1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc

61 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái, Tập Tính Của Loài Cá Cóc Tam Đảo (Paramesotriton deloustali Bourret, 1934) Và Tìm Hiểu Kỹ Thuật Nuôi Tại Trạm Đa Dạng Sinh Học Mê Linh, Vĩnh Phúc
Tác giả Hoàng Thị Biệt
Người hướng dẫn Ths. Giang Trọng Toàn
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên rừng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Tình hình chăn nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam (10)
    • 1.2. Sơ lƣợc về loài Cá cóc tam đảo (11)
    • 1.3. Các nghiên cứu về động vật tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (13)
  • Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (15)
    • 2.1. Điều kiện tự nhiên (15)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (15)
      • 2.1.2. Địa hình (15)
      • 2.1.3. Địa chất – Thổ nhƣỡng (16)
      • 2.1.4. Khí hậu, thủy văn (17)
      • 2.1.5. Hiện trạng tài nguyên rừng (18)
    • 2.2. Điều kiện kinh tế, xã hội (20)
    • 2.3. Nhận xét (21)
  • Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (22)
      • 3.1.1. Mục tiêu chung (22)
      • 3.1.2. Mục tiêu cụ thể (22)
    • 3.2. Đối tƣợng nghiên cứu (22)
    • 3.3. Phạm vi nghiên cứu (22)
    • 3.4. Nội dung nghiên cứu (22)
    • 3.5. Phương pháp nghiên cứu (23)
      • 3.5.1. Phương pháp kế thừa tài liệu (23)
      • 3.5.2. Phương pháp phỏng vấn (23)
      • 3.5.3. Theo dõi diễn biến tại hiện trường (25)
  • Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (31)
    • 4.1. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính loài Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt (31)
      • 4.1.1. Đặc điểm hình thái (31)
    • 4.2. Kỹ thuật tạo bể nuôi Cá cóc tam đảo (38)
    • 4.3. Nhu cầu dinh dƣỡng và khẩu phần ăn của loài Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt (40)
      • 4.3.1. Thành phần thức ăn của Cá cóc tam đảo (40)
      • 4.3.2. Khẩu phần ăn hằng ngày (40)
      • 4.3.3. Thức ăn ƣa thích của Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt (0)
      • 4.3.4. Thời gian, cách cho ăn (44)
    • 4.4. Khả năng sinh trưởng của Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt (45)
    • 4.5. Đặc điểm sinh sản và kỹ thuật tạo giống Cá cóc tam đảo (46)
    • 4.6. Kỹ thuật phòng và chữa trị một số bệnh trong quá trình nuôi Cá cóc tam đảo (47)
      • 4.6.1. Các bệnh thường gặp ở Cá cóc tam đảo (47)
      • 4.6.2. Biện pháp phòng bệnh cho Cá cóc tam đảo (48)
    • 4.7. Đánh giá các biện pháp chăm sóc Cá cóc tam đảo đang đƣợc thực hiện tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh và đề xuất giải pháp (49)
  • PHỤ LỤC (55)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tình hình chăn nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam

Nghề nuôi động vật hoang dã đang trở thành hướng đi mới nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường về các sản phẩm từ động vật, góp phần giảm áp lực săn bắt từ tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học Đây cũng là giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, góp phần xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển bền vững.

Chăn nuôi động vật hoang dã ngày càng trở thành nghề kinh doanh mang lại thu nhập cao và hiệu quả kinh tế rõ rệt, bao gồm các loại như Hươu sao, khỉ, nhím, don, cầy, trăn, rắn độc, ba ba, cá sấu, ếch đồng, chim cảnh và cá cảnh Các làng nghề tiêu biểu như nuôi Hươu sao tại Quỳnh Lưu (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Hiếu Liêm (Đồng Nai) đã hình thành và phát triển mạnh mẽ Chăn nuôi rắn hổ mang ở phường Lệ Mật (quận Long Biên) cũng là một hoạt động đang thu hút nhiều sự chú ý của các hộ dân địa phương, góp phần nâng cao sinh kế và thúc đẩy nền kinh tế địa phương.

Hà Nội), xã Vĩnh Sơn (huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc); nuôi Nhím, Don ở Ba

Thụy Phương (Hà Nội), Cúc Phương (Ninh Bình), và Cát Bà (Hải Phòng) are well-known destinations in northern Vietnam, each offering unique natural attractions Các địa phương như Hải Dương, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thanh Hóa và Hà Tĩnh cũng nổi bật với hoạt động nuôi Ba Ba, một loài động vật đặc sản được nhiều địa phương phát triển để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Việc nuôi Ba Ba ở các khu vực này không chỉ góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp địa phương mà còn giúp nâng cao giá trị kinh tế cộng đồng.

Hoạt động chăn nuôi động vật hoang dã tại Việt Nam hiện còn nhiều hạn chế về kỹ thuật nhân nuôi, dịch vụ thú y, vốn đầu tư, định hướng nhân nuôi và quy mô nhỏ lẻ Phần lớn các cơ sở chăn nuôi đều theo hình thức hộ gia đình, chưa trở thành phong trào rộng rãi trong cộng đồng Trong cả nước, chỉ có một số ít cơ sở chăn nuôi động vật hoang dã quy mô tập trung, như Vườn thú Hà Nội, Thảo cầm viên Sài Gòn, Vườn Quốc gia Cúc Phương, Đảo Rều (Quảng Bình), Hòn Tre (Nha Trang), Trung tâm Giống Thụy Phương Hà Nội, Trung tâm Cứu hộ Sóc Sơn (Hà Nội), và Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc).

Theo số liệu của Văn phòng CITES Việt Nam (2013), nước ta có tổng cộng 22.357 cơ sở nhân nuôi, gấp nhiều lần so với số lượng cơ sở nhân nuôi được thống kê trước đó Điều này phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của ngành nhân nuôi trong nước, góp phần vào lĩnh vực bảo tồn động vật hoang dã Tuy nhiên, việc quản lý và giám sát các cơ sở này cần tăng cường để đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học Các cơ sở nhân nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ngành thủ công mỹ nghệ, đồng thời là thách thức lớn trong công tác kiểm soát nguồn cung ứng các loài động vật hoang dã.

Năm 2007, có khoảng 4.321 cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã, đang nhân giống và nuôi dưỡng hơn 3 triệu cá thể Tuy nhiên, số lượng các cơ sở và cá thể động vật được nuôi có thể lớn hơn nhiều do nhiều cơ sở chưa đăng ký với cơ quan quản lý CITES Ngoài ra, còn có nhiều trại nuôi các nhóm động vật hoang dã khác không cần đăng ký với cơ quan kiểm lâm, gây khó khăn trong việc kiểm soát và quản lý hoạt động nuôi nhốt.

Hiện nay, có hơn 196 loài động vật hoang dã đang được nhân nuôi tại Việt Nam, chủ yếu nhằm mục đích kinh tế như sản xuất thực phẩm và dược liệu, trong đó có 111 loài nguy cấp, quý hiếm; 38 loài thông thường và 47 loài hoang dã khác (Tổng cục lâm nghiệp, 2013) Tuy nhiên, vẫn chưa có loài Cá cóc Tam Đảo được đưa vào nuôi nhân tạo, do đó, nghiên cứu kỹ thuật nhân nuôi loài này sẽ góp phần đa dạng hóa ngành chăn nuôi thú rừng, mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời giúp bảo tồn những loài lưỡng cư quý hiếm, đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam.

Sơ lƣợc về loài Cá cóc tam đảo

Dựa theo các tài liệu như Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998), Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009), Sách đỏ Việt Nam (2007), Sách đỏ thế giới (2017) và Tra cứu sinh vật rừng Việt Nam (2016), loài Cá cóc tam đảo có đặc điểm nổi bật về hình thái, sinh học, sinh thái, tập tính, tình trạng bảo tồn và phân bố địa lý Những nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về đặc điểm hình thái như kích thước, màu sắc, hình dạng của loài, cũng như các yếu tố sinh thái và sinh học liên quan đến tập tính sinh sống của chúng Các nguồn dữ liệu này cũng đánh giá tình trạng bảo tồn của Cá cóc tam đảo và xác định phạm vi phân bố chủ yếu tại các khu vực rừng tự nhiên của Việt Nam, góp phần nâng cao ý thức về bảo vệ loài và các hệ sinh thái liên quan.

Tên phổ thông: Cá cóc tam đảo (tên gọi khác: Tắc kè nước, Sa giông, Cá cóc bụng hoa)

Tên khoa học: Paramesotriton deloustali Bourret, 1934

Bộ: Ếch nhái có đuôi (Caudata) Đặc điểm nhận dạng:

Cá cóc Tam Đảo có thân hình dài giống thằn lằn, thuôn dài, hơi dẹt từ trên xuống với độ dài khoảng 153,5-185 mm Đuôi dài, dẹp bên, mút đuôi tròn, giúp chúng di chuyển linh hoạt trong môi trường tự nhiên Da cá có nhiều mụn sù sì và tiết chất nhầy, tạo thành đặc điểm nhận diện nổi bật Vỏ ngoài có màu xám đen, được trang trí bằng hai gờ sần sùi chạy dọc hai bên cùng một gờ giữa sống lưng, góp phần bảo vệ cơ thể Bụng của cá có màu đỏ cam, tạo điểm nhấn sinh động và giúp nhận diện dễ dàng loài này.

Trong bài viết này, chúng tôi mô tả đặc điểm nhận biết của loài vật này với các đường xám đen nối nhau thành mạng lưới Con cái thường trưởng thành hơn con đực về kích thước Vào mùa sinh sản, con đực nổi bật với dải xanh sáng chạy suốt hai bên mặt đuôi, tạo nét đặc trưng riêng biệt Ngoài ra, mép đuôi thường có màu đỏ da cam, đặc biệt là phần gần lỗ huyệt, giúp nhận diện dễ dàng hơn trong quá trình nghiên cứu hoặc quan sát.

Cá cóc có 4 chi ngắn nhưng khỏe, giúp chúng bò nhanh trên mặt đất Trong môi trường nước, cá cóc tam đảo chủ yếu bơi bằng những cú uốn lượn của đuôi và chân áp sát thân, tạo sự linh hoạt khi di chuyển.

Hình 1.1: Cá cóc tam đảo - Paramesotriton deloustali (Bourret, 1934) Đặc điểm sinh học, sinh thái:

Cá cóc tam đảo sống ở suối với độ cao từ 200 đến 1000 mét, thích nghi với môi trường nước tự nhiên Loài này là ăn tạp, thức ăn bao gồm thảo mộc, côn trùng (ấu trùng và trưởng thành), trứng ếch nhái, ốc, nòng nọc, cá con, giun và bùn Cá cóc đẻ vào cuối đông, đầu xuân (tháng 1-4), với quá trình thụ tinh không hoàn toàn diễn ra trong môi trường nước Sau khi thụ tinh, cá cái bò lên cạn để đẻ trứng, thường ở các đám lá mục, ẩm ướt dưới các tảng đá gần suối Trong môi trường nuôi nhốt, chúng đẻ trứng trong các giá thể như rong, đá có sẵn trong bể, và cá cái có thể đẻ nhiều lần trong một vụ, vào ban ngày hoặc ban đêm, với số lượng trứng mỗi lần đẻ rất khác nhau.

Tỷ lệ nở của trứng và sự phát triển của nòng nọc phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ môi trường, phù hợp nhất từ 17°C đến 27°C Nòng nọc có màu đen, mang ngoài màu đỏ hồng ở hai bên mang tai, bụng sáng và sau khoảng 2 tháng, chúng ngả vàng và xuất hiện các mạng lưới đen như họa tiết trên bụng con trưởng thành Mang ngoài tiêu dần và biến mất vào khoảng tháng 4-5, khi cá cóc thường bò lên cạn; giai đoạn này vẫn chưa được nghiên cứu kỹ trong tự nhiên (Sinh vật rừng Việt Nam, 2016).

