng thương lượng, dựa trên tinh thần hòa khí, luôn được ưu tiên hàng đầu, còn các giải pháp pháp lý chỉ đóng vai trò thứ yếu.

Từ "hòa" trong "hài hòa" là từ mượn từ tiếng Trung Quốc, bắt nguồn từ học thuyết Nho giáo của Khổng Tử, nhưng lại có sức sống mạnh mẽ tại Nhật Bản Nguyên tắc "Hòa" nhấn mạnh việc duy trì sự hài hòa trong các mối quan hệ xã hội, ưu tiên sự cân bằng chung hơn lợi ích cá nhân Điều này hạn chế tối đa mâu thuẫn và khuyến khích giải quyết các vấn đề phát sinh thông qua thương lượng, góp phần xây dựng một cộng đồng ổn định, hài hòa.

Trong các thời kỳ lịch sử Nhật Bản, từ Thời kỳ Kamakura (1185-1333) đến Thời kỳ Tokugawa (1600-1868), thương lượng hòa giải luôn đóng vai trò quan trọng trong giải quyết mâu thuẫn giữa các lãnh chúa và người đại diện của Tướng quân (Shogun), qua đó hạn chế xung đột và duy trì trật tự xã hội Sau cuộc cải cách Minh Trị, chính phủ Nhật Bản đã thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp dân sự bằng phương thức thương lượng, trong đó Bộ Công Lý đã giới thiệu cơ chế thương lượng gọi là Kankai nhằm khuyến khích các bên tự nguyện hòa giải Các nghiên cứu của Lynn Berat và Elliott J Hahn nhấn mạnh vai trò ngày càng quan trọng của hòa giải trong hệ thống pháp luật Nhật Bản hiện đại, góp phần xây dựng hệ thống pháp luật công bằng và hiệu quả.

Hiện tại, người Nhật Bản vẫn đánh giá cao việc giải quyết mâu thuẫn kinh doanh một cách hòa bình và hợp lý Dù có thể đi ngược lại những quy định đã thỏa thuận trong hợp đồng, họ vẫn ưu tiên tìm kiếm các phương án giải quyết tranh chấp dựa trên nguyên tắc hữu nghị Phương pháp này thể hiện tinh thần tôn trọng các mối quan hệ kinh doanh lâu dài và duy trì sự hợp tác bền vững Trong kinh doanh Nhật Bản, giải pháp thỏa thuận thân thiện được coi là ưu tiên hàng đầu để đảm bảo sự ổn định và uy tín trong quá trình hợp tác.

Hệ thống pháp luật của Nhật Bản có lịch sử phát triển lâu đời bắt nguồn từ thời kỳ Asuka (538-710), với hệ thống luật Ritsuryo được xây dựng dựa trên mô hình pháp luật của nhà Đường Trong thời kỳ Nara (710-794), hệ thống luật Ritsuryo phát triển mạnh mẽ hơn với các bộ luật tiêu biểu như Ōmi-ryō (669), Asuka-kiyomihara-ryō (689), Taihō-ritsuryō (701) và Yōrō-ritsuryō (720), có hiệu lực từ năm 757, chủ yếu quy định các vấn đề về hành chính và hình sự Qua các thời kỳ như Heian (794-1185), Kamakura (1185-1333), và Muromachi (1336- ), hệ thống pháp luật Nhật Bản đã không ngừng phát triển và hoàn thiện, phản ánh quá trình lịch sử pháp lý lâu dài của đất nước.

Trong giai đoạn từ năm 1573, triều đình Thiên hoàng dần mất quyền lực vào tay các lãnh chúa và thủ lĩnh quân sự, làm suy yếu chế độ trung ương tập quyền Hệ thống luật Ritsuryo bắt đầu mất đi ảnh hưởng, nhường chỗ cho pháp luật bản địa ngày càng phát triển Đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, người Nhật đã tự sáng tạo hệ thống các tập quán hoàn toàn mang tính chất địa phương, phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của xã hội Nhật Bản thời kỳ này.

Trong thời kỳ Edo (1606-1868), dưới sự cai trị của chính quyền Mạc phủ Tokugawa, hệ thống pháp luật Nhật Bản mang tính giai cấp rõ rệt, phức tạp và thiếu sự thống nhất Tính giai cấp thể hiện qua việc phân chia hệ thống pháp luật thành các luật riêng biệt của triều đình Thiên hoàng (kugeho), luật của tầng lớp lãnh chúa (ryoshuho) và luật dân sự, phản ánh rõ ràng sự phân chia quyền lực và quyền lợi giữa các tầng lớp xã hội.

An overview of Japanese legal system (Khái quát về hệ thống pháp luật Nhật Bản), Northwestern Journal of

54 Xem Elliott J Hahn., An overview of Japanese legal system, chú thích số 53, tr 519

55 Xem tại http://en.wikipedia.org/wiki/Ritsury%C5%8D (truy cập ngày 7/8/2013)

56 Xem Elliott J Hahn., An overview of Japanese legal system, chú thích số 53, tr 518

Pháp luật Nhật Bản thời kỳ này thể hiện tính phức tạp và thiếu hệ thống rõ ràng, khi các văn bản luật được ban hành riêng rẽ, rải rác rồi mới tổng hợp thành một tập hợp luật không phân biệt ngành Sự thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật còn thể hiện qua sự đa dạng của các chủ thể ban hành luật, gồm luật của triều đình Thiên hoàng song song với luật của chính quyền Mạc phủ Trong hệ thống pháp luật của Mạc phủ, ngoài các luật (hatto, okite) và lệnh (sadame) của Tướng quân Shogun, còn có luật do các lãnh chúa (daimyo) ban hành tại các lãnh địa riêng, phản ánh sự phân quyền rõ nét Đặc điểm nổi bật của pháp luật Nhật Bản thời kỳ này là sự vắng mặt của tầng lớp luật sư, do ảnh hưởng của nguyên tắc “Hòa,” tạo nên một hệ quả đặc trưng và đặc biệt của hệ thống pháp luật thời kỳ này.

