1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của người bệnh đột quỵ não giai đoạn cấp tại khoa thần kinh bệnh viện bạch mai

79 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của người bệnh đột quỵ não giai đoạn cấp tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai
Tác giả Lê Thị Thu Huyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Tuận
Trường học Trường Đại học Phenikaa
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ điều dưỡng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA--- LÊ THỊ THU HUYỀN NHU CẦU CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO GIAI ĐOẠN CẤP TẠI KHOA THẦN KINH BỆNH VIỆN BẠCH MAI LUẬN VĂN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA

-

LÊ THỊ THU HUYỀN

NHU CẦU CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO GIAI ĐOẠN CẤP TẠI KHOA THẦN KINH BỆNH VIỆN BẠCH MAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG

HÀ NỘI - 2022

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA

LÊ THỊ THU HUYỀN

NHU CẦU CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO GIAI ĐOẠN CẤP TẠI KHOA THẦN KINH BỆNH VIỆN BẠCH MAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo Trường Đại Học Phenikaa đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Tuận - Người Thầy đã giành tất cả tâm huyết, trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn một cách tốt

nhất

Tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp nơi tôi đang làm việc đã luôn động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân thành cám ơn tập thể Lãnh đạo, quản lý và cán bộ viên chức của KHOAThần Kinh – Bệnh viện Bạch Mai đã hết lòng giúp đỡ, tích cực tham gia nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thu thập số liệu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các bạn học, gia đình và bạn bè của tôi, những người đã luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu được tiến hành nghiêm túc, các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 2022

Học viên

Lê Thị Thu Huyền

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về đột quỵ não 3

1.2 Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của NB đột quỵ não 6

1.3 Một số đề tài nghiên cứu trong nước và trên Thế giới 10

1.4 Học thuyết điều dưỡng và ứng dụng 14

1.5 Vài nét về cơ sở nghiên cứu 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu 20

2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

2.3 Biến số trong nghiên cứu 21

2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 23

2.5 Tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu 23

2.6 Phân tích số liệu 25

2.7 Sai số và các biện pháp khống chế sai số 25

2.8 Phạm vi của nghiên cứu 26

2.9 Đạo đức nghiên cứu 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của người bệnh đột quỵ não giai đoạn cấp tại KHOAthần kinh – Bệnh viện Bạch Mai năm 2021 27

3.2 Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc thể chất của người bệnh 37

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 42

4.1 Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của người bệnh đột quỵ não giai đoạn cấp tại KHOAthần kinh – Bệnh viện Bạch Mai năm 2021 42

4.2 Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc thể chất của người bệnh đột quỵ não 49

4.3 Hạn chế trong nghiên cứu 52

KẾT LUẬN 53

KHUYẾN NGHỊ 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

ĐQN : Đột quỵ não

NB : Người bệnh

PHCN: Phục hồi chức năng

WHO : Tổ chức Y tế Thế giới - World Health Organization

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin cơ bản về người bệnh nghiên cứu 27

Bảng 3.2 Đặc điểm về trình độ học vấn của người bệnh 27

Bảng 3.3 Đặc điểm về nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 28

Bảng 3.4 Thông tin về tiền sử bệnh tật của người bệnh 29

Bảng 3.5 Đặc điểm triệu chứng lâm sàng của người bệnh 29

Bảng 3.6 Đánh giá tình trạng cơ lực của người bệnh 30

Bảng 3.7 Điểm trung bình từng nhóm hoạt động của thang điểm Barthel Index theo giới tính (n= 160) 31

Bảng 3.8 Điểm trung bình từng nhóm hoạt động của thang điểm Barthel Index theo nhóm tuổi (n= 160) 32

Bảng 3.9 Điểm trung bình Barthel của người bệnh (n= 160) 32

Bảng 3.10: Tỷ lệ mức độ phụ thuộc về thể chất dựa vào thang điểm Barthel Index theo giới tính (n=160) 33

Bảng 3.11: Tỷ lệ mức độ phụ thuộc về thể chất dựa vào thang điểm Barthel Index theo nhóm tuổi (n=160) 33

Bảng 3.12: Đánh giá nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của người bệnh theo một số đặc điểm chung (n=160) 34

Bảng 3.13: Đánh giá nhu cầu chăm sóc điều dưỡng theo tiền sử bệnh tật và đặc điểm lâm sàng của người bệnh (n=160) 35

Bảng 3.14: Đánh giá nhu cầu chăm sóc điều dưỡng theo tình trạng cơ lực của người bệnh (n=160) 36

Bảng 3.15: Sự khác biệt về đặc điểm nhân khẩu học với điểm mức độ phụ thuộc thể chất của người bệnh (n=160) 37

Bảng 3.16 Sự khác biệt về tiền sử bệnh với điểm mức độ phụ thuộc thể chất của người bệnh (n=160) 37

Bảng 3.17 Sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng với điểm mức độ phụ thuộc thể chất của người bệnh (n=160) 38

Bảng 3.18: Liên quan giữa một số đặc điểm cá nhân đến nhu cầu chăm sóc cao của người bệnh (n=160) 38 Bảng 3.19: Liên quan giữa tiền sử bệnh đến nhu cầu chăm sóc cao của người bệnh Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 8

(n=160) 39 Bảng 3.20: Liên quan giữa đặc điểm lâm sàng đến nhu cầu chăm sóc cao của người bệnh (n=160) 39 Bảng 3.21: Liên quan giữa tình trạng cơ lực với nhu cầu chăm sóc cao của người bệnh (n=160) 40 Bảng 3.22: Liên quan đa biến giữa một số yếu tố đến nhu cầu chăm sóc cao của người bệnh (n=160) 41

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Các đặc điểm về tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 28

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Đặt vấn đề: Đột quỵ não (ĐQN) luôn luôn là vấn đề thời sự ở tất cả các quốc

gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam Bệnh có tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao, ảnh hưởng nhiều đến kinh tế xã hội Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ

lệ tử vong do đột quỵ não chiếm vị trí hàng đầu trong các bệnh thần kinh Các nghiên cứu về quá trình hỗ trợ chăm sóc và phục hồi chức năng sau ĐQN cho người bệnh tại cơ sở phục hồi chức năng, tại gia đình và cộng đồng đã được tiến hành trước đây Vai trò quan trọng của điều dưỡng trong thành phần đội cấp cứu đột quỵ, trong việc chăm sóc đột quỵ để đánh giá chức năng nuốt, sàng lọc dinh dưỡng, theo dõi lượng nước tiểu tồn đọng, tuân thủ thuốc men và quan tâm đến yếu tố tâm thần

mà nó có thể ảnh hưởng đến sự hồi phục trong đột quỵ cấp Tuy nhiên, nghiên cứu

về nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng của người bệnh ở giai đoạn cấp điều trị tại bệnh viện còn ít được chú ý Do đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với 2

mục tiêu sau:

1) Đánh giá nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của người bệnh đột quỵ não giai đoạn cấp tại KHOAthần kinh – Bệnh viện Bạch Mai năm 2021

2) Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của người bệnh

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu dịch tễ học mô tả thông qua cuộc điều tra cắt ngang

- Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh được chẩn đoán đột quỵ não giai đoạn cấp tính, được điều trị nội trú tại KHOAthần kinh Bệnh viện Bạch Mai

Kết quả: Điểm Barthel trung bình là 44,01 ± 29,90 điểm Tỷ lệ hoàn toàn

phụ thuộc về thể chất chiếm 25,0% Tỷ lệ NB có nhu cầu chăm sóc cao chiếm 61,8% Có sự khác biệt về điểm mức độ phụ thuộc trung bình của người bệnh với tiền sử bệnh đột quỵ não, tiền sử bệnh lý hô hấp, tình trạng liệt hay nuốt khó của người bệnh Mô hình phân tích đa biến cho thấy người có tiền sử đột quỵ não có khả năng có nhu cầu chăm sóc cao nhiều gấp 6,043 lần so với người chưa từng mắc vấn

đề này (95%CI 1,701-21,470) Người có tình trạng liệt có khả năng có nhu cầu chăm sóc cao nhiều gấp 9,016 lần so với người không có liệt

Kết luận: Nên có các giải pháp tăng cường công tác truyền thông – giáo dục

sức khỏe về các yếu tố nguy cơ gây ra đột quỵ não để người dân có các kế hoạch phòng ngừa phù hợp Có các biện pháp chăm sóc điều dưỡng và can thiệp phục hồi chức năng sớm, phù hợp và cần tăng cường vai trò của các nhân viên y tế tại cộng đồng cũng như người chăm sóc

