PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
2.1 Địa điểm v thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu đƣợc tiến hành tại Trung tâm Thần Kinh Bệnh viện Bạch Mai, thời gian từ tháng 12/2020 tới tháng 8/2021
- Là người chăm sóc chính của người bệnh đột quỵ não tại gia đình
Người bệnh đã được chẩn đoán xác định đột quỵ não dựa trên tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới Đặc biệt, bệnh nhân có đầy đủ hồ sơ khám chữa bệnh xác nhận đột quỵ não trong các đợt bệnh trước đó, đảm bảo chính xác trong chẩn đoán và điều trị.
- Là người chăm sóc chính có trách nhiệm cao nhất trong việc đưa ra quyết định về chăm sóc cho người bệnh
- Trên 18 tuổi, không được trả tiền, và có mối quan hệ cá nhân với người bệnh, thường là quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống
Người chăm sóc trực tiếp dành nhiều thời gian nhất để chăm sóc người bệnh, với ít nhất một tháng sau khi người bệnh xuất viện Việc này giúp đảm bảo quá trình hồi phục diễn ra thuận lợi và an toàn Chăm sóc tận tâm và lâu dài từ người thân là yếu tố quan trọng giúp người bệnh nhanh chóng bình phục sau xuất viện.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Nói tiếng Việt, biết đọc, biết viết
- Người chăm sóc chính không thể tiếp nhận và trả lời được các câu hỏi
- Người được chăm sóc có kèm chẩn đoán các bệnh lí khác giai đoạn nặng hoặc tiến triển.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu v phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu theo tỉ lệ n = Z 2 (1-α 2) p(1-p) d 2 Trong đó: n: là cỡ mẫu ƣớc lƣợng
Z: Trị số phân phối chuẩn α: xác suất sai lầm loại 1, α = 0,05 vì vậy Z(1-α 2) = 1,96 d: sai số cho phép, chọn d = 0,1 p: tỷ lệ gánh nặng chăm sóc NB ĐQN của người chăm sóc
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Chung (2016), có tới 54,2% người chăm sóc người bệnh sau đột quỵ não đối mặt với gánh nặng chăm sóc ở mức trung bình, chính vì vậy chúng tôi chọn xác suất p = 0,54 để phản ánh thực trạng này.
Thay các giá trị trên vào công thức: n = 1,96 2
Vậy số đối tƣợng cần điều tra tối thiểu là 96
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập đƣợc số liệu từ
113 đối tƣợng nghiên cứu có tiêu chuẩn phù hợp
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện
Biến số, chỉ số trong nghiên cứu
- Biến số khảo sát về đặc điểm chung của NB v người chăm sóc (Phụ lục 1)
Tên biến Loại biến Định nghĩa biến
Tuổi Rời rạc Là tuổi tại thời điểm khám (bằng năm hiện tại trừ đi năm sinh)
Giới Nhị phân Nam nữ
Thu nhập cá nhân liên tục bao gồm tất cả các khoản thu nhập mà một cá nhân kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định, từ tiền lương, lợi nhuận đầu tư đến các nguồn thu nhập khác.
Thời gian chăm sóc liên tục được xem xét dựa trên hai khía cạnh chính: đầu tiên là số giờ cơ bản dành cho công việc chăm sóc hàng ngày, đảm bảo sự quan tâm và hỗ trợ cần thiết cho người được chăm sóc Thứ hai là khoảng thời gian thực hiện quá trình chăm sóc, hay còn gọi là thời gian dành cho toàn bộ quá trình chăm sóc từ khởi đầu đến kết thúc Việc phân tích cả hai yếu tố này giúp đánh giá chính xác mức độ và hiệu quả của việc chăm sóc liên tục, đồng thời tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc.
Nghề nghiệp Định danh Là công việc mang lại thu nhập chính cho đối tƣợng
+ Công việc liên quan đến lao động trí óc: Cơ quan nhà nước, doanh nhân, buôn bán
+ Công việc liên quan đến lao động chân tay: Công nhân, nông dân, nội trợ, nghề tự do + Hưu trí
+ Thất nghiệp Tình trạng hôn nhân Định danh Độc thân Kết hôn / Ly thân / Ly hôn / Góa
Quan hệ giữa người chăm sóc và NB Định danh Vợ chồng, con, họ hàng
- Chỉ số đánh giá hoạt động h ng ng y của người bệnh theo thang điểm Barthel (Barthel Index) (Phụ lục 2)
Thang điểm Barthel Index (BI) được phát triển vào năm 1955 như một chỉ số đơn giản để đánh giá khả năng tự chăm sóc của người bệnh trong các hoạt động hàng ngày Chỉ số này gồm tổng cộng 10 mục, với điểm số tối đa là 100 điểm, phản ánh mức độ độc lập của người bệnh Tổng điểm của BI thay đổi từ 0, tượng trưng cho hoàn toàn phụ thuộc, đến 100, biểu thị người bệnh hoàn toàn độc lập trong sinh hoạt hàng ngày.