Cá cóc tam đảo là loài đặc hữu của Việt Nam Theo Nguyễn Văn Sáng,

Cá cóc Tam Đảo được phát hiện tại nhiều địa phương như Vĩnh Phúc, Lào Cai, khu vực Tam Đảo giữa ba tỉnh Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và Thái Nguyên, cùng các khu vực như Ba Bể, Chợ Đồn (Bắc Kạn), Sín Mần (Hà Giang) Ngoài ra, loài cá này còn được ghi nhận tại Trung Quốc, mở rộng phạm vi phân bố của chúng theo các nghiên cứu như của Zhang et al (2017) Các ghi nhận này cho thấy sự phân bố rộng của Cá cóc Tam Đảo trong khu vực Đông Bắc Việt Nam và Trung Quốc, góp phần quan trọng vào công tác bảo tồn và nghiên cứu đa dạng sinh học của loài.

Cá cóc tam đảo có giá trị về mặt bảo tồn, khoa học, thẩm mỹ, làm cảnh

Cá cóc Tam Đảo hiện đang bị săn bắt mạnh ngoài tự nhiên, với khu vực phân bố hạn chế khiến loài này đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao Theo Sách đỏ Việt Nam (2007), cá cóc Tam Đảo được xếp vào cấp nguy cấp (EN), trong khi đó theo Sách đỏ thế giới của IUCN, loài này thuộc cấp nguy cấp (VU), phản ánh mức độ đe dọa nghiêm trọng đối với sự tồn tại của chúng.

2017) Ngoài ra, loài thuộc nhóm IIB trong Nghị định 32 (2006).

Các nghiên cứu về động vật tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh

Trạm ĐDSH Mê Linh, thành lập từ năm 1999, với mục tiêu bảo vệ rừng đầu nguồn, phục hồi rừng và bảo tồn đa dạng sinh học, đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ sinh thái tự nhiên tại khu vực Trải qua 19 năm hoạt động, trạm đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong việc bảo tồn nguyên vị và chuyển vị các loài sinh vật, góp phần vào sự phát triển bền vững của sinh cảnh Các hoạt động của Trạm ĐDSH Mê Linh giúp nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên rừng, đồng thời thúc đẩy các sáng kiến phát triển sinh vật sinh thái địa phương.

Khu vực đất rừng của Trạm vẫn còn lưu giữ đa dạng động vật hoang dã như hươu, lợn rừng, cầy, sóc, dúi, rắn, góp phần làm phong phú hệ sinh thái địa phương Hệ thực vật ở đây gồm khoảng 1.200 loài, bao gồm các loài cây bản địa và các loài thực vật bổ sung như kim giao, nghiến, sưa, sao đen, nhội, lát hoa, vàng anh, khao, chò nâu, tạo nên một hệ sinh thái đa dạng và phong phú.

Trạm ĐDSH Mê Linh sở hữu các khu vực nuôi bán hoang dã đa dạng, bao gồm khu nuôi các loài thú lớn như Hươu sao, Nai, và Khỉ, giúp bảo tồn và chăm sóc các loài động vật quý hiếm Ngoài ra, trạm còn có khu nuôi bướm, các loài lưỡng cư như Cá cóc Tam Đảo và Cá cóc Việt Nam, phù hợp với mục tiêu giáo dục và nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học Đặc biệt, khu nuôi các loài bò sát với hơn 86 cá thể rùa thuộc 11 loài, cùng các loài rắn roi, rắn lục, thằn lằn, và cá sấu, đều sinh trưởng tốt trong môi trường phù hợp, góp phần bảo tồn và phát triển các loài động vật hoang dã tại địa phương.

Hầu hết các loài động vật được chuyển giao từ Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Sóc Sơn hoặc tiếp nhận từ kiểm lâm và công an sau khi thu giữ từ lâm tặc hoặc hoạt động buôn bán trái phép Các tổ chức này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và gìn giữ động vật hoang dã khỏi nạn săn bắt và thương mại trái phép Việc tiếp nhận và cứu hộ động vật hoang dã giúp giảm thiểu tác động của hoạt động săn bắt trái phép và góp phần nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ đa dạng sinh học.

Hàng năm, Trạm ĐDSH Mê Linh tiếp đón nhiều đoàn sinh viên và học viên cao học từ các trường cao đẳng, đại học, viện nghiên cứu như Cao đẳng Vĩnh Phúc, Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Đại học Nông nghiệp Hà Nội và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật để tham quan, học tập và nghiên cứu Ngoài ra, trạm cũng đón tiếp nhiều đoàn khách quốc tế đến từ các quốc gia khác, góp phần thúc đẩy hợp tác quốc tế và phát triển bền vững.

Các quốc gia như Mỹ, Đức, Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc đều tham gia các chương trình hợp tác về giáo dục và bảo tồn thiên nhiên, như Vườn thực vật New York và Vườn thú Cologne Vào dịp nghỉ hè, Trạm ĐDSH Mê Linh thường tổ chức trại hè cho học sinh nhằm thúc đẩy tình yêu thiên nhiên và nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên quốc gia Những hoạt động này góp phần truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ về vai trò của bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững.

Tại Trạm đã có nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh học của các loài động vật, như nghiên cứu của Trần Đại Thắng (2014) về sự phân bố và đặc điểm của cá, bò sát, lưỡng cư; cũng như nghiên cứu của Đặng Huy Phương và cộng sự (2017) về mô hình bảo tồn đa dạng sinh học trong giai đoạn 2016 – 2020 Đặc biệt, loài Cá cóc Tam Đảo đã được nhân nuôi bắt đầu từ năm 2014, nhưng chưa có các nghiên cứu chi tiết, chủ yếu là các hoạt động thử nghiệm nhân giống Do đó, nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin hữu ích về việc nuôi loài Cá cóc Tam Đảo, góp phần vào công tác bảo tồn các loài lưỡng cư đặc hữu và quý hiếm của khu vực.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Trạm ĐDSH Mê Linh – Vĩnh Phúc nằm tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, cách trung tâm thị xã khoảng 35 km về phía Bắc, thuộc địa phận của tỉnh Vĩnh Phúc Nằm ở phía Đông nam dãy núi Tam Đảo, khu vực có địa hình dốc trung bình, cao độ từ 50 đến 550 mét so với mực nước biển Diện tích của trạm rộng 170,3 ha, với chiều dài khoảng 3.000 mét và chiều rộng trung bình khoảng 550 mét, chỗ rộng nhất khoảng 800 mét và chỗ hẹp nhất khoảng 300 mét.

Khu vực Trạm có toạ độ:

105 o 42’40’’ - 105 o 42’40’’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Phía Đông và phía Nam giáp hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên

Phía Tây giáp vùng ngoại vi Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

Trạm ĐDSH Mê Linh nằm trong vùng bán sơn địa phía Bắc huyện Mê Linh, thuộc phần kéo dài về phía Đông Nam của dãy Tam Đảo với địa hình đồi núi thấp và xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam Khu vực có địa hình chủ yếu là đất dốc, độ chia cắt sâu với nhiều dông phụ gần vuông góc với dông chính, độ dốc trung bình từ 15 – 30 độ, nhiều nơi dốc đến 30 – 35 độ Điểm cao nhất của trạm đạt đến 520m tại đỉnh núi Đá Trắng Ngoài ra, các bãi bằng rất ít, phân bố rải rác dọc theo ven suối phía Tây, góp phần tạo nên đặc điểm địa hình đa dạng của khu vực.

Hình 2.1: Bản đồ vị trí địa lý Trạm ĐDSH Mê Linh

- Địa chất Đất tại Trạm gồm 2 loại chủ yếu:

+ Ở độ cao trên 400m là đất feralitic màu vàng phát triển trên đá sa thạch cuội hoặc dăm kết

+ Ở độ cao dưới 400m là đất feralitic màu vàng đỏ phát triển trên đá sa phiến thạch

Khu vực có đất dốc tụ phù sa nằm ven các suối lớn ở độ cao dưới 100m, phù hợp với các mục đích nông nghiệp Đất nơi đây có đặc điểm chua với pH từ 5,0 đến 5,5, có thành phần cơ giới trung bình và độ dày tầng đất khoảng 30-40cm, phù hợp cho trồng trọt và phát triển cây trồng.

Các loại đá mẹ thường khá cứng vững với thành phần khoáng chứa nhiều Thạch anh và Muscovit, khó bị phong hóa và hình thành các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt thô Do đặc tính này, đất dễ bị rửa trôi và xói mòn, đặc biệt ở các khu vực dốc cao từ 300-400m, nơi xói mòn mạnh làm lộ ra phần đá cứng rất khó phân hủy.

Theo nguồn gốc phát sinh trong vùng có hai loại đất chính sau:

Đất feralit mùn đỏ vàng ở độ cao trên 300m có màu vàng ưu thế nhờ vào độ ẩm cao, hàm lượng sắt di động và nhôm tích lũy cao Do phát triển trên đá Macsma axit kết tinh chua, tầng đất này mỏng, có thành phần cơ giới nhẹ và không có tầng thảm mục, với đá lộ rõ trên 75%.

Đất Feralit vàng đỏ phát triển ở độ cao dưới 300m trên nhiều loại đá khác nhau Loại đất này có khả năng hấp phụ yếu do chứa nhiều khoáng sét phổ biến là Kaolinit.

Đất dốc tụ phù sa ven suối, nằm ở độ cao dưới 100m, có thành phần cơ giới trung bình và tầng đất dày, phù hợp cho việc trồng lúa và hoa màu Loại đất này có độ ẩm cao, màu mỡ và đã được khai phá từ lâu để phục vụ nông nghiệp Tuy nhiên, đất thuộc loại chua với độ pH từ 3,5 đến 5,5, với độ dày tầng đất trung bình từ 30 đến 40cm, đòi hỏi biện pháp cải tạo phù hợp để nâng cao chất lượng canh tác.

Trạm ĐDSH Mê Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của đồng bằng Bắc Bộ, với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24°C và sự phân bố không đều Tháng 6, 7 và 8 là những tháng có nhiệt độ cao nhất, có thể lên tới 40°C, trong khi mùa lạnh diễn ra vào tháng 12, 1 và 2 Nhiệt độ trung bình vào mùa hè dao động từ 27 – 29°C, còn vào mùa đông khoảng 16 – 17°C.

Lượng mưa hàng năm dao động từ 1.100 đến 1.600 mm, phân bố không đều và tập trung chủ yếu vào mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8 Khu vực này có hai mùa gió rõ rệt: gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau và gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 Độ ẩm trung bình của khu vực đạt khoảng 81,9%, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loại cây trồng và hệ sinh thái. -Nâng tầm nội dung khí hậu với bài viết chuẩn SEO, tối ưu hóa độ ẩm và lượng mưa hiệu quả ngay hôm nay!

Trạm ĐDSH Mê Linh là khu vực đầu nguồn quan trọng, nơi nhiều suối nhỏ chảy vào hồ Đại Lải quanh năm, bắt nguồn từ điểm cực Bắc và chảy dọc theo biên giới phía Tây giáp VQG Tam Đảo Các suối này gặp suối Thanh Lộc trước khi đổ vào hồ, góp phần duy trì lượng nước cho hồ Đại Lải Bên cạnh đó, còn có một số suối cạn ngắn chỉ chảy sau những trận mưa lớn, mở rộng hệ sinh thái tự nhiên của khu vực.

2.1.5 Hiện trạng tài nguyên rừng

Hệ động vật được xác định qua kết quả điều tra năm 2003 của Phòng Động vật có xương sống - Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật Trong nghiên cứu này, đã ghi nhận thành phần đa dạng gồm 10 phân loại học của 5 lớp động vật chính: thú, chim, bò sát, ếch nhái và côn trùng Các phân loại này bao gồm 25 bộ, 99 họ, thể hiện sự phong phú và đa dạng của hệ động vật tại khu vực.