Sau Cải cách Minh Trị, Nhật Bản chứng kiến sự thay đổi lớn về cơ sở hạ tầng do chuyển đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản, dẫn đến nhu cầu cải cách kiến trúc thượng tầng Pháp luật trở thành một trong những lĩnh vực trọng điểm được chính quyền Minh Trị tập trung cải cách nhằm phù hợp với sự phát triển mới của đất nước Yêu cầu này ngày càng trở nên cấp thiết khi Nhật Bản cần tuân thủ các điều ước đã ký với các cường quốc phương Tây, nhằm nâng cao vị thế quốc tế và đảm bảo phát triển bền vững của đất nước.

Trong thời kỳ Tokugawa, xã hội phân chia rõ rệt theo giai cấp, với Thiên hoàng, tướng quân và các quý tộc (kuge) đứng đầu hệ thống xã hội Các lãnh chúa và tầng lớp samurai (sĩ) chiếm vị trí cao nhất trong "sĩ, nông, công thương", phản ánh sự phân biệt giai cấp nghiêm trọng của thời kỳ này Ngoài ra, còn có các tầng lớp dưới đáy xã hội như eta và hinin, thể hiện sự cách biệt rõ rệt giữa các giai cấp trong xã hội Nhật Bản thời kỳ Tokugawa.

Luật về kiện tụng (Kujikata Osadamegaki), do chính quyền Mạc phủ ban hành năm 1742, là một trong những bộ luật tiêu biểu theo dạng này Bộ luật gồm hai phần, phần 1 có 81 văn bản pháp lý quy định về hành chính và dân sự, còn phần 2 bao gồm các quyết định hình sự và luật tố tụng Tham khảo Wilhelm Rühl để hiểu rõ hơn về nội dung và ý nghĩa của bộ luật này trong hệ thống pháp luật thời kỳ đó.

History Of Law In Japan Since 1868 (Lịch sử pháp luật Nhật Bản từ 1868), Brill (2005), chú thích số 55, tr 16

59 Đặc biệt là tại khu vực Kyoto Xem Yoshiro Hiramatsu, Tokugawa Law (Luật Tokugawa), Law in Japan, Vol

60 Xem Elliott J Hahn., An overview of Japanese legal system, chú thích số 50, tr 518

Hiệp ước Edo ký năm 1858 là một trong những thỏa thuận quan trọng giữa Nhật Bản và các cường quốc như Mỹ, Anh, Nga, Hà Lan, Pháp, và các nước khác Ngoài ra, Nhật Bản còn ký các hiệp ước riêng với từng quốc gia, như Hiệp ước Kanagawa năm 1854 với Hoa Kỳ và Hiệp ước Shimoda năm 1855 với Nga Những điều ước này đưa ra các quy định quan trọng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân các nước ngoài sinh sống tại Nhật Bản.

Việc du nhập hệ thống pháp luật phương Tây thay vì tự xây dựng hệ thống pháp luật riêng là lựa chọn thực tế để xây dựng hệ thống pháp luật mới trong thời gian ngắn Sự lựa chọn này đòi hỏi phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa các hệ thống pháp luật của Pháp, Đức, Anh và Mỹ, thể hiện sự do dự của chính quyền mới trong việc lựa chọn giữa truyền thống pháp luật dựa trên nguyên tắc thông luật hay pháp luật thành văn Cuối cùng, hệ thống pháp luật Đức, một hệ thống pháp luật thành văn, đã được chọn làm nền tảng để xây dựng pháp luật hiện đại của Nhật Bản.

Sự tiếp nhận này chính thức khởi đầu bằng việc tiếp nhận Bộ luật Dân sự Đức (The Bürgerliches Gesetzbuch) có hiệu lực năm 1896

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản chịu sự giải giáp và chiếm đóng của quân đội Hoa Kỳ, trong đó pháp luật Hoa Kỳ ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống pháp luật Nhật Bản Sự thay đổi lớn nhất chính là việc ban hành Hiến pháp mới năm 1947 do Đại tướng Hoa Kỳ Mac Arthur chủ trì, với những nội dung đổi mới như phủ nhận quyền thống trị của Thiên Hoàng và khẳng định quyền lực của nhân dân Hiến pháp 1947 đã tác động sâu rộng đến đời sống xã hội và hệ thống pháp luật Nhật Bản, vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay và chưa từng bị chỉnh sửa kể từ sau thời kỳ chiếm đóng Trong bối cảnh Nhật Bản vi phạm pháp luật, luật xét xử sẽ theo luật của quốc gia của công dân đó, do nhiều quốc gia cho rằng hệ thống pháp luật Nhật Bản chưa thực sự tiến bộ.

62 Xem Elliott J Hahn., An overview of Japanese legal system, chú thích số 53, tr 521

63 Lý do Hiến pháp 1947 chƣa từng đƣợc thay đổi hoặc chỉnh sửa, theo giáo sƣ Lawrence của Đại học luật

Maryland gồm 6 yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình phát triển của khu vực Đầu tiên, e ngại phản ứng của người dân là một trong những rào cản lớn Thứ hai, lo ngại về việc thiếu quân đội giảm đi khi lực lượng tự vệ được thành lập đã khiến chính phủ gặp khó khăn trong việc xây dựng lực lượng phòng vệ mạnh mẽ Thứ ba, thất bại của Hội đồng Hiến pháp từ năm 1957 đến 1964 đã ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và ổn định chính trị Cuối cùng, các khó khăn về kinh tế cũng là một yếu tố không thể bỏ qua, gây ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của Maryland.

