LƢỢC SỬ NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các nghiên cứu đầu tiên về côn trùng bắt đầu từ thời Aristoteles (384-322 TCN), người đã mô tả và phân loại thế giới động vật thành hai nhóm chính: nhóm có máu và nhóm không có máu Ông đặc biệt nhận thấy rằng nhóm không có máu gồm các loài có cơ thể phân đốt, chia thành đầu, ngực và bụng, trong đó có côn trùng, đa túc, nhện, cùng một số loài giác xác thấp và giun đốt.
Trong những năm đầu thế kỷ 20, nghiên cứu về Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) bắt đầu phát triển với công trình nổi bật của nhà nghiên cứu J.de Joannis mang tên “Lepidopteres du Tonkin”, xuất bản tại Paris năm 1930 Trong tác phẩm này, tác giả đã thống kê được 1.798 loài côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy, chia thành 746 giống và 45 họ khác nhau Những công trình này đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng kiến thức về đa dạng sinh học của bộ Lepidoptera tại khu vực Đông Dương.
Hiện nay, tổng số loài sinh vật đã được biết đến trên trái đất là khoảng 1.413.000 loài, trong đó côn trùng chiếm tỷ lệ lớn với 751.000 loài, chiếm hơn 53% các loài và hơn 70% tổng số loài động vật Các nhà phân loại học dự đoán trên trái đất có thể tồn tại từ 5 đến 30 triệu loài sinh vật, phần lớn trong đó là vi sinh vật và côn trùng Hiện tại, người ta ước tính còn khoảng 3-4 triệu loài hoặc nhiều hơn nữa chưa được phát hiện, chủ yếu là các loài côn trùng sống ở vùng nhiệt đới.
Năm 1920-1940 các nhà thu thập mẫu côn trùng nghiệp dƣ đã xuất bản một tập tài liệu phân loại bướm gồm 33 tập ở Niedejrland
Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về côn trùng, đặc biệt là về bướm Trong khu vực Châu Á, các nghiên cứu đáng chú ý đến từ Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, Indonesia và Myanmar, góp phần mở rộng hiểu biết về đa dạng sinh học của loài côn trùng này.
Năm 1932, tập thể tác giả Ấn Độ do W.H Erans đứng đầu đã xuất bản cuốn sách “Sự nhận biết các loài bướm ở Ấn Độ” Tài liệu này đã phân loại 19 họ bướm khác nhau cùng với các khóa phân loại chủ yếu của các giống bướm trong từng họ Cuốn sách này đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu và nhận diện các loài bướm tại khu vực Ấn Độ.
Manferd_Koch, 1953, 1978 đã xuất bản “ Phân lọai bướm và ngải”
Gottfried Amann, 1959 có cuốn “ Các loài côn trùng”
Từ năm 1970 đến 1978, Donald J Borror và Richard D E White đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn côn trùng” tại Bắc Mỹ, trong đó có đề cập đến phân loại các bộ cánh vẩy Lepidoptera Sách của họ đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu và nhận diện các loài bướm và sâu bướm, góp phần vào sự hiểu biết về hệ sinh thái côn trùng Thông qua tác phẩm này, các nhà sinh thái học và nhà nghiên cứu có thể dễ dàng phân loại và xác định các loài Lepidoptera, nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học của khu vực Bắc Mỹ.
Năm 1987, các nghiên cứu của các chuyên gia Trung Quốc như Thái Bàng Hoa và Cao Thu Lâm đã công bố các công trình phân loại côn trùng rừng Vân Nam, góp phần nâng cao hiểu biết về đa dạng sinh học khu vực Đến năm 1999, Lichunlong đã nhấn mạnh tính đa dạng sinh học của các loài Bướm ngày tại Vân Nam, dựa trên các tài liệu phân loại Bướm ngày ngày càng phong phú và chính xác.
“Bướm Đảo Hải Nam” của Cố Mậu Thìn và Trần Phượng Trân giới thiệu trên
500 loài Bướm ngày khác nhau
Bộ cánh vảy (Lepidoptera) gồm khoảng 150.000 đến 200.000 loài, trong đó các loài bướm ngày (Rhopalocera) bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu từ cuối thế kỷ XX Những công trình tiêu biểu như của A.I Linki (1962), M.A Ionescn (1962), Charles Brues, A.L Melander (1965), và Manfred Koch (1955) đã đóng góp quan trọng vào việc hiểu biết về nhóm cánh vẩy này.
Tình hình nghiên cứu trong nước
Công tác nghiên cứu các loài bướm tại Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể Trong những nỗ lực ban đầu, đã lập ra một danh sách tổng hợp về các loài trong bộ Lepidoptera, được xuất bản năm 1919, bao gồm 579 loài bướm từ Bắc Bộ, Trung Bộ đến Nam Bộ Quá trình thu thập mẫu rải rác chủ yếu diễn ra vào giữa thế kỷ XX, và đến năm 1957, đã có một danh sách kiểm kê gồm 455 loài bướm tại Việt Nam, góp phần nâng cao kiến thức về đa dạng sinh học của ngành côn trùng nước ta.
Năm 1930 có công trình J.de Joanis xuất bản ở Paris đã thống kê đƣợc
1788 loài thuộc 75 giống trong 45 họ ,trong đó có 9 giống và 142 loài mới
Kể từ năm 1954, các nhà khoa học đã nghiên cứu và phân loại côn trùng, đặc biệt là bộ Cánh vẩy, dựa trên các công trình như giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp” của Phạm Ngọc Anh (1965) và “Côn trùng rừng” của Trần Công Loanh cùng Nguyễn Thế Nhã, góp phần nâng cao hiểu biết về sinh vật trong ngành lâm nghiệp.
Năm 1988, nhà côn trùng học người Nga – V.I Kuznhetxov, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô cũ, đã công bố nghiên cứu về khu hệ bướm tại miền Bắc Việt Nam Các địa điểm được khảo sát bao gồm Hà Nội, Tam Đảo, Thái Nguyên và nhiều vùng lân cận, góp phần mở rộng hiểu biết về đa dạng sinh học của khu vực này.
Các cuộc nghiên cứu toàn miền Bắc đã được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu nổi bật, bao gồm Monastyrkii, Đặng Thị Đáp, Lê Văn Triển từ năm 1995; Monastyrkii và Đặng Thị Đáp năm 1996; cùng với Hill và Monastyrkii trong giai đoạn đang chuẩn bị công trình; và các nghiên cứu của Devyatkin từ các năm 1996, 1997, 1998 đến 2000.
Trong các năm 2001, 2002, 2003, các nhà nghiên cứu như Đặng Thị Đáp và Vũ Văn Liên đã xác định thành phần loài côn trùng cánh vảy cũng như các đặc điểm sinh thái quan trọng của chúng Các nghiên cứu của Monastyrkii và Devyatkin từ năm 2000 và 2003 cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng understanding về hệ sinh thái của các loài côn trùng này.
Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả quốc tế và Việt Nam đã tập trung khám phá đặc điểm và giá trị thẩm mỹ của côn trùng cánh vẩy Đặc biệt, Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga đã thực hiện các nghiên cứu sâu về côn trùng trong sinh cảnh núi đá vôi Phong Nha, góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của loài côn trùng này trong hệ sinh thái Các nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học của côn trùng cánh vẩy mà còn làm nổi bật giá trị thẩm mỹ và ứng dụng của chúng trong bảo tồn thiên nhiên.
Các nghiên cứu về đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tam Đảo đã góp phần quan trọng trong việc hiểu rõ các khu hệ côn trùng và bướm, như nghiên cứu của Kẻ Bàng, A.L Monastyrskii và Vũ Văn Liên (2000) về khu hệ bướm tại đây Nghiên cứu của Khuất Đăng Long (1999) tập trung vào đa dạng sinh học của các nhóm côn trùng và các giải pháp bảo tồn chúng trong vườn quốc gia Tam Đảo Bùi Công Hiền và Nguyễn Anh Diệp (1999) đã thực hiện bước đầu nghiên cứu về đa dạng sinh học côn trùng tại khu vực này, góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu về hệ sinh thái côn trùng Ngoài ra, các công trình của TS Đặng Thị Đáp cũng đã đóng góp vào kiến thức về đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tam Đảo Nghiên cứu của Trần Công Loanh (1999) xác định thành phần loài tại Vườn quốc gia Cát Bà – Hải Phòng, mở rộng hiểu biết về phân bố loài côn trùng trong khu vực.
Nghiên cứu về bướm tại Việt Nam cho thấy Bảo Lộc – Lâm Đồng và VQG Tam Đảo – Vĩnh Phúc là những nơi có số lượng bướm quý hiếm nhiều nhất Mặc dù các công trình nghiên cứu về bướm còn hạn chế, nhưng ngày nay chúng ta đã nhận thức rõ hơn về giá trị thẩm mỹ và lợi ích kinh tế của loài côn trùng này Trong nước, nhiều gia đình đã bắt đầu nuôi bướm hoặc sử dụng chúng để ghép tranh, góp phần thúc đẩy ngành nghề thủ công và bảo tồn đa dạng sinh học.
1.3 Tình hình nghiên cứu thành phần loài côn trùng nói chung và các loài bướm ngày nói riêng tại khu danh lam thắng cảnh Chùa Hương
Rừng đặc dụng Hương Sơn chính thức được thành lập từ năm 1993 và có Ban quản lý riêng nhằm bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, đến nay, nghiên cứu về đa dạng sinh học, đặc biệt là các loài động vật trong khu vực còn khá hạn chế Các công trình nghiên cứu đã được thực hiện vẫn chưa đủ để cung cấp cái nhìn toàn diện về hệ sinh thái phong phú của rừng Hương Sơn Việc tiếp tục các nghiên cứu khoa học là cần thiết để bảo tồn và phát huy giá trị sinh thái của khu vực này.
- Năm 1991, Viện Sinh thái &Tài nguyên sinh vật phối hợp với Sở KHCN
Trong khu vực môi trường Hà Tây, công trình “Hương Sơn, cảnh quan thiên nhiên và tài nguyên sinh vật” đã ghi nhận đa dạng sinh học, bao gồm 32 loài thú, 88 loài chim, 35 loài bò sát, ếch nhái Ngoài ra, nghiên cứu còn thu thập được 345 mẫu vật côn trùng của 56 loài, thể hiện sự phong phú và đa dạng của hệ sinh thái trong khu vực.
Năm 2000, trong chương trình điều tra tổng thể về hiện trạng và phân bố của loài Voọc mông trắng tại Việt Nam, T Nedler đã ghi nhận một quần thể nhỏ của loài này tại huyện Hương Sơn.
Báo cáo chuyên đề “Tài nguyên động vật Rừng Đặc dụng Hương Sơn, Hà Tây” (2003) của Trường đại học Lâm nghiệp và Ban Quản lý Rừng Đặc dụng Hương Sơn ghi nhận sự đa dạng sinh học phong phú với 36 loài thú, 107 loài chim, 34 loài bò sát, 20 loài ếch nhái và 242 loài côn trùng trong khu vực Ngoài ra, nghiên cứu này đã chỉ ra vai trò quan trọng của rừng Hương Sơn trong việc bảo tồn các loài động vật đặc dụng và duy trì hệ sinh thái bền vững Các kết quả khảo sát cũng cho thấy sự phong phú về số lượng và đa dạng loài, góp phần thúc đẩy các hoạt động bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái Rừng Đặc dụng Hương Sơn là một trong những khu vực có tỉ lệ loài động vật cao, phản ánh giá trị sinh thái đặc biệt của khu vực này.
Năm 2010, Trung tâm đa dạng và An toàn sinh học, Chi cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội, đã tiến hành nghiên cứu “Điều tra đa dạng động vật ở Rừng Đặc dụng Hương Sơn, Hà Nội” Báo cáo kết quả cho thấy khu vực có sự đa dạng phong phú của hệ sinh thái, với 44 loài thú, 98 loài chim, 29 loài bò sát, 17 loài ếch nhái, 47 loài cá và 320 loài côn trùng Công trình này góp phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển các chính sách môi trường bền vững tại Hà Nội.
36 loài động vật nổi, 11 loài động vật đáy, 69 loài nhện và 79 loài thực vật nổi
Hiện tại, các nghiên cứu về côn trùng tại khu vực mới chủ yếu tập trung vào thống kê các loài, trong khi chưa đi sâu vào nghiên cứu đa dạng sinh học của chúng Ngoài ra, do ít có các nghiên cứu nhiều về côn trùng tại Hương Sơn, nên dữ liệu hiện nay về chúng còn rất hạn chế.
ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Rừng Đặc dụng Hương Sơn, thuộc địa giới hành chính của huyện Mỹ Đức –Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 54km về phía Tây
Phía bắc giáp huyện Chương Mỹ (Hà Nội);
Phía đông giáp huyện Ứng Hòa (Hà Nội);
Phía tây giáp huyện Lương Sơn và huyện Kim Bôi (Hòa Bình);
Phía nam giáp huyện Kim Bảng (Hà Nam)
Mỹ Đức nằm ở tọa độ địa lý :
Mỹ Đức là một trong 14 quận, huyện mới của Hà Nội, có diện tích tự nhiên 23.146,93 ha
Mỹ Đức có tổng diện tích đất tự nhiên 4.282,73 ha, trong đó khoảng 40% là đất lâm nghiệp, góp phần vào hệ sinh thái đa dạng của khu vực Nằm giáp ranh giữa đồng bằng và miền núi, khu vực này có dãy núi đá vôi chạy dọc phía Tây, đóng vai trò quan trọng về an ninh quốc phòng và có thể coi là tuyến phòng thủ phía Tây Nam của Hà Nội Tại đây, nhiều dãy núi đá vôi và dòng suối uốn lượn tạo nên cảnh quan đặc trưng, đồng thời là nơi xây dựng nhiều đền chùa, hang động, nổi bật là chùa Hương trong hang Hương Tích Toàn bộ khu vực có hệ thống chùa, đền thờ và hang động trải dài trên diện tích khoảng 6 km², phản ánh giá trị văn hóa và tâm linh phong phú Rừng chiếm tỷ lệ lớn, lên đến 40%, cùng với mạng lưới các hang động và hệ sinh thái rừng nhiệt đới, tạo nên một khu vực có đa dạng sinh học cao.