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỵ não (ĐQN) luôn luôn là vấn đề thời sự ở tất cả các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam Bệnh có tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao, ảnh hưởng nhiều đến kinh tế xã hội Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ tử vong

do đột quỵ não chiếm vị trí hàng đầu trong các bệnh thần kinh và là nguyên nhân tử vong thứ ba sau các bệnh ung thư và tim mạch [1] Đặc biệt ĐQN đã gây về thiệt hại rất lớn về kinh tế, xã hội và để lại di chứng thần kinh nặng nề, gây tàn phế cho người bệnh Tại Hoa Kỳ, khoảng 1/3 bệnh nhân tử vong trong vòng 30 ngày và 1/3 bị tàn tật vĩnh viễn, 50% giảm khả năng vận động do liệt nửa người Nó gây ra gánh nặng kinh tế mỗi năm hơn 50 tỷ USD tại Hoa Kỳ và hơn 3 tỷ USD tại Canada [37], [49] Tại Việt Nam, hơn 200.000 người bị ĐQN mỗi năm dẫn tới 11.000 người tử vong Năm 2013, khoảng 1,5 triệu người Việt Nam (chiếm 1,6% dân số) chịu hậu quả di chứng của ĐQN [28]

Người bệnh ĐQN thường có di chứng như liệt nửa người, nói khó, loét vùng cùng cụt, sa sút trí tuệ, do đó người bệnh thường phải phụ thuộc nhiều vào sự chăm sóc của nhân viên y tế và gia đình [44] Các nghiên cứu về quá trình hỗ trợ chăm sóc và phục hồi chức năng sau ĐQN cho người bệnh tại cơ sở phục hồi chức năng, tại gia đình và cộng đồng đã được tiến hành trước đây [38], [21] Vai trò quan trọng của điều dưỡng trong thành phần đội cấp cứu đột quỵ, trong việc chăm sóc đột quỵ

để đánh giá chức năng nuốt, sàng lọc dinh dưỡng, theo dõi lượng nước tiểu tồn đọng, tuân thủ thuốc men và quan tâm đến yếu tố tâm thần mà nó có thể ảnh hưởng đến sự hồi phục trong đột quỵ cấp [51]

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào giai đoạn chăm sóc phục hồi chức năng lâu dài sau khi xuất viện của người bệnh ĐQN Bệnh nhân được chăm sóc chuyên biệt về đột quỵ có kết quả tốt hơn (theo thống kê ở nước Anh năm 2016), 17% đến 28% giảm tử vong, tăng 7% khả năng sống tại nhà và giảm 5% thời gian lưu trú [41] Nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng của người bệnh ở giai đoạn cấp điều trị tại bệnh viện còn ít được chú ý Do đó, chúng

tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu về “Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 11

người bệnh đột quỵ não giai đoạn cấp tại KHOAThần kinh Bệnh viện Bạch Mai”, với hai mục tiêu sau:

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan về đột quỵ não

1.1.1 Định nghĩa

- Định nghĩa đột quỵ não: Đột quỵ não còn gọi là tai biến mạch máu não, là

các thiếu sót về chức năng thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn

là lan tỏa Các triệu trứng tồn tại quá 24 giờ hoặc người bệnh tử vong trong 24 giờ, loại trừ nguyên nhân sang chấn sọ não [16]

1.1.2 Phân loại

Đột quỵ não gồm 2 thể chính:

- Thiếu máu cục bộ hay nhồi máu não: xảy ra khi một mạch máu bị tắc, nghẽn, khu vực não tưới bởi mạch máu đó bị thiếu máu và hoại tử Thiếu máu cục bộ não chiếm khoảng 80-85% các tai biến mạch máu não Nguyên nhân chủ yếu là: xơ vữa mạch ở người lớn tuổi (phổ biến nhất), huyết áp cao, bệnh tim loạn nhịp, hẹp hai lá, viêm nội tâm mạch bán cấp, các dị dạng mạch máu não: phình động mạch, thông động - tĩnh mạch

- Xuất huyết não (chảy máu não): xảy ra khi máu thoát khỏi thành mạch vào nhu mô não Xuất huyết não chiếm tỉ lệ 15-20% các tai biến mạch máu não Nguyên nhân chủ yếu là: huyết áp cao, xơ vữa mạch ở người lớn tuổi, dị dạng mạch máu não ở người trẻ

Ngoài ra còn có ĐQN thể chảy máu dưới nhện với tỷ lệ mắc thấp hơn

1.1.3 Biểu hiện lâm sàng của ĐQN

ĐQN có nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau tùy theo nguyên nhân và mức

đoạn:

Giai đoạn khởi phát: các triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện đột ngột và có thể rối loạn ý thức Một số trường hợp bắt đầu bằng đau đầu đầu dữ dội, ý thức giảm, sau 1-2 giờ chuyển sang giai đoạn toàn phát

Giai đoạn toàn phát: do có những tổn thương thực thể của hệ thần kinh nên người bệnh có những triệu chứng sau:

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 13

- Rối loạn ý thức: tinh thần lơ mơ, u ám, bán hôn mê , hôn mê sâu

- Rối loạn ngôn ngữ: nói khó hoặc không nói được

- Rối loạn cơ tròn: đại, tiểu tiện không tự chủ

- Rối loạn bó tháp: liệt nửa người do tổn thương não bên đối diện

- Rối loạn thần kinh thực vật và rối loạn trung tâm điều hòa nhiệt: vã mồ hôi, tăng tiết đờm dãi, sốt cao hoặc hạ thân nhiệt, rối loạn nhịp tim, huyết áp dao động

- Dấu hiệu tổn thương dây thần kinh sọ não: liệt dây thần kinh VII trung ương hoặc ngoại biên, mờ mắt, nuốt sặc, có thể giãn đồng tử…

- Dấu hiệu màng não: cổ cứng (+), Kernig (+)

1.1.4 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của ĐQN

Theo WHO, có nhiều nguyên nhân gây ra ĐQN, các nguyên nhân đứng hàng đầu là xơ vữa động mạch, tăng huyết áp và nghẽn mạch do huyết khối từ tim lên, các bệnh gây rối loạn đông máu và một số bệnh nội khoa khác [52]

Các yếu tố nguy cơ của ĐQN gồm: các yếu tố không thay đổi được như độ tuổi, giới tính, chủng tộc, tiền sử gia đình, điều kiện địa lý và các yếu tố thay đổi được như hút thuốc lá, bệnh tiểu đường, sử dụng các chất gây nghiện, các tổn thương

về tinh thần Theo Nguyễn Văn Triệu, tại ba bệnh viện tỉnh Hải Dương, các yếu tố nguy cơ gặp trên NB ĐQN là: tăng huyết áp tâm thu 75,7%, tăng huyết áp tâm trương 71,2%, tăng đường máu 27%, bệnh tim 6,5%, tăng Cholesterol máu 5,9%, béo phì 1,8%, uống rượu 1,8% [31] Theo nghiên cứu thống kê trong 5 năm tại bệnh viện Lão khoa Trung ương, người bệnh ĐQN gặp các yếu tố nguy cơ sau: 79,1% tăng huyết

áp, 60,4% có rối loạn lipid máu, 11,9% đái tháo đường, 18,8% có tiền sử ĐQN 1.1.4 Phân giai đoạn theo tiến triển của đột quỵ não

Theo Bernhardt, đột quỵ não được chia thành 5 giai đoạn [36]:

- ĐQN tối cấp 0 – 24 h

- ĐQN giai đoạn cấp 1 – 7 ngày

- ĐQN giai đoạn bán cấp sớm 7 ngày- 3 tháng

- ĐQN giai đoạn bán cấp muộn 3 tháng – 6 tháng

- ĐQN mạn tính từ 6 tháng trở lên

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 14

1.1.5 Di chứng và biến chứng của ĐQN

1.1.5.1 Di chứng

ĐQN là bệnh lý nặng nề, diễn biến phức tạp Bên cạnh việc gây tỷ lệ tử vong cao, người bệnh sống sót cũng để lại nhiều di chứng, suy giảm chức năng và tàn tật gây ảnh hưởng lớn cho xã hội, gia đình và chính bản thân người bệnh Chi phí cho ĐQN vô cùng lớn, ước tính tại Hoa Kỳ mỗi năm, ĐQN gây gánh nặng cho nền kinh

tế lên tới 7 tỷ USD [48]

ĐQN là một trong các bệnh lý thần kinh để lại di chứng nặng nề nhất Theo Gresham, 17% NB có từ hai loại di chứng trở lên, 71% suy giảm chức năng lao động, 62% suy giảm các hoạt động xã hội, 51% phụ thuộc về vận động và tự chăm sóc, 38% suy giảm chức năng giao tiếp[18]

Theo Trần Văn Chương và cộng sự di chứng về vận động do TBMMN chiếm

tỉ lệ cao, co rút gấp mặt lòng cổ tay chiếm 87.90%, co rút gân gót bên liệt chiếm 93.60%, quay sấp cẳng tay bên liệt chiếm 73.40%, khớp háng bên liệt không gấp khi đi bình thường chiếm 90.30% [18]

Theo thống kê của Hội phòng chống tai biến mạch máu não thì trong 50% người bệnh sống sau tai biến thì có tới 90% người bị mắc các di chứng về vận động

và thần kinh Trong đó những di chứng như rối loạn về nhận thức, ngôn ngữ hay thị giác, liệt vận động và rối loạn cơ tròn là thường gặp nhất

1.1.5.2 Các biến chứng thường gặp

• Loét do đè ép:

Loét hình thành trên tổ chức gần xương của cơ thể khi người bệnh nằm hoặc ngồi lâu ép lên vùng đó Người bệnh ĐQN đa phần bị liệt nửa người nên thường ít thay đổi được tư thế, nằm bất động lâu ngày, vì vậy loét ép rất dễ xảy ra

Ngoài ra trên những người bệnh này, khả năng vệ sinh kém (nhất là những người bệnh đại tiện không tự chủ), dinh dưỡng không đảm bảo càng tạo điều kiện cho loét xuất hiện Các vị trí hay gặp đối với loét là: xương cùng cụt, chẩm, mấu chuyển lớn, vùng ụ ngồi, xương gót chân, khuỷu tay, gáy, mắt cá chân

• Teo cơ:

Hiện tượng teo cơ xuất hiện do người bệnh nằm lâu hoặc do mất thần kinh chi phối Đối với người bệnh ĐQN, người bệnh phải tập co cơ chủ động để tránh teo cơ Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 15

Những NB liệt hoàn toàn thì việc tập vận động thụ động chỉ giúp duy trì độ dài của cơ và tránh kết dính khớp Đề phòng teo cơ có hiệu quả có thể phải kích thích bằng dòng điện

• Cứng khớp

Tình trạng co ngắn cơ và mô mềm làm hạn chế tầm vận động của khớp, gây ra biến dạng khớp ở tình trạng gấp hoặc duỗi xoay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vận động đi lại cũng như việc thực hiện các hoạt động tự chăm sóc hàng ngày của

NB Thông thường, sau 6 tuần bất động thì có tới 70% NB bị cứng khớp Vì vậy, cần phải tập luyện càng sớm càng tốt để tránh cứng khớp cho NB

• Nhiễm trùng

NB ĐQN thường gặp hai loại nhiễm trùng Nhiễm trùng phổi do nằm lâu, người bệnh không có khả năng khạc nhổ gây ứ đọng đờm dãi Đặc biệt, NB có rối loạn tri giác cần đặt ống nội khí quản cũng là một yếu tố nguy cơ gây viêm phổi Nhiễm trùng tiết niệu do NB nằm lâu và có rối loạn cơ tròn phải đặt sonde tiểu Việc chăm sóc sẽ giúp hạn chế tỷ lệ nhiễm trùng

đột quỵ (PSDem), có thể xuất hiện đồng thời với các rối loạn tâm thần thực tổn

1.2 Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của NB đột quỵ não

1.2.1 Nhu cầu của con người

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người

có những nhu cầu khác nhau

Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao [40]

- Nhu cầu cơ bản của con người là những mong muốn thiết yếu như: có đủ Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 16

thức ăn, nước uống và được nghỉ ngơi Những nhu cầu này đều là các vấn đề không thể thiếu hụt trong cuộc sống Nếu không được đáp ứng đủ những điều này, con người sẽ không tồn tại Do vậy họ sẽ đấu tranh để có được sự thỏa mãn về các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống hàng ngày

- Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân

Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý so với những nhu cầu bậc cao Với một người bất kỳ, nếu thiếu những nhu cầu về: ăn, uống, họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về làm đẹp, được tôn trọng Tuy nhiên, tuỳ theo nhận thức, kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo thứ tự

1.2.2 Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của NB đột quỵ não

Khi vào viện, NB ĐQN thể nhồi máu có liệt vận động chưa thể tự phục vụ nên gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt Mức độ di chứng phụ thuộc vào tình trạng bệnh và đặc biệt là công tác chăm sóc phục hồi chức năng cho NB Chăm sóc tốt, đúng thể bệnh, đúng phương pháp theo một quy trình chuẩn sẽ giúp NB phục

hồi tốt nhất, hạn chế tối đa di chứng và biến chứng

Chăm sóc điều dưỡng là hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi NB nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho NB [3] Như vậy, hoạt động chăm sóc chủ yếu là “đáp ứng và hỗ trợ” các nhu cầu mà NB không thể tự thực hiện, tự đảm bảo được Điều dưỡng thực hiện lượng giá điều dưỡng toàn diện và giúp xử lý các vấn đề liên quan đến chăm sóc người bệnh đột quỵ bao gồm theo dõi người bệnh, nuốt, di chuyển, kiểm soát tiểu tiện, chăm sóc da/loét ép, kiểm soát đau và phòng ngừa các biến chứng Các điều dưỡng cũng thực hiện chăm sóc người bệnh nội trú 24 giờ, và hỗ trợ phối hợp chăm sóc, nâng đỡ, lập kế hoạch xuất viện và giáo dục Người bệnh/gia đình/người chăm sóc Điều dưỡng có thể thực hiện chăm sóc đột quỵ chuyên khoa trong giai đoạn cấp tính, giai đoạn PHCN và ở cộng đồng

NB đột quỵ não thường gặp những rối loạn về tri giác và các dấu hiệu sinh tồn cùng với liệt vận động Vì vậy, NB đột quỵ não cần những chăm sóc để đảm bảo tư Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 17

thế đúng, chăm sóc hô hấp, chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc cơ xương khớp, chăm sóc đại tiện, chăm sóc tiết niệu, chăm sóc loét và phòng chống loét Để đảm bảo về

tư thế, NB không có khả năng tự lăn trở cần được giúp thay đổi tư thế nằm thường xuyên và đặt tư thế đúng Về hô hấp, NB cần được đảm bảo đường thở thông thoáng, phòng tránh nhiễm trùng bằng vỗ rung, hút đờm, thay đổi tư thế thường xuyên, chăm sóc ống nội khí quản/mở khí quản (nếu được thông khí xâm nhập) NB đột quỵ não có thể không tự xúc ăn, không tự vệ sinh miệng sau ăn, những NB này cần được hỗ trợ Nếu NB phải ăn qua ống thông hoặc đường tĩnh mạch do liệt hầu họng, NB cần được bơm ăn qua ống thông an toàn, vệ sinh ống thông, hoặc thực hiện truyền dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch

Về cơ xương khớp, những NB liệt vận động cần được tập vận động thụ động, chủ động có hỗ trợ để tránh teo cơ, cứng khớp NB cũng cần tập ngồi, đi, đứng nếu

có thể để tăng cường vận động

NB đột quỵ não có thể gặp táo bón, tiêu chảy hoặc đại tiện không tự chủ Những NB này cần giúp đại tiện được, hoặc thu gom phân và vệ sinh sau đại tiện Những rối loạn tiểu tiện gặp phải của NB đột quỵ não là bí tiểu hoặc tiểu không tự chủ NB bí tiểu có thể được chỉ định đặt thông tiểu lưu/ngắt quãng, họ cần được đặt ống thông, vệ sinh ống thông, theo dõi thông tiểu NB tiểu không tự chủ cần được thu gom nước tiểu bằng các biện pháp khác như đóng bỉm, dùng chụp dương vật, lót vải, miếng thấm Các NB này cần được thay bỉm, chụp dương vật, miếng lót Ngoài ra, tất cả các NB không tự vệ sinh được bộ phận sinh dục (bao gồm cả các

NB rối loạn tiểu tiện) cần được vệ sinh bộ phận sinh dục để phòng nhiễm khuẩn tiết niệu Cung cấp đủ dịch cho NB cũng giúp hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu

NB không tự thay đổi được tư thế, nằm lâu có nguy cơ bị loét Họ cần được chăm sóc phòng loét bằng lăn trở, nằm đệm chống loét hay chêm lót vùng tì đè, xoa bóp vùng tì đè, thay quần áo bẩn, vệ sinh đáy chậu sau đại tiểu tiện, giữ da khô và sạch

Chăm sóc điều dưỡng là điều cần thiết để kiểm soát đột quỵ trong thời gian nằm viện và trong nhiều trường hợp, sau khi xuất viện tốt Nghiên cứu cho thấy chăm sóc toàn diện trong 4 tuần đầu tiên sau đột quỵ giúp cải thiện tỷ lệ bệnh tật và

tử vong nói chung Trong suốt quá trình hồi phục, nhu cầu của bệnh nhân thay đổi, Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 18

vì vậy kế hoạch chăm sóc và kế hoạch điều trị phải được sửa đổi cho phù hợp Sau một cơn đột quỵ cấp tính, gần 2/3 số bệnh nhân phát triển ít nhất một biến chứng Chăm sóc điều dưỡng và quản lý y tế nên được điều chỉnh cho phù hợp với từng bệnh nhân, tập trung vào việc ngăn ngừa các biến chứng Nếu bệnh nhân bất động, nên khuyến khích vận động sớm và trở mình thường xuyên Như với bất kỳ tình trạng y tế nào cần chăm sóc tại nhà, bất động lâu có thể góp phần gây ra viêm phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi, vết loét do tì đè, co thắt và liệt áp Thực hiện các biện pháp phòng tránh té ngã và dạy cho gia đình và những người chăm sóc tại nhà khác về cách phòng tránh té ngã