Hệ thống tòa án Nhật Bản

Hệ thống tòa án Nhật Bản hiện nay bao gồm các tòa án sau:

1 Tòa tối cao (Supreme court)

8 tòa cấp cao (High court), 1 tòa có thể có tới 6 nhánh tòa 64

50 tòa địa phương (district court) với tổng cộng 203 nhánh tòa,

Trong giai đoạn hậu chiến (1945-1960), có 50 tòa gia đình và 438 tòa chuyên xử các vụ việc dân sự đơn giản, phản ánh hệ thống tư pháp phát triển phù hợp với nhu cầu xã hội Tuy nhiên, từ những năm 1960-1970, Đảng LDP bắt đầu thất thế, ảnh hưởng đến cấu trúc chính trị và xã hội của đất nước Kể từ năm 1970, Hiến pháp 1947 đã trở thành nền tảng vững chắc, gắn bó chặt chẽ với bộ máy hành pháp, tư pháp và lập pháp, góp phần định hình lại các quy định pháp luật trong giai đoạn này (Xem Beer Lawrence để biết thêm chi tiết về quá trình này)

Constitutional Revolution in Japanese Law Society and Politics (Cuộc cách mạng Hiến pháp trong xã hội, luật pháp và chính trị Nhật Bản), Modern Asian Studies, Vol.16, (1982)

64 Vào tháng 4/2005, Tòa sở hữu trí tuệ cấp cao đƣợc thành lập, trở thành một nhánh đặc biệt của Tòa cấp cao thành phố Tokyo

65 Xem tại http://www.courts.go.jp/english/judicial_sys/overview_of/overview/index.html (Truy cập ngày

Hầu hết thẩm phán tại các tòa án đều được đào tạo qua một quy trình chính quy, đảm bảo năng lực và kiến thức pháp lý vững vàng (xem phụ lục về đào tạo nghề luật chính quy tại Nhật Bản trước và sau cải cách tư pháp) Tuy nhiên, thẩm phán của Tòa tối cao và các thẩm phán làm việc tại các tòa chuyên xử các vụ việc dân sự đơn giản lại có quy trình đào tạo đặc biệt phù hợp với đặc thù công việc của mình.

Tòa tối cao gồm một chánh án và 14 thẩm phán, trong đó chánh án được Nhật hoàng bổ nhiệm theo đề nghị của Nội các và có vị trí pháp lý ngang hàng Thủ tướng Các thẩm phán của Tòa tối cao được bổ nhiệm bởi Nội các và có sự chuẩn y của nhân dân, với địa vị pháp lý tương đương bộ trưởng Thẩm phán thường được chọn từ ba nhóm chính: các thẩm phán của các tòa cấp thấp, công tố viên và luật sư; từ năm 1970 trở đi, số lượng phổ biến là 6 thẩm phán, 4 luật sư, 2 công tố viên, và 3 người còn lại là các luật gia hoặc viên chức.

Tòa tối cao xét xử phúc thẩm theo hai dạng:

Có 66 thẩm phán làm việc tại các tòa chuyên xử các vụ việc dân sự đơn giản, trong đó gồm những người có kiến thức và kinh nghiệm nhất định, thẩm phán các tòa cấp thấp hoặc công tố viên đã nghỉ hưu, cùng với các thẩm phán phụ tá hoặc thẩm phán kiêm nhiệm tạm thời (Nguồn: http://www.kitahama.or.jp/english/library/legproj.html, truy cập ngày 12/7/2013).

Điều 6 Hiến pháp 1947 quy định rằng Hoàng đế có trách nhiệm bổ nhiệm Thủ tướng dựa trên chỉ thị của Quốc hội, đồng thời bổ nhiệm thẩm phán đứng đầu Tòa án tối cao theo đề nghị của Nội các Mặc dù tập hiến pháp này chỉ là của một số quốc gia trên thế giới, nó thể hiện rõ vai trò trung tâm của người đứng đầu nhà nước trong quá trình hình thành chính phủ và hệ thống tư pháp Văn bản này đặt nền móng cho nguyên tắc phân chia quyền lực giữa các nhánh quyền lực nhà nước, góp phần củng cố trật tự pháp luật và quyền lực nhà nước.

Thống kê Hà Nội (2009), tr 117

Điều 79 của Hiến pháp 1947 quy định rằng, ngoài chánh án, các thẩm phán được Nội các chỉ định, trong đó việc bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao cần phải được toàn dân chuẩn y Điều này thể hiện vai trò của nhân dân trong quá trình lựa chọn và xác nhận các cán bộ tư pháp cấp cao Quy định này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự minh bạch và dân chủ trong hệ thống tư pháp của một quốc gia phát triển, góp phần bảo vệ quyền lực và đảm bảo công lý Theo Tuyển tập Hiến pháp, đây là một bước tiến lớn trong việc mở rộng và củng cố chế độ pháp quyền trên thế giới.

Akiko Ejima's article explores the mysterious approach of Japan's Supreme Court regarding the use of foreign precedents, highlighting the court's cautious and often ambiguous stance She analyzes how this attitude affects legal interpretation and consistency within Japan's judicial system The study underscores the challenges faced by Japanese courts in integrating international legal standards while maintaining domestic legal sovereignty Ejima emphasizes the importance of understanding the Supreme Court's nuanced position to grasp Japan’s broader legal methodology and its implications for international legal cooperation.