Mỹ Đức nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nhƣng cũng là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng với miền núi với 2 dạng địa hình chính:
Địa hình huyện gồm hai dạng chính: núi đá xen kẽ với các khu úng trũng phía tây và đồng bằng ven sông Đáy phía đông Phần núi đá, cao trung bình từ 150-300m, có nhiều hang động thiên nhiên đẹp như Động Hương Tích, Động Đại Binh, và Động Người Xưa, mang giá trị du lịch và lịch sử Trong khi đó, các xã ven sông Đáy như Phúc Lâm, Mỹ Thành, và thị trấn Đại Nghĩa nằm ở độ cao từ 3,8-7m, có địa hình bằng phẳng, thuận lợi cho xây dựng các công trình thủy lợi và tưới tiêu lúa Khu vực này còn nổi bật với các hồ đầm nhỏ như Đầm Lai, Thài Lai, tạo điều kiện phát triển nguồn nước và cảnh quan thiên nhiên đa dạng.
Vùng tiếp giáp giữa các dãy núi phía Tây và đồng bằng phía Đông có độ cao địa hình thấp, tạo thành các hồ chứa nước quan trọng như hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai, hồ Câu Giậm và hồ Bán Nguyệt, đóng vai trò thiết yếu trong hệ sinh thái và cung cấp nguồn nước cho khu vực.
Vùng Hương Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc trưng bởi nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23°C Lượng mưa bình quân hàng năm đạt khoảng 1.914,8mm, góp phần duy trì độ ẩm không khí trung bình là 84% Các yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và sinh thái trong khu vực.
Mùa mưa ẩm ở Hương Sơn kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, mang đến lượng lượng mưa phong phú thúc đẩy sự phát triển của thực vật Trong khi đó, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết trở nên khô ráo hơn nhưng không quá khắc nghiệt Điều kiện thời tiết của mùa khô vẫn ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của các loại thực vật tại vùng đất Hương Sơn.
Xã Hương Sơn có sông Đáy chảy qua dài khoảng 3,5 km, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển, giao lưu hàng hóa và phát triển kinh tế xã hội địa phương Tuy nhiên, trong mùa mưa lũ hoặc khi xảy ra phân lũ, sông Đáy gây ngập úng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống sinh hoạt của người dân.
Trên địa bàn xã có 3 suối lớn bắt nguồn từ khối núi Hương Sơn, đó là Suối Yến, suối Long Vân và suối Tuyết Sơn
2.1.4 Đá mẹ và mẫu chất
Khu vực đất ở Hương Sơn có đặc điểm lập địa đặc trưng do hai nguồn gốc chính: đất phát triển trên nền núi đá vôi và đất hình thành trên phù sa sông Đáy Trong các thung đất, tồn tại bốn kiểu đất chính đều là đất Feralit phát triển trên núi đá vôi thông qua quá trình Feralit hóa, ảnh hưởng đáng kể đến đặc điểm thổ nhưỡng và khả năng sử dụng đất của khu vực.
Đất đen mùn trên núi đá vôi chịu tác động mạnh của quá trình xói mòn, gây ra lớp đất dày dưới 30cm Loại đất này chủ yếu tập trung thành các vành đai giáp chân núi đá vôi, phân bố chủ yếu tại các thung như Thiên Trù, Thung Cáo, Thung Vương và Bến Tiêu.
Đất Feralit màu đỏ phát triển trên núi đá vôi, là loại đất tại chỗ hình thành qua quá trình xói mòn lớp đất mặt với tầng dày từ 30cm đến 85cm Đây là loại đất đặc trưng phân bố chủ yếu ở các sườn giữa các thung lũng, phù hợp cho các hoạt động nông nghiệp và phát triển bền vững.
Đất Feralit màu đỏ phát triển trên đá vôi và đá dăm, là loại đất tại chỗ với tầng dày trên 80cm, chứa đựng các sản phẩm tích tụ phong phú Loại đất này có thành phần kết hợp giữa đá vôi và đá dăm, thường phân bố chính tại các thung như Thung Chùa, Thung Tá, Thung Cáp.
Đất phù sa được bồi đắp hàng năm, giúp duy trì độ màu mỡ cho đất nông nghiệp Tuy nhiên, đất phù sa lầy thụt bị glây hóa, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng canh tác của vùng đất này Loại đất phù sa chủ yếu phân bố ở các khu vực nông nghiệp, ven sông suối và các vùng phụ cận khu vực núi đá, đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp bền vững.
2.1.5 Rừng và hệ động – thực vật
Rừng đặc dụng Hương Sơn, Hà Nội nổi bật với hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên nền đá vôi, mang lại giá trị bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gen phong phú Khu rừng này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, giữ gìn nguồn gen quý giá và duy trì cân bằng sinh thái của khu vực Với vẻ đẹp hoang sơ và hệ sinh thái đặc trưng, Rừng Hương Sơn trở thành điểm đến lý tưởng cho nghiên cứu và bảo tồn thiên nhiên.
Hương Sơn nổi bật với hệ sinh thái động thực vật phong phú và đa dạng trên núi đá vôi, tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp và hấp dẫn Khu vực còn sở hữu hệ thống đền chùa, miếu mạo nổi tiếng, thu hút du khách đến thưởng ngoạn và tìm hiểu về nét đẹp văn hóa tín ngưỡng truyền thống Đây chính là điểm đến lý tưởng để khám phá vẻ đẹp tự nhiên và giá trị lịch sử tâm linh của Hương Sơn.
Về hệ thực vật có 185 họ, 577 chi, 873 loài, trong đó 25 loài thực vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam
Về động vật có 288 loài thuộc 84 họ, 26 bộ, trong đó 40 loài động vật quý hiếm cần đƣợc bảo tồn.
Kinh tế xã hội
Mỹ Đức có vị trí địa lý thuận lợi gần các trung tâm kinh tế lớn như thủ đô Hà Nội, quận Hà Đông, khu công nghệ cao Hòa Lạc và chuỗi đô thị mới Xuân Mai-Miếu Môn-Hòa Lạc-Sơn Tây, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế và đô thị Dân số và lực lượng lao động tại Mỹ Đức phân bố khá đồng đều, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Theo đó, dân cư tại Mỹ Đức tập trung chủ yếu ở các khu vực phát triển, đảm bảo nguồn nhân lực dồi dào để thúc đẩy các hoạt động kinh tế và đầu tư.
