1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận huyện tân sơn tỉnh phú thọ

66 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng môi trường tại xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ
Tác giả Đinh Thị Viễn
Người hướng dẫn TS. Vũ Huy Định
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 917,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1. Những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường (9)
      • 1.1.1. Ô nhiễm không khí (9)
      • 1.1.2. Ô nhiễm đất (10)
      • 1.1.3. Ô nhiễm nước (11)
    • 1.2. Thực trạng ô nhiễm môi trường thôn ở Việt Nam (12)
    • 1.3. Thực trạng ô nhiễm môi trường nông thôn ở Phú Thọ (14)
    • 1.4. Thực trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nghiên cứu (15)
  • CHƯƠNG II. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (16)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (16)
    • 2.2. Đối tƣợng, phạm vinghiên cứu (16)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (16)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (16)
      • 2.4.1. Kế thừa tài liệu (16)
      • 2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp (17)
      • 2.4.3. Phương pháp lấy mẫu phân tích (17)
      • 2.4.4. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu (18)
  • CHƯƠNG III. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI (19)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (19)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (19)
      • 3.1.2. Địa hình, địa mạo (19)
      • 3.1.3. Khí hậu, thời tiết (19)
      • 3.1.4. Thủy văn (21)
    • 3.2 Tài nguyên thiên nhiên (21)
    • 3.3. Điều kiện kinh tế- xã hội (23)
      • 3.3.1. Kinh tế (23)
      • 3.3.2. Dân số, lao động (23)
  • CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (25)
    • 4.1. Thực trạng môi trường tại xã Mỹ Thuận (25)
      • 4.1.1. Nước sinh hoạt của người dân (25)
      • 4.1.2. Nước thải sinh hoạt (28)
      • 4.1.3. Chất thải rắn (31)
      • 4.1.4. Rác thải sinh hoạt (38)
      • 4.1.5. Vệ sinh môi trường (39)
      • 4.1.6. Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và môi trường (41)
      • 4.1.7. Sức khỏe và môi trường (42)
    • 4.2. Đánh giá việc quản lý môi trường tại xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ (42)
      • 4.2.1. Công tác quản lý môi trường tại xã (42)
      • 4.2.2. Nhận thức của người dân về các vấn đề môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường (44)
    • 4.3. Đề xuất các biện pháp quản lý môi trường tại xã Mỹ Thuận – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ (45)
      • 4.3.1. Biện pháp quản lý (46)
      • 4.3.2. Đề xuất giải pháp thu gom rác thải (47)
      • 4.3.3. Truyền thông, giáo dục về bảo vệ môi trường (49)
      • 4.3.4. Đề xuất mô hình xử lý nước sinh hoạt đơn giản có thể áp dụng cho địa bàn xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ (49)
  • CHƯƠNG V. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ (52)
    • 5.1. Kết luận (52)
    • 5.2. Tồn tại (52)
    • 5.3. Kiến nghị .................................................................................................. 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO (53)
  • PHỤ LỤC (55)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường

Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu phân thành hai loại chính: nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo Trong đó, nguồn nhân tạo rất đa dạng, chủ yếu bắt nguồn từ hoạt động công nghiệp, quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, phương tiện giao thông vận tải và hoạt động nông nghiệp.

*Do sản xuất công nghiệp :

Ô nhiễm chủ yếu xuất phát từ khí thải từ các ống khói nhà máy, đặc biệt là ở những nhà máy chưa lắp đặt hệ thống xử lý chất thải sau quá trình sản xuất Tùy từng loại hình công nghiệp, các nhà máy có thể phát thải bụi, khí và hơi độc hại với mức độ và lượng khác nhau, phụ thuộc vào quy mô, công nghệ áp dụng, nguyên liệu sử dụng, và phương pháp đốt nhiên liệu Việc kiểm soát và giảm thiểu khí thải từ các nhà máy là yếu tố cần thiết để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

*Do giao thông vận tải:

Giao thông vận tải là nguồn gây ô nhiễm chính, sinh ra gần 2/3 lượng khí CO2 và một phần ba khí CO cùng khí NOx Mặc dù mỗi phương tiện giao thông vận tải phát thải ô nhiễm tương đối nhỏ, nhưng vì chúng tập trung dọc các tuyến đường, tác động tiêu cực lên môi trường rất đáng kể Các nguồn gây ô nhiễm này có đặc điểm di động, khả năng khuếch tán phụ thuộc vào địa hình và kiến trúc của khu vực xung quanh Tại Hà Nội, các nhà khoa học xác nhận hoạt động giao thông vận tải là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn nhất trên địa bàn.