Chứng khó nuốt (suy giảm khả năng nuốt) là hậu quả phổ biến của đột quỵ và khiến bệnh nhân có nguy cơ cao bị viêm phổi Một cuộc kiểm tra chứng khó nuốt chính thức có thể đã được thực hiện tại bệnh viện; nó nên được lặp lại nếu phát sinh các dấu hiệu hoặc triệu chứng của rối loạn chức năng nuốt Một nhà nghiên cứu bệnh học về ngôn ngữ và ngôn ngữ có thể thực hiện một nghiên cứu sâu hơn về nuốt và có thể yêu cầu đánh giá bằng phương pháp soi huỳnh quang qua video Đảm bảo theo dõi tình trạng dinh dưỡng và hydrat hóa của bệnh nhân Một số bệnh nhân yêu cầu đặt ống thông mũi-dạ dày hoặc ống thông dạ dày nội soi qua da

để cung cấp dinh dưỡng và dùng thuốc Nhưng hãy biết rằng những thiết bị này không loại bỏ nguy cơ viêm phổi do hít phải Các biện pháp phòng ngừa quan trọng khác bao gồm điều trị buồn nôn và nôn, vệ sinh răng miệng đúng cách và dạy bệnh nhân các bài tập thở sâu

Cảnh giác với nhiễm trùng đường tiết niệu, có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết, nhiễm khuẩn huyết và mất nước Đến lượt nó, mất nước có thể gây hạ huyết áp và giảm tưới máu, ảnh hưởng đến sự phục hồi của não Tránh sử dụng ống thông trong nhà; thay vào đó, vận động cho một giải pháp thay thế, chẳng hạn như một ống thông bên ngoài, đặt ống thông gián đoạn, hoặc quần lót không tự chủ Để đảm bảo chẩn đoán và điều trị sớm nhiễm trùng, hãy liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc chính nếu bệnh nhân bị sốt, thay đổi mức độ ý thức hoặc các dấu hiệu và triệu chứng nhiễm trùng khác [30]

Một số bệnh nhân bị rối loạn nhịp thở khi ngủ và trầm cảm sau đột quỵ Một yếu tố nguy cơ của đột quỵ do thiếu máu cục bộ, rối loạn nhịp thở khi ngủ được Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 19

đánh dấu bằng các đợt ngừng thở trong khi ngủ Vợ/chồng hoặc người chăm sóc của bệnh nhân có thể nhận thấy ngáy to kèm theo các nhịp thở tạm dừng Nếu không được điều trị, tình trạng này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng tăng huyết

áp và thiếu máu cơ tim Nếu bạn quan sát thấy nhịp thở có thể bị rối loạn giấc ngủ hoặc bệnh nhân hoặc người chăm sóc báo cáo điều đó, hãy khuyến khích bệnh nhân thảo luận vấn đề này với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc chính Các lựa chọn chẩn đoán và điều trị được thiết lập thông qua một nghiên cứu về giấc ngủ

Giống như bất kỳ sự kiện thay đổi cuộc sống nào, đột quỵ có thể gây ra trầm cảm Nghiên cứu cho thấy một phần ba đến một nửa số người sống sót sau đột quỵ trở nên trầm cảm Để phát hiện các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh trầm cảm, hãy lắng nghe bệnh nhân và người chăm sóc cẩn thận, đặc biệt lưu ý những lo lắng về tâm trạng của bệnh nhân Đánh giá kỹ lưỡng về chứng trầm cảm; nhiều người không biết các dấu hiệu và triệu chứng Bạn có thể sử dụng một số công cụ đánh giá

để giúp phát hiện trầm cảm Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ khuyến nghị thang điểm trầm cảm gồm 9 mục trong Bảng câu hỏi sức khỏe bệnh nhân về tính ngắn gọn và tính chất đo lường tâm lý của nó Thông báo cho bệnh nhân và gia đình của họ rằng bệnh trầm cảm là phổ biến và việc phục hồi chức năng sẽ thành công hơn khi bệnh trầm cảm được điều trị Đảm bảo với họ rằng trầm cảm không phải là một khuyết điểm của tính cách hay một dấu hiệu cho thấy bệnh nhân đã làm sai điều gì đó Nếu bệnh nhân đang dùng thuốc chống trầm cảm [35]

1.3 Một số đề tài nghiên cứu trong nước và trên Thế giới

Đột quỵ não là một bệnh lý thần kinh và thoái hóa với hai giai đoạn khác nhau, giai đoạn cấp tính đặc trưng bởi bệnh nhân chuyển từ bệnh viện về nhà và giai đoạn mãn tính, bắt đầu từ sáu tháng sau đột quỵ và kéo dài theo thời gian [27] Hạn chế của các giai đoạn này là quan trọng do những thay đổi khác nhau về tâm sinh lý

xã hội trong ngắn hạn và dài hạn của những người sống sót sau căn bệnh này, đồng thời, nhu cầu chăm sóc cụ thể đôi khi cần sự hỗ trợ của những người khác như người chăm sóc gia đình Hầu hết những người sống sót sau đột quỵ đều có những khiếm khuyết về nhận thức, tâm lý và vận động làm giảm khả năng thực hiện các hoạt động cơ bản hàng ngày và tham gia xã hội [22], khiến họ phải phụ thuộc vào gia đình để được chăm sóc trong quá trình phục hồi chức năng tại cộng đồng Do Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 20

đó, những người chăm sóc này phải trải qua gánh nặng chăm sóc, nổi bật là sự suy giảm sức khỏe thể chất và tinh thần, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ ngày càng xấu đi [26]

Một nghiên cứu tại phía Bắc Đài Loan thực hiện về nhu cầu của người chăm sóc cho người bệnh đột quỵ cho thấy: Tổng số nhu cầu của người chăm sóc gia đình giảm khi thời gian bị bệnh tăng lên và nhu cầu của cá nhân khác nhau giữa bốn thời điểm Mặc dù nhu cầu khác nhau ở mỗi thời điểm đánh giá, nhu cầu lớn nhất là trong các lĩnh vực thông tin y tế, hỗ trợ chuyên môn và mạng lưới cộng đồng Các yếu tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu chăm sóc của người chăm sóc gia đình là điểm NIHSS của bệnh nhân khi nhập viện, thời gian nằm viện và sự phụ thuộc về thể chất của bệnh nhân những người chăm sóc gia đình có nhu cầu chăm sóc lớn nhất trong giai đoạn ICU Tỷ lệ nhu cầu trung bình trong tổng số các mục cần thiết lần lượt là 82,1%, 76,1%, 57,1% và 41,5% cho các lần 1, 2, 3 và 4 Nhu cầu của người chăm sóc gia đình trước khi xuất viện thấp hơn đáng kể so với trước khi chuyển ra khỏi ICU và \thấp hơn sau khi xuất viện so với trước khi xuất viện (tức là ở thời điểm 3

và 4 so với 1 và 2) Những phát hiện này có thể xảy ra bởi vì các nhân viên y tế trong bệnh viện nghiên cứu có thể cung cấp giáo dục sức khỏe, thông tin y tế liên quan đến đột quỵ và các chi tiết tiên lượng cho gia đình trong thời gian nhập viện Ngoài ra, những người chăm sóc gia đình chăm sóc bệnh nhân càng lâu thì họ có thể đã trở nên quen thuộc hơn với các nhu cầu chăm sóc [43]

Cung cấp dịch vụ chăm sóc trong vài tháng đầu tiên sau khi bị đột quỵ là căng thẳng và điều quan trọng là phải cung cấp thông tin và hỗ trợ thích hợp Smith và cộng sự đã khám phá kinh nghiệm chăm sóc của những người chăm sóc chính 1 năm sau khi bị đột quỵ và nhận thấy rằng những người chăm sóc thường thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết để chăm sóc tại nhà sau khi bệnh nhân xuất viện; Ngoài

ra, họ phải tự mình có được thông tin và sự hỗ trợ [47] Những người chăm sóc phải thích ứng với những thay đổi do bệnh của bệnh nhân gây ra Các nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc tại nhà của bệnh nhân đột quỵ và người chăm sóc gia đình đã phát hiện ra những nhu cầu chưa được đáp ứng Ví dụ, Zwygart-Stauffacher và cộng sự nhận thấy rằng những người chăm sóc chính chú ý nhiều hơn đến thông tin về căn bệnh này và sự tiến triển của nó [53], trong khi Chiou và cộng sự xếp hạng nhu cầu Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 21

của người chăm sóc theo nhu cầu chăm sóc cho bệnh nhân và nhu cầu cá nhân cho chính họ Khi chăm sóc bệnh nhân, những người chăm sóc yêu cầu hỗ trợ tài chính, các dịch vụ công cụ, thông tin để cung cấp dịch vụ chăm sóc có kỹ năng và giúp đăng ký các dịch vụ phúc lợi xã hội; tuy nhiên, họ cũng có những nhu cầu cá nhân, bao gồm nhu cầu xã hội, nâng cao sức khỏe, duy trì và tình cảm, liên quan đến quá trình chăm sóc [24] Chăm sóc chuyên nghiệp trong giai đoạn này có thể khác nhau giữa các bệnh nhân