Kết quả thống kê năm 2003, toàn xã Hương Sơn có 4159 hộ, với tổng số nhân khẩu là 18547 người
Số lao động là 7754 người, chiếm 41,8% dân số
- Lao động nông nghiệpchiếm 70%, lao động trong các lĩnh vực khác chiếm 30%
Cƣ dân trong xã đƣợc phân bố trong 6 thôn, số dân ở các thôn không đồng đều
Thôn Hà Đoạn chiếm 3% dân số của xã, với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khoảng 1% mỗi năm, nhờ sự thành lập từ 60 đến 70 hộ mới Trong xã không có người dân tộc thiểu số sinh sống, và mật độ dân số trung bình đạt 435 người trên mỗi km², phản ánh sự phát triển ổn định của khu vực.
Hương Sơn có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng lớn để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương Mặc dù tỷ lệ tăng dân số tự nhiên không cao, nhưng nguồn nhân lực tại đây có thể đáp ứng nhu cầu của các dự án phát triển và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của huyện Sự phong phú về nhân công giúp Hương Sơn mở rộng các cơ hội đầu tư và nâng cao hiệu quả các hoạt động kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.
- Theo bảng thống kê diện tích và dân số năm 2008, huyện Mỹ Đức có
171376 người trên tổng số 230.04 km2 b) Tình hình dân sinh
Theo số liệu thống kê năm 2005 thu nhập bình quân đầu người là 420-450 kg/người/năm
Trong phân loại kinh tế hộ trong xã, tỷ lệ hộ nghèo chỉ chiếm 3,3%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn quốc, cho thấy mức độ nghèo giảm đáng kể Tuy nhiên, tỷ lệ hộ giàu chỉ đạt 9,9%, còn đa phần các hộ dân (86,8%) thuộc diện hộ trung bình, phản ánh sự phân hóa kinh tế không đồng đều trong cộng đồng.
Năm 2002, tổng GDP của xã đạt 69 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng 6,98% Cơ cấu kinh tế của xã đã có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng phát triển tích cực, phản ánh sự mở rộng và đa dạng hóa các ngành kinh tế địa phương Các ngành kinh tế chính đang phát triển ổn định, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng chung của xã trong giai đoạn này.
Trong nông nghiệp đã có sự áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sảnxuất, năng suất và sản lƣợng không ngừng tăng lên
Năm 1993, Khu rừng đặc dụng Hương Sơn chính thức được thành lập, góp phần bảo vệ và phát triển hệ sinh thái tự nhiên của khu vực Ban quản lý rừng có trách nhiệm quản lý toàn diện diện tích rừng, đồng thời hướng dẫn các hộ gia đình trồng rừng và chuyển giao kỹ thuật để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban quản lý, cơ quan kiểm lâm và các ban ngành địa phương, tình trạng chặt phá và xâm lấn rừng đã được hạn chế đáng kể, góp phần bảo vệ hệ sinh thái bền vững.
Công tác trồng cây bảo vệ rừng tại khu vực thắng cảnh Hương Sơn là nhiệm vụ trọng tâm để duy trì cảnh quan và bảo vệ môi trường sinh thái Năm 2002, địa phương đã ban hành quy ước bảo vệ rừng nhằm thúc đẩy hoạt động trồng cây ăn quả và cây gỗ Tuy nhiên, công tác quản lý và bảo vệ rừng cần được đầu tư hơn nữa để phát huy thành quả đã đạt được Việc này nhằm nâng cao năng lực bảo vệ rừng, giúp khu rừng đặc dụng Hương Sơn phát triển phù hợp với yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội của địa phương và toàn khu vực.
Phát triển tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Xã luôn khuyến khích phát triển các ngành như làm đồ gia dụng, xây dựng, gò hàn, xay xát và chế biến nông sản nhằm đa dạng hóa ngành nghề và tăng thu nhập cho người dân Hiện tại, tỷ lệ hộ gia đình tham gia vào hoạt động tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 5%, góp phần vào sự phát triển kinh tế cộng đồng Sự đóng góp của ngành này vào ngân sách ngày càng tăng, thể hiện rõ vai trò then chốt trong nền kinh tế nông thôn.
Hương Sơn là vùng tập trung đông dân, nhất là khách du lịch trẩy hội Chùa Hương.
ĐỐI TƯỢNG-MỤC TIÊU –NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần loài bướm ngày tại khu danh lam thắng cảnh Chùa Hương – Mỹ Đức – Hà Nội.
Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên nghiên cứu đặc điểm thành phần loài bướm ngày thuộc bộ Cánh vảy (Lepidoptera) tại khu du lịch danh lam thắng cảnh Chùa Hương, bài viết đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả tài nguyên côn trùng rừng Nghiên cứu này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý loài bướm ngày, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì hệ sinh thái bền vững tại khu du lịch Việc phân tích thành phần loài giúp xác định các loài đặc trưng và tiềm năng của côn trùng rừng, từ đó xây dựng các biện pháp bảo tồn phù hợp Các giải pháp đề xuất hướng đến việc nâng cao nhận thức cộng đồng, kiểm soát các tác động tiêu cực từ phát triển du lịch và hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên Quản lý hiệu quả tài nguyên côn trùng không những bảo vệ hệ sinh thái mà còn góp phần phát triển bền vững du lịch sinh thái tại Chùa Hương.
1 Xác định được thành phần loài Bướm ngày tại khu danh lam thắng cảnh Chùa Hương
2 Xác định đƣợc một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của các loài chủ yếu tại khu danh lam thắng cảnh Chùa Hương để có các giải pháp quản lý
3 Đề xuất được giải pháp quản lý các loài Bướm ngày phù hợp với điều kiện của khu danh lam thắng cảnh Chùa Hương.
Nội dung nghiên cứu
Với những mục tiêu mà đề tài đặt ra
1 Xác định thành phần các loài bướm ngày tại khu danh lam thắng cảnh Chùa Hương
2 Xác định các loài cần ƣu tiên bảo tồn
3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài chủ yếu
- Đặc điểm sinh học cơ bản
- Đặc điểm phân bố và sinh thái học cơ bản
4 Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn các loài bướm ngày
- Xác định hiện trạng công tác bảo tồn côn trùng nói chung và bướm ngày nói riêng
- Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác bảo tồn bướm ngày
- Một số biện pháp bảo tồn chính.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu
Thu thập và kế thừa các tài liệu, báo cáo, tình hình nghiên cứu về côn trùng rừng tự nhiên trong khu danh lam thắng cảnh Chùa Hương
Các tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, bản thiết kế rừng và các báo cáo về hiện trạng quản lý tài nguyên rừng đều cung cấp thông tin quan trọng cho nghiên cứu Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu về côn trùng tại khu vực này giúp hiểu rõ hơn về đa dạng sinh học và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến hệ sinh thái rừng Những dữ liệu này góp phần xây dựng các chiến lược bảo vệ và quản lý tài nguyên rừng hiệu quả.