Nếu do “Hội đồng nhỏ” gồm 4 đến 5 thẩm phán (Shohotei) phúc thẩm thì gọi là phúc thẩm Jokoku

Nếu do “Hội đồng lớn” gồm đủ 15 thẩm phán (Daihotei) cùng phúc thẩm thì gọi là phúc thẩm Kokoku

Các phán quyết của Tòa tối cao có hiệu lực chung thẩm, thể hiện rõ qua hai phần chính: phần tuyên án và phần lập luận Trong phần lập luận, các quan điểm của nhóm đa số, ý kiến phản đối, ý kiến bổ sung và ý kiến thiểu số đều được ghi nhận một cách đầy đủ Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch, khách quan và chính xác trong việc đảm bảo công lý và pháp luật.

Ngoài chức năng xét xử, Tòa tối cao còn có thẩm quyền quản lý hành chính toàn bộ hệ thống tư pháp, một trách nhiệm quan trọng giúp Tòa tối cao kiểm soát và hướng dẫn hoạt động của các tòa án cấp thấp Thẩm quyền này đảm bảo tính thống nhất trong công tác xét xử, đồng thời giúp củng cố vai trò và uy tín của Tòa tối cao trong hệ thống tư pháp quốc gia.

Ảnh hưởng của các truyền thống pháp luật đối với pháp luật Nhật Bản

Ảnh hưởng của pháp luật Pháp

Sau cải cách Minh Trị, pháp luật Pháp, đặc biệt Bộ luật Dân sự Napoleon, đã có ảnh hưởng lớn đến hệ thống pháp luật Nhật Bản trong khoảng thời gian từ năm 1870 đến 1890 Trong giai đoạn này, Pháp trở thành quốc gia phương Tây đầu tiên có ảnh hưởng mạnh mẽ đến pháp luật Nhật Bản thông qua sự cố vấn của các luật gia Pháp và quá trình giảng dạy luật Pháp tại các trường học, góp phần hiện đại hóa hệ thống pháp luật Nhật Bản.

During this period, Germany lacked a unified legal system (Source: Charles P Sherman, "The debt of modern Japanese law to French law," California Law Review, Vol 6, 1918, p 198)

Nhiều trường đại học tại Việt Nam đã tham khảo các bộ luật của Pháp khi soạn thảo các văn bản pháp luật Bộ luật Dân sự Napoleon được xem là mẫu mực cho dự thảo ban đầu của Bộ luật Dân sự Nhật Bản, do luật gia Pháp Boissonade và các luật gia Nhật Bản cùng soạn thảo Hiện nay, khoảng một nửa số điều khoản trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản vẫn chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ pháp luật Pháp Ngoài ra, ảnh hưởng của pháp luật Đức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống pháp luật của Nhật Bản.

Hệ thống pháp luật Đức (khi đó là Phổ) đã có ảnh hưởng sâu rộng đến pháp luật Nhật Bản, đặc biệt là trước Thế chiến II Nhật Bản lựa chọn hệ thống pháp luật Đức làm mẫu để xây dựng hệ thống pháp luật của mình vì pháp luật Đức được coi là tiên tiến nhất thời bấy giờ về mặt lý thuyết Ảnh hưởng của pháp luật Đức đến Nhật Bản diễn ra qua ba yếu tố chính: sự cố vấn của các luật gia Đức, quá trình nghiên cứu và học hỏi pháp luật Đức, cũng như việc soạn thảo các bộ luật và xây dựng hệ thống pháp luật Nhật Bản.

71 luật gia nổi tiếng của Pháp, gồm các tên tuổi như Boissonade, Bousquet và Benet, đã được bổ nhiệm làm cố vấn pháp lý cho Bộ Pháp Luật Nhật Bản Ngoài ra, họ còn đảm nhận vai trò giảng dạy tại các trường luật trực thuộc Bộ Pháp Luật Nhật Bản cho đến năm 1885, trước khi chuyển sang giảng dạy tại Đại học Luật Tokyo Nhiều trường đại học luật khác ở Tokyo cũng chịu ảnh hưởng từ pháp luật Pháp, trong đó có hai trường dạy luật pháp Pháp Theo Charles P Sherman trong tác phẩm “The debt of modern Japanese law to French law”, nguồn tham khảo số 70.

72 Xem Charles P Sherman, The debt of modern Japanese law to French law, chú thích số 70, tr 201

73 Các luật gia tiêu biểu có thể kể đến như: H Roesler, từng là giáo sư tại Đại học Rostock, người đã soạn thảo

Bộ luật Thương mại Nhật Bản năm 1899 đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống pháp lý thương mại tại Nhật Bản P Mayet chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực tổ chức bưu điện, bảo hiểm và tiền gửi ngân hàng, góp phần thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính và ngân hàng của đất nước A Mosse tham gia soạn thảo các quy định liên quan đến bộ máy hành chính của chế độ tự quản địa phương, giúp tăng cường hiệu quả quản lý hành chính cấp cơ sở O Rudolph đã soạn thảo Luật tổ chức tại Nhật Bản, đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại Để hiểu rõ hơn về quá trình hình thành luật pháp Nhật Bản, bạn có thể tham khảo tác phẩm Wilhelm Rühl, "History of Law in Japan".

Since 1868, chú thích số 58, tr 26

Việc nghiên cứu học tập pháp luật Đức bắt đầu trở thành một xu hướng sau khi một Ủy viên hội đồng nhà nước theo lệnh Thiên hoàng đến châu Âu để nghiên cứu hiến pháp các nước, đặc biệt là Hiến pháp Phổ Điều này đã thúc đẩy các giáo sư Nhật Bản học luật tại Đức và mời các luật gia Đức đến giảng dạy luật Đức tại Nhật Bản.

