TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nhìn nhận chung
Ngành lâm nghiệp mang lại lợi ích kinh tế - xã hội, môi trường và thẩm mỹ, nhưng đòi hỏi thời gian dài để thu hồi vốn do lợi ích mang lại là dài hạn, lợi suất thấp và rủi ro cao Hiện nay, diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam đang bị thu hẹp, kéo theo suy giảm đa dạng sinh học và trữ lượng tài nguyên rừng, trong khi diện tích rừng trồng kinh tế ngày càng mở rộng Sự thay đổi về loài cây trồng và mở rộng diện tích rừng đã dẫn đến sự xuất hiện của các loài sâu, bệnh mới, gây ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái rừng tự nhiên và rừng trồng Trong hệ sinh thái tự nhiên, tính ổn định cao giúp kiểm soát dịch hại tự nhiên, nhưng trong rừng trồng, tính bền vững kém khiến chúng rất dễ tổn thương trước các tác động bất lợi, do đó việc phòng chống sâu bệnh hại rừng là rất cần thiết để bảo vệ cây trồng, duy trì sự sinh trưởng và phát triển bền vững của rừng.
Lịch sử phát triển khoa học bệnh cây
Con người đã biết đến bệnh cây từ thời cổ đại, nhưng chưa hiểu rõ nguyên nhân gây bệnh, chỉ cho rằng cây bệnh do trời Đến thế kỷ III trước Công nguyên, Phraste đã mô tả bệnh gỉ sắt hại cây và hiện tượng nấm ký sinh ở gốc cây Vào thế kỷ XVI, chế độ phong kiến phát triển mạnh mẽ các vùng sản xuất chuyên canh với hàng nghìn hecta, khiến bệnh cây ngày càng gây nhiều thiệt hại hơn, đồng thời nhận thức về bệnh cũng ngày càng rõ ràng hơn Đến thế kỷ XVIII, nền kinh tế thế giới chuyển đổi từ công trường thủ công sang nửa cơ khí và cơ khí hóa, các quốc gia khoa học phát triển mạnh mẽ và đã bắt đầu áp dụng các biện pháp phòng trừ bệnh cây đơn giản để giảm thiểu thiệt hại.
Bệnh cây bắt đầu được nghiên cứu và phát triển rõ ràng trong vòng khoảng 150 năm gần đây Người đi tiên phong trong lĩnh vực khoa học bệnh cây rừng là nhà sinh học Robert Hartig, sinh năm 1839, người đã đặt nền móng cho ngành khoa học này Những nghiên cứu của ông đã mở ra hướng đi mới cho việc xác định và phòng chống các bệnh hại gây hại cho rừng, góp phần bảo vệ hệ sinh thái rừng và nâng cao năng suất trồng rừng.
Năm 1901, nghiên cứu về các loại bệnh hại cây rừng được trình bày trong cuốn sách "Bệnh cây rừng các nước nhiệt đới" (Phytopathologie des pays chauds), với các mô tả về bệnh hại lá của thông, keo, bạch đàn do Roger thực hiện năm 1953.
Cuốn sách "Bệnh cây rừng" xuất bản năm 1961 của John Boyce đã mô tả chi tiết các loại bệnh hại cây rừng, đóng góp quan trọng cho lĩnh vực bệnh học rừng Tác phẩm này được phát hành rộng rãi tại nhiều quốc gia như Anh, Mỹ và Canada, giúp nâng cao nhận thức và kiến thức về các dịch bệnh cây rừng trên toàn cầu.
Hội nghị nghiên cứu bệnh cây lần thứ nhất diễn ra tại Luân Đôn vào tháng 8/1968, thu hút nhiều nhà nghiên cứu bệnh cây từ khắp nơi Sự kiện này đã mở đầu cho các hoạt động đa dạng và phong phú của các hiệp hội nghiên cứu bệnh cây trên toàn thế giới Đây là bước đệm quan trọng thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu bệnh cây.
Các nghiên cứu về bệnh hại cây ở Việt Nam đã kế thừa nhiều thành tựu của ngành sinh thái học bệnh cây toàn cầu Từ những năm 1960, Hoàng Thị My đã điều tra và đề cập đến các loại nấm gây bệnh trên cây rừng phía Nam, trong đó Nguyễn Sỹ Giao năm 1966 đã phát hiện bệnh khô lá thông hại cây con trong vườn ươm và nghiên cứu đặc điểm sinh học của bệnh, cùng việc sử dụng thuốc hóa học như Bordo để phòng tránh Năm 1969, Nguyễn Sỹ Giao đặt tên bệnh là rơm lá thông và xác định nguyên nhân gây bệnh là nấm Cerospora pini-densflorae Hori et Nambu Đến năm 1971, Trần Văn Mão công bố nhiều nghiên cứu về nấm bệnh trên các loài cây rừng như trẩu, quế, hồi, sở, cùng các biện pháp phòng chống hiệu quả Năm 1975, Uhlig và các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp cùng Trường Đại học đã tiếp tục mở rộng kiến thức về bệnh cây rừng ở Việt Nam thông qua hàng trăm công trình nghiên cứu chuyên sâu.
Lâm nghiệp, nghiên cứu và thử nghiệm một số loại thuốc hóa học đề phòng trừ chống bệnh rơm lá thông ở Quảng Ninh
Trong năm 1990, một đoàn đánh giá hỗn hợp của FAO/UNDP và chính phủ Việt Nam đã thực hiện khảo sát các dự án VIE/86/026, VIE/86/027 và VIE/86/028, đồng thời báo cáo về đe dọa nghiêm trọng của nấm bệnh tại Đồng Nai và Sông Bé Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp khu vực Đông Nam Bộ đã tiến hành đánh giá thiệt hại do nấm bệnh bạch đàn gây ra trên các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Sông Bé và khu vực phía nam, góp phần xác định tầm ảnh hưởng của bệnh trên diện rộng Ngoài ra, các chuyên gia bệnh cây quốc tế từ Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc cũng đã đến Việt Nam để nghiên cứu các loại bệnh hại cây trồng, trong đó Hodge (1990) và Sharma (1994) đã trình bày các báo cáo chuyên đề tại Hà Nội, góp phần nâng cao hiểu biết và thúc đẩy các giải pháp phòng chống bệnh nấm hiệu quả.