3.4.2 Điều tra thực địa a) Công tác chuẩn bị
Để tiến hành nghiên cứu, cần chuẩn bị đầy đủ dụng cụ thiết yếu như vợt bắt bướm, lọ đựng mẫu, hóa chất, địa bàn, xốp, kim cắm mẫu, bản đồ khu vực nghiên cứu và mẫu bảng điều tra Phương pháp điều tra cần được thực hiện một cách cẩn thận để đảm bảo độ chính xác và tin cậy của dữ liệu thu thập, góp phần vào kết quả nghiên cứu tối ưu.
Tiến hành điều tra sơ thám khu vực cần nghiên cứu để xá định ranh giới khu vực điều tra, xác định các dạng sinh cảnh chính
Để thiết lập hệ thống tuyến điều tra, cần xác định các tuyến đi qua các dạng địa hình khác nhau nhằm đảm bảo tính đại diện cho khu vực nghiên cứu Các tuyến này có thể là tuyến song song, tuyến ziczac, tuyến nan quạt hoặc tuyến xoắn ốc, phù hợp với điều kiện địa hình Các điểm điều tra trên tuyến phải phân bổ hợp lý dựa trên các đặc trưng như dạng sinh cảnh, hướng phơi, thực bì và độ cao, đảm bảo phản ánh đầy đủ đặc điểm của khu vực nghiên cứu.
Các điểm điều tra cần được đặt tại các vị trí đặc trưng, phản ánh đầy đủ các dạng sinh cảnh, hướng phơi, thực bì và độ cao để đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ khu vực nghiên cứu Việc lựa chọn các điểm điều tra phù hợp sẽ giúp thu thập dữ liệu chính xác và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, nâng cao hiệu quả của quá trình phân tích sinh thái.
Trong quá trình khảo sát, tiến hành đi dọc tuyến để thu thập tất cả các loài bướm gặp phải bằng cách sử dụng tay hoặc vợt Các loài bướm bắt gặp nhiều lần đều được đánh dấu số lần xuất hiện, đồng thời ghi lại vị trí theo tuyến và điểm điều tra để đảm bảo dữ liệu chính xác Tại mỗi điểm dừng, dành khoảng 20–30 phút để sử dụng vợt bắt các loài bướm, giúp thu thập mẫu vật một cách hiệu quả và rõ ràng.
Trong thời gian thực tập tôi tiến hành điều tra 3 đợt
1 Đợt 1: Từ ngày 15 – 21/1/2018 Trước mùa lễ hội Chùa Hương
2 Đợt 2: Từ ngày 9 – 23/3/2018 Trong mùa lễ hội
Tại khu vực nghiên cứu bố trí các khu vực điều tra nhƣ sau:
Khu vực Đền Trình- Phú Yên
Khu vực Chùa Thiên Trù- Hinh Bồng
Khu vực Chùa Long Vân
Khu vực Chùa Thanh Sơn- Động Hương Đài
Khu vực Thung Mây- Hương Sơn
Hình 3.1: Sơ đồ khu vực thắng cảnh Chùa Hương
Trong quá trình điều tra, tại mỗi điểm khảo sát lập 3-4 tuyến chính dài 2-3 km và một số tuyến phụ
Dưới đây là Bảng mô tả các điểm điều tra tại 05 khu vực
Bảng 3.1 Đặc điểm các tuyến khảo sát,điểm điều tra tại khu vực nghiên cứu
STT Khu vực/điểm điều tra Đặc điểm Tọa độ UTM Sinh cảnh,trạng thái rừng
1 Điểm 01 0583127/2277951 Cây trồng nông nghiệp - đồng cỏ và sinh cảnh sông suối
2 Điểm 02 0583437/2277879 Rừng tre nứa, gỗ trên núi đá
II Chùa Thiên Trù - Hinh
3 Điểm 03 0577822/2279769 Nương rẫy, cây trồng ( vải,nhãn, )
4 Điểm 04 0578162/2279250 Rừng tre nứa, gỗ trên núi đá
III Thanh Sơn - Hương Đài
5 Điểm 05 ( Thung ) 0579229/2278185 Rừng thứ sinh trên núi đá, tiếp giáp sinh cảnh nông nghiệp
6 Điểm 06 0578856/2278142 Cây bụi trên núi đá ( Chân núi )
7 Điểm 07 0578663/2278008 Cây bụi, gỗ nhỏ ( Đỉnh núi )
8 Điểm 08 0578734/2278068 Cây bụi trên núi đá ( Sườn núi )
9 Điểm 09 0579273/2278305 Cây nông nghiệp, ao hồ
10 Điểm 10 0579811/2278518 Cây trồng nông nghiệp - đồng cỏ - ao hồ
11 Điểm 11 0579522/2277339 Sinh cảnh làng xóm ven suối
12 Điểm 12 0579302/2276978 Sinh cảnh cây gỗ nhỏ trên núi đá
13 Điểm 13 0579325/2276376 Rừng thứ sinh trên núi đá
14 Điểm 14 0576022/2278715 Sinh cảnh rừng trồng, cây trồng nông nghiệp
Sau khi xác lập được khu vực khảo sát và các tuyến, điểm điều tra, tôi tiến hành điều tra bướm ngày tại khu vực Hương Sơn bằng ba phương pháp chủ yếu để thu thập dữ liệu chính xác có giá trị cho nghiên cứu.
Trong quá trình quan sát, chúng ta nhận thấy một số loài bướm thường tụ tập tại các khu vực có nguồn nước, thức ăn phong phú và nhiều loại hoa Rừng là môi trường lý tưởng vì có thảm thực vật phong phú, đa dạng loài cây cối, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài côn trùng sinh sống Mỗi nhóm côn trùng có nơi cư trú riêng biệt, với một số loài có phạm vi phân bố hẹp còn số khác có phạm vi rộng hơn Do đó, để quan sát hiệu quả, chúng ta cần chú ý đến đặc tính sinh học của các loài, đặc biệt là nguồn thức ăn của chúng.
Các loài bướm thường tập trung ở các khu vực có không gian mở và ánh sáng, như dọc đường mòn trong rừng, nơi thường có sự đi lại của trâu bò, bên bờ suối, các bãi trống, trảng cỏ, hoa dại và cây bụi.
- Các loài thuộc họ Bướm rừng ( Amathusiidae ) lại sống trong rừng rậm, cây lớn, mọc thƣa
+ Ghi hình: Đối với loài chƣa định loại đƣợc ngoài thực địa, tôi ghi lại hình ảnh để giám định
Thu bắt là phương pháp chính được sử dụng trong quá trình điều tra thực địa Đối với bướm ngày, tôi chủ yếu sử dụng vợt bắt côn trùng để thu thập mẫu, thay vì sử dụng bẫy đèn.