Một nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình cho thấy: Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh TBMMN theo thang điểm Barthel: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ người bệnh độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của đối tượng nghiên cứu là 17,9% Phần lớn người bệnh cần trợ giúp trong sinh hoạt hàng ngày, chiếm tỷ lệ 42,9% và có 39,3% người bệnh phụ thuộc hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày Điểm Barthel trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 55,00 ± 28,18 [15]

Thông qua việc đánh giá khả năng hoạt động độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh, điều dưỡng hiểu rõ khả năng tự chăm sóc của người bệnh và mức độ phụ thuộc để lập kế hoạch chuẩn bị xuất viện Điều dưỡng sẽ tác động về mặt tâm lý, thông báo, giải thích, động viên cho người bệnh hoặc nguời nhà về tình trạng bệnh hiện tại Đồng thời, điều dưỡng sẽ cung cấp kiến thức và kế hoạch tập phục hồi vận động sớm tại nhà để nâng cao khả năng tự chăm sóc bản thân trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày giúp người bệnh sớm hòa nhập với cộng đồng và

tự tin hơn trong cuộc sống Bên cạnh đó, cần quan tâm đến việc hướng dẫn người chăm sóc chính của người bệnh biết cách hỗ trợ, thúc đẩy người bệnh tập luyện phục hồi sức khỏe tại nhà

Mức độ độc lập chức năng của 10 hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người bệnh TBMMN theo thang điểm Barthel: Qua nghiên cứu của tác giả Nguyễn thị Thu Hiền và cộng sự cũng mô tả mức độ độc lập chức năng của 10 hoạt động sinh hoạt hàng ngày Tại thời điểm ra viện, phần lớn người bệnh độc lập hoàn toàn trong các hoạt động kiểm soát đại tiện (62,5%) và tiểu tiện (69,6%) Ngược lại, có rất ít người bệnh độc lập trong các hoạt động tắm (0%), sử dụng nhà vệ sinh (0,9%), vệ sinh cá nhân (2,7%), hoạt động di chuyển như tự đi lên/xuống cầu thang (11,6%); di Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 22

chuyển từ giường sang ghế/xe lăn và ngược lại (16,1%) di chuyển trên mặt phẳng bằng (24,1%) Những người bệnh có mức độ cần trợ giúp chiếm tỷ lệ cao trong các hoạt động sử dụng nhà vệ sinh (80,4%) di chuyển từ giường sang ghế/xe lăn và ngược lại (70,5%); ăn uống (62,5%); di chuyển trên mặt phẳng bằng (50,0%); lên

và xuống cầu thang (56,2%) Phần lớn người bệnh phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động tắm rửa (67,9%), vệ sinh cá nhân (42%), lên xuống cầu thang (43,8%) Việc hiểu rõ các hoạt động nào trong sinh hoạt hàng ngày có mức độ độc lập cao hay thấp, hoạt động nào cần trợ giúp sẽ giúp người điều dưỡng cũng như người bệnh và gia đình trong quá trình lập kế hoạch để chuẩn bị cho người bệnh khi xuất viện [15] Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Lan Anh (2019) và cộng sự thì nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của NB Đột quỵ não là khá cao

Năm 2017 tác giả Nguyễn Thị Hải Yến đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng sớm của người bệnh đột quỵ giai đoạn cấp tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017” Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng nhu cầu phục hồi chức năng (PHCN) sớm của người bệnh đột quỵ giai đoạn cấp tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 122 người bệnh hoặc người nhà bệnh nhân bị đột quỵ giai đoạn cấp, có tình trạng thiếu sót thần kinh không còn tiến triển Kết quả thu được là nhu cầu về PHCN hô hấp chiếm tỷ lệ cao 85-86% so với nhu cầu tập tăng cường vận động, tập

vỗ rung 72-73% và tập thở khoảng 66% Nhu cầu PHCN phòng tắc mạch bằng tăng cường vận động chiếm 92,6%, trong khi người bệnh chỉ có nhu cầu 64-82% ở nội dung vận động tay chân bên liệt và tay chân hai bên Đối với Hướng dẫn tư thế đúng trong PHCN, người bệnh có nhu cầu cao nhất ở nội dung tăng cường vận động chiếm 91,0% Nhu cầu của người bệnh được vận động trị liệu tay, chân liệt chiếm tỷ

lệ cao nhất 82,8%, nhưng nhu cầu tập ngồi, đứng và đi chỉ khoảng 70% [13]

Nghiên cứu “Nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng và một số yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày người bệnh đột quỵ não khi xuất viện tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2020” được thực hiện để xác định nhu cầu chăm sóc, phục hồi chức năng của người bệnh đột quỵ não khi xuất viện Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh đột quỵ não khi xuất viện Xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 23

ngày của người bệnh đột quỵ não khi xuất viện tại Bệnh viện Chợ Rẫy, thực hiện trên 215 người bệnh đột quỵ não được điều trị ổn định và cho xuất viện tại Bệnh viện Chợ Rẫy, người bệnh có đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ rõ ràng Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu, được thăm khám, phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn, cỡ mẫu thuận tiện Thang điểm đánh giá các chức năng sinh hoạt hàng ngày theo Barthel Có 91,2% người bệnh có nhu cầu chăm sóc chung, nhu cầu chăm sóc cơ xương khớp nhiều nhất chiếm 91,2% và ít nhất là chăm sóc tiêu hoá đại tiện là 21,9%, tư thế đúng là 58,2%, hô hấp là 55,6%, chăm sóc loét phòng chống loét là 46,7%, tiết niệu là 42,2%, nuôi dưỡng là 38% Chúng tôi thấy

có 87,5% người bệnh có nhu cầu phục hồi chức năng, trong đó nhóm nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cao nhất là 76,5% Sau xuất viện nguyện vọng được hướng dẫn tập tại nhà chiếm 87,5%, mong muốn được phục hồi chức năng cộng đồng là 56,6%, muốn có dịch vụ tập tại nhà 25,2%, và 18,8% muốn được cung cấp thông tin cơ sở phục hồi chức năng tại địa phương Trong sinh hoạt hàng ngày tỷ lệ phụ thuộc tương đối cao chiếm 66,9%, trong đó phụ thuộc hoàn toàn là 28,8% Các yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh bao gồm tuổi (p<0,05), giới tính (p<0,05), tình trạng được phục hồi chức năng (p<0,05), bên liệt, tình trạng liệt (p<0,05), co rút cứng khớp (p<0,05), loại đột quỵ [20]

Hiện tại ở Việt Nam chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào về đánh giá nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của NB ĐQN giai đoạn cấp

Trên thế giới đa phần là những nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc người bệnh đột quỵ não của người chăm sóc chính

1.4 Học thuyết điều dưỡng và ứng dụng

Có nhiều học thuyết điều dưỡng nói về nhu cầu của con người như học thuyết của Virginia Henderson, mỗi học thuyết thích hợp với các tình huống cụ thể Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn mô hình chăm sóc điều dưỡng dựa trên các hoạt động sống thường ngày của Roper- Logan-Tierney làm cơ sở cho khung khái niệm nghiên cứu [28]

Trong Mô hình Điều dưỡng Roper-Logan-Tierney, mỗi cá nhân là sự kết hợp giữa các yếu tố sinh lý, tâm lý, văn hoá-xã hội, kinh tế-chính trị và tinh thần Có 12 sinh hoạt hàng ngày được liệt kê trong Mô hình Điều dưỡng Roper-Logan-Tierney Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 24

là duy trì môi trường an toàn, giao tiếp, hô hấp, ăn uống, bài tiết, vệ sinh cá nhân và thay quần áo, duy trì nhiệt độ, vận động, làm việc và vui chơi, thể hiện tính dục, ngủ, cái chết và chết Con người có khả năng thực hiện các hoạt động sống hàng ngày với mục đích thiết yếu là nâng cao chất lượng cuộc sống Khi cá nhân bị bệnh hoặc không khỏe thì các vấn đề có thể xảy ra đối với việc thực hiện các hoạt động sống thường ngày này Mô hình chăm sóc Điều dưỡng Roper-Logan-Tierney đánh giá mức độ độc lập của NB trong mối liên kết với các hoạt động sinh sống, giúp điều dưỡng và nhóm chăm sóc sức khoẻ phát triển kế hoạch chăm sóc dựa trên các khả năng của cá nhân và mức độ độc lập của NB Để có hiệu quả nhất, NB cần được đánh giá ngay khi nhập viện, cũng như được đánh giá trong suốt quá trình chăm sóc Bằng cách đó, kế hoạch chăm sóc có thể được thay đổi nếu cần Mặc dù những hoạt đông này được xác định riêng rẽ nhưng trong thực tế, khi sử dụng mô hình để đánh giá một NB thì nhiều hơn một vấn đề có thể được đánh giá cùng lúc, các thông tin thu được sẽ giúp người điều dưỡng thành lập nên kế hoạch chăm sóc cho NB Chăm sóc Điều dưỡng giúp NB duy trì sức khỏe, phòng bệnh, đối mặt với thời kỳ bệnh tật và phục hồi chức năng, đối mặt tích cực trong suốt quá trình mắc các bệnh mạn tính và đối mặt với cái chết Việc sử dụng mô hình điều dưỡng của Roper-Logan-Tierney giúp người điều dưỡng đánh giá NB toàn diện hơn, qua đó mang lại hiệu quả chăm sóc cao hơn cho NB