Các hoạt động này được xác định trong khoảng thời gian 2-3 ngày trước, giúp đánh giá mức độ phụ thuộc vào chất gây nghiện Điểm từ 0-20 cho thấy mức độ phụ thuộc hoàn toàn, điểm từ 21-60 thể hiện phụ thuộc nặng nề, điểm từ 61-90 phản ánh phụ thuộc vừa phải, còn từ 91-100 khẳng định không phụ thuộc Việc phân loại này giúp xác định chính xác mức độ nghiện và hướng điều trị phù hợp.
- Chỉ số đánh giá gánh nặng chăm sóc trên người chăm sóc sử dụng thang điểm Zarit (Zarit Burden Interview-ZBI) (Phụ lục 3)
Gồm 22 câu hỏi về những cảm giác của người chăm sóc khi chăm sóc người bệnh Phần trả lời của mỗi câu hỏi sẽ đƣợc trình bày trong phạm vi 5 điểm của thang đo - Likert Scale, cụ thể các mức điểm:
Người tham gia sẽ trả lời từng câu hỏi bằng cách chọn một trong các số từ 0 đến 4, trong đó không có câu trả lời đúng hay sai Mức độ gánh nặng chăm sóc được phân thành bốn nhóm chính: không có gánh nặng hoặc gánh nặng rất ít (0-20 điểm), gánh nặng mức độ thấp hoặc vừa phải (21-40 điểm), gánh nặng trung bình, và gánh nặng cao Phương pháp này giúp đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng của việc chăm sóc đối với người thân và người chăm sóc Đây là công cụ hữu ích để xác định các mức độ gánh nặng khác nhau và hỗ trợ lập kế hoạch chăm sóc phù hợp.
(41 – 60 điểm); gánh nặng nghiêm trọng (trên 61 điểm)
Phương pháp thu thập số liệu
Sau điều trị nội trú tại bệnh viện, người bệnh đủ điều kiện ra viện sẽ hoàn tất các thủ tục để chăm sóc tại nhà Khoảng một tháng sau, họ sẽ được hướng dẫn tái khám để kiểm tra tình trạng sức khỏe Khi người bệnh đột quỵ não đến khám lại tại Trung tâm Thần Kinh – Bệnh viện Bạch Mai và hoàn thành quá trình khám, đây là thời điểm nghiên cứu viên gặp gỡ và trao đổi Người chăm sóc đủ tiêu chuẩn tham gia mẫu nghiên cứu sẽ được mời vào quá trình thu thập dữ liệu Trước đó, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm bộ công cụ qua phỏng vấn trên 20 đối tượng để đảm bảo tính khả thi và độ chính xác của công cụ.
Trong quá trình nghiên cứu, các mục đích chính sẽ được trình bày rõ ràng và trực tiếp tới đối tượng tham gia, đảm bảo sự hiểu biết đầy đủ về nội dung nghiên cứu Đối tượng đồng ý tham gia sẽ ký xác nhận vào bản đồng thuận tham gia nghiên cứu (phụ lục 4), thể hiện sự tự nguyện và chấp thuận của họ Các phản hồi sẽ được thu thập thông qua các buổi phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộ câu hỏi soạn sẵn, giúp đảm bảo tính khách quan và chính xác của dữ liệu nghiên cứu.
Bộ câu hỏi đánh giá dựa theo khung lý thuyết của nghiên cứu về gánh nặng chăm sóc bao gồm các phần:
Phần A của bài viết tập trung vào các đặc điểm chung của người chăm sóc và người bệnh, bao gồm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, thu nhập cá nhân và mối quan hệ với người bệnh (Phụ lục 1) Ngoài ra, phần này còn đánh giá các hoạt động cá nhân của người bệnh thông qua thang điểm Barthel để xác định mức độ tự lập trong sinh hoạt hàng ngày (Phụ lục 2).
- Phần B: Câu hỏi về gánh nặng chăm sóc dựa vào thang điểm Zarit Burden Interview (Phụ lục 3)
Nghiên cứu viên thực hiện phỏng vấn từng đối tượng nghiên cứu dựa trên các nội dung trong phiếu khảo sát Quá trình này bao gồm điền đầy đủ các thông tin cần thiết và đánh dấu vào ô tương ứng với câu trả lời của đối tượng nghiên cứu Việc này đảm bảo dữ liệu thu thập được chính xác, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và hỗ trợ phân tích hiệu quả.
Sau khi phỏng vấn xong, nghiên cứu viên kiểm tra lại và đảm bảo các nội dung phỏng vấn đã đầy đủ theo yêu cầu của nghiên cứu.