Hiện tại, các công trình nghiên cứu về cây Lát hoa còn khá hạn chế, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực phân loại, mô tả, phát hiện và giám định tên gọi của loài cây này.
Các nghiên cứu về cây Lát hoa còn hạn chế và chưa phản ánh đúng giá trị đặc biệt của nó Các công trình trước đây là nền tảng quan trọng để xác định hướng nghiên cứu phù hợp nhằm khám phá rõ hơn về cây Lát hoa Việc mở rộng các hoạt động nghiên cứu sẽ giúp nâng cao nhận thức và phát huy tiềm năng của loại cây này trong đời sống và kinh tế.
ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Xuân Mai là thị trấn thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội, nằm cách trung tâm thành phố 33 km về phía tây và nằm tại điểm giao nhau giữa Quốc lộ 6 và Quốc lộ 21A (nay là Đường Hồ Chí Minh) Đây là một trong năm đô thị vệ tinh của Hà Nội, cùng với Sơn Tây, Hòa Lạc, Phú Xuyên, Sóc Sơn và Mê Linh trong tương lai Thị trấn gồm 9 khu dân cư chính như Bùi Xá, Phố Xuân Hà, Xuân Mai, Tiên Trường, Đồng Vai, Tân Xuân, Tân Bình, Chiến Thắng và Tân Mai, góp phần phát triển kinh tế và hạ tầng đô thị.
- Phía tây giáp Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Phía bắc giáp với xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, Hà Nội
- Phía đông giáp với xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội
- Phía nam giáp với xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội
Khu vực Xuân Mai có địa hình đồi núi thấp với hai quả đồi, trong đó đỉnh cao nhất cao 133m so với mực nước biển, còn đỉnh kia cao 90m Địa hình tại đây có độ dốc trung bình từ 10° đến 15°, nhưng cũng có những nơi có độ dốc lớn lên đến 25°, phù hợp với các hoạt động nông nghiệp và sinh thái tự nhiên.
Các vườn ươm cây với quy mô hộ gia đình có diện tích tương đối lớn, bằng phẳng, nằm xa rừng trồng thuần loài
Khí hậu thị trấn Xuân Mai mang tính chất nhiệt đới gió mùa rõ rệt với 4 mùa trong năm Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm khoảng 91% tổng lượng mưa hàng năm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc canh tác và phát triển nông nghiệp địa phương Ngược lại, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, có lượng mưa ít hơn và lượng bốc hơi cao hơn, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của người dân.
Lượng mưa hàng năm dao động từ 1.000 đến 2.000mm, trung bình đạt 1.647,1mm theo số liệu khí hậu tại Xuân Mai Mức độ mưa phân bố không đều qua các tháng, đỉnh điểm vào tháng 7 và tháng 8 với lượng mưa trên 300mm mỗi tháng Trong khi đó, lượng mưa thấp nhất ghi nhận vào tháng 1 với chỉ 13,8mm, và tháng 12 với 22,2mm, phản ánh sự biến đổi rõ rệt của lượng mưa theo mùa.
Khí hậu khu vực có nhiệt độ trung bình là 23,9°C, với tháng nóng nhất đạt 28,5°C vào tháng 6,7 và tháng lạnh nhất là 17,1°C vào tháng 1 Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình là 81,5%, duy trì khá ổn định quanh năm Tháng 3 có độ ẩm cao nhất đạt 85,5%, trong khi tháng 12 là tháng có độ ẩm thấp nhất, chỉ 78,4%.
Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của chế độ gió đặc trưng, với gió mùa đông bắc lạnh và khô thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, giúp hình thành đặc điểm khí hậu rõ rệt trong mùa đông Song song đó, gió mùa đông nam mát và ẩm thổi vào từ tháng 4 đến tháng 7, góp phần duy trì khí hậu dễ chịu trong mùa hè Thỉnh thoảng, khu vực còn chịu tác động của gió tây trong các tháng 4, 5 và 6, ảnh hưởng đến điều kiện thời tiết và khí hậu địa phương.
Dưới đây là số liệu khí hậu cơ bản của khu vực Xuân Mai, năm 2007 - 2015
Biểu 2.1 Điều kiện khí hậu cơ bản khu vực Xuân Mai
Tháng Nhiệt độ ( 0 C) Độ ẩm (%) Lƣợng mƣa (mm)
2T/W/P nhiet do do am lượng mưa
Hình 2.1 Biểu đồ Gaussen – Walter
Theo công thức chỉ số khô hạn của Thái Văn Trừng :
Khu vực nghiên cứu có mùa khô hạn kéo dài 3 tháng, trong đó tháng 2 và tháng 12 là những tháng khô nhất, còn tháng 1 là tháng hạn và không có tháng kiệt Nhờ điều kiện khí hậu thuận lợi của địa phương kết hợp với hệ thống cấp nước từ giếng khoan và máy bơm nước, nguồn nước luôn đảm bảo đủ và sạch, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất cây con.
2.1.4 Tình hình sản xuất ở vườn ươm
Trong vườn ươm, thành phần các loài cây khá phong phú, bao gồm Keo tai tượng, Sấu, Sao đen, Lát hoa, Trám trắng, Mỡ và nhiều loại khác Trong đó, cây Lát hoa là loại cây phổ biến với số lượng lên đến 14.000 cây con mỗi năm, trong đó khoảng 12.000 cây được tiêu thụ thành công.