Mô hình điều dưỡng của Roper-Logan-Tierney có thể được ứng dụng trong điều dưỡng lâm sàng nhằm đặt ra các câu hỏi về những thiếu hụt chức năng cụ thể ở NB cần chăm sóc điều dưỡng Đề tài này thực hiện đánh giá nhu cầu chăm sóc của người bệnh ĐQN giai đoạn cấp để đưa ra những vấn đề mà người bệnh thực sự có nhu cầu cần hỗ trợ chăm sóc từ nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng

Vì vậy mô hình điều dưỡng này là phù hợp [28]

Vai trò của điều dưỡng đối với người bệnh đột quỵ não [2]:

• Lượng giá điều dưỡng toàn diện

• Theo dõi Người bệnh

Trang 25

• Xử lý đau

• Chăm sóc điều dưỡng 24 giờ

• Tham gia vào lập kế hoạch xuất viện

• Giáo dục cho người bệnh và gia đình/người chăm sóc

• Lượng giá về bàng quang và đường ruột và xử lý tiểu tiện không tự chủ, bao gồm các chiến lược hỗ trợ chăm sóc người bệnh

• Phòng ngừa và kiểm soát các biến chứng thứ phát

Hầu hết bệnh nhân bị đột quỵ não sẽ phải cần thiết vài loại trị liệu PHCN PHCN không thể làm hồi phục hoàn toàn tổn thương não gây ra bởi đột quỵ Không giống vài loại tế bào khác (ví dụ tế bào da), tế bào não không thể tăng sinh sau khi bị tổn thương hay bị chết Tuy nhiên, não có thể được tập luyện để thích ứng với tổn thương tế bào theo những cách cho phép bệnh nhân học các chức năng bằng cách sử dụng nhũng tế bào thần kinh bị tổn thương (một số tế bào não có thể chỉ bị tổn thương tạm thời chứ không bị tiêu diệt và có thể phục hồi và trong một số trường hợp, não bộ có thể tổ chức lại hoạt động chức năng của mình) Phương pháp trị liệu PHCN có thể giúp bệnh nhân có những kỹ năng liên quan đến chất lượng cuộc sống Trong những trường hợp này, bệnh nhân có thể cần học những kỹ năng cũ Ví dụ bệnh nhân bị tổn thương não do đột quỵ có thể học lại những cách phối hợp vận động hai chân để họ có thể đi lại được Ở những trường hợp khác, bệnh nhân có thể học những cách thức mới để thực hiện nhiệm vụ giúp họ trải qua những thương tật xảy ra khi bị đột quỵ Ví dụ bệnh nhân mất khả năng sử dụng cánh tay trái thì họ có thể cần phải học cách tắm và mặc mà chỉ dùng cánh tay phải [5], [1], [33], [34]

Theo Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, có khoảng 10% những người sống sót sau đột quỵ hồi phục gần như hoàn toàn; 10% khác cần được chăm sóc trong viện dưỡng lão hoặc cơ sở chăm sóc dài hạn khác; 14% phục hồi với những khiếm khuyết nhỏ; 40% bị suy giảm chức năng từ trung bình đến nặng Đột quỵ được biết đến là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng tàn tật lâu dài ở người trưởng thành Tuy vậy, nếu được chăm sóc tốt sau đột quỵ, người bệnh có thể phục hồi một phần hoặc toàn phần để tái hòa nhập cuộc sống [29]

Phục hồi chức năng sau đột quỵ là giúp người bị đột quỵ học lại các kỹ Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 26

năng bị mất đột ngột khi một phần não bị tổn thương Điều quan trọng trong phục hồi chức năng là bảo vệ cá nhân khỏi sự xuất hiện về các vấn đề y tế mới, bao gồm viêm phổi, nhiễm trùng đường tiết niệu, chấn thương do ngã hoặc hình thành cục máu đông gây tắc nghẽn mạch máu ở chân, phổi

Nghiên cứu cho thấy, yếu tố quan trọng nhất trong bất kỳ chương trình phục hồi chức năng thần kinh nào là cần hướng dẫn cẩn thận cho người bệnh việc thực hành lặp đi lặp lại khi học một kỹ năng mới, chẳng hạn như chơi piano Chương trình phục hồi chức năng thần kinh phải được tùy chỉnh phụ thuộc vào những kỹ năng bị suy giảm do đột quỵ, chẳng hạn như yếu, liệt, kém phối hợp động tác, khó đi lại, mất cảm giác, các vấn đề về hoạt động bàn tay, mắt nhìn kém hoặc khó nói hoặc khó hiểu

Nghiên cứu sử dụng công nghệ hình ảnh tiên tiến cho thấy, các chức năng trước đây nằm trong vùng não tổn thương sẽ di chuyển đến các vùng não lành khác và thực hành giúp thúc đẩy quá trình tua lại của các mạch não (gọi là sự dẻo dai thần kinh) Phục hồi chức năng cũng dạy những cách mới để làm quen với để những khuyết tật còn lại của người bệnh Ví dụ, người bệnh có thể cần học cách tắm và mặc quần áo chỉ bằng một tay hoặc cách giao tiếp hiệu quả với các thiết bị hỗ trợ nếu khả năng sử dụng ngôn ngữ bị ảnh hưởng

Tại Việt Nam từ năm 2013, Học viện quân y 103 đã thực hiện nghiên cứu

“Đánh giá công tác điều dưỡng bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não được điều trị tiêu huyết khối tại bệnh viện 103” Trong nghiên cứu này người bệnh được theo dõi chặt chẽ: Trong vòng 48h đầu bệnh nhân được theo dõi tại khu vực chăm sóc đặc biệt với monitor Chú ý theo dõi các dấu hiệu nghi ngờ chảy máu; đặc biệt là chảy máu não hoặc chảy máu nội tạng Dấu hiệu nghi ngờ chảy máu não: đột ngột đau đầu xuất hiện hoặc tăng lên; buồn nôn/nôn; ý thức xấu đi; liệt tăng lên; tăng nặng thang điểm NIHSS… Khi có các dấu hiệu này cần tạm dừng thuốc tiêu huyết khối; nhanh chóng báo cáo bác sĩ để tiến hành chụp CT não; xét nghiệm lại công thức máu; chức năng đông máu Hạn chế tối đa các thủ thuật can thiệp trong vòng 24 giờ đầu: đặt sonde tiểu; đặt sonde dạ dày; đặt catheter tĩnh mạch…Qua nghiên cứu công tác điều dưỡng trên 65 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não được điều trị tiêu huyết khối đường tĩnh mạch trong vòng 18 tháng (1/2013 đến 6/2014) nghiên cứu rút ra kết luận: Độ Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 27

tuổi trung bình 62,7 ± 9,2; Tỉ lệ nam giới chiếm 2/3 tổng số bệnh nhân Yếu tố nguy

cơ hay gặp nhất là tăng huyết áp (49,2%) Thời gian từ khi khởi phát đến khi vào viện trên 2h chiếm đa số (70,8%) Thực hiện tổng cộng 218 lượt thủ thuật trong 48 giờ đầu Trong đó đảm bảo an toàn, không gây tai biến trường hợp nào Trong vòng

18 tháng triển khai điều trị tiêu huyết khối, chúng tôi đã rút ngắn được thời gian nhập viện – điều trị từ 82 ± 20 phút xuống 65 ± 20 phút Thời gian nằm viện trung bình 7,2 ± 3,8 ngày Điểm NIHSS trung bình sau 24 giờ giảm từ 11,9 xuống 7,4 có

ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tỉ lệ liệt nhẹ (độ 4 đến 5) khi vào viện chiếm 41,5%, sau 24 giờ số bệnh nhân liệt nhẹ đã tăng lên 65,5% [10]

Mô hình thực hành chăm sóc của điều dưỡng 1.5 Vài nét về cơ sở nghiên cứu

Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt, hàng năm cấp cứu và điều trị cho khoảng 6.000 - 8.000 người bệnh đột quỵ Trung tâm Thần kinh bệnh viện Bạch Mai với cơ cấu hơn 200 giường bệnh điều trị nội trú Trung tâm kết hợp với Bộ môn Thần kinh của Đại học Y Hà Nội, Bộ môn Thần kinh của Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia tiếp nhận đào tạo rất nhiều thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh, nội trú bệnh viện, cao học, các học viên chuyên khoa I, II; giúp đỡ về chuyên môn kỹ thuật cho nhiều trung tâm thần kinh ở các bệnh viện như: Thanh Nhàn (Hà Nội), Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An , phối hợp chặt chẽ với chuyên khoa ngoại Thần kinh cứu sống được rất nhiều người bệnh nặng Hàng ngày khoa tiếp nhận Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 28