Ô nhiễm do hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu xuất phát từ việc đốt rừng làm rẫy, làm tăng lượng khí CO2 trong môi trường Ngoài ra, khí CH4 phát sinh từ quá trình phân hủy chất hữu cơ tại các trang trại chăn nuôi hoặc các bãi rác xử lý không đúng kỹ thuật cũng góp phần làm ô nhiễm môi trường These practices not only degrade environmental quality but also impact public health and sustainability.

Ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất nông nghiệp góp phần lớn vào tình trạng ô nhiễm, đặc biệt từ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân gia súc phân hủy không kiểm soát Những chất thải này gây mùi hôi thối, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các sinh vật truyền bệnh như ruồi, nhặng Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn làm suy giảm chất lượng môi trường nông thôn.

Ô nhiễm không khí trong nhà là một trong những nguồn gây ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, thường xuất phát từ lò sưởi và bếp đun sử dụng nhiên liệu như than, củi, dầu lửa, khí đốt Mặc dù mỗi nguồn gây ô nhiễm nhỏ, nhưng khi tích tụ trong không gian nhỏ hẹp, chúng có thể gây ra hậu quả lớn và lâu dài Ngoài ra, các khí thải sinh hoạt, khói thuốc lá, hợp chất hữu cơ bay hơi từ sơn và vật liệu xây dựng cũng góp phần làm ô nhiễm không khí trong nhà Riêng tại các khu vực đông dân cư và diện tích sinh hoạt hạn chế, mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe con người càng trở nên nghiêm trọng hơn.

Nguyên nhân chủyếu của ô nhiễm đất:

Thứ nhất là nông dƣợc và phân hóa học chúng tích lũy dần trong đất qua các mùa vụ

Việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đang gây ô nhiễm đất nghiêm trọng, làm vỡ kết cấu đất và xói mòn đất Ô nhiễm đất chủ yếu xảy ra ở khu vực nông thôn do sự bành trướng của các kỹ thuật canh tác hiện đại và sự gia tăng sử dụng phân hóa học Ngoài ra, ô nhiễm đất còn xuất phát từ hoạt động nông nghiệp và phân bón hoá học, làm ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái nông nghiệp Trong bối cảnh dân số tăng nhanh và phát triển đô thị, kỹ nghệ, đất trồng trọt ngày càng giảm, buộc nông nghiệp phải thâm canh nhiều hơn, dẫn đến sự đảo lộn dòng năng lượng và chu trình vật chất trong hệ sinh thái nông nghiệp.

Sử dụng phân hóa học đã giúp tăng năng suất cây trồng, nhưng việc sử dụng lặp lại và liều lượng cao có thể dẫn đến ô nhiễm đất do tạp chất tích tụ Ngoài ra, việc rải nitrat và phosphat dư thừa làm rò rỉ vào nước mặt, gây ô nhiễm các tầng thủy cấp Hơn nữa, phân bón vô cơ và hữu cơ cũng có thể gây ô nhiễm đất và làm giảm sinh khối trong hệ sinh thái.

Thâm canh không ngừng của nông nghiệp sử dụng ngày càng nhiều các chất nhân tạo như phân hóa học và nông dược, gây ô nhiễm đất một cách chậm mà chắc và không thể hoàn lại Điều này dẫn đến sự suy giảm độ phì nhiêu của đất, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp bền vững.

Nguồn nước trên Trái đất ngày càng cạn kiệt do nhiều lý do khác nhau, trong đó khoảng 1/3 dân số thế giới đang đối mặt với tình trạng thiếu nước trầm trọng Tốc độ gia tăng dân số nhanh chóng cùng với quá trình đô thị hoá, hoạt động sản xuất công nghiệp và nông nghiệp khiến các nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến việc sử dụng nước sạch cho cuộc sống hàng ngày.