Khu vực nghiên cứu nằm trong miền địa lý thực vật Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, chủ yếu tồn tại các nhân tố bản địa đặc hữu của khu hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa, với các nhóm thực vật như họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), đều thể hiện sự đa dạng lớn Ngoài ra, nơi đây còn có sự hiện diện của các loài cây thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Xoài (Anacardiaceae), họ Trám (Burseraceae), họ Bồ hòn (Sapinraceae), họ Sau sau (Hamamelidaceae), và họ Gạo (Bombaceae), phản ánh tính đa dạng sinh học phong phú Đồng thời, khu vực còn có các loài thực vật di cư từ phía Nam lên, như các cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) Với diện tích 170ha, Trạm ĐDSH Mê Linh hiện lưu giữ dữ liệu về 166 họ thực vật, 651 chi và 1129 loài, góp phần quan trọng vào công tác bảo tồn và nghiên cứu hệ sinh thái thực vật địa phương.

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Đồng Tấn (2003), trong khu vực nghiên cứu có các kiểu thảm thực vật tự nhiên sau:

- Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp, gồm có:

Cây gỗ lá rộng thường phân bố rải rác trên các sườn núi ở độ cao từ 300 mét trở lên tại tiểu khu 11 của Trạm ĐDSH Mê Linh Đây là những khoảnh rừng thứ sinh mới được phục hồi sau quá trình khai thác, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì hệ sinh thái tự nhiên.

- Rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp, gồm có: Cây gỗ lá rộng, rừng nứa xen cây gỗ và rừng giang

Cây gỗ lá rộng thường mọc tại các khu rừng phục hồi sau khai thác kiệt, đất nương rẫy hoặc các vùng đất trồng rừng thất bại Loài cây này chủ yếu phân bố ở sườn núi với độ cao từ 200 mét trở lên, đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học và phục hồi hệ sinh thái rừng.

Rừng nứa xen gỗ là hệ sinh thái hình thành do khai thác quá mức và phục hồi sau hoạt động nương rẫy, chủ yếu phân bố tại tiểu khu 11 Trạm ĐDSH Mê Linh Kiểu rừng này thường xuất hiện dọc theo suối và ven đường dông giữa Trạm ĐDSH Mê Linh với Vườn Quốc gia Tam Đảo, góp phần đa dạng sinh học đặc trưng của khu vực.

Điều kiện kinh tế, xã hội

Trạm ĐDSH Mê Linh nằm ở xã Ngọc Thanh, với tổng số 2.783 hộ dân và 12.731 người cư trú Dân tộc Kinh chiếm 54%, trong khi dân tộc thiểu số chiếm 46%, phản ánh sự đa dạng văn hóa của địa phương Mật độ dân số của xã là 139 người trên km², cho thấy dân cư tập trung khá đông đúc Hiện có 6.218 người trong độ tuổi lao động, trong đó, lao động nông, lâm, thủy sản chiếm phần lớn với 2.640 hộ, cùng với đó là 93 hộ làm ngành nghề phụ và 50 hộ công nhân viên chức, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

- Các nguồn thu nhập của người dân:

Nông nghiệp, bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, chiếm đến 75% trong cơ cấu kinh tế của xã, trong khi khai thác lâm sản từ rừng chiếm khoảng 12% Các hoạt động dịch vụ và ngành nghề phụ góp phần không nhỏ vào tổng thu nhập của địa phương Lương thực bình quân đầu người đạt 394kg thóc mỗi năm, phản ánh mức sống ổn định của cộng đồng Tỷ lệ hộ nghèo của xã hiện là 4,41%, cho thấy sự nỗ lực trong giảm nghèo và nâng cao đời sống cư dân.

- Về giao thông, thủy lợi:

Do địa bàn xã rộng, diện tích đồi rừng chiếm 2/3 diện tích nên việc đi lại của người dân trong xã gặp nhiều khó khăn

Xã có một hồ lớn và ba suối tự nhiên, trong đó hồ Đại Lải đóng vai trò chính là nguồn cung cấp nước cho 40ha đất canh tác Các diện tích cấy lúa còn lại chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước mưa tự nhiên.

- Văn hóa – giáo dục – y tế:

Toàn xã có 02 trạm y tế với diện tích 150m², 02 trường THCS và 02 trường tiểu học với 32 phòng học, 2.556 học sinh

Toàn xã có 14 trạm biến thế, đảm bảo cung cấp điện cho 100% dân số trong khu vực Người dân chủ yếu sử dụng nước từ giếng khơi sâu và giếng khoan nhỏ, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường Hệ thống điện và nguồn nước sạch góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng địa phương.

- Tình hình hoạt động lâm nghiệp:

Xã có tổng diện tích tự nhiên là 7.731,14ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỉ lệ lớn nhất với 4.007,31ha Tuy nhiên, diện tích đất trống vẫn còn khá lớn, đạt 930,51ha, cho thấy việc sử dụng đất ở địa phương còn chưa hợp lý Nhiều diện tích đất chưa có rừng, gây ảnh hưởng đến yêu cầu phòng hộ và bảo vệ môi trường Việc quản lý và sử dụng đất cần được xem xét để đảm bảo phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên rừng hiệu quả.

Mặc dù khu vực nghiên cứu không có người dân sinh sống, nhưng do tập quán của cộng đồng quanh vùng, rừng vẫn chịu nhiều tác động tiêu cực Các hoạt động như thả gia súc sau mùa vụ, lấy củi, lấy măng và khai thác lâm sản ngoài gỗ đã ảnh hưởng đáng kể đến hệ sinh thái rừng trong khu vực.

Trong những năm gần đây, nhờ sự đổi mới các chính sách về kinh tế, xã hội của Nhà nước, đời sống của nhân dân trong xã đã được cải thiện rõ rệt, với tổng thu nhập tăng lên đáng kể Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các tập quán khai thác lâm sản kéo dài như chặt phá rừng, săn bắt thú và đốt rừng làm nương rẫy, gây ra tình trạng suy giảm diện tích rừng nghiêm trọng Những hành động này đã làm giảm đa dạng sinh học, làm suy thoái hệ sinh thái rừng, với nhiều cây gỗ quý hiếm không còn tồn tại, dẫn đến hình thành các thảm cỏ và thảm cây bụi, đe dọa sự cân bằng của nhận thức bảo vệ rừng trong cộng đồng.

Nhận xét

Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh là nguồn của một con suối nhỏ chảy quanh năm, bắt nguồn từ điểm cực Bắc chạy dọc biên giới phía Tây giáp Vườn Quốc gia Tam Đảo, gặp suối Thanh Lộc đổ vào hồ Đại Lải, thể hiện vai trò quan trọng trong hệ sinh thái khu vực Nằm trong vùng địa lý thực vật Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, khu vực này chủ yếu bảo tồn các nhân tố bản địa đặc hữu của hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa, đồng thời còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố thực vật di cư từ phía Nam, góp phần tạo nên quần thể sinh vật đa dạng và phong phú.

- Nhiều thể sinh vật đa dạng miền địa lý thực vật Đông Bắc và Bắc Trung

Bộ, trong đó chủ yếu tồn tại

Đời sống của người dân trong khu vực vẫn phụ thuộc nhiều vào nông lâm nghiệp, dẫn đến các tác động tiêu cực như thả gia súc sau mùa vụ, khai thác củi, lấy măng và khai thác lâm sản ngoài gỗ, ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái địa phương.

Trình độ dân trí của cộng đồng địa phương còn thấp và nhận thức về bảo tồn cùng tầm quan trọng của đa dạng sinh học chưa được nâng cao, đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số Người dân vẫn quen sống dựa vào tài nguyên rừng, trong đó các sản phẩm rừng là nguồn thực phẩm thiết yếu hàng ngày Khi gặp phải tình huống thiếu hụt lương thực hoặc tiền bạc, dân làng thường vào rừng để thu hái lâm sản, săn bắn thú rừng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh Ngoài ra, hoạt động khai thác gỗ, làm củi và các sản phẩm ngoài gỗ cũng diễn ra thường xuyên, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và đa dạng sinh học của khu vực.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 Mục tiêu chung Đề tài đƣợc thực hiện nhằm góp phần bảo tồn loài Cá cóc tam đảo đang bị suy giảm nghiêm trọng ngoài tự nhiên và hướng đến phát triển kinh tế quy mô hộ gia đình

3.1.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu chung, đề tài hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:

- Bổ sung các thông tin về đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính của loài

Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt;

- Góp phần xây dựng kỹ thuật nuôi loài Cá cóc tam đảo.

Đối tƣợng nghiên cứu

Loài Cá cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali Bourret, 1934).

Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 5 năm 2018

- Địa điểm nghiên cứu: Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, Thành phố Phúc Yên, Vĩnh Phúc

Đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính của loài Cá cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali Bourret, 1934) trong điều kiện nuôi nhốt nhằm hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài Nghiên cứu cũng tập trung vào các kỹ thuật nuôi loài Cá cóc tam đảo đang được thực hiện tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi và bảo tồn loài Các kết quả từ nghiên cứu này giúp cung cấp cơ sở khoa học cho các hoạt động nhân giống và bảo tồn loài Cá cóc tam đảo tại Việt Nam.

Nội dung nghiên cứu

1 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt

2 Nghiên cứu chuồng nuôi Cá cóc tam đảo đang đƣợc thử nghiệm tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh

3 Nghiên cứu nhu cầu dinh dƣỡng và khẩu phần ăn của loài Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt

4 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của loài Cá cóc tam đảo

5 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản và kỹ thuật tạo giống Cá cóc tam đảo

6 Nghiên cứu kỹ thuật phòng và chữa trị một số bệnh thường gặp trong quá trình nuôi loài Cá cóc tam đảo

7 Đánh giá các biện pháp chăm sóc loài Cá cóc tam đảo đang đƣợc thực hiện tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh và đề xuất giải pháp phát triển nhân nuôi loài Cá cóc tam đảo.

Phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Phương pháp này giúp xác định các thông tin chính về khu vực nghiên cứu, bao gồm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và tác động của cộng đồng dân cư đối với Trung tâm Đa dạng sinh học Mê Linh.

Trong nghiên cứu này, các tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu và loài Cá cóc Tam Đảo được thu thập để phân tích tổng thể, bao gồm các luận chứng kinh tế, kỹ thuật thành lập Trạm ĐDSH Mê Linh, các báo cáo về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội, cùng với bản đồ hiện trạng rừng và bản đồ địa hình trạm Các tài liệu này giúp đánh giá tình hình quản lý hiện tại và xác định các nguồn lực tự nhiên của khu vực Đặc biệt, nghiên cứu còn tập trung vào các đề tài về tài nguyên của Trạm và các ghi chép về quá trình nhân nuôi thử nghiệm loài Cá cóc Tam Đảo từ năm nào đó, cung cấp dữ liệu quan trọng để phát triển bền vững loài này.

Năm 2014, các tài liệu thu thập được tiến hành đọc, chọn lọc, phân tích kỹ lưỡng nhằm khai thác và kế thừa các thông tin liên quan phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tài Việc này giúp xác định các dữ liệu chính đáng giá, nâng cao chất lượng và độ chính xác của nghiên cứu Quá trình này đảm bảo các nguồn tư liệu được sử dụng hiệu quả, hỗ trợ xây dựng các phân tích và kết luận có căn cứ khoa học.

Phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập thông tin sơ bộ về việc nhân nuôi loài Cá cóc tam đảo, giúp đánh giá khả năng sống sót, cách xây dựng chuồng nuôi phù hợp, lựa chọn thức ăn và phương pháp cho ăn hiệu quả Đồng thời, quá trình này còn cung cấp thông tin về đặc điểm sinh sản, các bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị, cũng như các kỹ thuật chăm sóc và nhân giống để nâng cao năng suất và đảm bảo sức khỏe cho cá cóc tam đảo.

Phương pháp phỏng vấn được thực hiện nhằm khảo sát ý kiến của các cán bộ tại Trạm ĐDSH Mê Linh, đặc biệt là những người trực tiếp chăm sóc loài Cá cóc Tam Đảo Các câu hỏi phỏng vấn bao gồm dạng định hướng và bán định hướng để thu thập thông tin chính xác và toàn diện về công tác bảo tồn và chăm sóc loài vật này Nội dung các câu hỏi tập trung vào quá trình chăm sóc, các thách thức gặp phải, cũng như những giải pháp đã được áp dụng để bảo vệ loài Cá cóc Tam Đảo hiệu quả hơn.

- Hiện nay tại Trạm có bao nhiêu bể nuôi Cá cóc tam đảo? Tổng số lƣợng cá thể là bao nhiêu?

- Nguồn giống đƣợc lấy từ đâu?

- Có cần phải lựa chọn vị trí đặt bể nuôi loài không? Dựa vào các tiêu chí nào để chọn vị trí đặt bể nuôi?

- Kích thước bể nuôi là bao nhiêu? Khi thiết kế bể nuôi cần lưu ý những vấn đề gì?

Cá cóc Tam Đảo có khẩu phần ăn hàng ngày phù hợp để đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh Nên chia khẩu phần ăn thành nhiều bữa nhỏ để tránh quá tải cho cá thể Khối lượng thức ăn cho mỗi lần bỏ vào bể dao động từ 1-3% trọng lượng cơ thể của cá Thời gian cho cá ăn tốt nhất là vào sáng sớm và chiều tối, nhằm giúp cá tiêu hóa hiệu quả và giảm stress Cách cho loài cá cóc Tam Đảo ăn là sử dụng thức ăn dạng viên hoặc thức ăn tươi sống, dễ tiêu hóa, phù hợp với từng độ tuổi của cá Việc duy trì chế độ ăn hợp lý và đều đặn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn sự khỏe mạnh của cá cảnh Tam Đảo.

Bạn nên thay nước trong bể định kỳ mỗi 7-14 ngày để duy trì môi trường sống sạch sẽ cho cá Thời điểm lý tưởng để thay nước là vào buổi sáng hoặc chiều mát, tránh thay nước khi nhiệt độ cao trong ngày Sau mỗi lần thay nước, cần xử lý nước mới bằng các chất điều hòa để loại bỏ chlorine và các chất độc hại, đảm bảo an toàn cho sinh vật trong bể Mức nước phù hợp nhằm tạo điều kiện sinh tồn tốt cho các loài cá thường dao động từ 70-80% thể tích bể, không để nước quá cạn hoặc quá đầy gây stress hoặc hạn chế sự phát triển của cá.

- Dọn dẹp bể nuôi trong khoảng thời gian nào? Bao nhiêu lâu thì dọn bể nuôi một lần?

- Nhiệt độ trong bể nuôi và nhiệt độ nước là bao nhiêu là thích hợp cho loài Cá cóc tam đảo?

- Những bệnh thường gặp ở loài Cá cóc tam đảo? Mùa nào thì loài mắc bệnh nhiều nhất? Cách chữa bệnh cho loài Cá cóc tam đảo nhƣ thế nào?

Trong điều kiện nuôi nhốt, cá Cóc Tam Đảo thường ghép đôi vào mùa Xuân hoặc đầu hè, thời điểm sinh sản diễn ra phù hợp để tăng khả năng đẻ trứng Chúng sinh sản vào khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 6, khi nhiệt độ và môi trường thích hợp Để thu trứng, cần chú ý đến việc xác định đúng thời điểm cá đẻ và nhẹ nhàng lấy trứng ra khỏi môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Quá trình bảo quản trứng cần duy trì độ ẩm và nhiệt độ phù hợp để trứng không bị khô hoặc chết, giúp tăng tỷ lệ nở thành nòng nọc Tỷ lệ trứng nở thành nòng nọc thường đạt khoảng 70-80%, còn từ nòng nọc phát triển thành con non khoảng 60-70%, tùy thuộc vào chăm sóc và điều kiện môi trường Cách chăm sóc nòng nọc và con non cần giữ vệ sinh môi trường, cung cấp nguồn thức ăn phù hợp như vi sinh vật hoặc thức ăn dành riêng để hỗ trợ quá trình phát triển, giúp chúng khỏe mạnh và phát triển tốt hơn.

Phỏng vấn được thực hiện trước và trong quá trình thu thập dữ liệu nhằm xác định các hướng đi chính cho thiết kế thí nghiệm Thông tin từ các cuộc phỏng vấn ban đầu đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu và đảm bảo quá trình thu thập dữ liệu diễn ra hiệu quả.

Trong quá trình theo dõi tại hiện trường, các đặc điểm nghi ngờ và bất thường của loài được ghi nhận cẩn thận để đảm bảo tính chính xác của số liệu Các thông tin này sau đó sẽ được bổ sung thông qua phỏng vấn trực tiếp, giúp thu thập dữ liệu đáng tin cậy hơn Tất cả các dữ liệu và ghi chú đều được ghi chép cẩn thận vào sổ tay ngoại nghiệp để phục vụ cho quá trình phân tích và nghiên cứu sau này.

3.5.3 Theo dõi diễn biến tại hiện trường

3.5.3.1.Phương pháp theo dõi đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính loài Cá cóc tam đảo

Hiện nay, nghiên cứu về tập tính của loài Cá cóc tam đảo còn nhiều hạn chế, do đó việc bổ sung các đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính của loài trong điều kiện nuôi nhốt sẽ góp phần quan trọng vào việc thiết kế chuồng nuôi phù hợp, nâng cao kỹ thuật chăm sóc và thúc đẩy sự phát triển bền vững của loài.

Trong nghiên cứu này, có bốn cá thể cá cóc tam đảo trưởng thành (gồm hai con cái và hai con đực) được đánh số dựa trên đặc điểm cơ thể của từng cá thể để theo dõi Các cá thể này được thu thập tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, nhằm nghiên cứu đặc điểm sinh thái và hành vi của loài.

Các tập tính đƣợc theo dõi bao gồm: Kiếm ăn, vận động, nghỉ ngơi, lột xác, phơi nắng và tự vệ Các tập tính đƣợc định nghĩa nhƣ sau:

- Kiếm ăn: Con vật ăn hoặc tìm kiếm thức ăn

- Vận động: Bao gồm các cử động cơ thể, bơi, dịch chuyển vị trí

- Nghỉ ngơi: Con vật nằm yên tại vị trí, không có biểu hiện cử động để di chuyển hay bắt mồi, cơ thể bất động, mắt vẫn mở

- Lột xác: Con vật bong, tróc lớp da chết bên ngoài

- Phơi nắng: Cơ thể con vật bên trên mặt nước một phần hoặc hoàn toàn

- Cạnh tranh: Hai hoặc nhiều cá thể trong cùng chuồng nuôi dùng miệng tấn công lẫn nhau

Trong đợt điều tra kéo dài 20 ngày, các cán bộ thực hiện quan sát tập tính của loài từ 7h00 sáng đến 17h00 chiều, sử dụng phương pháp quét toàn bộ các cá thể trong từng lượt quan sát Mỗi lượt quét được lặp lại cứ sau 60 phút và dữ liệu được tổng hợp vào 3 lần liên tiếp trong ngày, giúp đảm bảo tính chính xác của thông tin Các tập tính của loài được ghi chép cẩn thận để phân tích, và những thay đổi về hành vi phản ứng của các cá thể trong quá trình quan sát cũng được ghi nhận, tổng hợp vào bảng 3.1 và bảng 3.2 nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về hành vi của loài trong môi trường tự nhiên.

Biểu 3.1: Mô tả các tập tính của Cá cóc tam đảo

Người điều tra: Ngày điều tra: Địa điểm: Thời tiết: Nhiệt độ Độ ẩm

Ngày Thời gian (h) Hoạt động Mô tả hoạt động

Biểu 3.2: Theo dõi tập tính của Cá cóc tam đảo

Kiếm ăn Vận động Nghỉ ngơi Lột xác Phơi nắng Cạnh tranh

3.5.3.2 Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật tạo bể nuôi Cá cóc tam đảo

Trạm ĐDSH Mê Linh đã xây dựng hệ thống bể nuôi cá cóc Tam Đảo, trong đó nguồn cá là từ hoang dã, đòi hỏi thiết kế bể phù hợp để mô phỏng đặc điểm sinh thái tự nhiên của loài Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật tạo bể nhằm thu thập thông tin về kiểu chuồng, vật liệu xây dựng, cách thiết kế, bố trí nội thất và các thông số kỹ thuật liên quan Dựa trên đó, đánh giá mức độ phù hợp và hạn chế của các hệ thống bể nuôi hiện tại để nâng cao hiệu quả và đảm bảo sức khỏe cho cá cóc Tam Đảo.

3.5.3.3 Phương pháp xác định các loại thức ăn và khẩu phần ăn

Phương pháp này nhằm xây dựng bảng danh sách các loại thức ăn phù hợp cho cá cóc Tam Đảo trong điều kiện nuôi nhốt, giúp tối ưu hóa chế độ dinh dưỡng cho cá Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi đã xác định được khẩu phần ăn lý tưởng cũng như các loại thức ăn ưa thích của cá cóc Tam Đảo, từ đó nâng cao hiệu quả nuôi trồng và phát triển cá một cách bền vững.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Một số đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính loài Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt

Kết quả đo đếm các chỉ tiêu 4 cá thể Cá cóc tam đảo tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh nhƣ bảng 4.1

Bảng 4.1: Một số kích thước cơ thể của Cá cóc tam đảo

Mã số cá thể Trọng lƣợng (g)

TL (dài cơ thể) là khoảng cách từ mút mõm đến mút đuôi, phản ánh kích thước tổng thể của sinh vật SVL (dài thân) đo từ mút mõm đến lỗ huyệt, thể hiện chiều dài còn lại của cơ thể sau đầu TaL (dài đuôi) tính từ mút sau lỗ huyệt đến mút đuôi, giúp xác định chiều dài phần đuôi HL (dài đầu) đo từ mút mõm đến góc sau của xương hàm dưới, góp phần đánh giá tỷ lệ đầu so với cơ thể HW (rộng đầu) là chiều rộng lớn nhất của đầu, giúp phân biệt các đặc điểm hình thái của loài Các số đo này giúp mô tả chính xác hình thái và kích thước của sinh vật để phục vụ cho công tác nghiên cứu và nhận dạng loài.

Kích thước cơ thể của các cá thể Cá cóc tam đảo nuôi tại Trạm ĐDSH Mê Linh phù hợp với các đặc điểm đã mô tả về loài, có chiều dài cơ thể từ 169,6 – 191,3mm so với khoảng 153,5 – 185mm theo các nghiên cứu trước đây (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998; Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường, 2009; Tra cứu sinh vật rừng Việt Nam, 2016) Các cá thể này có chiều dài thân từ 92,7 – 99,8mm, chiều dài đuôi từ 76,9 – 91,5mm, chiều dài đầu từ 26,3 – 28,1mm và rộng đầu từ 20,5 – 22mm, tùy theo lứa tuổi.