Bộ luật Dân sự 1898 của Nhật Bản được coi là mô phỏng theo Bộ luật Dân sự Đức, chịu ảnh hưởng lớn từ pháp luật Pháp và các nền pháp luật khác, nhưng cách hệ thống và giải thích luật đều dựa trên khoa học pháp lý của Đức Sự du nhập pháp luật Đức không chỉ gồm việc tiếp nhận hệ thống các bộ luật thành văn mà còn học hỏi và tích hợp nền khoa học pháp lý của Đức Tuy nhiên, do pháp luật Đức thiên về tư duy trừu tượng và không phù hợp với lối tư duy cụ thể và trực giác của người Nhật, ảnh hưởng của pháp luật Đức đã giảm dần sau Thế chiến thứ nhất Dù vậy, các bộ luật hiện tại của Nhật Bản và phương pháp giải thích pháp luật (kaishakuron) vẫn mang dấu ấn của hệ thống pháp luật Đức, được đánh giá là còn ảnh hưởng đến các phán quyết của tòa án Nhật Bản hơn cả luật và lý thuyết pháp lý.

Hiện nay, Nhật Bản vẫn duy trì truyền thống pháp luật thành văn làm nền tảng pháp lý chính Nguồn luật thành văn của Nhật Bản hiện nay được xếp theo thứ tự giảm dần về hiệu lực pháp lý, trong đó các trường đại học đóng vai trò quan trọng trong việc giảng dạy Sau khi chọn pháp luật Đức làm khuôn mẫu, Nhật Bản đã thu hút nhiều chuyên gia Đức đến giảng dạy về luật Đức và luật La Mã tại Trường Đại học Tokyo và Học viện Nghiên cứu Khoa học Đức (doitsugaku kyokai gakkou) Theo Wilhelm Rühl trong "History of Law in Japan Since 1868", điều này thể hiện rõ sự ảnh hưởng của pháp luật Đức đối với hệ thống pháp luật Nhật Bản.

75 Có thể kể ra các ví dụ như Hiến pháp Minh Trị có rất nhiều điểm tương tự Hiến pháp Phổ, Bộ luật Hình sự

1907 chịu ảnh hưởng rất lớn từ luật Đức, Luật tổ chức tòa án 1890 do luật gia Đức soạn

76 Xem Wilhelm Rửhl, History Of Law In Japan Since 1868, chỳ thớch số 58, tr 27

77 Xem Wilhelm Rửhl, History Of Law In Japan Since 1868, chỳ thớch số 58, tr 28

78 Hiroshi Itoh, The constitutional case law of Japan (Án lệ liên quan đến hiến pháp tại Nhật Bản), University of Washington Press (1978), tr 8

Hệ thống pháp luật Nhật Bản bao gồm 35 lý, trong đó có Hiến pháp (Kenpo), các điều ước quốc tế (Joyaku) và luật (Horitsu) Ngoài ra còn có các văn bản dưới luật như seirei và chokurei, tạo thành một hệ thống pháp luật phong phú và đa dạng Các văn bản luật thành văn này đóng vai trò là xương sống của hệ thống pháp luật Nhật Bản, và các phán quyết của tòa án đều phải căn cứ vào các nguồn luật này để đảm bảo tính hợp pháp và thống nhất trong thực thi pháp luật.

2.1.3.2 Ảnh hưởng của truyền thống pháp luật thông luật

Nhật Bản đã tiếp xúc với truyền thống pháp luật thông luật từ rất sớm, đặc biệt sau Cải cách Minh Trị, hệ thống pháp luật Anh-Mỹ đã được giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Tokyo Trước khi pháp luật Đức trở thành khuôn mẫu, có nhiều ý kiến ủng hộ việc du nhập hệ thống pháp luật thông luật vào Nhật Bản để thúc đẩy sự phát triển pháp lý Trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, cùng với sự giảm sút ảnh hưởng của pháp luật Đức, phương pháp tình huống (case-method) dựa trên các vụ việc thực tiễn của truyền thống pháp luật Anh-Mỹ đã được giới thiệu và áp dụng tại Nhật Bản.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Nhật Bản không khiến quốc gia này trở thành một quốc gia theo truyền thống thông luật, nhưng ảnh hưởng của Hoa Kỳ đã làm suy yếu ảnh hưởng của pháp luật Đức và truyền thống pháp luật thành văn trong hệ thống pháp luật Nhật Bản Pháp luật Hoa Kỳ tác động đến hệ thống pháp luật Nhật Bản chủ yếu thông qua hai yếu tố chính: việc tham chiếu hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ và ảnh hưởng của các nguyên tắc pháp luật Mỹ trong quá trình xây dựng pháp luật Nhật Bản.

Hoa Kỳ khi ban hành Hiến pháp mới, sửa chữa luật cũ, soạn thảo luật mới, cải cách

79 Horitsu là tập hợp các bộ luật quan trọng, bao gồm Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Thương mại, Bộ luật Tố tụng dân sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, cùng với các luật liên quan, tạo thành nền tảng pháp lý vững chắc cho hệ thống pháp luật Nhật Bản.

80 Xem các văn bản luật tại http://www.mext.go.jp/b_menu/hakusho/html/others/detail/1317503.htm (truy cập ngày 14/7/2013)

Năm 1921, giáo sư Shigeto Hozumi và Izutaro Suehiro, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Dân luật, đã thành lập nhóm nghiên cứu theo phương pháp tình huống tại Đại học Hoàng gia Tokyo Sáng kiến này đánh dấu bước tiến quan trọng trong phương pháp giảng dạy và nghiên cứu luật ở Nhật Bản, góp phần phát triển lý luận và thực tiễn pháp luật.