Nguồn nước ô nhiễm đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người Gần 5 triệu ca tử vong hàng năm tại các quốc gia đang phát triển có liên quan mật thiết đến tình trạng thiếu nước sạch Việc đảm bảo nước sạch là yếu tố thiết yếu để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

Nguồn ô nhiễm nước chủ yếu xuất phát từ các mầm bệnh sinh ra từ chất thải của con người như vi khuẩn và virus, cùng với kim loại nặng và hóa chất từ hoạt động công nghiệp và nông nghiệp Việc sử dụng nước ô nhiễm để uống hoặc chế biến thực phẩm là hình thức phơi nhiễm phổ biến nhất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Ngoài ra, tiêu thụ cá từ nguồn nước ô nhiễm có thể mang theo mầm bệnh và các chất độc hại như kim loại nặng, kim loại và hợp chất hữu cơ bền, qua quá trình tích lũy sinh học Con người cũng dễ bị ảnh hưởng qua việc tưới cây bằng nước ô nhiễm hoặc khi đất nông nghiệp bị nhiễm bẩn do nước sông ô nhiễm dâng lên, làm tăng nguy cơ ô nhiễm trong chuỗi thức ăn.

Nước ngầm là nguồn nước nằm dưới lớp đất sỏi và các tầng địa chất thấm qua, chiếm tới 97% lượng nước ngọt trên Trái Đất, là nguồn nước sạch quan trọng cung cấp cho khoảng 2 tỷ người ở cả thành phố và nông thôn hàng ngày Tuy nhiên, nguồn nước này đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, trong đó các bãi chôn lấp rác không hợp vệ sinh, nước thải từ hoạt động công nghiệp và khai thác khoáng sản là những yếu tố chính gây rò rỉ, ngấm vào tầng chứa nước ngầm Ngoài ra, hoạt động sản xuất nông nghiệp sử dụng nhiều thuốc trừ sâu và phân bón cũng là mối đe dọa lớn đối với chất lượng nước ngầm.

Các quá trình hình thành địa chất tự nhiên là nguồn giải phóng kim loại nặng vào nước ngầm, trong đó phổ biến nhất là ô nhiễm Asen

Nước ngầm rất khó xử lý, do đó việc bảo vệ nguồn nước này là vô cùng quan trọng để duy trì chất lượng nguồn nước sạch Các biện pháp như tăng cường kiểm soát việc xả thải và xây dựng hệ thống thoát nước hợp vệ sinh là những bước đi cơ bản để ngăn chặn ô nhiễm nước ngầm Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, việc triển khai những biện pháp này diễn ra chậm chạp, khiến hệ thống nước ngầm ngày càng bị nhiễm bẩn nghiêm trọng và đòi hỏi các giải pháp khẩn cấp hơn để bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này.

Thực trạng ô nhiễm môi trường thôn ở Việt Nam

Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn đang trở thành vấn đề phổ biến ở nhiều địa phương, đặc biệt là những nơi dân cư đông đúc và các làng nghề phát triển mạnh Các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trong khu vực nông thôn góp phần làm gia tăng các vấn đề về ô nhiễm không khí, nước thải, bụi và rác thải Ô nhiễm môi trường nông thôn cần được quan tâm nhiều hơn để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và duy trì phát triển bền vững.

Nông thôn nước ta đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển, gây ra nhiều vấn đề bức xúc, trong đó nổi bật là tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn Nguyên nhân chủ yếu đến từ ý thức của người dân về việc phòng ngừa ô nhiễm chưa được coi trọng đúng mức, kết hợp với các yếu tố như đất đai chật hẹp ở nhiều vùng đồng bằng khiến môi trường trở nên ô nhiễm nặng nề Rác thải sinh hoạt ngày càng nhiều, người dân vứt rác bừa bãi khắp nơi từ ven nhà, đường làng, ngõ xóm đến kênh mương, ao hồ, khiến môi trường nông thôn xuống cấp nghiêm trọng.

Ngoài lượng lớn rác thải sinh hoạt từ các gia đình, chợ nông thôn cũng là nguồn phát sinh nhiều loại rác chưa được xử lý hiệu quả, chủ yếu để phân hủy tự nhiên Nhu cầu phát triển kinh tế dẫn đến mở rộng quy mô chăn nuôi, nhưng phương thức chăn nuôi vẫn còn cũ kỹ, như "chuồng lợn cạnh nhà, chuồng gà cạnh bếp", khiến phân thải và nước thải chưa qua xử lý thải ra hệ thống thoát nước làng xã Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ruồi, muỗi và ký sinh trùng gây bệnh, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Trong sản xuất nông nghiệp, việc lạm dụng các loại phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và sử dụng phân tươi trong trồng rau đã gây ô nhiễm nguồn nước ở sông, hồ, kênh mương, ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng Nuôi trồng thủy sản không kiểm soát, sử dụng hóa chất không đúng quy trình đã dẫn đến ô nhiễm nước, phát sinh tảo đỏ, thủy triều đỏ và các loài sinh vật gây bệnh Hiện tượng ô nhiễm nguồn nước đang diễn ra phổ biến, với hơn 86% dân số nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó khoảng 45% đạt tiêu chuẩn nước sạch theo quy chuẩn QCVN 02-BYT Ngoài ra, khoảng 65% hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, 46% hộ chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh, và 100% các trường học, trạm y tế ở nông thôn đều đảm bảo nguồn nước sạch, nhà vệ sinh hợp vệ sinh và được quản lý tốt.