Xử lý số liệu
- Số liệu đƣợc phân tích bằng phần mềm thống kê Statistical Package for the Social Sciences 20 (SPSS 20)
- Các biến số định tính đƣợc mô tả bằng bảng phân phối tần số, tỷ lệ (%)
- Các biến số định lƣợng đƣợc mô tả bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn
Thống kê mô tả các đặc điểm của người chăm sóc chính và người bệnh ĐQN
Thống kê mô tả từng mức độ gánh nặng chăm sóc theo thang điểm ZBI
Sử dụng các test kiểm định để xác định mối liên quan giữa các đặc điểm của người chăm sóc và người bệnh với gánh nặng chăm sóc
Phân tích hồi quy tuyến tính đƣợc sử dụng để phân tích mối liên quan của các biến số độc lập với gánh nặng của người chăm sóc.
Sai số và cách khắc phục
- Sai số trong quá trình xử lý số liệu
- Sai số do quá trình nhập liệu
- Chuẩn bị bộ câu hỏi rõ ràng, cụ thể và tiến hành điều tra thử nghiệm để kiểm tra bộ công cụ
- Chọn kỹ thuật thu thập thông tin phù hợp để tăng độ tin cậy
- Kiểm tra tính đầy đủ khi thu thập thông tin
- Chính xác khi nhập và tính toán số liệu.
Khía cạnh đạo đức của đề tài
Đề tài đã được sự phê duyệt bởi ban lãnh đạo Trung tâm Thần Kinh Bệnh viện Bạch Mai và nhận được sự đồng thuận từ đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, đề cương nghiên cứu cũng đã được chính thức phê duyệt bởi Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, đảm bảo tính hợp lệ và đạo đức trong quá trình thực hiện.
Trước khi trả lời bộ câu hỏi, tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được cung cấp thông tin rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu để đảm bảo sự hiểu biết đầy đủ Các đối tượng sẽ được hỏi về việc có tự nguyện tham gia hoặc từ bỏ tham gia nghiên cứu mà không chịu bất kỳ áp lực nào, đảm bảo quyền tự chủ của họ Tất cả thông tin thu thập được sẽ được giữ bí mật, không có câu trả lời nào là đúng hay sai nhằm đảm bảo tính trung thực và khách quan của dữ liệu Nghiên cứu nhằm hiểu rõ gánh nặng của người chăm sóc người bệnh đột quỵ tại nhà, từ đó xây dựng các biện pháp hỗ trợ giúp giảm thiểu gánh nặng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người chăm sóc mà không nhằm mục đích lợi ích cá nhân hay gây tổn hại cho người tham gia, cộng đồng và xã hội.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung
3.1.1 Đặc điểm của người bệnh
Bảng 3.1 Đặc điểm của người bệnh Đặc điểm của người bệnh n = 113 Tỷ lệ (%)
Tuổi trung bình của người bệnh đột quỵ não là 62,7 ± 11,0, với độ tuổi thấp nhất là 22 và cao nhất là 87 Nhóm tuổi bị đột quỵ não nhiều nhất nằm trong khoảng trung niên đến cao tuổi, đặc biệt ở các bệnh nhân trên 60 tuổi Đột quỵ não có xu hướng phổ biến hơn ở những người lớn tuổi, nhưng cũng có thể gặp ở các bệnh nhân trẻ tuổi Việc nhận biết độ tuổi nguy cơ cao giúp tăng cường các biện pháp phòng ngừa và quản lý bệnh hiệu quả.
- Giới tính: Người bệnh là nam chiếm đa số với 64 trường hợp (56,6%), nữ 49 trường hợp (43,4%)
- Chẩn đoán: Trong 113 người bệnh đột quỵ thì nhồi máu não chiếm tỉ lệ đáng kể là 96 người (85%), chảy máu não: 13 người (11,5%), chảy máu dưới nhện:
- Số lần đột quỵ não: Chủ yếu là người bệnh ĐQN lần đầu với 87 người (77%), tỷ lệ tái phát là 26 người (23%)
3.1.2 Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày (theo chỉ số Barthel)
Bảng 3.2 Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày
Mức độ độc lập trong sinh hoạt h ng ng y n = 113 Tỷ lệ %
Không phụ thuộc 68 60,2 Điểm BI trung bình 88,76 ± 15,8
Chỉ số Barthel trung bình 88,76 ± 15,8 trong đó chủ yếu là nhóm người bệnh không phụ thuộc (68 người chiếm 60,2%)
3.1.3 Đặc điểm của người chăm sóc