Điều kiện kinh tế xã hội
- Tình hình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các ngành kinh tế khác
Sản xuất nông nghiệp: Kinh tế nông nghiệp chiếm 30% tổng thu nhập của thị trấn Nhìn chung từ năm 1995 – 2002 có tăng nhƣng không đáng kể, năm
1995 sản xuất nông nghiệp đạt 420kg thóc/người/năm đến năm 2002 đạt 500kg thóc/người/năm
Sản xuất công nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công chiếm 60% tổng thu nhập của thị trấn, trở thành ngành kinh tế chính đóng vai trò then chốt trong phát triển địa phương Lĩnh vực này đang ngày càng nhận được sự quan tâm đầu tư và thúc đẩy mở rộng quy mô để nâng cao hiệu quả kinh tế Việc tập trung phát triển các ngành nghề này góp phần tạo nguồn thu ổn định và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trấn.
- Điều kiện giao thông vận chuyển
Hệ thống giao thông của khu vực gồm các đường bộ, với tổng diện tích đường giao thông năm 1995 là 55,66 ha, chiếm 5,3% tổng diện tích Đến năm 2002, diện tích đường bộ tăng lên còn 57,12 ha, chiếm 5,4% tổng diện tích toàn khu vực, phản ánh sự phát triển và mở rộng của hệ thống giao thông qua các năm.
Các tuyến quốc lộ chính đi qua thị trấn gồm Quốc lộ 21A (Xuân Mai - Sơn Tây) dài khoảng 3km và Quốc lộ 6 (Xuân Mai - Hà Nội) khoảng 7km, đều có mặt đường rải nhựa và cấp phối tương đối tốt, tạo thuận lợi cho giao thông và vận chuyển hàng hóa.
Mạng lưới đường vào các khu phố, xóm đã được hình thành và chủ yếu được đổ bê tông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và sinh hoạt của người dân Một số ít tuyến đường vẫn còn là đường đất, nhưng nhìn chung các tuyến đường này khá ổn định, đảm bảo an toàn cho cộng đồng Việc duy trì và nâng cấp hệ thống đường giao thông góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân địa phương.
Năm 1995, dân số ước tính khoảng 10.000 người với tổng số hộ là 2.313, trung bình 4,32 người mỗi hộ, trong đó có 6.925 người ở độ tuổi lao động chiếm 69,25% Đến năm 2002, dân số tăng lên khoảng 14.000 người với 3.151 hộ, trung bình 4,44 người mỗi hộ, trong đó có 7.064 người trong độ tuổi lao động chiếm 70,64%.
Từ các số liệu trên cho thấy : Dân số năm 2002 đã tăng 1.4 lần so với năm
1995 Dân số tăng nhanh kéo theo nhu cầu việc làm tăng
- Thu nhập và mức sống
Mức thu nhập trong sản xuất nông nghiệp năm 1995 đạt 420kg/người/năm; năm 2002 đạt 500 kg thóc/người/năm
Mức thu nhập của cƣ dân trong ngành tiểu thủ công nghiệp là 975.000đ/người/năm
Những năm qua nhờ có sự quan tâm của các cấp chính quyền, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao
Kinh tế khu vực ngày càng phát triển, nâng cao mức sống của người dân Nhiều ngành nghề mới mở ra tạo công ăn việc làm, giảm tác động của người dân lên tài nguyên rừng Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của giống cây rừng nói chung và ngành ươm giống cây trồng nói riêng.
MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG –ĐỊA ĐIỂM –THỜI GIAN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Để quản lý hiệu quả bệnh hại lá Lát hoa trong giai đoạn gieo ươm, cần xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh và hiểu rõ đặc điểm sinh vật học cũng như sinh thái của tác nhân gây bệnh Việc tìm hiểu sâu về đặc điểm sinh vật học giúp phân loại loại bệnh, từ đó xây dựng các biện pháp phòng trừ phù hợp Ngoài ra, việc nghiên cứu sinh thái của vật gây bệnh, như điều kiện môi trường và chu kỳ phát triển, là yếu tố quan trọng để đưa ra các chiến lược phòng ngừa hiệu quả Điều này giúp nông dân kiểm soát bệnh hại lá Lát hoa ngay từ khi mới chớm phát triển, giảm thiểu thiệt hại và nâng cao năng suất sản phẩm.
Đối tƣợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài viết là các bệnh hại lá trên cây Lát hoa trong giai đoạn vườn ươm, nhằm xác định các loại bệnh phổ biến và ảnh hưởng đến sự phát triển của cây Phạm vi nghiên cứu cụ thể tại vườn ươm cây Lát hoa của hộ gia đình ông Hanh, tọa lạc tại tổ 4, thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khảo sát và áp dụng các biện pháp phòng trừ bệnh hiệu quả.
Thời gian nghiên cứu: ngày 15 tháng 01 đến ngày 04 tháng 05 năm 2018.
Nội dung nghiên cứu
(1) Điều tra xác định tỷ lệ bị bệnh và mức độ gây hại của bệnh hại lá Lát hoa ở giai đoạn vườn ươm
(2) Xác định nguyên nhân gây bệnh hại lá Lát hoa tại khu vực nghiên cứu
(3) Ảnh hưởng nhân tố sinh thái tới sự phát sinh, phát triển bệnh hại
(4) Đề xuất một số biện pháp quản lý bệnh hại
Phương pháp nghiên cứu
- Kế thừa tài liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu
Phương pháp xác định vật gây bệnh dựa trên các đặc điểm triệu chứng và cơ quan sinh sản của tác nhân gây bệnh Việc này thường sử dụng các tài liệu chuyên khảo để phân tích và xác định chính xác loại vật gây bệnh, giúp đưa ra biện pháp phòng chống phù hợp và hiệu quả.