Tại mỗi điểm điều tra, các nhà nghiên cứu ghi hình, quan sát và sử dụng vợt để bắt tất cả các loài côn trùng nhằm đảm bảo việc thu mẫu đầy đủ và chính xác Các mẫu côn trùng thu được tại các điểm điều tra đều được xử lý sơ bộ, bao gồm cả hình ảnh, để phục vụ công tác phân tích và nhận dạng chính xác các loài Việc này giúp đảm bảo dữ liệu khảo sát có độ tin cậy cao, hỗ trợ các nghiên cứu về đa dạng sinh học và kiểm soát côn trùng hiệu quả.
- Vợt bắt bướm: Làm bằng vải màn, miệng vợt có đường kính 30cm được gắn vào cán tre hoặc cán nhôm dài 1,5-2,5m
Bao giấy giữ ẩm, làm bằng giấy chất lượng cao, có tác dụng bảo vệ mẫu khỏi bị khô rách, giúp duy trì trạng thái ban đầu của mẫu Trên bao giữ ẩm luôn ghi rõ ngày tháng, điều kiện thời tiết và địa điểm thực hiện, đảm bảo tính chính xác và truy xuất nguồn gốc Kích thước của bao giữ mẫu phù hợp với kích thước của vật mẫu, từ đó đảm bảo sự an toàn và giữ gìn mẫu hiệu quả.
Hình 3.2: Phương pháp bảo quản mẫu Bướm bằng bao giấy
Hộp đựng mẫu được làm bằng gỗ hình hộp chữ nhật với kích thước 35x35x8cm, có nắp đậy chắc chắn để bảo vệ mẫu Tất cả bao bì đựng mẫu đều được đặt trong hộp, giúp Easy vận chuyển và bảo quản mẫu một cách an toàn Bên trong hộp còn có băng phiến để giữ mẫu luôn khô ráo và tránh ẩm mốc, đảm bảo chất lượng mẫu trong quá trình lưu giữ.
Thuốc độc, đặc biệt là phoocmol ở nồng độ 5%, được sử dụng để tiêu diệt các loài có khả năng sống dai và sâu non Khi tiêm, thuốc được đưa vào bụng hoặc ngực của mẫu và sau đó bỏ vào bao giữ mẫu để bảo quản Các mẫu sau đó được để trong hộp đựng phù hợp, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình phân tích.
Khi quan sát thấy con vật đang đậu trên nhánh cây có hoa, chúng ta cần đợi cho đến khi con vật tập trung vào hút mật để thực hiện bắt Sau đó, hướng miệng vợt thẳng vào con bướm và đưa vợt thật nhanh để bắt con vật Khi đã bắt được, xoay miệng vợt lên phía trước một góc α ≥ 90° sao cho miệng vợt kín lại, ngăn không cho con vật bay ra ngoài Tiếp theo, giữ con vật nằm im, khép cánh lại và dùng hai ngón tay bóp mạnh vào phần ngực để làm chết, rồi nhẹ nhàng lấy nó ra khỏi vợt Để đảm bảo con vật chết hẳn, dùng kim tiêm tiêm vào bụng của nó trước khi bỏ vào bao và cất vào hộp giữ mẫu để nghiên cứu.
Mẫu bắt giữ cần được giữ nguyên trạng thái tự nhiên, không gây trầy xước hoặc làm bay mất lớp phấn trên bề mặt Đảm bảo các bộ phận của mẫu như râu, đầu, cánh, chân được còn đầy đủ để đảm bảo tính chính xác trong quá trình nhận diện Việc giữ gìn mẫu nguyên vẹn giúp nâng cao hiệu quả nghiên cứu và phân tích trong các hoạt động liên quan.
Cách cho mẫu vào bao giữ mẫu:
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
Thành phần loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu
Trong quá trình điều tra tại khu danh lam thắng cảnh Chùa Hương, đã ghi nhận và thu thập được tổng cộng 52 loài bướm ngày thuộc 9 họ trong bộ Cánh vẩy Những kết quả này được tổng hợp và trình bày rõ ràng trong bảng dữ liệu nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về đa dạng loài bướm tại khu vực này Điều này cho thấy Chùa Hương là môi trường phong phú, có giá trị lớn trong nghiên cứu và bảo tồn các loài côn trùng đặc trưng của miền Bắc Việt Nam.
Bảng 4.1: Danh lục các loài bướm ngày tại khu vực nghiên cứu
STT Tên khoa học Điểm bắt gặp P%
II Họ Bướm cải ( Pieridae )
III Họ Bướm đốm ( Danaidae )
IV Họ Bướm giáp ( Nymphalidae )
VI Họ Bướm mắt rắn ( Satyridae )
VII Họ Bướm mỏ dài (Libytheidae )
VIII Họ Bướm ngọc ( Acraeidae )
IX Họ bướm tro ( Lycaediae )
Kết quả khảo sát cho thấy, trong thời gian ngắn tại một số điểm đại diện của khu vực nghiên cứu, đã ghi nhận 52 loài bướm ngày, chứng tỏ sự đa dạng và phong phú của thành phần loài bướm tại khu danh lam thắng cảnh Chùa Hương Sự đa dạng này có thể do khí hậu phù hợp với hoạt động của nhiều loài và thảm thực vật phong phú, tạo điều kiện thuận lợi về nguồn thức ăn và nơi trú ẩn cho các loài côn trùng.
Dựa trên bảng trên, có thể nhận thấy sự khác biệt rõ rệt về thành phần loài và giống trong từng họ thực vật Để làm rõ những sự khác biệt này, tôi đã tổng hợp dữ liệu vào bảng thống kê và biểu đồ cột minh họa.
Bảng 4.2 Tỷ lệ các loài bướm trong khu vực nghiên cứu
STT Họ Σ Loài % Loài Số giống % Giống
Hình 4.1 Tỷ lệ % loài và giống của các họ bướm trong khu vực nghiên cứu
Trong khu vực nghiên cứu, bảng thống kê cho thấy họ Nymphalidae có số loài đa dạng nhất với 16 loài, chiếm 30.77% tổng số loài thu thập được Tiếp theo là họ Pieridae với 11 loài, chiếm 21.15% Các họ ít loài nhất gồm Amathusiidae, Libytheidae, Acraeidae và Lycaenidae, mỗi họ chỉ có 1 loài, chiếm tỷ lệ 1.92%.
Các loài thu thập được chủ yếu là các loài gặp ngẫu nhiên, chiếm 57.7% với 30 loài, trong đó các loài ít gặp chiếm 34.62% với 18 loài, còn lại là các loài thường gặp chiếm 7.7% Các loài này chủ yếu thuộc các họ Bướm cải (Pieridae), Bướm đốm (Danaidae) và Bướm giáp (Nymphalidae), phản ánh sự phân bố đa dạng của chúng trong tự nhiên.