Bảng 3.3 Đặc điểm của người chăm sóc Đặc điểm của người chăm sóc n = 113 Tỷ lệ % Nhóm tuổi
Ly dị Ly thân Góa 4 3,5
Dưới phổ thông trung học 42 37,2
Từ phổ thông trung học trở lên 71 62,8
Nghề nghiệp của người chăm sóc
Lao động chân tay (nông dân, công nhân, nội trợ, tự do) 63 55,7 Lao động trí óc (viên chức, trí thức, thương nhân) 41 36,3
- Người chăm sóc trẻ nhất là 22 tuổi, người già nhất là 70 tuổi, tuổi trung bình là 47,36 ± 10,43 Độ tuổi từ 40 - 60 là chủ yếu (57,5%)
- Người chăm sóc nữ chiếm đa số (64,6%)
- Hầu hết người chăm sóc đã lập gia đình (96,5%)
- Trình độ văn hóa của người chăm sóc chủ yếu từ phổ thông trung học trở lên (62,8%)
- Nghề nghiệp người chăm sóc liên quan đến lao động chân tay chiếm ưu thế với 55,7%
3.1.4 Quan hệ giữa người chăm sóc v người bệnh
Bảng 3.4 Quan hệ giữa người chăm sóc và người bệnh
Mối quan hệ n Tỷ lệ %
Nhận xét: 49,5% người chăm sóc là bạn đời của người bệnh 48,7% người chăm sóc là con của người bệnh Chỉ có 1,8% người chăm sóc là họ hàng
3.1.5 Thời gian chăm sóc người bệnh
Bảng 3.5 Thời gian chăm sóc người bệnh
Thời gian chăm sóc n = 113 Tỷ lệ% Quá trình chăm sóc
Thời gian chăm sóc h ng ng y (giờ)
Quá trình chăm sóc người bệnh kéo dài từ khoảng 1 tháng đến 72 tháng, trung bình là 7,32 tháng ± 13,33 tháng Phần lớn người bệnh (62%) nhận được sự chăm sóc trong khoảng thời gian từ 1 đến dưới 3 tháng, cho thấy xu hướng chăm sóc ngắn hạn phổ biến trong nhóm này.
- Thời gian chăm sóc hàng ngày trung bình là 8,28 giờ ± 6
Bảng 3.6 Thu nhập cá nhân
Thu nhập cá nhân n = 113 Tỷ lệ%
Thu nhập trung bình hàng tháng của người chăm sóc là 7,87 ± 4,68, thấp nhất là 2tr, cao nhất là 30tr
3.1.7 Sự hỗ trợ của gia đình
Bảng 3.7 Sự hỗ trợ từ gia đình
Sự hỗ trợ của gia đình n = 113 Tỷ lệ%
Là người chăm sóc duy nhất 63 55,8
Có sự hỗ trợ của gia đình 50 44,2
Kết quả cho thấy 44,2% người chăm sóc có sự hỗ trợ từ gia đình, 55,8% còn lại là người chăm sóc duy nhất
Gánh nặng chăm sóc người bệnh đột quỵ não
3.2.1 Phân loại gánh nặng chăm sóc (theo chỉ số ZBI)
Bảng 3.8 Phân loại gánh nặng chăm sóc
Phân loại mức độ n = 113 Tỷ lệ %
Không có gánh nặng hoặc gánh nặng rất ít (0 đến 20 điểm) 50 44,2
Gánh nặng vừa phải (21 đến 40 điểm) 57 50,5
Gánh nặng trung bình (41 đến 60 điểm) 6 5,3
Gánh nặng nghiêm trọng (61 đến 88 điểm) 0 0
- Điểm gánh nặng ZBI trung bình trên người chăm sóc là 22,88 ± 9,4, chỉ số thấp nhất là 0, cao nhất là 51
Dựa trên khảo sát, 44,2% người chăm sóc cho rằng không gặp bất kỳ gánh nặng nào trong quá trình chăm sóc, trong khi đó, 55,8% còn lại cho biết họ phải đối mặt với mức gánh nặng từ vừa phải đến trung bình Không có trường hợp nào phản ánh gánh nặng chăm sóc ở mức nghiêm trọng, cho thấy phần lớn người chăm sóc cảm thấy phù hợp hoặc không quá tải trong công việc của mình.
3.2.2 Gánh nặng chăm sóc theo một số đặc điểm của người bệnh
Bảng 3.9 Gánh nặng chăm sóc theo một số đặc điểm của người bệnh Đặc điểm của người bệnh n = 113
- Gánh nặng chăm sóc người bệnh ở các nhóm tuổi là tương đồng với p = 0,08
- Không có sự khác biệt giữa gánh nặng chăm sóc người bệnh nam hay nữ với p = 0,92 > 0,05
Chăm sóc người bệnh đột quỵ não lần đầu và đột quỵ não tái phát có những khác biệt rõ rệt Theo nghiên cứu của ZBI, gánh nặng chăm sóc cho bệnh nhân đột quỵ tái phát cao hơn so với nhóm đột quỵ lần đầu Sự khác biệt này đã được chứng minh là có ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,03, nhỏ hơn ngưỡng 0,05, cho thấy rằng chăm sóc cho người bệnh đột quỵ tái phát đối mặt với nhiều thách thức hơn, cần có sựquan tâm đặc biệt.