- Kế thừa một số biện pháp phòng trừ bệnh hại đã đƣợc áp dụng tại khu vực nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp điều tra Điều tra tổng có 6 luống
Mỗi luống chọn 30 cây đạt tiêu chuẩn để điều tra
Công tác ngoại nghiệp cần chuẩn bị những dụng cụ sau:
+ Kéo,dây nilon, túi nilon và cọc tre 30 cm, bảng biểu điều tra, túi đựng mẫu,…
+ Kính hiển vi, Lam kính , lamen ,bông, nước cất ,dao lam, miếng gỗ thái…
+ Nguyên liệu nấu môi trường bao gồm : Khoai tây,đường glucose, thạch aga
+ Bông ,cồn ,bút viết kính,giấy bọc ,báo ,băng parafin…
+ Các dụng cụ ống nghiệm ,hộp lồng ,bếp điện ,nồi hấp khử trùng,tủ sấy,bình hút ẩm
3.4.3 Phương pháp xác định tỷ lệ bị hại (P%) và mức độ bị hại (R%)
- Do diện tích vườn ươm nhỏ nên không cần điều tra sơ bộ mà chỉ tiến hành điều tra tỉ mỷ theo các bước sau :
- Lập ô dạng bản (ODB) và tiến hành điều tra :
- Tỷ lệ cây bị bệnh p% : là số lá cây bị bệnh trên tổng số cây điều tra
- Mức độ gây hại R% : là tổng hợp chỉ tiêu tỷ lệ lá ở các cấp khác nhau trên tổng số lá hay diện tích bị bệnh
- Có thể xác định khả năng phân bố của bệnh
Trên mỗi luống gieo ƣơm, lập 3 ODB, mỗi ô có diện tích 1m 2 (1m x 1m)
Trong vườn có 2 ODB đặt ở hai đầu luống và 1 ô ở giữa luống, tổng số ODB trên toàn bộ diện tích là 30 Tiếp theo, tiến hành điều tra tỷ lệ cây bị bệnh và ghi nhận kết quả vào mẫu biểu 01 để theo dõi chính xác tình trạng bệnh trên cây trồng.
Khi điều tra trên lá ta cần chú ý: ngắt 1 cành trên
Mẫu biểu 01 Điều tra tỷ lệ bị bệnh (P%) hại lá Lát hoa
Tên vườn ươm:………Loài cây……… Tuổi cây:……….…….………
Ngày điều tra:…… ……….Người điều tra:…… ………
Công thức tính tỷ lệ bị bệnh:
P là tỷ lệ bị bệnh hại lá của một loài cây (%) n là số cây bị bệnh
N là tổng số cây điều tra Kết quả tính tỷ lệ bị bệnh trung bình của một loại bệnh hại ( P % ), nếu:
0 ≤ P % ≤ 5% Bệnh hại lá phân bố cá thể
5 < P % ≤ 25% Bệnh hại lá phân bố theo cụm
25 < P % ≤ 50% Bệnh hại lá phân bố theo đám
Bệnh hại lá phân bố đều trên cây, gây ảnh hưởng đáng kể đến năng suất Để đánh giá mức độ gây hại của bệnh, tôi tiến hành điều tra tỷ lệ bị bệnh (R%) và phân loại cấp hại dựa trên mức độ tổn thương, giúp xác định chính xác tác động của từng loại bệnh đối với cây trồng.
Cấp hại Diện tích lá bị hại
0 (lá cây không bị hại) Không bị bệnh
I (lá cây bị hại nhẹ) 0 25% diện tích lá bị bệnh
II ( lá cây bị hại vừa) 25% 50% diện tích lá bị bệnh
III (lá cây bị hại nặng) 50% 75% diện tích lá bị bệnh
IV (lá cây bị hại rất nặng) > 75% diện tích lá bị bệnh
Kết quả điều tra đƣợc ghi vào biểu mẫu 02
Biểu mẫu 02 Điều tra mức độ hại lá cây Lát hoa
Ngày điều tra: ………… Người điều tra: ………
TT ÔDB Cây điều tra Loại bệnh
Số lá bị hại theo các cấp hại R%
Mức độ hại lá của một loại bệnh đƣợc tính theo công thức sau:
R% : mức độ bị bệnh (%) ni : số lá bị hại ở cấp hại i vi : trị số cấp hại i
N : tổng số lá điều tra
V : trị số cấp hại cao nhất (V=4)
Từ kết quả tính mức độ bị hại trung bình ( %) của từng loại bệnh, nếu:
0 ≤ % < 10% cây khỏe 10% ≤ % < 15% cây bị hại nhẹ 15% ≤ % < 25% cây bị hại vừa 25% ≤ % < 50% cây bị hại nặng 50% ≤ % cây bị hại rất nặng
3.4.4 Phương pháp xác định vật gây bệnh
Lấy mẫu bệnh gồm cây và lá bị bệnh được bỏ vào túi polyetylen có bông thấm nước, sau đó ghi rõ số mẫu và buộc kín để đảm bảo vệ sinh Mẫu sau đó được chuyển về phòng thực hành bộ môn Bảo vệ thực vật rừng – Trường Đại học Lâm nghiệp để tiến hành mô tả và xác định nguyên nhân gây bệnh chính xác Quá trình lấy mẫu đúng quy trình giúp đảm bảo kết quả phân tích bệnh chính xác, thuận lợi cho công tác phòng chống dịch bệnh thực vật rừng.