Hình 4.2: Tỷ lệ các loài theo độ bắt gặp Bảng 4.3: Các loài bướm ngày thường gặp
STT Tên loài Tên họ P%
Trong khu vực nghiên cứu, bốn loài bướm phổ biến gồm bướm cải, bướm đốm và bướm giáp, đều thuộc các họ bướm ngày quen thuộc Những loại bướm này có phạm vi phân bố rộng, dễ dàng thích nghi và thường xuất hiện với số lượng lớn Các loài bướm này thường xuyên bay lượn trong khu vực, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thụ phấn và duy trì cân bằng sinh thái Sự phổ biến của chúng phản ánh mức độ đa dạng và phong phú của hệ sinh thái địa phương.
Trong khu vực nghiên cứu, khoảng 7,7% các loài bướm ngày gặp ngẫu nhiên và phân thành ba nhóm chính dựa trên mức độ phổ biến Các loài thường gặp chiếm tỷ lệ cao, trong đó một số loài thuộc họ Bướm phượng, họ Bướm đốm và họ Bướm giáp có mức P% khá cao, vượt trên 40%, với họ Bướm giáp có một loài đạt chỉ số P%P, là mức cao nhất trong nhóm ít gặp Mặc dù các phân nhóm này mang tính chất thô, nhưng vẫn cung cấp cái nhìn tổng quan về hoạt động của các loài bướm ngày trong khu vực, bao gồm cả các loài trung gian giữa nhóm thường gặp và ít gặp như bướm cải và bướm mắt rắn, giúp hiểu rõ hơn về sự phân bố và đa dạng của chúng.
Tính đa dạng của các loài bướm ngày tại khu vực điều tra
4.2.1 Đa dạng về phân bố a, Theo điểm điều tra
Hệ thống 14 điểm điều tra được bố trí trong khu vực nghiên cứu, đại diện cho các dạng sinh cảnh khác nhau, giúp phát hiện sự đa dạng và phân bố của các loài bướm ngày Việc thu thập dữ liệu tại các điểm này cho thấy sự khác biệt rõ rệt về số lượng và chủng loại bướm ngày, phản ánh đặc điểm sinh thái của từng dạng sinh cảnh Để hiểu rõ hơn về phân bố các loài bướm ngày theo điểm điều tra, chúng tôi đã lập bảng thống kê các loài côn trùng thu thập được tại từng điểm, từ đó cung cấp cái nhìn toàn diện về sự đa dạng và phân bố của các loài bướm trong khu vực nghiên cứu.
Bảng 4.4 : Tỷ lệ các loài côn trùng theo điểm điều tra
STT Điểm điều tra Số lƣợng loài Tỷ lệ %
Bảng 4.4 cho thấy điểm điều tra số 5, 6 và 14 có số lượng loài bướm ngày nhiều nhất, với điểm 5 nằm trong rừng thứ sinh trên núi đá liền kề sinh cảnh nông nghiệp, điểm 6 là cây bụi trên núi đá, và điểm 11 thuộc sinh cảnh làng xóm ven suối với nhiều cây bụi nhỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự đa dạng loài bướm ngày Các điểm còn lại cũng ghi nhận sự đa dạng với từ 8 đến 14 loài bướm ngày xuất hiện, tuy nhiên, kết quả này chỉ mang tính tương đối do các loài có thể di chuyển giữa các khu vực Để đánh giá tính đa dạng về phân bố theo sinh cảnh của các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu, tôi đã thống kê theo bảng phân bố theo các kiểu sinh cảnh khác nhau.
Bảng 4.5.Phân bố của các loài bướm ngày theo sinh cảnh
STT Dạng sinh cảnh Số điểm ĐT
1 Rừng tre nứa,gỗ trên núi đá 2 17 32.69
2 Cây bụi trên núi đá 3 25 48.08
3 Cây trồng nông nghiệp, Nương rẫy 1 20 38.46
6 Rừng thứ sinh trên núi đá 3 26 50.00
7 Sinh cảnh làng xóm ven suối, ao hồ 2 16 30.77
Sự khác nhau trong phân bố của bướm ngày theo sinh cảnh được thể hiện rõ hơn trong hình 4.3
Hình 4.3: Tỷ lệ phần trăm số loài bướm ngày theo sinh cảnh
Với 7 sinh cảnh sống khác nhau sự phân bố của các loài cũng có sự khác nhau rõ rệt Các loài xuất hiện nhiều ở khu vực cây bụi trên núi đá và cây trồng nông nghiệp, nương rẫy vì ở những khu vực này có nhiều loài cây, có nguồn thức ăn phong phú, có đặc điểm quanh năm ẩm ướt với nhiều cây bụi thảm tươi, nhiều loài hoa có màu sắc sặc sỡ sẽ hấp dẫn các loài bướm tới hút mật đặc biệt là các loài trong họ Bướm phượng, Bướm đốm và Bướm cải Khu vực cây ăn quả và rừng tre nứa gỗ thường là nơi ưa thích của các loài trong họ Bướm giáp và Bướm mắt rắn Trong khu vực nghiên cứu, có nhiều loài bướm xuất hiện ở hầu hết các dạng sinh cảnh nhƣ Appias albina (Boisduval), Eurema hecabe, Danaus genutia(Cramer),Junonia lemonias (Fabricius)…
Nhƣ vậy có thể thấy tùy từng điều kiện và sinh cảnh sống số loài bắt gặp là khác nhau
SC1 SC2 SC3 SC4 SC5 SC6 SC7
4.2.2 Đa dạng thành phần loài bướm ngày theo sinh cảnh
Tính đa dạng của các loài bướm ngày còn được thể hiện qua các sinh cảnh khác nhau.Điều này đƣợc thể hiện rõ trong bảng 4.6 nhƣ sau:
1 Rừng tre nứa,gỗ trên núi đá 22 17 11.92
2 Cây bụi trên núi đá 41 25 14.88
3 Cây trồng nông nghiệp, Nương rẫy 20 20 13.27
6 Rừng thứ sinh trên núi đá 31 26 16.76
7 Sinh cảnh làng xóm ven suối, ao hồ 16 16 12.46
Bảng 4.6: Đa dạng thành phần loài bướm ngày theo sinh cảnh
Dựa trên bảng 4.6, có thể thấy SC6 có chỉ số đa dạng cao nhất (đạt 0.76), do đây là vùng cảnh quan nằm xa các điểm du lịch, có cây bụi thảm tươi và nhiều loài hoa, ít chịu tác động của khách du lịch và cung cấp nhiều nguồn thức ăn cho các loài bướm ngày Trong khi đó, các dạng sinh cảnh khác có chỉ số đa dạng thấp hơn không đáng kể, nổi bật nhất là SC5 với chỉ số đa dạng chỉ 0.34, thấp hơn rõ rệt so với các sinh cảnh còn lại.