3.2.3 Gánh nặng chăm sóc theo một số đặc điểm của người chăm sóc
Bảng 3.10 Gánh nặng chăm sóc theo một số đặc điểm của người chăm sóc Đặc điểm của người chăm sóc n = 113
Tình trạng hôn nhân Độc thân 4 3,5 27,50 4,5 0,43
Ly dị Ly thân Góa 4 3,5 26,50 4,12
Tiểu học, trung học cơ sở 42 37,2 26,12 9,33 0,06
Trung cấp, Cao đẳng 20 17,7 23,15 10,51 Đại học, sau đại học 24 21,2 17,92 7,16
- Không có sự khác biệt về gánh nặng chăm sóc giữa người chăm sóc là nam và người chăm sóc là nữ với p = 0,63 > 0,05
- Gánh nặng của người chăm sóc có tình trạng hôn nhân khác nhau không có sự khác biệt với p = 0,43 > 0,05
- Gánh nặng của người chăm sóc có trình độ học vấn khác nhau không có sự khác biệt với p = 0,06 > 0,05.
Một số yếu tố liên quan đến gánh nặng chăm sóc
3.3.1 Tuổi của người chăm sóc
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tuổi của người chăm sóc và GNCS
Nhận xét: Nhóm tuổi < 40: 36,4% NCS có gánh nặng
Nhóm tuổi 40-60: 58,5% NCS có gánh nặng
Nhóm tuổi > 60, 86,7% NCS có gánh nặng
Gánh nặng chăm sóc phụ thuộc tuổi của người chăm sóc, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
3.3.2 Mối quan hệ của người chăm sóc
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa mối quan hệ và GNCS
- Gánh nặng chăm sóc không có sự khác biệt giữa các mối quan hệ của người chăm sóc với người bệnh với p = 0,93 > 0,05
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa quá trình chăm sóc và GNCS
Quá trình chăm sóc (tháng)
Nhận xét: Nhóm chăm sóc NB từ 1 tháng – < 3 tháng: 57,1% có GNCS
Nhóm chăm sóc NB từ 3 tháng – 6 tháng: 50% có GNCS
Nhóm chăm sóc NB > 6 tháng: 54,8% có GNCS
- Không có sự khác biệt về GNCS theo quá trình chăm sóc với p = 0,89
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thời gian chăm sóc hàng ngày và GNCS
Thời gian chăm sóc h ng ng y (giờ)
Nhận xét: Nhóm chăm sóc NB < 4 giờ ngày: 43,9% có GNCS
Nhóm chăm sóc NB > 6 giờ ngày: 64,7% có GNCS
- Gánh nặngchăm sóc có sự khác biệt khi thời gian dành cho chăm sóc người bệnh hàng ngày khác nhau với p = 0,04
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thu nhập cá nhân và GNCS
Gánh nặng cảm nhận trên người chăm sóc có mức thu nhập khác nhau có sự khác biệt với p = 0,03
3.3.5 Sự hỗ trợ của gia đình
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa sự hỗ trợ của gia đình và GNCS
Là người chăm sóc duy nhất 29
Có sự hỗ trợ của gia đình 21
- Gánh nặng cảm nhận trên người chăm sóc duy nhất và người chăm sóc có sự hỗ trợ không có sự khác biệt với p = 0,67
3.3.6 Hoạt động cá nhân hàng ngày của người bệnh - ADL (theo chỉ số Bathel)
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa ADL và GNCS
Nhận xét: Không có NB hoàn toàn phụ thuộc
Nhóm chăm sóc NB phụ thuộc nặng nề: 100% NCS có GNCS
Nhóm chăm sóc NB phụ thuộc vừa phải: 72,7% NCS có GNCS
Nhóm chăm sóc NB không phụ thuộc: 39,7% NCS có GNCS
Sự khác biệt về gánh nặng của người chăm sóc đối với những người bệnh có mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày là có ý nghĩa thống kê, với giá trị p < 0,05, cho thấy mức độ độc lập của người bệnh ảnh hưởng đáng kể đến tải trọng của người chăm sóc.
Mối tương quan trong gánh nặng chăm sóc
Bảng 3.18 Gánh nặng của người chăm sóc và các yếu tố liên quan
Yếu tố Hệ số tương quan với gánh nặng của NCS
Quá trình chăm sóc 0,10 0,25 Pearson
Thời gian chăm sóc hàng ngày 0,30 < 0,05
Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của NB -0,57 < 0,05
Sự hỗ trợ của gia đình 0,03 0,73 Spearman
Nghiên cứu cho thấy có mối tương quan rõ ràng giữa gánh nặng chăm sóc và thời gian chăm sóc hàng ngày của người chăm sóc, đồng thời mức độ độc lập của người bệnh trong sinh hoạt hàng ngày theo chỉ số Bathel cũng ảnh hưởng đáng kể đến yếu tố này Thu nhập cá nhân của người chăm sóc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu gánh nặng chăm sóc hàng ngày Bên cạnh đó, tuổi của người chăm sóc và người bệnh cũng là những yếu tố cần xem xét, khi mà các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ chăm sóc và khả năng tự lập của người bệnh Hiểu rõ mối liên hệ này giúp nâng cao hiệu quả trong công tác chăm sóc và hỗ trợ người bệnh, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho cả người chăm sóc và người bệnh.