Sau khi lấy mẫu bệnh phẩm, tôi tiến hành quan sát trực tiếp vết bệnh bằng mắt thường hoặc kính lúp để xác định các đặc điểm hình thái của vết bệnh Tôi mô tả chi tiết các biến đổi về màu sắc, kích thước và hình dạng của vết bệnh nhằm đánh giá rõ tình trạng bệnh và hỗ trợ chẩn đoán chính xác.
Quan sát vật gây bệnh bắt đầu bằng việc lấy lam kính sạch, nhỏ một giọt nước cất, sau đó sử dụng que cấy nấm để lấy những chấm đen trên vết bệnh và đặt lên lam kính, sau đó đậy nắp lam kính Tiếp theo, tiến hành quan sát bào tử của vật gây bệnh dưới kính hiển vi có độ phóng đại 400 lần để xác định đặc điểm của chúng Nếu phát hiện có cơ quan sinh sản bao bọc bào tử, ta sẽ dùng dao lam cắt bộ phận bị bệnh và quan sát lại dưới kính hiển vi, từ đó có thể vẽ, mô tả và đo kích thước cơ quan sinh sản của nấm dựa trên hình thái và cấu trúc quan sát được.
Hình 3.1 Kính hiển vi 2 mắt Labomed CXr2
Xác định vật gây bệnh dựa trên đặc điểm triệu chứng, hình thái bào tử và cơ quan sinh sản của tác nhân Nhờ sự hướng dẫn của giáo viên, tôi đối chiếu các đặc điểm này với tài liệu phân loại nấm để xác định chính xác loại vật gây bệnh, phân loại đến chi và loài.
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
Triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh hại lá Lát Hoa
Nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh hại là yếu tố then chốt trong công tác phòng trừ bệnh hại cây rừng, giúp xác định đúng đắn nguồn gốc bệnh để đưa ra các biện pháp phòng chống hiệu quả Chẩn đoán chính xác nguyên nhân bệnh là cơ sở quan trọng để phát triển các chiến lược phòng ngừa và quản lý bệnh, góp phần ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh trên cây rừng Việc phòng trừ bệnh hại cây rừng thành công phụ thuộc vào việc xác định đúng nguyên nhân bệnh, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để bảo vệ và duy trì sức khỏe của rừng.
4.2.1 Bệnh thủng lá Lát hoa a Triệu chứng bệnh thủng lá Lát hoa
Bệnh gây hại trên lá cây Lát hoa bắt đầu xuất hiện với các vết bệnh hình tròn nhỏ, màu nâu đen hoặc trắng xám Khi bệnh phát triển, các vết mở rộng có đường kính khoảng 3,5mm, có chấm đen nhỏ là cơ quan sinh sản của tác nhân gây bệnh (đĩa bào tử), với ranh giới rõ giữa vùng bị bệnh và lành Bệnh nặng có thể gây ra các vết thủng hình tròn trên lá, tạo thành các lỗ thủng có kích thước đồng nhất, khiến lá bị teo tóp và giảm sức sống.
Hình 4.4 Triệu chứng bệnh thủng lá lát hoa b.Vật gây bệnh
Nấm gây bệnh được xác định là loài nấm Mốc sợi đen (Phoma lingam Desm.), thuộc chi Phoma trong họ Nấm Bào tử vỏ cầu (Sphaeropsidaceae), bộ Nấm Bào tử vỏ cầu (Sphaeropsidales), lớp Nấm Không bào (Coelomycetes), ngành phụ Nấm Bất toàn (Deuteromycotina), ngành Nấm Thật (Eumycota), giới Nấm (Fungi), theo hệ thống phân loại của Ainsworth Đặc điểm hình thái hiển vi của nấm gây bệnh thủng lá Lát hoa thể hiện qua đĩa bào tử nằm trong tổ chức cây chủ và lộ một phần ra ngoài thành các chấm đen nhỏ trên bề mặt lá, với bào tử phân sinh đơn bào, không màu, hình trứng hoặc hình viên trụ, hai đầu có dạng viên phân, không phân nhánh.
Hình 4.5 : Bào tử phân sinh ( Phoma lingam Tode Desm.)
4.2.2 Bệnh khô đầu mép lá cây Lát hoa a Triệu chứng
Bệnh phát sinh chủ yếu trên lá cây Lát hoa, thường bắt đầu từ các lá phía dưới của cây Các vết bệnh khiến lá khô dần từ đầu mép, có màu trắng xám đặc trưng Lá bệnh bị quăn lại và cuộn vào trong cuống lá, tạo ra sự khác biệt rõ rệt giữa phần bị bệnh và phần khỏe mạnh Ranh giới giữa vùng lá bị nhiễm bệnh và không bị bệnh thường có đường viền màu trắng xám, giúp dễ dàng nhận biết và xử lý kịp thời.
Trên vết bệnh, xuất hiện nhiều chấm đen nhỏ trên cả mặt trên và mặt dưới lá, chính là cơ quan sinh sản của tác nhân gây bệnh, gồm bào tử và vỏ bảo tử Đây là dấu hiệu đặc trưng giúp nhận biết và phân biệt bệnh, đồng thời hỗ trợ trong quá trình phòng chống hiệu quả Các chấm đen này đóng vai trò quan trọng trong chu kỳ sinh trưởng của bệnh làm tăng khả năng lây lan và gây hại cho cây trồng Việc phát hiện sớm các chấm đen này giúp nông dân kiểm soát dịch bệnh kịp thời, giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra.
Bệnh nặng làm cho toàn bộ diện tích lá bị chết khô, lá sớm rụng
Hình 4.6 Triệu chứng bệnh khô đầu mép lá Lát hoa b Vật gây bệnh khô đầu mép lá cây Lát hoa:
Nấm gây bệnh khô đầu mép lá cây Lát hoa được xác định là do nấm Ascochyta salicicola Pass Quan sát hình thái bào tử và cơ quan sinh sản của nấm giúp xác định chính xác tác nhân gây bệnh Việc nghiên cứu các đặc điểm hình thái của bào tử và cơ quan sinh sản đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và kiểm soát bệnh hiệu quả Phân tích cấu trúc sinh học của nấm sẽ cung cấp thông tin cần thiết để xây dựng các biện pháp phòng trừ phù hợp, giảm thiểu thiệt hại cho cây trồng.