Ý thức của cộng đồng sống tại các khu vực nông thôn về vấn đề bảo vệ môi trường vẫn còn hạn chế, dẫn đến việc người dân chưa có ý thức đúng đắn trong việc giữ gìn môi trường sống Công tác tuyên truyền và tham gia vào các hoạt động BVMT của cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong hoạt động quản lý và tổ chức thực hiện các biện pháp BVMT Thực trạng này cho thấy cần tăng cường công tác nâng cao ý thức cộng đồng và cải thiện các hoạt động quản lý về BVMT để đảm bảo môi trường nông thôn ngày càng trong sạch và bền vững.

Thực trạng ô nhiễm môi trường nông thôn ở Phú Thọ

Phú Thọ là tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt 27.320,3 tỷ đồng và năm 2013 tăng 6,43% so với năm trước, cùng với đó là GDP bình quân đạt 20,42 triệu đồng/năm vào 2012 và 22,5 triệu đồng vào 2013 Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với những tác động tiêu cực tới môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng Ô nhiễm môi trường tại Phú Thọ chủ yếu bắt nguồn từ các nguồn gây ô nhiễm công nghiệp, hoạt động khai thác tài nguyên và các chất thải sinh hoạt, khiến cộng đồng ngày càng đối mặt với các vấn đề về sức khỏe và môi trường.

- Do sản xuất công nghiệp: Tập trung tại các khu, cụm công nghiệp cũ trước đây như: Khu công nghiệp Nam Việt Trì, Bãi Bằng, Lâm Thao, Thanh

Khu công nghiệp Ba và Khu công nghiệp Thụy Vân còn chưa được đầu tư các hệ thống xử lý và giảm thiểu ô nhiễm môi trường đúng tiêu chuẩn, gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững của khu vực Việc nâng cấp các hệ thống này là rất cần thiết để đảm bảo môi trường làm việc an toàn, hạn chế ô nhiễm và thúc đẩy phát triển công nghiệp xanh, bền vững.

Nước thải đô thị chưa được đầu tư hệ thống xử lý tập trung, dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Rác thải chưa được thu gom và xử lý triệt để, đặc biệt tại các vùng ven đô thị, gây mất mỹ quan đô thị và ảnh hưởng đến cuộc sống của cộng đồng Việc quản lý chất thải đô thị còn yếu kém góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm và giảm chất lượng môi trường sống tại các khu vực này.

Các hoạt động sản xuất tại làng nghề thủ công truyền thống chủ yếu bao gồm chế biến mỳ, bún, gạo, các cơ sở mộc gia dụng, cũng như các ngành liên quan đến chế biến gỗ và tái chế nhựa Những hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển nghề truyền thống, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương.

Ô nhiễm môi trường nông thôn chủ yếu bắt nguồn từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt hàng ngày tại các xã đồng bằng ven đô thị Các chất thải phát sinh gồm có rác thải sinh hoạt, nước thải và chất thải chăn nuôi, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng.

Trong những năm gần đây, công tác bảo vệ môi trường tại tỉnh Phú Thọ đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và cộng đồng người dân quan tâm, chú trọng thực hiện nhờ nhận thức rõ tầm quan trọng và đặc thù của môi trường địa phương.