Cá cóc tam đảo có thân hình thuôn dài, hơi dẹt từ trên xuống, với đuôi dài dẹp bên, da thiếu vảy và mút đuôi tròn Da của loài này có nhiều mụn sù sì tiết chất nhầy, giúp bảo vệ khỏi các tác nhân bên ngoài Màu sắc chủ đạo của cá gồm xám đen với hai gờ nổi sần sùi chạy dọc hai bên thân và một gờ giữa sống lưng, tạo nét đặc trưng cho loài Bụng của chúng có màu đỏ cam, xen kẽ những đường xám đen nối với nhau như hình mạng lưới, giúp phân biệt rõ ràng với các loài cá khác Phần mép đuôi thường có màu đỏ da cam, đặc biệt gần hậu môn, góp phần làm nổi bật đặc điểm hình thái của cá cóc tam đảo.

Cóc tam đảo gồm 4 chi ngắn nhưng mạnh mẽ, giúp chúng bò nhanh trên mặt đất Trong môi trường nước, cá cóc chủ yếu bơi bằng những cách uốn lượn của đuôi và chân áp sát vào thân mình, giúp duy trì sự linh hoạt và khả năng di chuyển linh hoạt dưới nước.

Hình 4.1: Cá cóc tam đảo trưởng thành tại Trạm ĐDSH Mê Linh

Trong quá trình nghiên cứu giải phẫu cá cóc Tam Đảo, chúng tôi ghi nhận các đặc điểm phân biệt đực, cái của loài mà chưa được đề cập trong các tài liệu trước đây như của Phạm Nhật và cộng sự (1998), Nguyễn Văn Sáng và cộng sự (2009) hay Tra cứu Sinh vật rừng Việt Nam (2016) Thông thường, giữa con đực và con cái khá giống nhau, đặc biệt trong giai đoạn con non và bán trưởng thành, việc phân biệt chỉ trở nên rõ ràng khi các cá thể đã trưởng thành và vào mùa sinh sản Các đặc điểm phân biệt giới của cá cóc Tam Đảo được trình bày cụ thể trong bảng 4.2 để hỗ trợ nhận diện chính xác.

Bảng 4.2: Phân biệt Cá cóc tam đảo đực và cái

TT Đặc điểm phân biệt

Cá cóc đực Cá cóc cái

1 Kích thước cùng tuổi trưởng thành

Nhỏ hơn con cái Lớn hơn con đực

2 Dải xanh mặt bên đuôi

Có giải xanh sáng chạy suốt hai bên mặt đuôi

Không có giải xanh sáng chạy suốt hai bên mặt đuôi

4.1.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái

Cá cóc tam đảo thường cư trú ở các vùng suối chảy chậm và hồ nước trong khu vực Vườn Quốc gia Tam Đảo, ưa thích môi trường có vực nước sâu và trong Loài này có thức ăn đa dạng, là loài ăn tạp tiêu thụ thảo mộc, côn trùng, trứng ếch nhái, ốc, nòng nọc, cá con, giun và bùn Trong môi trường nuôi nhốt, thức ăn của cá cóc chủ yếu gồm giun đất và nòng nọc ếch cây xanh đốm.

4.1.3 Tập tính của loài Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt

Trong khoảng thời gian từ ngày 12/03/2018 đến 31/3/2018, kết quả theo dõi tập tính của 4 cá thể cá cóc Tam Đảo tại Trạm ĐDSH Mê Linh đã được tổng hợp và trình bày chi tiết trong bảng 4.3 và hình 4.2, giúp hiểu rõ hơn về hành vi của loài trong điều kiện nuôi nhốt.

Bảng 4.3: Tổng hợp số giờ các hoạt động Cá cóc tam đảo trong nuôi nhốt

Ngày Thời gian của mỗi hoạt động (giờ) Nhiệt độ

Kiếm ăn Nghỉ ngơi Vận động Lột xác Cạnh tranh

Hình 4.2: Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ phần trăm bình quân các hoạt động của Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt trong ngày

Cá cóc Tam Đảo dành phần lớn thời gian nghỉ ngơi, chiếm đến 68% tổng hoạt động hàng ngày, trong khi hoạt động vận động cơ thể chiếm khoảng 25% Thời gian kiếm ăn chỉ chiếm khoảng 4%, còn tập tính lột xác chiếm 2,5% Hầu hết các cá thể ít cạnh tranh, trừ một số ít khi tìm kiếm thức ăn.

Trong quá trình quan sát, cá cóc tam đảo có thời gian kiếm ăn không cố định và có thể ăn vào bất kỳ lúc nào trong ngày, nhưng thường được cho ăn vào buổi sáng từ 8-10h Ban đầu, cá cóc rất háu ăn, sau đó sự háo ăn giảm dần Thức ăn là giun đất được cắt nhỏ và kẹp cho từng cá thể ăn Trong quá trình săn mồi, cá cóc thường lùi lại để quan sát miếng mồi rồi lao tới để đớp, sau đó quay đi nơi khác để ăn Chúng không nuốt chửng thức ăn ngay lập tức mà giữ con mồi trong miệng một thời gian trước khi ăn, thể hiện hành vi săn mồi đặc trưng của loài.

Tỷ lệ phần trăm bình quân các hoạt động

Kiếm ăn Nghỉ ngơi Vận động Lột xác Cạnh tranh

Hơn 68% thời gian trong ngày của Cá cóc tam đảo dành cho hoạt động nghỉ ngơi, chủ yếu khi nhiệt độ dưới 20°C Nghiên cứu cho thấy nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến hoạt động nghỉ ngơi của loài này, với thời gian nghỉ dài hơn trong những ngày lạnh Khi nhiệt độ tăng cao, Cá cóc tam đảo ít dành thời gian cho nghỉ ngơi hơn, phù hợp với đặc điểm của các loài lưỡng cư và bò sát (động vật biến nhiệt), thường hoạt động tích cực khi thời tiết ấm áp Các tư thế nghỉ ngơi phổ biến của chúng bao gồm nằm phơi trên cành cây, hốc cây, đá trong bể nuôi hoặc đứng im dưới nước.

Trong tháng 3, thời gian quan sát cho thấy Cá cóc tam đảo hoạt động rất ít do nằm trong giai đoạn giao mùa giữa đông và hè, với nhiệt độ dao động từ 19-22°C Khi nhiệt độ giảm xuống dưới 20°C, cá cóc chỉ hoạt động từ 1-2 giờ mỗi ngày, trong khi nhiệt độ tăng trên 20°C, thời gian hoạt động tăng lên 3-4 giờ Hành vi chính của chúng là di chuyển từ dưới nước lên đá hoặc cây để phơi, rồi trở lại môi trường ban đầu Cá cóc tam đảo di chuyển rất chậm, chỉ bơi hoặc di chuyển khoảng 10-20cm trong quá trình kiếm ăn rồi dừng lại, ít khi hoạt động liên tục hoặc thể hiện các hành vi đùa giỡn hay cạnh tranh gay gắt như các loài động vật khác.

Cá cóc Tam Đảo hoạt động nhiều hơn vào những ngày thời tiết ấm áp, nhiệt độ cao, gây ra nhu cầu năng lượng tăng lên và cần cung cấp thức ăn nhiều hơn so với ngày lạnh Ngoài ra, chuồng nuôi nhỏ và thức ăn kẹp sẵn cho từng cá thể cũng làm giảm khả năng vận động và bắt mồi của loài, ảnh hưởng đến hành vi tự nhiên của cá cóc.

Trong các tài liệu của Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998) cũng như Tra cứu Sinh vật rừng Việt Nam (2016), hiện tượng lột xác của loài cá cóc không được đề cập Tuy nhiên, qua quá trình theo dõi, đã ghi nhận cá cóc tam đảo thực hiện lột xác khi di chuyển trong nước, mặc dù điều này khá khó quan sát Thời gian lột xác của chúng không cố định, thường kéo dài từ 2 đến 6 giờ, trong đó lớp da chết bong ra và tự rời khỏi cơ thể khi cá bơi.

30 ngày Cá cóc tam đảo lột xác, chúng thường không ăn thức ăn và sẽ lột xác nhiều vào những ngày nhiệt độ tăng cao

Hình 4.3: Cá cóc tam đảo lột xác trong điều kiện nuôi nhốt

Cá cóc Tam Đảo thường có tập tính phơi nắng như một hoạt động nghỉ ngơi, giúp loại bỏ ký sinh trùng trên da bằng cách nằm bất động dưới ánh mặt trời Tuy nhiên, tại Trạm ĐDSH Mê Linh, cá cóc Tam Đảo được nuôi nhốt trong phòng, không tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời mà chỉ được phơi dưới ánh đèn trong phòng từ 7h sáng đến 17h chiều.

Hình 4.4: Cá cóc tam đảo nằm phơi dưới bóng đèn

Cá cóc Tam Đảo là loài cá hiền, không tấn công lẫn nhau khi sống trong cùng chuồng nuôi Tuy nhiên, khi thiếu thức ăn, chúng sẽ tranh giành thức ăn bằng cách đớp miếng mồi của đối phương và tiết ra chất nhầy có mùi hôi thối để đẩy lùi kẻ thù.

Kỹ thuật tạo bể nuôi Cá cóc tam đảo

Nghiên cứu tại Trạm ĐDSH Mê Linh ghi nhận tổng cộng 19 bể nuôi, trong đó có 8 bể nuôi cá cóc, 6 bể nuôi thạch sùng và 5 bể nuôi Ếch nhái không đuôi Trong số 8 bể nuôi cá cóc, có 2 bể (IN16 và IN14) chứa cá cóc tam đảo với tổng cộng 11 cá thể trưởng thành.

Bể nuôi đƣợc xây dựng bằng vật liệu kính chịu lực dày

5mm Hình dạng bể đƣợc thiết kế theo hình chữ nhật có kích thước thước 210 cm × 66 cm × 172 cm

Diện tích trong bể đƣợc chia đôi với 50% diện tích trên cạn và 50% diện tích chứa nước

Phần trên cạn đƣợc để đất dày

Khu vực có chiều cao 20cm, phủ lớp lá khô và trồng cây xanh để tạo cảnh quan tự nhiên Các hang hốc trú ẩn được tạo ra bằng cách bố trí cây khô, đá và gạch nhằm cung cấp nơi sinh sống an toàn cho các loài động vật Phần nước trong khu vực có độ sâu 15cm, được kết hợp với các hang đá tự nhiên để tạo môi trường phù hợp Các phần nước và phần cạn được liên kết bằng các cành cây khô giúp sinh vật dễ dàng leo lên phơi nắng Hiện tại, bể IN16 đang nuôi 5 cá thể Cá cóc tam đảo từ năm 2014, góp phần bảo tồn và phát triển loài trong môi trường nhân tạo.

Bể nuôi đƣợc xây dựng bằng vật liệu kính chịu lực dày

5mm Hình dạng bể được thiết kế theo hình chữ nhật có kích thước thước 100cm x 60cm x 50 cm

Bể nuôi được thiết kế chủ yếu bằng nước với độ sâu khoảng 20cm, tạo môi trường tự nhiên phù hợp cho các loài sinh vật Trong chuồng, có sự bố trí cây xanh, cây khô cùng đá tạo hang, hang để cá có chỗ trú ẩn an toàn Hiện tại, tại bể nuôi IN16 đang nuôi 6 cá thể Cá cóc tam đảo, bắt đầu từ năm 2014, đảm bảo môi trường sinh thái phù hợp giúp chúng phát triển bền vững.

Hệ thống máy bơm lọc được lắp đặt trong cả hai bể để làm sạch nước, tăng nồng độ oxy và tạo dòng chảy giống môi trường sống tự nhiên của suối Các bể nuôi được đặt trên giá sắt hai tầng, có nắp lưới phía trên để bảo vệ và hệ thống dẫn nước vào, xả nước thải ra ngoài một cách hiệu quả Nước sạch được cung cấp liên tục vào các bể nuôi và thường xuyên kiểm tra để duy trì các chỉ số phù hợp như: Chlorine (Cl2) bằng 0, pH 6,8, độ cứng KH 60d, nitrate (NO3) 10 mg/l, nitrite (NO2) đảm bảo môi trường lý tưởng cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài cá cóc.