Nấm ký sinh trên lá cây Lát hoa gây bệnh bằng cách tạo ra các điểm đen nhỏ rải rác trên vết thương, chính là bào tử phân sinh của nấm Bào tử phân sinh này hình thành từng lớp trong vỏ bào tử, có đặc điểm là đơn bào, không màu, gần hình tròn và có vách tế bào dày Những đặc điểm này giúp nhận diện và hiểu rõ quá trình sinh trưởng của nấm gây bệnh trên cây Lát hoa.
Hình 4.7 Vỏ bào tử và bào tử nấm gây bệnh khô đầu mép lá Lát hoa
Ảnh hưởng nhân tố sinh thái tới sự sinh trưởng và phát triển của nấm bệnh
Các yếu tố như nhiệt độ và độ ẩm có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của sợi nấm cũng như quá trình hình thành và phát sinh của bệnh nấm Theo giáo trình "Bệnh cây của rừng" của GS TS Trần Văn Mão (1997), nhiệt độ và độ ẩm là hai nhân tố quan trọng tác động đến sự nảy mầm, lây lan và phát triển của vết bệnh Trong nghiên cứu, chúng tôi tập trung điều tra và đánh giá các yếu tố như hướng phơi, khí tượng và tác động của con người đến mức độ bệnh của cây Lát hoa tại khu vực nghiên cứu.
Hướng phơi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ gây hại của bệnh trong quá trình trồng trọt Sự khác biệt về hướng phơi như Đông Nam và Tây Bắc đã làm ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát sinh và phát triển của bệnh, chứng minh tầm quan trọng của hướng phơi trong nông nghiệp Khóa luận đã điều tra mức độ bị hại theo hai hướng phơi này, kết quả thể hiện rõ trong bảng 4.2, cho thấy sự khác biệt đáng kể về mức độ gây hại.
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của hướng phơi tới mức độ bị hại
Mức độ bị hại (R%) Bệnh thủng lá Bệnh khô đầu mép lá Mức độ bị hại (R%) % Mức độ bị hại (R%) % Đông-Nam
Sự ảnh hưởng của hướng phơi đến mức độ bị bệnh được thể hiện ở biểu đồ hình 4.8
Bệnh thủng lá Bệnh cháy lá
Hình 4.8 Ảnh hưởng của hướng phơi đến mức độ bị bệnh trên cây Lát hoa
Dựa trên bảng 4.2 và hình 4.8, mức độ gây hại của bệnh thủng lá và bệnh khô đầu mép lá Lát hoa khác nhau rõ rệt theo hướng phơi Cụ thể, ở hướng Đông Nam, tỷ lệ gây hại của bệnh thủng lá là 3,28%, trong khi bệnh khô đầu mép lá là 5,21%, cho thấy mức độ gây hại thấp hơn so với hướng Tây Bắc, nơi bệnh thủng lá đạt 5,62% và bệnh khô đầu mép lá là 6,68% Sự khác biệt này có thể do hướng Tây Bắc ảnh hưởng đến điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thuận lợi hơn cho nấm gây bệnh trong giai đoạn này Nhiệt độ và độ ẩm đóng vai trò quyết định trong việc hình thành bào tử nấm, từ đó ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của bệnh.
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của vết bệnh Hầu hết các loài nấm có khả năng tồn tại và phát triển trong phạm vi nhiệt độ khá rộng, giúp chúng thích nghi với nhiều điều kiện môi trường khác nhau Hiểu rõ tác động của nhiệt độ giúp kiểm soát và phòng tránh sự phát triển của các bệnh do nấm gây ra hiệu quả hơn.
Bệnh khô đầu mép lá
Nấm thường phát triển tốt nhất ở nhiệt độ từ 20-30°C, với nhiệt độ tối thiểu từ 7-10°C và tối đa từ 30-35°C Nhiệt độ trung bình trong thời gian nghiên cứu từ ngày 01/03 đến ngày 21/03/2018 là 22,18°C, phù hợp để nấm bệnh phát triển.
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến mức độ bị bệnh hại lá Lát hoa Đợt điều tra Nhiệt độ (T 0 C) Mức độ bị hại (R%)
Bệnh thủng lá Bệnh khô đầu mép lá
Dựa trên bảng 4.3, có thể thấy rằng nhiệt độ tăng càng cao thì mức độ gây hại của hai bệnh trên lá cây Lát hoa càng nghiêm trọng Cụ thể, ở lần đo đầu tiên với nhiệt độ 18,68°C, tỷ lệ bị bệnh thủng lá là 9,25% và bệnh khô đầu mép lá là 16,50% Trong lần đo thứ hai với nhiệt độ 20,36°C, các chỉ số này lần lượt tăng lên là 11,53% và 19,09% Đến lần thứ ba, khi nhiệt độ tăng cao hơn nữa, mức độ bị bệnh thủng lá là 13,82%, còn bệnh khô đầu mép lá là 21,7%, cho thấy rõ mối liên hệ giữa nhiệt độ và mức độ gây hại trên lá cây Lát hoa.
Nhiệt độ cao thúc đẩy quá trình phát triển của nấm gây bệnh, làm thời kỳ ủ bệnh ngắn hơn và tăng tốc quá trình xâm nhiễm của tác nhân gây bệnh Mức độ bị bệnh phù hợp với quy luật của nấm gây bệnh, trong đó nhiệt độ càng cao thì nấm càng phát triển mạnh mẽ Các loài nấm gây bệnh có yêu cầu nhiệt độ tối thích khác nhau, nhưng nhìn chung, nhiệt độ cao luôn tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm.