4.2.3 Đa dạng về hình thái
Tính đa dạng về hình thái được thể hiện ở màu sắc, kích thước và hình dạng
Kích thước của các loài trong họ Bướm phượng, như Papilio polytes và Papilio paris, không chỉ khác nhau giữa các họ mà còn thể hiện rõ sự chênh lệch giữa con đực và con cái trong cùng một loài Thông thường, con đực của các loài này có kích thước nhỏ hơn so với con cái, làm nổi bật đặc điểm giới tính qua kích thước rõ rệt trong đặc điểm sinh học của chúng.
Các loài trong họ Bướm mắt rắn có màu sắc phong phú và phức tạp, nhưng thường có màu xám hơi nâu của đất và hoa văn trên cánh đơn giản, phù hợp với môi trường ít ánh sáng như mặt đất Trong khi đó, các loài thuộc họ Bướm phượng, Bướm giáp và Bướm đốm thường hoạt động ở nơi có ánh sáng trực xạ nhiều, nên chúng mang màu sắc sặc sỡ và hoa văn phong phú để phù hợp với môi trường quang đãng Người ta thường dựa vào vân hoa trên cánh để phân loại các loài thuộc các họ bướm này.
Các loài bướm thường có hình dạng cánh trước và sau đa dạng, với cánh trước hình tam giác hoặc quạt Nhiều loài trong họ Bướm phượng có cánh trước hình tam giác với mép ngoài hơi nhọn, như loài Papilio paris Linnaeus Đồng thời, phần cánh sau của các loài trong họ này thường có hình quạt với mép ngoài có đuôi, tạo nên đặc điểm nhận biết riêng biệt.
4.2.4 Đa dạng về tập tính
Tính đa dạng và phong phú của các loài bướm ngày thể hiện rõ qua tập tính đặc trưng của từng loài Sâu non của các loài bướm ngày thường ăn lá và có thói quen di chuyển lùi khi tìm kiếm thức ăn Khi no, chúng bò về cuống lá để nghỉ ngơi, đảm bảo sự phát triển thuận lợi và bảo vệ khỏi các loài predatory.
Các loài trong họ Bướm phượng thường bay nhanh, khi đậu vào hoa hút mật cũng nhanh chóng và cánh đập liên tục, sẵn sàng bay khi gặp nguy hiểm Ngược lại, các loài trong họ Bướm đốm thích hút mật say sưa và chậm rãi hơn Các loài trong họ Bướm giáp có cách bay rất đa dạng, từ bay liên tục và cảnh giác, đến bay chậm từ từ Một số loài đi kiếm ăn đơn lẻ như trong họ Bướm phượng, trong khi đó các loài trong họ bướm cải lại thường đi kiếm ăn theo đàn Tóm lại, các loài bướm rất phong phú về hình thức sinh hoạt và cách sống, thể hiện sự đa dạng sinh học của nhóm này.
4.3 Loài côn trùng nguy cấp quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa tới khả năng phát triển
Trong quá trình điều tra các loài côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy tại khu vực nghiên cứu, một số loài có giá trị cần được bảo tồn đã được ghi nhận Các loài này đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, góp phần duy trì cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học Bảng thống kê chi tiết các loài côn trùng này cho thấy mức độ đa dạng và tầm quan trọng của chúng đối với môi trường tự nhiên Bảo vệ những loài côn trùng có giá trị này không chỉ giúp duy trì sự ổn định của hệ sinh thái mà còn có ý nghĩa lớn đối với nghiên cứu sinh học và phát triển bền vững.
Bảng 4.7: Các loài bướm ngày cần ưu tiên bảo tồn
2007 NĐ32 Giá trị thẩm mỹ
3 Troides aeacus C&R Felder VU IIB x
VU : Vulnerable – Sẽ nguy cấp
IIB : Phụ lục IIB của Nghị Định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ
Hầu hết các loài có giá trị bảo tồn thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae), nổi bật với màu sắc sặc sỡ và thường bị săn bắt để làm cảnh, sưu tập hoặc ghép tranh Mặc dù chỉ có một số loài được ghi nhận trong sách đỏ, nhưng nếu không có các biện pháp bảo tồn, các loài này sẽ tiếp tục bị săn bắt và đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng Những loài có màu sắc đẹp, giá trị kinh tế và thẩm mỹ cao thường bị săn bắt nhiều nhất, gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phát triển của chúng Do đó, việc bảo vệ nghiêm ngặt các loài này và nhân giống để tăng số lượng cá thể là rất cần thiết nhằm đảm bảo sự tồn tại của các loài trong tự nhiên.
Trong quá trình điều tra, tôi đã phát hiện ra loài Thauria lathyi Fruhstorfer, thuộc họ Bướm rừng (bướm chúa), có khả năng chỉ thị sinh học đặc biệt cho hệ sinh thái rừng đó.
4.4 Đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài côn trùng bộ Cánh vẩy trong khu vực nghiên cứu
4.4.1 Papilio demoleus Linnaeus a, Vị trí phân loại : Bướm phượng cam Papilio demoleus Linnaeus thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae) b, Hình thái
Chiều dài thân của sản phẩm đạt 25mm, cùng với đó là chiều dài cánh trước 51mm và cánh sau 42mm, mang lại vẻ đẹp cân đối và bắt mắt Đầu hình tam giác màu đen tạo điểm nhấn ấn tượng, kết hợp cùng râu đầu hình dùi đục dài 17mm giúp tăng cường khả năng cảm nhận môi trường Miệng chích hút của hàm dưới kéo dài thành vòi, nâng cao hiệu quả trong quá trình hoạt động Sản phẩm phù hợp cho các mục đích sử dụng đa dạng, đảm bảo độ bền và tính thẩm mỹ cao.
Cánh trước của loài đều có hình tam giác màu đen, nổi bật với một vệt chấm màu vàng chạy dọc giữa cánh Cánh sau có hình quạt màu đen, mép gợn sóng, trên cánh có các khoang màu hơi vàng, ngoài mép cánh có bốn chấm vàng hình chữ nhật Mặt sau của cánh nổi bật với chấm đỏ hình răng khuyết, kết hợp cùng mép gợn sóng hình răng cưa, tạo nên đặc điểm nhận dạng dễ phân biệt của loài này.
Bụng màu đen dài 11mm
Con đực và con cái giống nhau, đều có đặc điểm chung về ngoại hình Tập tính của loài này thường bay đơn lẻ, liên tục vẫy cánh khi bay và khép cánh khi đậu Trong sinh học sinh thái, chúng khá phổ biến và phân bố rộng rãi ở mọi độ cao, đặc biệt thích nghi với các sinh thái nông nghiệp, sinh thái trảng cây, bụi cỏ và rừng thứ sinh Loài này thường gặp nhiều ở các môi trường sinh thái nông nghiệp, giúp chúng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái địa phương.
Hình 4.5 Bướm phượng cam ( Papilio demoleus )
4.4.2.Papilio polytes a, Vị trí phân loại : Bướm phượng cam đuôi dài (Papilio polytes ) thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae) b, Hình thái