- Không có sự tương quan giữa gánh nặng chăm sóc, quá trình chăm sóc, sự hỗ trợ và mối quan hệ giữa NCS và NB.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung
4.1.1 Đặc điểm của người bệnh
Độ tuổi trung bình của người bệnh ĐQN trong nghiên cứu này là 62,7 ± 11, phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đó, chẳng hạn như của Bhavin Mandowara (2020) với tuổi trung bình là 60 và Gbiri (2015) là 59,6 ± 12,8 Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào nhóm tuổi từ 60 đến 80, chiếm 62,8%, phản ánh xu hướng chung của các nghiên cứu cho thấy người bệnh ĐQN thường có độ tuổi trên 60 Tuy nhiên, độ tuổi trung bình trong nghiên cứu này thấp hơn so với của Kazemi (2020) với tuổi trung bình là 69,9 ± 10,5, cho thấy sự khác biệt về phân bổ độ tuổi nhưng tất cả đều nhất quán về việc người bệnh ĐQN thường lớn tuổi hơn 60.
Nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn trong số bệnh nhân ĐQN, với tỷ lệ 56,6% so với nữ giới là 43,4%, tạo thành mức tỷ lệ nam/nữ là 1,3/1 Mặc dù tỷ lệ này có thể khác nhau tùy theo từng nghiên cứu và quốc gia, nhưng nhìn chung, nam giới vẫn có nguy cơ mắc ĐQN cao hơn do thường phải chịu tác động bởi nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh hơn.
Chẩn đoán đột quỵ v tiền sử đột quỵ
Trong tổng số 113 bệnh nhân đột quỵ, tỷ lệ nhồi máu não cao nhất chiếm đến 85% với 96 người, trong khi đó chảy máu não chiếm 11,5% với 13 người, và chảy máu dưới nhện chiếm 3,5% với 4 người Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đó, đều cho thấy đột quỵ do nhồi máu não chiếm tỷ lệ vượt trội Cụ thể, trong nghiên cứu của Mandowara et al (2020), tỷ lệ đột quỵ do nhồi máu não cũng thể hiện rõ ràng trong gánh nặng và hậu quả trên nhóm bệnh nhân và người chăm sóc.
Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào nhóm người bệnh ĐQN lần đầu, chiếm 77% với 87 người, trong khi tỷ lệ tái phát là 23%, tương đương 26 người (bảng 3.1) Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó về gánh nặng của người chăm sóc sau ĐQN, như của Zahiruddin đã đề cập.
(2014) khi tác giả đã chỉ ra có tới 90,2% người bệnh bị ĐQN ở lần đầu tiên [32]
4.1.2 Đặc điểm của người chăm sóc
Người chăm sóc là nữ chiếm đa số với tỷ lệ 64,6%, với tỷ lệ nữ/nam là 1,8/1, điều này được xác nhận trong các nghiên cứu y học, khi nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chiếm tỷ lệ cao trong vai trò chăm sóc như 59,3% và 77% Phụ nữ được xem là những người có khả năng nhạy cảm cao, cảm thông tốt hơn, đồng thời tạo dựng mối quan hệ gắn kết và bền chặt hơn trong việc chăm sóc người bệnh Họ cũng có khả năng xử lý các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe bệnh nhân hiệu quả hơn so với nam giới, giúp nâng cao chất lượng chăm sóc và hỗ trợ bệnh nhân tốt hơn.
Tình trạng hôn nhân, trình độ văn hóa v nghề nghiệp
Trong các nghiên cứu về đối tượng chăm sóc, tỷ lệ những người đã kết hôn chiếm đa số, đạt khoảng 93%, phản ánh xu hướng chung trong cộng đồng người chăm sóc Nghiên cứu của Nguyễn Thành Chung cho thấy có tới 92,7% người chăm sóc đã có gia đình, trong khi đó, nghiên cứu của Kazemi ghi nhận tỷ lệ này là 68,2% Điều này cho thấy phần lớn người chăm sóc đều đã lập gia đình, chủ yếu ở độ tuổi trung niên Các kết quả này phù hợp với xu hướng chung trong các nghiên cứu trước đây, khi đa số người chăm sóc là đối tượng trung niên đã có gia đình, góp phần nâng cao nhận thức về đặc điểm dân số này trong cộng đồng.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có tới 62,8% người chăm sóc có trình độ học vấn từ phổ thông trung học trở lên, cho thấy mức độ education của người chăm sóc khá cao Trong khi đó, theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Chung, tỷ lệ người chăm sóc có trình độ từ trung học phổ thông là 79,2%, xác nhận xu hướng phổ biến của trình độ học vấn trung học trong nhóm này Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến thức phổ thông trong việc chăm sóc người bệnh hoặc người cao tuổi.