Lượng mưa đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm bệnh Khi trời mưa, hàm lượng nước trong cây tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi để nấm bệnh sinh trưởng và phát triển Nấm có trong tổ chức của cây chủ và thích nghi với điều kiện có giọt nước, vì đa số bào tử nấm chỉ nảy mầm khi có sự hiện diện của nước.
Mối quan hệ giữa lƣợng mƣa và mức độ bị hại lá Lát hoa của vật gây bệnh đƣợc thể hiện trong bảng 4.4
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của lượng mưa đến mức độ bị hại lá Lát hoa
Bệnh thủng lá Bệnh khô đầu mép lá
Lượng mưa có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của bệnh nấm, as evidenced by the data in bảng 4.4 Trong lần đo đầu tiên, lượng mưa đạt 13,8 mm, gây ra mức độ thiệt hại là 9,25% đối với bệnh thủng lá và 16,5% đối với bệnh khô đầu mép lá These findings highlight the critical role of rainfall in disease severity and progression in crops.
Các kết quả khảo sát cho thấy, mức độ bị hại của bệnh thủng lá là 11,53% và bệnh khô đầu mép lá là 19,09% khi lượng mưa là 24,3mm Sau lần đo thứ ba với lượng mưa tăng lên 48,0mm, tỷ lệ bị hại của bệnh thủng lá tăng lên 13,82%, còn bệnh khô đầu mép lá tăng lên 21,7%, cho thấy mức độ gây hại của bệnh Lát hoa tăng theo sự gia tăng của lượng mưa Nguyên nhân chính là do trong thời gian khảo sát có nhiều mưa phùn, sương mù đọng trên lá tạo điều kiện thuận lợi cho bào tử nấm nảy mầm, lây lan và xâm nhiễm vào lá, làm mức độ tổn thương ngày càng nghiêm trọng.
4.3.4 Độ ẩm Độ ẩm là một trong những nhân tố quan trọng và cần thiết đối với sự sinh trưởng và phát triển của nấm bệnh, khi độ ẩm cao thuận lợi cho bào tử nảy mầm
Độ ẩm đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và lan truyền của nấm gây bệnh trên cây chủ Nơi có độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho mầm nấm xâm nhập nhanh và làm tăng tỷ lệ sống của bào tử Chính vì vậy, những vùng có độ ẩm cao thường có số lượng bào tử lớn hơn và mức độ gây hại cũng nghiêm trọng hơn.
Kết quả điều tra ảnh hưởng của độ ẩm đến mức độ bị hại của bệnh thủng lá và khô đầu mép lá Lát hoa đƣợc thể hiện ở bảng 4.5
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của độ ẩm đến mức độ bị hại lá Lát hoa
Lần đo Độ ẩm(W%) Mức độ bị hại (R%)
Bệnh thủng lá Bệnh khô đầu mép lá
Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy sự thay đổi về độ ẩm trong suốt 3 tháng, ảnh hưởng đến mức độ bị bệnh của cây trồng Ở lần đo đầu tiên với độ ẩm 80,5%, tỷ lệ bệnh thủng lá là 9,25%, và bệnh khô đầu mép lá là 16,50% Tại lần đo thứ hai với độ ẩm 83%, tỷ lệ bệnh thủng lá tăng lên 11,53%, trong khi bệnh khô đầu mép lá là 19,09% Ở lần đo thứ ba với độ ẩm 85,5%, các tỷ lệ này lần lượt là 13,82% và 21,70% Sự khác biệt về mức độ hại giữa các lần đo phản ánh ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, như mưa, sương mù, và nắng nóng, gây ra sự biến đổi rõ rệt trong mức độ tổn thất của cây trồng qua từng giai đoạn điều tra.
Trong các giai đoạn khác nhau, độ ẩm đóng vai trò quyết định trong thời kỳ xâm nhiễm của tác nhân gây bệnh và là yếu tố quan trọng trong quá trình ủ bệnh Nghiên cứu cho thấy, nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm ảnh hưởng lớn đến mức độ gây bệnh của tác nhân trên lá cây Lát hoa Các yếu tố này đều phù hợp với điều kiện phát triển của nấm gây bệnh trong suốt thời gian điều tra.
4.3.5 Tác động của con người đến bệnh hại
Con người đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và phát triển của nấm bệnh thông qua các hoạt động của mình Trong các biện pháp phòng trừ, việc kiểm soát hoạt động của tác nhân gây bệnh do con người thực hiện đóng vai trò then chốt nhằm hạn chế sự lây lan và phát triển của nấm bệnh trong môi trường.
Đề xuất các biện pháp quản lý tổng hợp bệnh hại lá Lát hoa
Mục tiêu cuối cùng của khoa học bệnh cây là phát hiện các biện pháp hiệu quả và kinh tế để hạn chế tác hại của bệnh, bảo vệ cây trồng và thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển nhằm nâng cao năng suất và phẩm chất Công tác phòng trừ bệnh cây, bao gồm bệnh cây rừng, không chỉ nhằm tiêu diệt nguồn bệnh mà còn phải đảm bảo không ảnh hưởng đến năng suất của rừng (Quản lý bảo vệ rừng, tập 2).
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất các biện pháp nhằm cải thiện điều kiện sinh trưởng của cây Lát hoa, như nâng cao khả năng chống chịu bệnh và cải thiện môi trường sinh thái Các biện pháp này bao gồm cải thiện kỹ thuật trồng, sử dụng phân bón phù hợp và quản lý dịch hại hiệu quả để tăng năng suất và chất lượng cây Lát hoa trong môi trường tự nhiên.