Thực trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nghiên cứu

Xã Mỹ Thuận, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, là một xã thuần nông với hoạt động chính là sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi Hiện nay, tỷ lệ hộ dân tiếp cận nước sạch còn thấp, gây ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khỏe cộng đồng Đến thời điểm hiện tại, chưa có nghiên cứu nào về các vấn đề môi trường tại xã Mỹ Thuận, do đó, vấn đề cấp bách là cần tiến hành các nghiên cứu để đánh giá và giải quyết các vấn đề môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Xã chƣa có lực lƣợng thu gom nên rác thải vứt bừa bãi, hôi thối gây ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến đời sống của người dân trong xã

Việc xử lý rác thải, nước thải trong chăn nuôi còn chưa đạt yêu cầu, khiến xác súc vật chết thường bị đổ ra khe, suối gần nhà và quanh vườn, gây ô nhiễm môi trường Ngoài phân, lượng nước tiểu và thức ăn thừa còn chiếm một phần lớn trong tổng chất thải chăn nuôi, đe dọa đến vệ sinh môi trường nếu không được xử lý đúng cách Nếu lượng chất thải này không được xử lý tốt, chắc chắn sẽ gây ra ô nhiễm nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Lượng rác thải sinh hoạt chủ yếu gồm các loại thực phẩm dư thừa hoặc hỏng như rau, vỏ trái cây và bao bì hàng hóa, thường bị vứt bừa bãi hoặc đốt bỏ không đúng quy định.

Việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật diễn ra một cách tràn lan và thiếu kiểm soát, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng đến sức khỏe con người Thói quen vứt chai lọ, vỏ thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng bừa bãi ngoài đồng chưa được xử lý cũng góp phần lớn vào tình trạng ô nhiễm môi trường Đồng thời, nhiều nông dân vẫn còn sử dụng phân bắc, phân chuồng tươi trong canh tác, trong đó phân tươi được coi là nguồn thức ăn cho cá, nhưng lại gây ra ô nhiễm môi trường đất và nước, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được thực trạng môi trường khu vực xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ

- Đánh giá được việc quản lý môi trường tại xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ

- Đề xuất được các biện pháp quản lý môi trường tại xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ.

Đối tƣợng, phạm vinghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào thực trạng môi trường tại xã Mỹ Thuận, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, nhằm đánh giá tình hình bảo vệ môi trường ở địa phương Xã Mỹ Thuận gồm 15 khu dân cư, trong đó tôi thực hiện khảo sát và thu thập dữ liệu tại 7 khu tiêu biểu phản ánh đa dạng các vấn đề môi trường của xã Kết quả nghiên cứu giúp làm rõ các thách thức và tiềm năng cải thiện môi trường tại xã Mỹ Thuận, góp phần xây dựng các giải pháp bền vững phù hợp với đặc thù địa phương.

- Phạm vi nghiên cứu: khu vực xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ

- Thời gian tiến hành: từ ngày 22/02/2016 đến ngày 25/05/2016.

Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các nội dung sau:

- Thực trạng môi trường khu vực xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ

- Thực trạng việc quản lý môi trường tại xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ

- Đề xuất các biện pháp quản lý môi trường tại xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ.

Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu, bao gồm vị trí địa lý, diện tích tự nhiên, phân vùng hành chính, đặc điểm địa hình và khí hậu, cùng các nguồn tài nguyên nước, rừng, thổ nhưỡng và khoáng sản Ngoài ra, các yếu tố kinh tế như tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế cũng được khảo sát kỹ lưỡng, bên cạnh các vấn đề xã hội liên quan đến dân số, giáo dục – đào tạo, mạng internet và các tài liệu về môi trường nông thôn từ thư viện Các số liệu chủ yếu được thu thập tại UBND xã Mỹ Thuận để đảm bảo độ chính xác và cập nhật phù hợp với yêu cầu nghiên cứu.

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp

Qua quá trình điều tra, khảo sát và phỏng vấn người dân địa phương, chúng tôi đã xác định rõ hiện trạng môi trường nông thôn tại khu vực nghiên cứu, từ đó đưa ra những nhận định chính xác về các vấn đề môi trường đang diễn ra và đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng môi trường nông thôn.

- Điều tra theo mẫu phiếu (Phụ lục 1)

- Tiến hành lựa chọn các điểm nghiên cứu theo phương án xác định các khu trên địa bàn nghiên cứu

Chúng tôi đã tiến hành điều tra 7 trên 15 khu vực của xã, với tổng số phiếu phát ra là 105 phiếu, phản ánh sự lấy mẫu đại diện cho cộng đồng địa phương Mỗi khu vực được lựa chọn ngẫu nhiên 15 hộ gia đình để khảo sát, nhằm đánh giá tình hình sử dụng và chất lượng các nguồn nước sinh hoạt Quá trình này giúp đảm bảo tính khách quan và chính xác trong việc thu thập dữ liệu về tình trạng nguồn nước hiện tại.