Nghiên cứu cho thấy có 36,3% người chăm sóc hiện đang làm các công việc liên quan đến trí óc, trong khi 8% là người đã nghỉ hưu và 55,7% thuộc các đối tượng khác như nông dân, công nhân, nội trợ hoặc lao động tự do Việc dành nhiều thời gian để chăm sóc người thân bị bệnh ảnh hưởng đáng kể đến công việc hiện tại của người chăm sóc, với một số phải nghỉ hẳn sau khi người thân mắc bệnh Demenz (ĐQN), chỉ dành thời gian cho công việc gia đình và chăm sóc người bệnh Ngoài ra, nghiên cứu của Choi-Kwon nhận thấy rằng tình trạng thất nghiệp của cả bệnh nhân và người chăm sóc góp phần làm tăng gánh nặng cho người chăm sóc.
Gánh nặng chăm sóc người bệnh đột quỵ não
4.2.1 Mức độ gánh nặng chăm sóc Điểm gánh nặng ZBI trung bình trên người chăm sóc trong nghiên cứu này là 22,88 ± 9,4 (bảng 3.8) tức là mức độ gánh nặng chăm sóc trên toàn bộ đối tƣợng nghiên cứu đƣợc đánh giá ở mức độ thấp hay vừa phải (ZBI từ 21- 40 điểm [12]) 44,2% người chăm sóc không có gánh nặng hoặc gánh nặng rất ít 55,8% còn lại có gánh nặng chăm sóc từ vừa phải đến từ trung bình Không có gánh nặng ở mức nghiêm trọng
Nghiên cứu này cho thấy, mức độ gánh nặng chăm sóc người bệnh đột quỵ ở các bệnh nhân tại Việt Nam tương tự như kết quả của tác giả Carod-Artal (2009) tại Brazil Theo đó, yếu tố ảnh hưởng chính đến tình trạng sức khỏe nhận thức của người chăm sóc được xác định là gánh nặng chăm sóc người bệnh đột quỵ, với điểm trung bình ZBI chỉ là 27,2, thể hiện mức độ thấp của gánh nặng này.
Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Mandowara và cộng sự (2020), cho thấy gánh nặng và hậu quả của việc chăm sóc người bệnh đột quỵ khá nặng nề Trên thực tế, điểm gánh nặng chăm sóc trung bình được ghi nhận là 28,26, phản ánh mức độ tổn thất đáng kể đối với người chăm sóc Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cung cấp hỗ trợ phù hợp để giảm thiểu gánh nặng cho người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ.
Nghiên cứu của Pi-Ming Yeh (2014) cho thấy người chăm sóc gia đình thường cảm thấy gánh nặng ở mức vừa phải đến trung bình Trong khảo sát của chúng tôi, tỷ lệ người chăm sóc gặp phải gánh nặng này chiếm đa số, với 55,8%, phản ánh tầm quan trọng của vấn đề chăm sóc gia đình và ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của người chăm sóc.
Mặc dù kết quả về GNCS đều ở mức thấp, nhưng các yếu tố kinh tế - xã hội và văn hóa khác nhau giữa các quốc gia ảnh hưởng đến mức độ hỗ trợ giảm GNCS Ở Brazil, người bệnh tham gia trung tâm chăm sóc ban ngày (Day Care Center) giúp giảm gánh nặng chăm sóc Các viện dưỡng lão và viện dành cho người bệnh mạn tính phổ biến tại phương Tây, giảm nhẹ trách nhiệm của người thân Ngoài ra, việc thuê người giúp việc trả tiền (paid carer) tại các đô thị của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản giúp giảm gánh nặng chăm sóc cho gia đình.
Trong truyền thống văn hóa châu Á, đặc biệt là Việt Nam, lòng hiếu thảo luôn được coi là giá trị cốt lõi, thể hiện trách nhiệm và tình cảm của con cháu đối với ông bà, cha mẹ khi họ già yếu Đoàn kết gia đình và nghĩa vụ làm con chăm sóc cha mẹ ốm đau không chỉ thể hiện đạo lý đẹp đẽ mà còn góp phần giảm gánh nặng chăm sóc người già, giúp thúc đẩy sự giao lưu và bền chặt trong các mối quan hệ gia đình Nghiên cứu cho thấy, lòng hiếu thảo là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu áp lực trong việc chăm sóc người thân, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống và giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của tác giả Phạm Thị Hạnh trong nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến gánh nặng người chăm sóc gia đình của người lớn tuổi bị đột quỵ tại Hải Dương Kết quả cho thấy các người chăm sóc có mức độ gánh nặng ở mức trung bình, với điểm trung bình ZBI là 38,18 (SD = 14,57).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mức độ gánh nặng chăm sóc người bệnh sau đột quỵ não khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Thành Chung tại tỉnh Nam Định năm 2016, trong đó ông cho rằng phần lớn người chăm sóc (90,6%) gặp gánh nặng chăm sóc, chỉ có 9,4% không gặp phải gánh nặng Trong khi đó, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ người chăm sóc gặp gánh nặng là 55,8%, còn lại 44,2% không gặp phải gánh nặng, phản ánh sự thay đổi hoặc khác biệt trong thực trạng chăm sóc bệnh nhân sau đột quỵ.