Các bể này đƣợc đặt trong phòng nuôi có diện tích

36m 2 , phòng đƣợc lắp đặt điều hòa luôn giữ ở nhiệt độ phòng

25-30 0 C vào mùa hè, có hệ thống phun nước giữ độ ẩm từ

70-90%, cùng hệ thống đèn chiếu sáng hàng ngày (khoảng

Nhƣ vậy bể nuôi tại

Trạm ĐDSH Mê Linh được thiết kế gần giống với môi trường ngoài tự nhiên của loài Cá cóc tam đảo

Hình 4.7: Phòng nhân nuôi Cá cóc tam đảo

Nhu cầu dinh dƣỡng và khẩu phần ăn của loài Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt

4.3.1 Thành phần thức ăn của Cá cóc tam đảo

Dựa trên kết quả thử nghiệm thức ăn và phỏng vấn cán bộ nhân nuôi, đã xác định được hai loại thức ăn phù hợp cho cá cóc Tam Đảo trong điều kiện nuôi nhốt, như đã nêu trong bảng 4.4.

Bảng 4.4: Các loại thức ăn của Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt STT Loại thức ăn Bộ phận sử dụng Cách chế biến

1 Giun đất Cả con Cắt khúc từ 5-8cm

2 Nòng nọc Ếch cây xanh đốm

Cả con Để cả con

Cá cóc Tam Đảo chủ yếu ăn các loại động vật sống và cử động, trong đó giun đất và nòng nọc ếch cây xanh đốm là thức ăn chính trong nhân nuôi, đều giàu đạm Thử nghiệm với dế và sâu quy không cho thấy cá cóc Tam Đảo có khả năng ăn chúng, phản ánh sự chọn lọc thức ăn của loài.

Hình 4.8: Thức ăn Giun đất và nòng nọc Êch cây xanh đốm của cá cóc

4.3.2 Khẩu phần ăn hằng ngày

Bằng cách cân đối lượng thức ăn vào và lượng thức ăn thừa hàng ngày của 4 cá thể cá cóc Tam Đảo mỗi lần cho ăn, tôi đã thu được kết quả chính xác và đáng tin cậy Những dữ liệu này được trình bày rõ ràng trong bảng 4.5, giúp phân tích hiệu quả tiêu thụ thức ăn của loài cá cóc tại khu vực Tam Đảo Việc điều chỉnh khẩu phần ăn dựa trên lượng thức ăn thừa hàng ngày đóng vai trò quan trọng trong quản lý dinh dưỡng và bảo tồn loài, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu về thói quen ăn uống của cá cóc Tam Đảo.

Bảng 4.5: Khẩu phần ăn hằng ngày của Cá cóc tam đảo

Ngày Cá thể Tên thức ăn Đƣa vào

Còn lại (g) Lƣợng ăn (g) Nhiệt độ

CTĐ1 Nòng nọc Ếch cây xanh đốm

CT cái 2 bị nấm ngày 17

CTĐ1 Nòng nọc Ếch cây

Ngày Cá thể Tên thức ăn Đƣa vào (g)

Dựa trên bảng 4.5, lượng thức ăn hàng ngày của mỗi cá thể Cá cóc tam đảo dao động từ 1-3 gram, nhưng không phải ngày nào chúng đều ăn Ví dụ, ngày 12/3/2018 và ngày 19/3/2018, cá thể không tiêu thụ thức ăn, và có thể trong ngày hôm nay chúng ăn nhưng ngày tiếp theo lại không Trong quá trình thử nghiệm, các yếu tố nhiệt độ đều được ghi nhận để đánh giá tác động của nhiệt độ lên hành vi kiếm ăn của Cá cóc tam đảo, giúp hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa môi trường và hoạt động sinh học của loài.

Hình 4.9: Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ tới lượng thức ăn tiêu thụ của Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt

Vào những ngày nhiệt độ cao, Cá cóc tam đảo ăn nhiều hơn so với những ngày nhiệt độ thấp, đặc biệt là dưới 20°C, khi lượng thức ăn rất nhỏ Trước mỗi lần lột xác, Cá cóc tam đảo thường không ăn, như ngày 19/3/2018 khi nhiệt độ là 22°C nhưng không có cá thể nào ăn Kết quả nghiên cứu cho thấy, Cá cóc tam đảo phụ thuộc nhiều vào yếu tố nhiệt độ môi trường và tập tính sinh học của chúng Do đó, người chăm sóc cần có kinh nghiệm và hiểu rõ tập tính của loài để đảm bảo chăm sóc hiệu quả.

4.3.3 Thức ăn ưa thích của Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt

Kết quả thử nghiệm các loại vật liệu làm thức ăn cho Cá cóc tam đảo đƣợc trình bày trong bảng 4.6

Bảng 4.6: Tổng hợp thành phần thức ăn ƣa thích của Cá cóc tam đảo

STT Tên thức ăn Mức độ ƣa thích

Ghi chú: ++ Thích; + Bình thường

Hình 4.10: Biểu đồ thức ăn ƣa thích của Cá cóc tam đảo trong nuôi nhốt

Trong các loại thức ăn thử nghiệm cho cá cóc Tam Đảo, giun đất là món ưa thích nhất của chúng, cho thấy khả năng tiêu thụ và thích nghi tốt nhất Nòng nọc ếch cây xanh đốm cũng được cá cóc Tam Đảo ăn nhưng với số lượng nhỏ hơn so với giun đất Trong khi đó, cá không ăn dế và sâu quy, cho thấy chúng không phù hợp hoặc không thích các loại thức ăn này Các kết quả thử nghiệm này giúp xác định loại thức ăn phù hợp để nuôi dưỡng cá cóc Tam Đảo một cách hiệu quả.

Trong quá trình phỏng vấn cán bộ nhân nuôi tại Trạm và quan sát thực tế, nghiên cứu đã xác định rõ loại thức ăn yêu thích của Cá cóc Tam Đảo là Giun đất và nòng nọc Ếch cây xanh đốm.

4.3.4 Thời gian, cách cho ăn

Theo quan sát và phỏng vấn cán bộ tại Trạm ĐDSH Mê Linh, đã xác định được thời gian và cách thức cho cá cóc Tam Đảo ăn, trong đó thời gian phù hợp và hiệu quả nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của loài cá này.

+ Khi thời tiết lạnh, cách 4 – 5 ngày sẽ cho Cá cóc tam đảo ăn 1 lần

+ Trời ấm áp hơn thì cho ăn đều cách 2 – 3 ngày cho ăn 1 lần

Thời gian trong ngày cho Cá cóc tam đảo ăn vào khoảng 8 – 10h sáng b Cách cho ăn

- Giun đất được thu bắt từ vườn Sau đó, giun đất được cắt nhỏ thành từng đoạn 5 – 8cm và dùng kẹp cho cá cóc ăn luôn trong bể

Nòng nọc được lấy từ bể nuôi nòng nọc ếch cây xanh đốm, sau đó được đổ vào bể nuôi cá cóc tam đảo Thời gian lý tưởng để cho cá cóc tam đảo ăn là lúc khoảng 17h chiều, giúp đảm bảo hiệu quả tiêu thụ thức ăn và sức khỏe của cá Việc cho cá ăn đúng giờ và đúng loại thức ăn là yếu tố quan trọng trong chăm sóc cá cóc tam đảo, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng của quá trình nuôi.

Giun đất Nòng nọc Dế Sâu quy

Thức ăn ƣa thích của Cá cóc tam đảo trong nuôi nhốt

38 không hết thì vớt ra và cân lại lƣợng thức ăn dƣ thừa rồi đổ lại vào bể nuôi nòng nọc Ếch cây xanh đốm

- Khi cho ăn cần dùng các dụng cụ đảm bảo vệ sinh thức ăn cho Cá cóc tam đảo

- Thức ăn dƣ thừa phải đƣợc dọn sạch, tránh rơi vãi xuống bể dẫn đến ô nhiễm nước, gây bệnh cho Cá cóc tam đảo

- Sau mỗi lần cho ăn, các dụng cụ cho ăn phải đƣợc rửa sạch.

Khả năng sinh trưởng của Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt

Trong quá trình nghiên cứu tại Trạm ĐDSH Mê Linh, kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng của Cá cóc Tam Đảo đã được tổng hợp và trình bày rõ ràng trong Phụ lục 01 và Bảng 4.7 Các số liệu này cho thấy diễn biến tăng trưởng của cá theo thời gian, giúp đánh giá chính xác khả năng phát triển của loài trong điều kiện nghiên cứu Những kết quả này cung cấp dữ liệu quan trọng để phân tích đặc điểm sinh trưởng của Cá cóc Tam Đảo, góp phần thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng trong bảo tồn và phát triển nguồn giống.

Bảng 4.7: Tổng hợp kết quả cân định kỳ Cá cóc tam đảo

Mã hiệu Cá cóc 12/3/2018 17/3/2018 24/3/2018 31/3/2018 Mức độ sinh trưởng

Hình 4.11: Biểu đồ khối lƣợng trung bình của cá cóc qua các lần theo dõi

Tăng trưởng trung bình gram

Từ hình 4.11 cho thấy: Khối lƣợng trung bình của 4 cá thể Cá cóc tam đảo đều tăng qua các lần cân đo Tuy nhiên, mức độ sinh trưởng của cá thể CTĐ1 giảm khối lƣợng cơ thể sau gần 1 tháng theo dõi (1g); mức độ giảm khối lƣợng không lớn và được xác định nguyên nhân do ảnh hưởng của quá trình lột xác của cá thể này trong thời gian cân khối lƣợng

Vào khoảng thời gian cuối tháng 3 khi nhiệt độ môi trường tăng, nhu cầu năng lượng của cá cóc nhiều hơn nên khả năng sinh trưởng cũng tăng hơn so với vào đầu tháng 3 (nhiệt độ thấp)

Các cá thể cá cóc nghiên cứu đã ghi nhận sự tăng nhẹ về khối lượng cơ thể, trung bình từ 36g lên 41,25g, cho thấy khả năng phát triển đều đặn của từng cá thể Điều này phản ánh sự chăm sóc hiệu quả từ phía Trạm, đặc biệt trong điều kiện thời tiết chưa thuận lợi Sự phát triển tích cực của các cá thể cá cóc cho thấy các biện pháp chăm sóc của Trạm đang mang lại tín hiệu tích cực và góp phần nâng cao năng suất nuôi dưỡng loài sinh vật này.

Đặc điểm sinh sản và kỹ thuật tạo giống Cá cóc tam đảo

Trong quá trình điều tra thực địa tại Trạm ĐDSH Mê Linh, không ghi nhận được đặc điểm sinh sản của Cá cóc tam đảo Tuy nhiên, dựa trên các thông tin kế thừa và phỏng vấn, có thể thấy rõ các đặc điểm sinh sản của loài này như sau.

Cá cóc Tam Đảo thường sinh sản từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, thời gian này là mùa sinh sản chính của chúng Trong giai đoạn sinh sản, cá cóc Tam Đảo vận động mạnh hơn, di chuyển nhiều hơn trong bể và tập trung bắt cặp đực và cái để giao phối Quá trình giao phối diễn ra khi cá đực và cái cuốn đuôi vào nhau, ép lỗ sinh dục để thụ tinh, đảm bảo quá trình sinh sản hiệu quả.

Trong môi trường nuôi nhốt, Cá cóc tam đảo sinh sản khi độ ẩm cao, chúng đẻ trứng ở những hốc đá trên mặt nước Cá cóc cái đẻ nhiều lần trong một mùa, thụ tinh cả ngày lẫn đêm, với mỗi lần đẻ khoảng 12 quả trứng tách rời nhau.