Vườn ươm nên đặt ở địa điểm thoát nước tốt, tránh các khu vực ẩm thấp hoặc đất chặt để đảm bảo cây giống phát triển tốt Nên chọn vị trí xa rừng trồng thuần loại nhằm phòng tránh lây lan sâu bệnh từ rừng trồng đến cây ươm Ngoài ra, đất trồng trong vườn ươm không nên dốc quá để dễ chăm sóc và kiểm soát cây giống hiệu quả.
5 0 , thoát nước, không úng ngập Đất thịt nhẹ, tầng đất sâu trên 40cm, độ pH từ 5 đến 6,5
Để đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh của cây Lát hoa, cần sử dụng hạt giống sạch bệnh, được lấy từ cây mẹ không bị bệnh và bảo quản đúng kỹ thuật để tránh ẩm mốc và tiếp xúc với nguồn bệnh Trước khi gieo trồng, cần xử lý hạt giống bằng cách ngâm trong nước ấm 50°C và dùng các loại hóa chất khử trùng như captan để đảm bảo hạt giống sạch bệnh, tăng tỷ lệ nảy mầm và phát triển mạnh mẽ.
Để tiêu diệt bào tử nấm bệnh trên bề mặt hạt giống và thúc đẩy quá trình nảy mầm, có thể sử dụng các phương pháp xử lý như ngâm hạt vào dung dịch thuốc 0.5% chứa thiram hoặc thuốc DM-45 nồng độ 1% trong thời gian lần lượt là 15 phút hoặc 30 phút Ngoài ra, phương pháp ngâm hạt trong nước ấm 35-40°C trong 3-4 giờ, sau đó vớt ra, rửa sạch và tiến hành rửa chua hàng ngày trong vòng 6-7 ngày, sẽ giúp kích thích hạt nứt nanh để chuẩn bị gieo trồng Các biện pháp này giúp loại bỏ bào tử nấm hiệu quả, hạn chế bệnh phát triển và tăng khả năng nảy mầm của hạt giống.
Đất đóng bầu nên sử dụng loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp và không chứa phân chuồng chưa hoai để đảm bảo sự phát triển của cây Lát Trước khi đóng bầu, cần tiến hành khử trùng đất bằng các hóa chất như methyl bromide hoặc chloropicrin để tiêu diệt nguồn bệnh hiệu quả Ngoài ra, không nên sử dụng các bầu cũ từ những cây đã chết do bệnh để tránh lây lan tác nhân gây bệnh.
Chăm sóc cây con đúng cách là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh; không để cây con bị cớm nắng và thường xuyên làm cỏ, xáo váng mặt bầu để giữ đất tơi xốp Khi cây bị nhiễm bệnh, cần khẩn trương đưa ra khỏi vườn ươm và tiêu hủy để ngăn chặn sự lây lan; dụng cụ dùng để di chuyển cây bệnh cần được khử trùng bằng hoá chất trước khi trở lại vườn ươm Trong hai tháng đầu, mỗi tháng nên phun phòng định kỳ bằng thuốc có phổ rộng như carbendazim 0,1% với liều lượng 0,3 lít/m2 để bảo vệ cây con khỏi bệnh tật.
Để đảm bảo cây trồng phát triển tốt, nguồn nước tưới phải sạch, không sử dụng nước ao hồ gần vườn ươm đã bị ô nhiễm hoặc nhiễm bệnh Nên ưu tiên dùng nước giếng làm nguồn tưới chính, và trong trường hợp không có, cần xử lý nước bằng clo hoặc ozon để đảm bảo vệ sinh và tránh lây lan bệnh cho cây.
+ Phân bón: Phân bón khi sử dụng phải hợp lý
Mật độ cây con cần được bố trí hợp lý, không nên đặt quá dày để đảm bảo thông thoáng trong vườn Việc đảo bầu định kỳ giúp giảm thiểu tình trạng tích tụ hơi nước giữa các hàng cây, từ đó hạn chế sự phát triển của bào tử nấm bệnh, vốn chỉ nảy mầm trong điều kiện ẩm độ và nhiệt độ cao.
+ Biện pháp phòng trừ bệnh cây Lát hoa:
Dựa trên kết quả điều tra về bệnh hại cây Lát hoa, tôi đề xuất các giải pháp quan trọng nhằm nâng cao công tác gieo ươm và quản lý vườn cây hiệu quả hơn Việc kiểm tra và phòng ngừa bệnh hại cây Lát hoa kịp thời sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ năng suất vườn trồng Đẩy mạnh công tác xử lý giống và tăng cường công tác chăm sóc để hạn chế sự lây lan của bệnh Áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp và đảm bảo vệ sinh vườn để duy trì môi trường trồng trọt sạch bệnh Các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái vườn cây.
- Thực hiện việc cắt bỏ lá cây bị bệnh để tránh bị lây lan sang các cây khác
Để thúc đẩy sự phát triển của cây Lát hoa, sử dụng phân hỗn hợp đạm Amôn – Supe lân và Cloruakali theo tỷ lệ 3N:6P:1K là phương pháp hiệu quả Khi cây có biểu hiện bị bệnh, có thể dùng phân Supe lân Lâm Thao để phòng và điều trị Cách bón phù hợp là 2kg phân cho 1000 bầu, chia làm 6 lần, mỗi lần bón khoảng 0,340kg/1000 bầu Phân cần hòa với nồng độ 0,5%, tương đương 1kg phân pha trong 200 lít nước để đảm bảo hiệu quả cao nhất.
- Vệ sinh vườn ươm thường xuyên không để cỏ, lá cây rụng, bầu cây chết trong vườn
- Phải có hàng rào bảo vệ vườn ươm cây, chống súc vật phá hoại.