Hệ thống pháp luật của đất nước bao gồm cơ cấu tòa án và các quy định pháp luật liên quan Trong quá trình nghiên cứu, các luật gia và nghiên cứu sinh đã rất tích cực trao đổi và học hỏi lẫn nhau giữa hai quốc gia Sau thời kỳ chiếm đóng, Bộ luật Dân sự và Bộ luật Thương mại đã được sửa đổi theo hướng tham khảo pháp luật Hoa Kỳ, phản ánh xu hướng hội nhập pháp lý Các bộ luật như Luật chống độc quyền, Luật doanh nghiệp, Luật thuế thu nhập và Luật lao động cũng chịu ảnh hưởng lớn từ pháp luật Hoa Kỳ, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia.

Áp d ụ ng án l ệ t ạ i Nh ậ t B ả n – kinh nghi ệ m cho Vi ệ t Nam

2.2.1 Thực tiễn áp dụng án lệ tại Nhật Bản

Hệ thống pháp luật Nhật Bản là một hệ thống pháp luật thành văn, trong đó nguồn luật thành văn đóng vai trò nền tảng và chủ yếu Tuy nhiên, do ảnh hưởng của pháp luật Hoa Kỳ và các yếu tố quốc tế, hệ thống pháp luật Nhật Bản ngày càng đa dạng và phong phú hơn Các văn bản pháp luật của Nhật Bản không ngừng được cập nhật để phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế Hệ thống pháp luật Nhật Bản đảm bảo sự ổn định, công bằng và minh bạch trong quá trình điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.

Hiện nay, án lệ đã chính thức được áp dụng trong quá trình xét xử tại Nhật Bản, phản ánh sự tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố từ hệ thống pháp luật Hoa Kỳ để thúc đẩy việc sử dụng án lệ Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng án lệ tại Nhật Bản có nhiều điểm khác biệt so với các quốc gia theo truyền thống luật common law, đặc biệt về cách vận dụng, khả năng thay đổi và nhận thức của thẩm phán đối với các án lệ Những khác biệt này xuất phát từ vai trò chủ đạo của luật thành văn trong hệ thống pháp luật Nhật Bản, dẫn đến sự thiếu vắng nguyên tắc stare decisis và vai trò bổ trợ của án lệ, cùng những hạn chế trong đào tạo thẩm phán trong hệ thống pháp luật thành văn khi tiếp xúc với án lệ.

2.2.1.1 Các trường hợp án lệđược áp dụng

Trong phạm vi nghiên cứu của tác giả, các án lệ chủ yếu là án lệ của Tòa tối cao, phản ánh những quyết định quan trọng có ảnh hưởng đến nhiều vụ việc pháp lý khác nhau Các án lệ này góp phần định hình các chuẩn mực pháp lý và đảm bảo tính thống nhất trong nền tư pháp Việc phân tích các án lệ của Tòa tối cao giúp làm rõ các nguyên tắc pháp lý cốt lõi và hướng dẫn thực thi pháp luật một cách công bằng, minh bạch.

98 Ông là giáo sƣ Luật tại Đại học Bang New York, Plattsburgh

99 Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court (Vai trò của án lệ trong Tòa tối cao Nhật Bản), Washington University Law Review, Vol.88, (2011), tr 1633

Các án lệ có ảnh hưởng khác nhau tùy thuộc vào thời gian tồn tại và mức độ ảnh hưởng của chúng Những án lệ tồn tại trên 20 năm thường có tầm ảnh hưởng lớn hơn, trong khi những án lệ chỉ ảnh hưởng trong một vài năm Đôi khi, Toà tối cao căn cứ vào án lệ để đưa ra quyết định, nhưng vẫn bỏ qua các cách giải thích pháp luật khác của các toà án cấp thấp, nhằm duy trì sự nhất quán trong việc áp dụng pháp luật.

Các vụ việc sử dụng tiêu chí mục đích-hậu quả để đánh giá tính vi hiến của hành vi công đã thể hiện rõ ảnh hưởng của án lệ do Tòa tối cao tuyên Án lệ “Lễ động thổ ở thành phố Tsu” (1977) đã được áp dụng liên tục trong các vụ việc từ năm 1988 đến 1999, cho thấy xu hướng tuân thủ các giải thích luật của Tòa tối cao qua nhiều giai đoạn Trong quá trình này, 3 trên 4 vụ (trừ năm 1997) đều cho kết quả hành vi công không vi phạm các tiêu chí mục đích-hậu quả, do đó không vi hiến Việc lặp lại này phản ánh cách tiếp cận pháp lý nhất quán của Tòa tối cao trong việc áp dụng án lệ nhằm đảm bảo sự thống nhất trong xét xử các vụ liên quan đến tính vi hiến.

Trong vụ Yoshioka v Japan 100, Tòa tối cao đã thể hiện rõ sự tuân thủ các án lệ trước đó trong cách giải thích luật, đặc biệt về việc xem xét pháp lý đối với bào thai Mặc dù các tòa cấp thấp đều cho rằng bào thai sắp sinh không nên được coi là một “cá nhân”, Tòa tối cao lại xác định rằng bào thai là một phần của cơ thể người mẹ, và việc gây thương tích vô ý cho bào thai đồng nghĩa với việc gây tổn thương đến cơ thể người mẹ, tức là một “cá nhân” Chính cách lập luận này đã minh chứng cho việc Tòa tối cao thường xuyên dựa vào án lệ trước đó để duy trì sự nhất quán trong việc giải thích pháp luật liên quan đến các vấn đề pháp lý phức tạp về sinh học và quyền con người.