Các hộ được lựa chọn phải đầy đủ nội dung và mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đảm bảo tính đặc thù và phù hợp với đối tượng nghiên cứu Trong các khu vực đã chọn, nghiên cứu tập trung vào xem xét các nhóm hộ khác nhau để thu thập thông tin chính xác và đáng tin cậy cho đề tài Việc chọn mẫu hộ cần đảm bảo đại diện, giúp phản ánh đúng thực trạng và đáp ứng yêu cầu của nghiên cứu.

2.4.3 Phương pháp lấy mẫu phân tích

Trong quá trình thu thập dữ liệu thực tế để đánh giá chất lượng môi trường nông thôn, đề tài đã chọn 7 vị trí lấy mẫu nước, bao gồm 2 mẫu nước giếng khoan, 3 mẫu nước giếng đào, và 2 mẫu nước khe từ các khe đá tại các hộ dân trong khu Đường 1, Đường 2 và khu Chiềng xã Mỹ Thuận.

Bảng 2.1 Vị trí các điểm lấy mẫu tại xã Mỹ Thuận

Stt Ký hiệu Tên chủ hộ Nguồn nước Địa điểm (khu)

1 M1 Đinh Văn Quý Nước khe Đường 1 Sinh hoạt

2 M2 Hạ Đăng Dũng Nước khe Chiềng Sinh hoạt

3 M3 Đinh Thị Hiền Giếng đào Đường 2 Sinh hoạt

4 M4 Bùi Văn Quảng Giếng đào Đường 1 Sinh hoạt

5 M5 Hà Thị Nhi Giếng đào Đường 1 Sinh hoạt

6 M6 Chử Đình Khôi Giếng khoan

7 M7 Hà Thị Tuấn Giếng khoan Đường 2 Sinh hoạt

- Quy trình lấy mẫu áp dụng từ "Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 6000-

1995, ISO 5667:1992) - Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm"

2.4.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Số liệu trên phiếu điều tra đƣợc tổng hợp lại sau đó đƣợc tính toán và xử lý thống kê trên Microsoft Excel.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

Điều kiện tự nhiên

Mỹ Thuận là xã thuộc vùng núi, nằm ở phía Đông Nam của huyện Tân Sơn, có vị trí địa lý nhƣ sau:

- Phía Đông giáp xã Địch Quả, huyện Thanh Sơn

- Phía Tây giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn

- Phía Nam giáp xã Văn Luông và xã Minh Đài, huyện Tân Sơn

- Phía Bắc giáp xã Thu Ngạc và Xã Ngọc Lập huyện Yên Lập

Xã có tổng diện tích tự nhiên là 3.821,91 ha, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao thương Sự hiện diện của tuyến Quốc lộ 32A chạy qua địa bàn giúp thúc đẩy hoạt động trao đổi hàng hóa và kết nối với các khu vực lân cận Vị trí địa lý thuận lợi này góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế của xã và thúc đẩy các hoạt động thương mại địa phương.

Xã Mỹ Thuận có địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, đƣợc chia làm 2 dạng địa hình chính:

+ Địa hình bằng phẳng: chiếm khoảng 10% tổng diện tích đất tự nhiên, đƣợc phân bố rải rác trong xã, nằm xen kẽ giữa các quả đồi

Địa hình đồi núi thấp chiếm khoảng 90% tổng diện tích đất tự nhiên của khu vực, chủ yếu phân bố ở phía Bắc Độ cao trung bình của các đồi núi thấp khoảng từ 200 đến 300 mét, với độ dốc trung bình từ 8 đến 15 độ, ảnh hưởng lớn đến đặc điểm cảnh quan và khả năng phát triển kinh tế của khu vực.

Xã Mỹ Thuận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa Hạ nóng ẩm và mưa nhiều, trong khi mùa Đông có ít mưa, lạnh và khô ráo Lượng mưa trung bình hàng năm không lớn và phân bố theo từng mùa rõ rệt, ít bị ảnh hưởng bởi gió bão.