điều trị rất nhiều người bệnh thuộc trung tâm thần kinh đến từ khắp mọi miền trong

cả nước, trong đó tỷ lệ người bệnh ĐQN là rất lớn Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của NB đột quỵ não giai đoạn cấp thể nhồi máu có liệt vận động là rất cao, do vậy công tác chăm sóc điều dưỡng là hết sức cần thiết giúp cho NB không còn nỗi lo về bệnh tật, di chứng

Trung tâm được thành lập ngày 2 tháng 12 năm 1956 Lúc đầu là khoa Tinh Thần kinh Bệnh viện Bạch mai và bộ môn Tinh thần kinh Trường đại học Y Dược khoa Hà nội

Từ năm 1969, hai ngành Thần kinh và Tâm thần tách ra và hoạt động độc lập Chuyên ngành Thần kinh học Việt nam không ngừng phát triển và trưởng thành Tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh (CT Scan, MRI, MRA, DSA, Duplex scan, Doppler xuyên sọ…) và lĩnh vực điều trị trong nhiều năm gần đây đã nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị và phục vụ người bệnh

Quan hệ quốc tế ngày càng phát triển đã giúp cho chuyên ngành Thần kinh có nhiều kinh nghiệm trong quan hệ hợp tác với các nước như Hoa kỳ, Pháp, Úc, Nhật, Israel và các nước ASEAN

Khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch mai là trung tâm hoạt động của hội Thần kinh học Việt nam và hội Thần kinh học Hà nội Là thành viên của hội Thần kinh học ASEAN Nhiều thầy thuốc là hội viên hội Thần kinh học Hoa kỳ, Pháp, hội nghiên cứu não quốc tế…

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại khoaThần kinh, bệnh viện Bạch Mai

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh được chẩn đoán đột quỵ não giai đoạn cấp tính, được điều trị nội trú tại KHOAthần kinh Bệnh viện Bạch Mai

➢ Tiêu chuẩn lựa chọn

Đối tượng nghiên cứu là người bệnh đột quỵ não thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn dưới đây:

- Người bệnh được chẩn đoán đột quỵ não cấp (1 đến 7 ngày [54]) điều trị tại bệnh viện;

- Người bệnh từ 18 tuổi trở lên;

- Người bệnh có đủ khả năng nhận thức để trả lời, đủ năng lực nhận thức để tham gia nghiên cứu

➢ Tiêu chuẩn loại trừ

- Người bệnh đột quỵ não có mắc kèm thêm các bệnh lý khác gây suy giảm chức năng như viêm dính khớp, Parkinson, Alzheimer,…

- Người bệnh có tiền sử tai biến mạch máu não di chứng hạn chế vận động với mRS

>1 điểm

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thu thập số liệu từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2021

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả thông qua cuộc điều tra cắt ngang có phân tích nhằm đánh giá nhu cầu chăm sóc điều dưỡng và một số yếu

tố liên quan của người bệnh đột quỵ não giai đoạn cấp

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 30

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

n là số lượng tối thiểu đối tượng cần nghiên cứu

p là tỷ lệ người bệnh đột quỵ não có nhu cầu chăm sóc điều dưỡng, lấy p= 0,912 [20]

d là khoảng sai lệch mong muốn, lấy d=0,05

Với độ tin cậy 95% thì α = 0,05 => z(1-α/2) = 1,96

Cỡ mẫu tối thiểu tính được n = 124 người bệnh Thực tế chúng tôi điều tra

160 người bệnh

b/ Phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn cỡ mẫu thuận tiện Tất cả NB thỏa mãn tiêu chí lựa chọn sẽ được mời tham gia nghiên cứu trong thời gian 6 tháng từ tháng 2/2021 đến tháng 8/2021

2.3 Biến số trong nghiên cứu

Biến số nghiên cứu Kiểu biến Cách trình bày Test thống kê

lệch chuẩn Test mô tả Nhóm tuổi Nhị phân

Tần số, tỉ lệ phần trăm

Test mô tả

Trình độ học vấn Định danh

Dân tộc Định danh

Tôn giáo Định danh

Thu nhập trung bình Liên tục

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 31

Nghề nghiệp Định danh

Tình trạng hôn nhân Định danh

Tiền sử bệnh tật

Đái tháo đường Nhị phân

Đột quỵ não Nhị phân

Tăng huyết áp Nhị phân

Mann-Whithney U

test

Sự khác biệt giữa đặc

điểm lâm sàng với

điểm Barthel Index

Trung bình, độ lệch chuẩn

Mann-Whithney U

test

Mối liên quan đơn biến

giữa một số yếu tố với

nhu cầu chăm sóc cao

OR, 95% CI Binary logistic

regression Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 32

Mối liên quan đa biến

giữa một số yếu tố với

nhu cầu chăm sóc cao

OR, 95% CI Binary logistic

regression

2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.4.1 Bộ công cụ

Nghiên cứu này sử dụng bộ câu hỏi gồm 2 phần:

Phần A: Thông tin chung người bệnh bao gồm tuổi, giới, trình độ học vấn, dân tộc,

tôn giáo, thu nhập trung bình, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân

Thông tin dịch tễ/mô hình bệnh tật: số người trong gia đình hiện tại, chẩn đoán ĐQN, số lần ĐQN, di chứng ĐQN, bệnh kèm theo…

Phần B: Thang đo Barthel Index – đánh giá mức độ phụ thuộc về thể chất của

người bệnh ĐQN giai đoạn cấp

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Tiến hành xây dựng bộ phiếu điều tra và lấy ý kiến các chuyên gia, hướng dẫn điều tra phù hợp với đối tượng nghiên cứu, thảo luận nhóm để hoàn thiện phiếu điều tra

- Tổ chức tập huấn chu đáo cho các cán bộ tham gia nghiên cứu giúp điều tra viên hiểu về mục đích, đảm bảo thống nhất phương pháp chọn đối tượng và phương pháp thu thập thông tin giữa các cán bộ điều tra tại địa bàn nghiên cứu Đồng thời hướng dẫn điều tra viên cách thức xử trí tình huống gặp phải trong quá trình điều tra

và cách thu thập thông tin một cách chính xác và khách quan nhất

- Thực hiện điều tra thử để kiểm tra mức độ phù hợp với đối tượng của bộ câu hỏi nghiên cứu

- Tổ chức thực hiện điều tra thực địa tổng hợp, phân tích đánh giá: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng phiếu điều tra đã được thiết kế sẵn được tiến hành

2.5 Tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu

2.5.1 Đánh giá cơ lực

Thang điểm đánh giá sức cơ trong khám vận động [17]:

Độ 0/5: Liệt hoàn toàn

Độ 1/5: Vận động cơ có thể thấy được, nhưng không cử động khớp

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 33

Độ 2/5: Cử động được khớp, nhưng không thắng trọng lực

Độ 3/5: Thắng được trọng lực, nhưng không thắng lực cản

Độ 4/5: Chống được lực cản, nhưng chưa đạt đến sức cơ bình thường

Độ 5/5: Sức cơ bình thường

2.5.2 Đánh giá mức độ phụ thuộc và nhu cầu chăm sóc

Nhu cầu chăm sóc của NB được đánh giá bằng thang đo Barthel Index [28] Thang đo Barthel Index đánh giá mức độ phụ thuộc trong 10 hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người bệnh ĐQN, bao gồm: vệ sinh cá nhân (từ 0-5 điểm), tự tắm (từ 0-5 điểm), ăn uống (điểm từ 0-10), đi vệ sinh (từ 0-10 điểm), leo cầu thang (từ 0-10 điểm), mặc quần áo (điểm 0-10), kiểm soát đại tiện (điểm 0-10), kiểm soát tiểu tiện (điểm 0-10), sự đi lại (từ 0-15 điểm, hoặc sử dụng xe lăn từ 0-5 điểm), sự di chuyển ghế/giường (từ 0-15 điểm) Tổng điểm của thang đo biến thiên từ 0-100 điểm, với

NB càng được nhiều điểm càng độc lập trong các hoạt động hàng ngày NB đạt 100 điểm Barthel Index có thể chủ động trong việc đại tiểu tiện, có thể tự ăn uống, thay quần áo, tự ra khỏi giường, tự tắm rửa, có thể đi lại bên ngoài và lên xuống cầu thang không cần hỗ trợ

Các mức độ phụ thuộc trong hoạt động hàng ngày của NB theo thang điểm Barthel Index được phân loại theo 5 mức độ như sau:

Không đủ khả năng thực hiện hoạt động hàng ngày (Hoàn

toàn phụ thuộc)

<21 điểm

Có thực hiện nhưng không an toàn (Phụ thuộc nghiêm trọng) 21-54 điểm Yêu cầu giúp đỡ một phần (Phụ thuộc trung bình) 55-83 điểm Yêu cầu giúp đỡ ít (Phụ thuộc nhẹ) 84-99 điểm