100 Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr 1643

43 tội vô ý gây thương tổn này chuyển hóa thành tội vô ý giết người khi bào thai được sinh ra, cũng là một “cá nhân”

Tòa tối cao đôi khi vẫn áp dụng án lệ nếu tình tiết vụ việc sau có sự khác biệt không lớn với án lệ ban đầu Trong vụ Japan Railroad Corp v Ikeoka (1979), Tòa tuyên bố rằng Hiệp hội người lao động ngành đường sắt đã xâm phạm quyền sở hữu tủ chứa đồ của nhân viên khi dán tờ bướm lên đó, mặc dù trong vụ năm 1988, nguyên đơn không phải là nhân viên ngành đường sắt mà là công nhân của công ty tư nhân, và vai trò của tủ chứa đồ không còn thiết yếu như trước Tuy nhiên, Tòa vẫn quyết định tuân thủ án lệ cũ vì các tình tiết vẫn tương tự Có những án lệ từng được Tòa tối cao tuân thủ trong thời gian dài rồi sau đó bị thay đổi, ví dụ như vụ đình công trái phép của nhân viên bưu chính trung tâm Tokyo năm 1966, Tòa ra phán quyết rằng lãnh đạo hội lao động chỉ bị kết án hình sự nếu đình công không mục đích chính đáng, có bạo lực hoặc kéo dài quá mức cần thiết Phán quyết này trở thành án lệ và được áp dụng trong các vụ đình công trái phép năm 1969, nhưng vào năm 1973, Tòa tối cao đã không còn tuân thủ án lệ này nữa.

101 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr 1677

44 xét xử vụ việc “Nhân viên lâm nghiệp và nông nghiệp nhà nước đình công trái phép”

2.2.1.2 Các trường hợp án lệkhông được áp dụng

Trong các trường hợp án lệ không được áp dụng, có cả những án lệ bị thay đổi âm thầm, không công khai Ngay cả khi án lệ bị công khai sửa đổi, thường không ghi rõ lý do vì sao án lệ cũ không còn phù hợp Chủ thể thay đổi án lệ chủ yếu là Tòa án tối cao, nhưng thực tế các tòa cấp thấp cũng đôi khi không tuân thủ án lệ một cách chính thức Việc thay đổi hoặc không tuân thủ án lệ ảnh hưởng đáng kể đến tính consistency và hiệu lực của pháp luật.

Trong quá trình xét xử vụ việc "Nhân viên lâm nghiệp và nông nghiệp nhà nước đình công trái phép" năm 1973, Tòa tối cao không tuân thủ án lệ "Nhân viên bưu chính bưu điện trung tâm Tokyo đình công trái phép" năm 1966, cho thấy án lệ đã bị thay đổi Khác với thái độ ôn hòa đối với hoạt động đình công trái phép trong án lệ năm 1966, Tòa tối cao đã có phản ứng cứng rắn hơn khi xét xử vụ việc năm 1973, phản ánh sự điều chỉnh về quan điểm pháp lý của tòa án qua các thời kỳ.

Năm 1973, Tuyên bố nhấn mạnh rằng việc các nhân viên công vụ đình công phản đối tính chất “công sự” của công việc và gây ảnh hưởng lớn đến xã hội do làm gián đoạn các dịch vụ công, là điều không phù hợp Dù cuộc đình công có mục đích chính đáng, không bạo lực và không kéo dài quá mức cần thiết, Tòa tối cao vẫn giữ nguyên hình phạt hình sự đối với các lãnh đạo hiệp hội lao động kêu gọi đình công trái phép, phản ánh quan điểm cứng rắn về việc tuân thủ án phạt trong các trường hợp đình công trái quy định.

102 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr 1678

Việc thay đổi án lệ năm 1966 đã gây tranh cãi trong Hội đồng lớn và trong dư luận Đôi khi, Tòa tối cao thay đổi án lệ mà không trình bày rõ lý do tại sao án lệ cũ không còn phù hợp, như trong vụ án “Sung công tài sản của bên thứ ba” (1962) Trong vụ án này, bị đơn cho rằng việc nhà nước sung công tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thứ ba do bị đơn chiếm hữu là hành vi vi hiến, nhất quán với án lệ năm 1960 quy định rằng bị đơn không được viện dẫn xâm phạm quyền của bên thứ ba để coi hành vi công là vi hiến Tuy nhiên, trong vụ án 1962, Tòa tối cao không tuân thủ án lệ cũ và cũng không trình bày lý do tại sao án lệ này không còn phù hợp Thay vào đó, Tòa đưa ra lập luận mới rằng lệnh sung công đã tước quyền chiếm giữ của bị đơn và bị đơn có thể yêu cầu bồi thường từ bên thứ ba, nên có quyền không chấp nhận lệnh sung công.

Vụ án Aizawa v Japan năm 1973 là một vụ việc thay đổi án lệ quan trọng và nhạy cảm, trong đó bị cáo phạm tội giết cha ruột của mình Vụ án này đã có tác động đáng kể đến hệ thống pháp luật Nhật Bản và nhận được sự chú ý lớn của công chúng và giới luật sư Nhờ vào tính chất đặc biệt của vụ án, nó đã thúc đẩy các cuộc tranh luận về trách nhiệm đạo đức và pháp lý đối với các hành vi phạm tội liên quan đến người thân Aizawa v Japan đã trở thành một ví dụ điển hình trong việc đánh đổi giữa các giá trị pháp luật và đạo đức trong hệ thống pháp luật Nhật Bản.