Sự khác biệt này có thể do đối tượng nghiên cứu của hai nghiên cứu khác nhau; trong khi tác giả Chung chọn người nhà của người bệnh sau khi ra viện từ 1 tuần trở đi, thì chúng tôi lại chọn người đưa bệnh nhân đến tái khám sau khoảng 1 tháng điều trị tại nhà, khi khả năng độc lập trong sinh hoạt đã được cải thiện Điều này thể hiện qua chỉ số đánh giá khả năng tự chăm sóc của người bệnh (chỉ số Barthel), trong đó nhóm bệnh nhân của chúng tôi có điểm trung bình là 88,76 ± 15,8, chủ yếu là nhóm không phụ thuộc (60,2%), còn trong nghiên cứu của Nguyễn Thành Chung, điểm trung bình hoạt động cá nhân là 47,8 ± 19,9, phần lớn bệnh nhân phụ thuộc người chăm sóc với tỷ lệ phụ thuộc nặng chiếm 66,7%, phụ thuộc hoàn toàn 10,4%, và phụ thuộc vừa phải 21,9%, trong khi đó chỉ 1% bệnh nhân đột quỵ não không phụ thuộc vào người chăm sóc.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy gánh nặng chăm sóc của người chăm sóc thấp hơn so với kết quả của Ngô Xuân Long tại Thái Nguyên, nơi gánh nặng trung bình là 50,10 (SD = 5,99) Sự khác biệt này có thể do mức thu nhập trung bình hàng tháng của người chăm sóc trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn (7,87 triệu đồng so với 2,79 triệu đồng), giúp họ chủ động hơn trong công việc chăm sóc do nhu cầu tài chính lớn liên quan đến chi phí y tế như thuốc, viện phí, và đi lại Những yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến khả năng chăm sóc người bệnh đột quỵ, trong đó chi phí y tế và các khoản khác như vận chuyển, ăn uống đều đóng vai trò quan trọng.
4.2.2 Gánh nặng chăm sóc theo một số đặc điểm của người bệnh
Nghiên cứu cho thấy gánh nặng chăm sóc người bệnh không khác biệt rõ rệt giữa các nhóm tuổi (p = 0,08) và không có sự khác biệt đáng kể giữa chăm sóc người bệnh nam và nữ (p = 0,92), cho thấy gánh nặng này tương đồng bất kể giới tính hay độ tuổi của người chăm sóc.
Trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến gánh nặng của người chăm sóc người sống sót sau đột quỵ tại Hàn Quốc, Smi Choi-Kwon và các cộng sự đã chỉ ra rằng tuổi và giới tính của bệnh nhân không liên quan đến điểm gánh nặng của người chăm sóc, cho thấy các yếu tố khác có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong việc đánh giá mức độ căng thẳng và tải trọng công việc cho người chăm sóc.
Chăm sóc người bệnh đột quỵ não lần đầu khác biệt rõ rệt so với chăm sóc người bệnh đột quỵ não tái phát, với ý nghĩa thống kê p = 0,03 (bảng 3.9) Người bệnh đột quỵ tái phát thường làm tăng số lần nhập viện và để lại hậu quả nặng nề hơn so với lần đầu, dẫn đến khả năng hồi phục giảm và khó khăn hơn trong việc chăm sóc Các yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến thời gian và tài chính của người chăm sóc, gây áp lực lớn hơn đối với họ.
4.2.3 Gánh nặng chăm sóc theo một số đặc điểm của người chăm sóc
Nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về gánh nặng chăm sóc giữa người chăm sóc là nam và nữ với p = 0,63 Mặc dù tỷ lệ người chăm sóc là nữ cao hơn so với nam, nhưng cả nam và nữ đều đối mặt với gánh nặng trong việc chăm sóc người thân bị ĐQNC Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thành Chung, cho thấy không chỉ người chăm sóc nữ mà cả người chăm sóc nam cũng có gánh nặng chăm sóc, và sự khác biệt giới tính về gánh nặng chăm sóc không mang ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng những người chăm sóc nữ thường phải gánh chịu nhiều trọng trách hơn so với nam giới Sự khác biệt này phần lớn xuất phát từ các phong tục xã hội, nơi mà phụ nữ xem việc chăm sóc và quan tâm gia đình như một nghĩa vụ bắt buộc và được kỳ vọng từ gia đình cũng như cộng đồng.
Tình trạng hôn nhân v trình độ học vấn