Thang điểm Barthel Index được dùng phổ biến trên thế giới để đánh giá nhu cầu hỗ trợ chăm sóc trong các hoạt động sống hàng ngày ở NB sau ĐQN, chấn thương và khuyết tật [28] Thang điểm này đã được dịch ra tiếng Việt và chuẩn hóa trong nghiên cứu trước đây ở quần thể NB đột quỵ não tại Việt Nam (xem phụ lục)

* Từ đó đánh giá nhu cầu chăm sóc của người bệnh như sau:

➢ Không có nhu cầu chăm sóc: 100 điểm

➢ Nhu cầu chăm sóc một phần: từ 55 – 99 điểm

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 34

➢ Nhu cầu chăm sóc cao: từ 0-54 điểm

- Số liệu được trình bày dưới dạng số lượng (n), tỷ lệ phần trăm (%), biểu đồ

Sử dụng các test thống kê trong nghiên cứu y sinh học Sự khác biệt được coi là có

ý nghĩa thống kê khi p<0,05

2.7 Sai số và các biện pháp khống chế sai số

Sai số có thể gặp trong nghiên cứu:

- Sai số ngẫu nhiên: xảy ra trong quá trình tính toán cỡ mẫu và áp dụng các kỹ thuật chọn mẫu

- Sai số hệ thống: xảy ra trong khi tiến hành thu thập số liệu như chọn điều tra viên, khả năng thu thập số liệu của điều tra viên, phân tích số liệu, xử lý số liệu,…

Để đảm bảo độ tin cậy, chính xác, hạn chế được những sai số, các công việc sau đã được thực hiện:

- Cỡ mẫu được tính toán đủ lớn để khống chế sai số ngẫu nhiên

- Bộ công cụ điều tra được thiết kế rõ ràng, thống nhất có sự cố vấn của các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu

- Lựa chọn cán bộ nghiên cứu là những người có kinh nghiệm điều tra và có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu, được tập huấn đầy đủ về nội dung và cách thức thu thập thông tin trước khi tiến hành thu thập thông tin

- Thuyết phục, động viên đối tượng nghiên cứu, không ép buộc

- Tổ chức giám sát chặt chẽ trong quá trình thu thập số liệu Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm tra, làm sạch số liệu trước khi phân tích

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 35

2.8 Phạm vi của nghiên cứu

Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang nên các số liệu thu thập được chỉ phản ánh kết quả tại thời điểm điều tra Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu chưa đề cập tới các vấn đề về tâm lý, tinh thần của người bệnh mà mới chỉ dừng lại ở thực trạng nhu cầu chăm sóc về thể chất của người bệnh đột quỵ não

2.9 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện sau khi được thông qua hội đồng đề cương Thạc sỹ Điều dưỡng – Trường Đại học PHENIKAA và sự cho phép tiến hành nghiên cứu của khoa thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai

Nghiên cứu chỉ được tiến hành với sự đồng ý của NB Tất cả những người tham gia vào nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện, được đọc và hiểu rõ bản thỏa thuận nghiên cứu được xây dựng theo hướng dẫn về đạo đức trong nghiên cứu Mọi quy trình nghiên cứu được tiến hành đảm bảo quyền riêng tư của NB tham gia nghiên cứu Mọi thông tin liên quan đến NB được thu thập trong nghiên cứu được lưu trữ an toàn tại phòng Điều dưỡng, trung tâm thần kinh và thông tin chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu và danh tính NB được giữ kín

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 36

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của người bệnh đột quỵ não giai đoạn cấp tại khoa Thần kinh – Bệnh viện Bạch Mai năm 2021

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin cơ bản về người bệnh nghiên cứu

Bảng 3.2 Đặc điểm về trình độ học vấn của người bệnh

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 37

Về trình độ học vấn của người bệnh trong nghiên cứu, chiếm tỷ lệ cao nhất (34,4%) là người bệnh có trình độ trên THPT (trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học), tiếp đến có 28,7% có trình độ tiểu học, 24,4% có trình độ trung học cơ sở và 12,5% có trình độ trung học phổ thông

Bảng 3.3 Đặc điểm về nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Đa số người bệnh làm nghề nông (32,4%), cán bộ hưu trí chiếm tỷ

lệ cao thứ hai (28,1%) Chiếm tỷ lệ thấp nhất có 7,5% làm công nhân tại các nhà máy, xí nghiệp

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu

97.5

2.5

Sống cùng vợ/chồng

Góa/ly hôn/ly thân

Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 38

Nhận xét: có 97,5% người bệnh nghiên cứu hiện đang sống cùng vợ hoặc chồng, tỷ lệ đối tượng độc thân/góa/ly hôn/ly thân chiếm 2,5%

Bảng 3.5 Đặc điểm triệu chứng lâm sàng của người bệnh

Nhận xét: Kết quả cho thấy có 77,5% có triệu chứng liệt vận động, chiếm tỷ

lệ cao nhất Tỷ lệ có rối loạn nuốt chiếm 5,6% và có 1,9% người bệnh bị viêm phổi Copies for internal use only in Phenikaa University

Trang 39

Bảng 3.6 Đánh giá tình trạng cơ lực của người bệnh

và 5/5 chiếm lần lượt là 38,1%; 16,3% và 13,1%

Copies for internal use only in Phenikaa University

Ngày đăng: 15/08/2023, 00:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Đăng (2007), Thực hành thần kinh các bệnh và hội chứng thường gặp, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành thần kinh các bệnh và hội chứng thường gặp
Tác giả: Nguyễn Văn Đăng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
2. Bệnh viện Bạch Mai - National Center for Global Health an Medicine (2020), Chăm sóc và phục hồi chức năng sớm sau đột quỵ, Dự án hỗ trợ cải thiện chất lượng chăm sóc đột quỵ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc và phục hồi chức năng sớm sau đột quỵ
Tác giả: Bệnh viện Bạch Mai - National Center for Global Health an Medicine
Năm: 2020
4. Cao Minh Châu (2003), "Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày ở bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu não tại cộng đồng", Tạp chí Nghiên cứu y học. 22(2), tr. 54-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày ở bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu não tại cộng đồng
Tác giả: Cao Minh Châu
Năm: 2003
5. Cao Minh Châu, Trần Văn Chương và Nguyễn Thị Kim Liên (2008), Phục hồi chức năng người khuyết tật có khó khăn về vận động, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng người khuyết tật có khó khăn về vận động
Tác giả: Cao Minh Châu, Trần Văn Chương và Nguyễn Thị Kim Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
6. Đặng Duy Quang, Phan Cảnh Chương, Lê Thị Hằng và Trần Thị Kim Cúc (2014), "Nghiên cứu nhu cầu chăm sóc của người bệnh sau phẫu thuật tại Bệnh viện Trung ương Huế", Hội nghị Khoa học Quốc tế Điều dưỡng, tr. 69-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu chăm sóc của người bệnh sau phẫu thuật tại Bệnh viện Trung ương Huế
Tác giả: Đặng Duy Quang, Phan Cảnh Chương, Lê Thị Hằng và Trần Thị Kim Cúc
Năm: 2014
7. Đặng Phúc Đức và cs (2014), "đánh giá công tác điều dưỡng bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não được điều trị tiêu huyết khối tại bệnh viện 103", Hội Đột Quỵ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: đánh giá công tác điều dưỡng bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não được điều trị tiêu huyết khối tại bệnh viện 103
Tác giả: Đặng Phúc Đức và cs
Năm: 2014
8. Đỗ Quang Đạo (2008), "Tìm hiểu mối quan hệ giữa sự hiểu biết về bệnh TBMMN, sự giúp đỡ của gia đình với sự thành công của chương trình PHCN tại tỉnh Quảng Trị", Tập chí Y học thực hành. số 622, tr. tr 74-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu mối quan hệ giữa sự hiểu biết về bệnh TBMMN, sự giúp đỡ của gia đình với sự thành công của chương trình PHCN tại tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Đỗ Quang Đạo
Năm: 2008
9. Hoàng Trọng Hanh (2015), Nghiêncứu nồng độ protein S100 và NSE máu ở bệnh nhân nhồi máu não ở giai đoạn cấp, Trường Đại học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiêncứu nồng độ protein S100 và NSE máu ở bệnh nhân nhồi máu não ở giai đoạn cấp
Tác giả: Hoàng Trọng Hanh
Năm: 2015
10. Học viện quân Y 103 (2020), Đánh giá công tác điều dưỡng bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não được điều trị tiêu huyết khối tại Bệnh viện 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá công tác điều dưỡng bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não được điều trị tiêu huyết khối tại Bệnh viện 103
Tác giả: Học viện quân Y
Nhà XB: Bệnh viện 103
Năm: 2020
11. Huỳnh Tố Như, Vũ Thị Đào và Mai Phương Thảo (2021), "Nhu cầu của người chăm sóc cho người bệnh đột quỵ và các yếu tố liên quan", Tạp chí YCopies for internal use only in Phenikaa University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu của người chăm sóc cho người bệnh đột quỵ và các yếu tố liên quan
Tác giả: Huỳnh Tố Như, Vũ Thị Đào và Mai Phương Thảo
Năm: 2021
3. Bộ Y tế (2011), Thông tư hướng dẫn công tác Điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w