(Nguồn: Hoàng Thị Kim Dung, 2018) A: giai đoạn trứng được 1 ngày; B: giai đoạn trứng 25 ngày, nòng nọc phát triển trong bọc

Hình 4.12: Trứng của Cá cóc tam đảo

Trong giai đoạn trứng đƣợc 21 ngày, giác mạc trở nên trong suốt và đôi mắt rõ ràng; vây đuôi vẫn mờ đục

Thời gian trứng phát triển thành nòng nọc trong thạch là khoảng 30 ngày Tuy nhiên, tại Trạm ĐDSH Mê Linh, quá trình này gặp nhiều khó khăn do trứng chưa trải qua giai đoạn phát triển và ra khỏi bọc trứng xuống nước Nguyên nhân chính là do trứng được đẻ vào thời điểm độ ẩm cao, khiến chúng dễ bị nấm và hỏng, ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi sinh sản của các loài amphibian.

Kỹ thuật phòng và chữa trị một số bệnh trong quá trình nuôi Cá cóc tam đảo

4.6.1 Các bệnh thường gặp ở Cá cóc tam đảo

Cá cóc Tam Đảo nổi bật với khả năng đề kháng cao, ít gặp bệnh tật nhờ vào đặc điểm sinh học vượt trội Việc nuôi cá cóc trong môi trường vệ sinh sạch sẽ và đảm bảo chế độ dinh dưỡng đầy đủ giúp duy trì sức khỏe tốt và tăng cường khả năng chống chịu bệnh tật Điều kiện nuôi dưỡng tốt không chỉ giúp cá cóc phát triển khỏe mạnh mà còn nâng cao năng suất và giá trị kinh tế của giống loài này Vì vậy, chăm sóc đúng quy trình, vệ sinh môi trường và cung cấp chế độ ăn hợp lý là yếu tố then chốt để thành công trong chăn nuôi cá cóc Tam Đảo.

Từ khi cá cóc Tam Đảo được nuôi tại Trạm ĐDSH Mê Linh, bệnh nấm ngoài da đã trở thành loại bệnh thường gặp ở loài này, đặc biệt xuất hiện trong điều kiện thời tiết lạnh và độ ẩm cao từ tháng 11 đến tháng 3 hàng năm.

Do vi khuẩn gây ra

Trên cơ thể xuất hiện nhiều vùng trắng xám, bị loét ra và có thể nhìn bằng mắt thường

Sử dụng thuốc trị nấm Genatreson thoa nhẹ lớp mỏng lên vùng da bị nấm cho Cá cóc tam đảo Bôi từ 1 – 2 lần/ngày

Để phòng ngừa bệnh tật, cần chú ý vệ sinh chuồng nuôi, thức ăn và nguồn nước trong chuồng thường xuyên Khi phát hiện có cá thể bị nhiễm bệnh, nên tách riêng để tránh lây lan cho các cá thể khác Đồng thời, thay toàn bộ nước trong bể cá để đảm bảo môi trường sạch sẽ và hạn chế sự phát triển của mầm bệnh.

Phun thuốc xanh me-cha-lit đƣợc pha với tỷ lệ 1/1000 vào các bể Cá cóc tam đảo sau mỗi lần thay nước

Cá cóc bị nấm ngoài da Thuốc trị nấm Genatreson Phn thuốc khử trùng

Xanh - me - cha - lit (Nguồn: Hoàng Thị Biệt, 2018)

Hình 4.15: Bệnh nấm ngoài da và cách phòng trị bệnh

4.6.2 Biện pháp phòng bệnh cho Cá cóc tam đảo

Hiện nay, nghiên cứu về nuôi Cá cóc Tam Đảo còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong công tác phòng và chữa bệnh cho chúng Do đó, biện pháp phòng ngừa bệnh hiệu quả nhất bao gồm vệ sinh sạch sẽ hồ nuôi và cung cấp đầy đủ thức ăn cho cá Để tránh lây truyền bệnh, tại cửa phòng nuôi luôn sử dụng thuốc khử trùng Chloramine-T khi vào ra Ngoài ra, để đảm bảo sức khỏe của vật nuôi, Trạm ĐDSH Mê Linh thường xuyên gửi mẫu cá cóc Tam Đảo để kiểm tra các loại nấm, bệnh lý theo định kỳ và gửi xét nghiệm tại Viện Thú y Berlin (Đức).

Công tác thú y và vệ sinh được đặc biệt chú trọng nhằm đảm bảo sức khỏe và an toàn cho cá, với các khay khử trùng, nguồn thức ăn sạch sẽ và quy trình dọn vệ sinh chuồng trại được thực hiện hàng ngày Cá cóc Tam Đảo là loài đặc sản cần được chăm sóc kỹ lưỡng để duy trì chất lượng và vệ sinh hợp quy định Việc duy trì vệ sinh chuồng trại thường xuyên góp phần phòng ngừa dịch bệnh và nâng cao năng suất nuôi trồng cá cóc Các biện pháp kiểm tra și quản lý thú y đóng vai trò quan trọng trong quá trình duy trì môi trường nuôi trồng sạch sẽ, an toàn cho cá cóc Tam Đảo.

Trong quá trình chăm sóc, việc phòng trừ nấm đối với nhóm lưỡng cư 42 là vô cùng cần thiết, vì vậy các chuồng nuôi được phun thuốc khử trùng hàng tuần bằng thuốc diệt nấm Xanh me-cha-lit Nguồn nước cũng được lọc qua các bể lọc, để lắng trong quá trình sử dụng Vào mùa đông, nước được thay mới hàng tuần, còn mùa hè, thay nước mỗi 3 ngày sau khi sinh hoạt Khi phát hiện các giá thể như cành gỗ bị nhiễm nấm, cần đem ra rửa sạch, phơi khô rồi mới đưa vào lại trong bể để đảm bảo môi trường luôn sạch sẽ và an toàn cho sinh vật nuôi.

Đánh giá các biện pháp chăm sóc Cá cóc tam đảo đang đƣợc thực hiện tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh và đề xuất giải pháp

 Ưu điểm và hướng phát huy

Trạm ĐDSH Mê Lĩnh đã thành công trong việc nuôi dưỡng 11 cá thể cá cóc tam đảo kể từ năm 2014 Các cá thể cá cóc đều khỏe mạnh, phát triển bình thường và đảm bảo tiêu chuẩn bảo tồn loài Đây là thành tích nổi bật trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học của trạm Với sự chăm sóc tận tâm, các cá thể cá cóc tam đảo đã duy trì được sức khỏe tốt và góp phần vào việc bảo tồn loài quý hiếm này.

Chuồng nuôi Cá cóc Tam Đảo được thiết kế gần giống môi trường tự nhiên của loài, phù hợp với đặc điểm sinh học và sinh thái của Cá cóc Mô hình chuồng nuôi đơn giản, dễ xây dựng và phù hợp để áp dụng trong quy mô hộ gia đình, giúp nâng cao hiệu quả chăm sóc và phát triển loài Cá cóc một cách bền vững.

Thức ăn cho cá cóc Tam Đảo dễ tìm kiếm và luôn sẵn có, giúp chủ động cung cấp nguồn dinh dưỡng phù hợp Các loại thức ăn tự nhiên như giun đất dễ thu hoạch và nòng nọc ếch cây xanh đốm đang được nuôi thành công tại Trạm Dịch vụ Sinh vật học Mê Linh Việc sử dụng các nguồn thức ăn này không chỉ đảm bảo dinh dưỡng tốt mà còn giúp duy trì sức khỏe và sự phát triển ổn định cho cá cóc Tam Đảo.

Trạm ĐDSH Mê Linh đang tiến hành nghiên cứu các đặc điểm sinh học và sinh thái của loài, bên cạnh nhân nuôi thử nghiệm, và đã thu được những kết quả tích cực ban đầu.

 Hạn chế và giải pháp khắc phục

Hiện tại, số lượng cá cóc Tam Đảo nhân nuôi tại Trạm còn rất ít, khiến việc bố trí nhiều thí nghiệm nghiên cứu và phát triển loài gặp nhiều hạn chế Để thúc đẩy nghiên cứu và bảo tồn loài, cần tăng cường quản lý và mở rộng quy mô nuôi dưỡng cá cóc Tam Đảo Việc tăng số mẫu nuôi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu khoa học và phát triển loài trong tương lai.

Các bể nuôi cá cóc hiện nay thường đặt trong phòng kín và sử dụng bóng đèn sưởi, nhưng điều này chưa tạo ra môi trường tối ưu cho loài cá cóc Để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển tốt nhất, cần thiết kế hệ thống nuôi ngoài trời để tận dụng ánh sáng mặt trời tự nhiên làm nguồn nhiệt cho cá cóc Bên cạnh đó, diện tích các bể nuôi hiện nay khá nhỏ, hạn chế khả năng di chuyển và vận động của cá cóc, do đó cần xây dựng các bể lớn hơn với hệ thống cấp và thoát nước thường xuyên để duy trì môi trường sống lý tưởng cho cá cóc.

Nguồn thức ăn cho cá cóc Tam Đảo hiện chủ yếu gồm hai loại là giun đất và nòng nọc ếch, nhưng chưa thực sự đa dạng Do đó, cần tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm nhiều loại vật liệu làm thức ăn mới nhằm bổ sung đa dạng dưỡng chất, giúp cá cóc khỏe mạnh, sinh trưởng và phát triển tốt hơn Ngoài ra, việc nuôi giun đất cũng là giải pháp hiệu quả để chủ động nguồn thức ăn, đảm bảo sự ổn định và bền vững cho quá trình chăm sóc cá cóc.

Nghiên cứu về sinh sản của Cá cóc tam đảo vẫn còn hạn chế, và việc phát triển loài đòi hỏi nhiều nghiên cứu hơn để tạo ra nguồn giống phục vụ sản xuất quy mô lớn Các giải pháp nhằm thúc đẩy sinh sản bao gồm bổ sung nguồn giống ban đầu và xây dựng các bể nuôi phục vụ sinh sản cho cá cóc Trong tự nhiên, số lượng Cá cóc tam đảo đang giảm nhanh, vì vậy, nhân giống thành công cần thiết kế các chuồng nuôi bán hoang dã nhằm mục tiêu tái thả cá về môi trường tự nhiên.

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

Từ kết quả nghiên cứu về loài Cá cóc tam đảo tại Trạm ĐDSH Mê Linh, một số kết luận chính đƣợc khái quát nhƣ sau:

Trạm ĐDSH Mê Linh đã thành công trong việc nuôi dưỡng 11 cá thể cá cóc tam đảo trưởng thành, sử dụng hệ thống bể nuôi thiết kế phù hợp với đặc điểm sinh học và sinh thái của loài Nghiên cứu nổi bật này đã xác định các đặc điểm phân biệt đực cái, hành vi hoạt động ban ngày, tập tính lột xác, cũng như các chỉ tiêu hình thái đo đếm chưa từng được công bố trước đây về loài cá cóc tam đảo.

Cá cóc Tam Đảo thích ăn giun đất và nòng nọc ếch, là những loại thức ăn dễ tìm kiếm, ưa thích và chủ động trong việc săn bắt Khả năng kiếm ăn của chúng phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ môi trường, thích hợp nhất khi thời tiết ấm và ẩm Ngoài ra, bài viết đã xác định rõ thời gian phù hợp để cho cá cóc ăn cũng như các phương pháp cho ăn hiệu quả trong điều kiện nuôi nhốt, giúp duy trì sức khỏe và phát triển tốt cho loài amphibian này.