Bộ luật Hình sự quy định rõ ràng rằng tội giết người thân có khung hình phạt cao hơn so với tội giết người bình thường, từ tù chung thân đến tử hình Các tình tiết giảm nhẹ không thể giảm án xuống dưới mức ba năm tù giam, nhằm đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật Trong một án lệ trước đó (1950), Tòa án đã đưa ra các quyết định phù hợp với quy định này để củng cố nguyên tắc xử lý các hành vi phạm tội liên quan đến người thân.

103 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr 1679

104 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr 1673

105 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr 1674

Trong vụ án Aizawa v Japan, Tòa tối cao đã bác bỏ quy định của Bộ luật Hình sự quy định mức án thấp hơn chỉ vì sự phân biệt giữa “giết người thân” và “giết người” là vô lý Tòa tối cao công khai tuyên bố quy định này là vi hiến và không áp dụng như án lệ trước đó, thể hiện sự thay đổi rõ rệt trong tiền lệ pháp lý Việc này được giải thích do Tòa nhận thấy án lệ cũ mang tính "ngặt nghèo" và cần được điều chỉnh phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.

Trong một số vụ việc, Tòa tối cao không công khai thay đổi án lệ nhưng đã đưa ra những phán quyết không còn phù hợp hoặc không thống nhất với án lệ trước đó, thể hiện sự điều chỉnh linh hoạt của hệ thống tư pháp Ví dụ tiêu biểu là các vụ việc liên quan đến quy định trình diễn tại nơi công cộng, như "Sắc lệnh trị an Tokyo" năm 1960, cho thấy những thay đổi trong chính sách pháp luật phù hợp với thực tiễn và quan điểm xã hội Điều này nhấn mạnh vai trò của Tòa tối cao trong việc cập nhật và điều chỉnh pháp luật để phù hợp với bối cảnh mới.

Ngày đăng: 15/08/2023, 07:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Michael Bogdan, Lu ậ t so sánh, Kluwer Law & Taxation (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật so sánh
3. Rene David, Nh ữ ng h ệ th ố ng pháp lu ậ t chính trong th ế gi ới đương đạ i, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh (2003)
4. Đỗ Thành Trung, Án l ệ và v ấn đề th ừ a nh ậ n án l ệ ở Vi ệ t Nam hi ệ n nay, luận văn thạc sĩ, (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệở Việt Nam hiện nay
5. Phạm Thị Duyên Thảo, Gi ả i thích pháp lu ậ t ở Vi ệ t Nam hi ệ n nay, luận văn ti ến sĩ, (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay
6. Hoàng Kỳ, “Vấn đề cơ bả n v ề “Phát triể n án l ệ” ở Vi ệt Nam”, Tạp chí tòa án nhân dân, số 01/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đềcơ bản về“Phát triển án lệ” ở Việt Nam”
1. Code of criminal procedure of Japan (1948) 2. Court Act of Japan (1947)*Sách, lu ận văn, bài viế t trên các t ạ p chí chuyên ngành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Code of criminal procedure of Japan
Năm: 1948
3. Ngô Kim Hoàng Nguyên, Making and applying case law in Viet Nam legal system, luận văn thạc sĩ (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Making and applying case law in Viet Nam legal system
4. Mary Garvey Algero, The Sources of Law and the Value of Precedent, Lousiana Law Review, Vol.65, (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Sources of Law and the Value of Precedent
5. Lynn Berat, The role of conciliation in Japanese legal, American University International Law Review, Vol.8, (1992) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of conciliation in Japanese legal
6. Akiko Ejima, The enigmatic attitude of the Supreme Court of Japan toward foreign precedents, Meiji Law Journal, Vol.16 (2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The enigmatic attitude of the Supreme Court of Japan toward foreign precedents
7. Vincy Fon, Francesco Parisi, Judicial precedents in civil law systems: A dynamic analysis, Vol.26, (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Judicial precedents in civil law systems: A dynamic analysis
8. Elliott J. Hahn., An overview of Japanese legal system, Northwestern Journal of International Law & Business, Vol.5, (1983) Sách, tạp chí
Tiêu đề: An overview of Japanese legal system
9. John Hanna, The Role of Precedent in Judicial Decision, Villanova Law Review, Vol.2, (1957) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Role of Precedent in Judicial Decision
10. Aizawa Hisashi, Japanese legal education in transition (Đào tạo luật tại Nhật Bản đang chuyển mình), Wisconsin International Law Journal, Vol.24, (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japanese legal education in transition
11. Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court , Washington University Law Review, Vol.88, (2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court
12. Beer Lawrence, Constitutional Revolution in Japanese Law Society and Politics, Modern Asian Studies, Vol.16, (1982) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Constitutional Revolution in Japanese Law Society and Politic
13. H.K Lucke, Ratio Decidendi: Adjudicative Rational and Source of Law, Bond law review, Vol.1, (1989) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ratio Decidendi: Adjudicative Rational and Source of Law
14. Shigenori Matsui, Why is the Japanese court so conservative?, Washington University Law Review, Vol.88, (2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why is the Japanese court so conservative
15. Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, Washington University Law Review, Vol. 88, (2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent
16. J. L. Montrose, Ratio decidendi and the House of Lords, The Modern Law Review, Vol.20, (1957) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ratio decidendi and the House of Lords

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ ĐÀO TẠO NGHỀ LUẬT CHÍNH QUY TẠI NHẬT BẢN - Tiếp nhận án lệ trong hệ thống pháp luật thành văn kinh nghiệm từ nhật bản
SƠ ĐỒ ĐÀO TẠO NGHỀ LUẬT CHÍNH QUY TẠI NHẬT BẢN (Trang 74)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w