Khả năng sinh trưởng của Cá cóc tam đảo tại Trạm ĐDSH Mê Linh đang gặp khó khăn do các cá thể đều đã trưởng thành và ảnh hưởng của thời tiết lạnh, đặc biệt trong giai đoạn cá cóc lột xác Tuy nhiên, nhìn chung, khối lượng cá cóc trung bình vẫn tăng lên, cho thấy tín hiệu tích cực về hoạt động chăm sóc và quản lý cá cóc tam đảo tại trạm.

Kỹ thuật nuôi Cá cóc Tam Đảo hiện còn nhiều hạn chế và cần áp dụng các biện pháp cải thiện để nâng cao hiệu quả sinh sản Tuy nhiên, nghiên cứu này đã mô tả các đặc điểm về trứng và phương thức sinh sản của loài, góp phần cung cấp cơ sở khoa học để phát triển phương pháp nuôi trồng bền vững hơn trong tương lai.

Năm là, Cá cóc tam đảo trong điều kiện nuôi nhốt có sức đề kháng cao

Bệnh nấm ngoài da là một vấn đề thường gặp ở cá cóc Tam Đảo, tuy nhiên hiện nay đã có các biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả Việc chú ý phòng bệnh là yếu tố cực kỳ quan trọng để duy trì sức khỏe và sự phát triển ổn định của đàn cá cóc Để đảm bảo đàn cá cóc Tam Đảo luôn khỏe mạnh, người nuôi cần áp dụng các biện pháp phòng bệnh đúng kỹ thuật và chăm sóc đúng quy trình.

Cuối cùng, đề tài đã đánh giá các ƣu điểm và hạn chế về hoạt động nuôi

Cá cóc tam đảo tại Trạm Đ DSH Mê Linh và đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện thực thiễn

Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù đã cố gắng hết sức, nhưng do thời gian có hạn và trình độ chuyên môn của bản thân còn hạn chế, nên tôi chưa thể nghiên cứu và triển khai các nội dung khác liên quan đến đề tài.

Hiện tại chưa theo dõi được chi tiết về diễn biến, quá trình sinh trưởng và phát triển của con vật cũng như tình hình bệnh tật của chúng Do đó, khó khăn trong việc đưa ra các giải pháp chăm sóc phù hợp và phòng chống bệnh tật hiệu quả Các biện pháp đã đề ra còn tồn tại một số hạn chế, cần hoàn thiện để nâng cao hiệu quả chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con vật.

Ngày đăng: 14/08/2023, 22:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ nước XHXHCN Việt Nam (2006), “Nghị định 32/2006/NĐ- CP, về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 32/2006/NĐ- CP, về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm
Tác giả: Chính phủ nước XHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
2. Hà Văn Cường, Vũ Tiến Thịnh, 2014 “Nghiên cứu hiện trạng nhân nuôi các loài động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, Tạp chí khoa học và công nghệ lâm nghiệp số 2, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng nhân nuôi các loài động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Tác giả: Hà Văn Cường, Vũ Tiến Thịnh
Nhà XB: Tạp chí khoa học và công nghệ lâm nghiệp
Năm: 2014
3. Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (2001), “Thành phần loài ếch nhái, bò sát ở vùng núi Sapa, Lào Cai”, Tạp chí Sinh học, 23(4), tr. 24-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài ếch nhái, bò sát ở vùng núi Sapa, Lào Cai
Tác giả: Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc
Nhà XB: Tạp chí Sinh học
Năm: 2001
4. Phạm Nhật, Đỗ Quang Huy (1998) “ Động vật rừng” Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật rừng
Tác giả: Phạm Nhật, Đỗ Quang Huy
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1998
6. Đặng Huy Phương, Phạm Thế Cường, Trần Đại Thắng, (2013) “Một số kết quả bước đầu trong thử nghiệm nuôi Thằn lằn cá sấu shinisaurus crocodilurus ahl,1930 tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả bước đầu trong thử nghiệm nuôi Thằn lằn cá sấu shinisaurus crocodilurus ahl,1930 tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
Tác giả: Đặng Huy Phương, Phạm Thế Cường, Trần Đại Thắng
Năm: 2013
7. Đặng Huy Phương, Trần Đại Thắng, Phạm Thị Kim Dung, 2015 “Mô hình kết hợp nhân nuôi bảo tồn và nghiên cứu các loài ếch nhái và Bò sát tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh”, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình kết hợp nhân nuôi bảo tồn và nghiên cứu các loài ếch nhái và Bò sát tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
Tác giả: Đặng Huy Phương, Trần Đại Thắng, Phạm Thị Kim Dung
Nhà XB: Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Năm: 2015
8. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2005), “Danh lục bò sát và lưỡng cư Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục bò sát và lưỡng cư Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
9. Nguyễn Công Sơn, 2016 “Nghiên cứu tình hình nhân nuôi động vật hoang dã đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, trường Đại học Lâm Nghiệp, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình nhân nuôi động vật hoang dã đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Công Sơn
Nhà XB: Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp
Năm: 2016
10. Đặng Ngọc Thanh, Trần Kiên, Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Cử, Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Huy Yết & Đặng Thị Đáp (biên tập), 2007. Sách Đỏ Việt Nam: Phần 1. Động vật, trang 219-276 + 8 trang ảnh. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam: Phần 1. Động vật
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh, Trần Kiên, Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Cử, Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Huy Yết, Đặng Thị Đáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
11. Trần Đại Thắng (2014)“ Thử nghiệm nhân nuôi loài Cá cóc Việt Nam Tylototriton vietnamensis tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm nhân nuôi loài Cá cóc Việt Nam Tylototriton vietnamensis tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
Tác giả: Trần Đại Thắng
Năm: 2014
12. Nguyễn Quảng Trường, Hồ Thu Cúc, Đặng Văn Thuần, Trần Việt Khoa, Nguyễn Đức Toàn, Đồ Văn Nhụy (2004), Báo cáo Khảo sát và tập huấn giám sát các loài bò sát và ếch nhái quan trọng ở Vườn quốc gia Tam Đảo, Văn phòng GTZ Việt Nam và Cục Kiểm lâm (FPD) - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Khảo sát và tập huấn giám sát các loài bò sát và ếch nhái quan trọng ở Vườn quốc gia Tam Đảo
Tác giả: Nguyễn Quảng Trường, Hồ Thu Cúc, Đặng Văn Thuần, Trần Việt Khoa, Nguyễn Đức Toàn, Đồ Văn Nhụy
Nhà XB: Văn phòng GTZ Việt Nam
Năm: 2004
13. Nguyễn Quảng Trường, và cộng sự (2011) "Quan hệ di truyền và định loại các loài thuộc họ cá cóc Salamandridae (Amphibia: Caudata) ở Việt Nam." Tạp chí công nghệ sinh học 7(3): 235-333 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ di truyền và định loại các loài thuộc họ cá cóc Salamandridae (Amphibia: Caudata) ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quảng Trường, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí công nghệ sinh học
Năm: 2011
14. Trần Thanh Tùng, Lê Nguyên Ngật và Nguyễn Văn Sáng (2008), “ Sự đa dạng và hiện trạng ếch nhái và bò sát ở vùng núi Yên Tử”, Tạp chí Sinh học, 30(3), tr. 44-51.II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đa dạng và hiện trạng ếch nhái và bò sát ở vùng núi Yên Tử
Tác giả: Trần Thanh Tùng, Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng
Nhà XB: Tạp chí Sinh học
Năm: 2008
15. Boulenger (1903) Larval development, stages and an international comparison of husbandry parameters of the Vietnamese Mossy Frog Theloderma corticale (Anura: Rhacophoridae) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Larval development, stages and an international comparison of husbandry parameters of the Vietnamese Mossy Frog Theloderma corticale (Anura: Rhacophoridae)
Tác giả: Boulenger
Năm: 1903
16. McDiarmid R. W. and Altig R. (1999), Tadpole: The bioglogy of Anuran larvae, TheUniversity of Chicago Press, Chicago and London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tadpole: The biology of Anuran larvae
Tác giả: McDiarmid R. W., Altig R
Nhà XB: The University of Chicago Press
Năm: 1999
17. Gosner L. K (1960), “A simplifield table for staging Anura embryos and larvae withnotes on indentification”, Herpetologica, 16(3), pp. 3 – 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A simplifield table for staging Anura embryos and larvae withnotes on indentification
Tác giả: Gosner L. K
Nhà XB: Herpetologica
Năm: 1960
18. Grosjean S. (2001), “The tadpole of Leptobranchium (Vibrissaphora) echinatum (Amphibia: Anura: Megophridae)”, Zoosystema Journal, 3(1), pp.143 – 156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The tadpole of Leptobranchium (Vibrissaphora) echinatum (Amphibia: Anura: Megophridae)
Tác giả: Grosjean S
Nhà XB: Zoosystema Journal
Năm: 2001
19. The strangest tadpole: the oophagous, tree-hole dwelling tadpole of Rhacophorus vampyrus (Anura: Rhacophoridae) from Vietnam Khác
20. Molecular identification and description of the tadpole of the Annam Flying Frog, Rhacophorus annamensis Smith, 192 (Anura:Rhacophoridae) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ vị trí địa lý Trạm ĐDSH Mê Linh - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 2.1 Bản đồ vị trí địa lý Trạm ĐDSH Mê Linh (Trang 16)
Hình 4.1: Cá cóc tam đảo trưởng thành tại Trạm ĐDSH Mê Linh - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 4.1 Cá cóc tam đảo trưởng thành tại Trạm ĐDSH Mê Linh (Trang 32)
Bảng 4.2: Phân biệt Cá cóc tam đảo đực và cái - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Bảng 4.2 Phân biệt Cá cóc tam đảo đực và cái (Trang 33)
Hình 4.2: Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ phần trăm bình quân các hoạt động của Cá - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 4.2 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ phần trăm bình quân các hoạt động của Cá (Trang 35)
Hình 4.4: Cá cóc tam đảo nằm phơi dưới bóng đèn - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 4.4 Cá cóc tam đảo nằm phơi dưới bóng đèn (Trang 37)
Hình 4.8: Thức ăn Giun đất và nòng nọc Êch cây xanh đốm của cá cóc - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 4.8 Thức ăn Giun đất và nòng nọc Êch cây xanh đốm của cá cóc (Trang 40)
Hình 4.9: Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ tới lượng thức ăn tiêu - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 4.9 Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ tới lượng thức ăn tiêu (Trang 43)
Hình 4.10: Biểu đồ thức ăn ƣa thích của Cá cóc tam đảo trong nuôi nhốt - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 4.10 Biểu đồ thức ăn ƣa thích của Cá cóc tam đảo trong nuôi nhốt (Trang 44)
Bảng 4.7: Tổng hợp kết quả cân định kỳ Cá cóc tam đảo - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Bảng 4.7 Tổng hợp kết quả cân định kỳ Cá cóc tam đảo (Trang 45)
Hình 4.12: Trứng của Cá cóc tam đảo - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 4.12 Trứng của Cá cóc tam đảo (Trang 47)
Hình 1: Cá cóc tam đảo cuộn mình - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 1 Cá cóc tam đảo cuộn mình (Trang 57)
Hình 5 : Cân giun đất trước mỗi lần - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 5 Cân giun đất trước mỗi lần (Trang 58)
Hình 8 : Dùng kẹp cho Cá cóc tam đảo ăn tại bể - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 8 Dùng kẹp cho Cá cóc tam đảo ăn tại bể (Trang 59)
Hình 11 : Giá thể trong bể bị nấm, lấy ra và rửa sạch phơi khô - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 11 Giá thể trong bể bị nấm, lấy ra và rửa sạch phơi khô (Trang 60)
Hình 12 : Cân đo kích thước, trọng lượng Cá cóc tam đảo - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài cá cóc tam đảo (paramesotriton deloustali bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại trạm đa dạng sinh học mê linh, vĩnh phúc
Hình 12 Cân đo kích thước, trọng lượng Cá cóc tam đảo (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w