+ Nhiệt độ trung bình năm: 22 0 C

+ Nhiệt độ tháng cao nhất (rơi vào tháng 7) là 27,5 0 C

+ Nhiệt độ tháng thấp nhất (rơi vào tháng 1) là 14,1 0 C

Tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 6, 7, 8, với nhiệt độ từ 27,2 đến 27,5°C, thể hiện mức nhiệt cao nhất trong các tháng Trong các tháng nóng mùa hè, nhiệt độ ở vùng thấp cao hơn vùng đồi núi cao trung xã từ 1 đến 2°C, cho thấy sự khác biệt rõ rệt về nhiệt độ giữa các vùng địa lý Tháng có nhiệt độ thấp nhất thường rơi vào các tháng mùa đông, góp phần tạo nên chu kỳ nhiệt độ rõ ràng trong năm.

Lượng mưa trung bình nhiều năm đạt khoảng 1400 mm, phân bố không đều trong năm Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm tới 85% tổng lượng mưa của năm, đặc biệt tập trung vào các tháng 6, 7, 8 Trong thời gian này, dễ xảy ra ngập úng, lũ quét ở các khu vực địa hình thấp, kéo dài từ 1 đến 3 ngày, gây ùn tắc giao thông, thiệt hại về nhà cửa và hoa màu của người dân trong vùng.

Trong mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 15% tổng lượng mưa trong năm, đặc biệt là các tháng 12 và 1, khi lượng mưa rất thấp Những tháng này, lượng bốc hơi cao gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động trồng trọt, đặc biệt khi không có hệ thống tưới tiêu điều tiết phù hợp để duy trì đủ nguồn nước cho cây trồng.

Trong mùa mưa, khu vực thường xuyên xảy ra các cơn dông lớn kèm theo mưa to, sấm sét gây thiệt hại về tài sản như cháy cây cối và chết gia súc chăn thả, đồng thời đe dọa tính mạng con người tại một số địa phương.

- Lƣợng bốc hơi: Lƣợng bốc hơi trung bình năn là 785 mm Lƣợng bốc hơi tập trung nhiều vào các tháng 4, 5, 6, 7 (từ 60 - 76,5 mm/tháng)

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm ở mức khá cao, dao động từ 81% đến 82% Trong mùa mưa, độ ẩm trung bình đạt khoảng 85%, trong khi mùa khô, độ ẩm giảm xuống còn 76% đến 80% Tháng 12 ghi nhận mức độ ẩm thấp nhất trong năm, chỉ còn 76%, phản ánh tính chất khô hạn của mùa khô.

Vùng có hai mùa gió chính: mùa gió Đông Bắc thịnh hành trong mùa khô với tốc độ trung bình 2,2 m/s, còn mùa mưa chủ yếu là gió Tây Nam với tốc độ trung bình 2,4 m/s Gió Tây Bắc là gió chuyển tiếp giữa hai mùa gió này, ảnh hưởng lớn đến khí hậu và thời tiết của khu vực.

Xã Mỹ Thuận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lượng mưa trung bình không lớn, nền nhiệt độ khá cao và nhận nhiều ánh sáng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loại cây trồng và vật nuôi Tuy nhiên, mùa Đông với thời tiết lạnh và độ ẩm cao hạn chế sự sinh trưởng của cây trồng đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho dịch bệnh phát sinh trên người và gia súc, gia cầm Do đó, việc lập lịch gieo trồng phù hợp và triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh là rất cần thiết để giảm thiểu thiệt hại do thời tiết gây ra.

Mạng lưới thủy văn của xã chủ yếu gồm hai nguồn chính: một là toàn bộ diện tích đất sông suối, mặt nước chuyên dùng và ao hồ, phục vụ chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp; hai là nguồn nước ngầm, được khai thác chủ yếu qua khoan và đào giếng khơi để phục vụ sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng.

Xã Mỹ Thuận có hơn 20km các sông, suối chảy qua, trong đó suối Mác là nổi bật, với mật độ trung bình 0,64km/1km² Các con suối chủ yếu chảy theo hướng Tây Nam, gây ngập úng ở các vùng thấp vào mùa mưa, làm thiệt hại đất canh tác, hoa màu và gây khó khăn trong giao thông Để khai thác nguồn nước hiệu quả, cần xây dựng hệ thống đập, mương dẫn nước phục vụ tưới tiêu cho lúa, hoa màu và hệ thống ống dẫn nước sinh hoạt cho cộng đồng dân cư.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất của xã Mỹ Thuận chủ yếu là đất feralit đỏ vàng và đất dốc tụ, phân bổ chủ yếu ở các vùng đồi núi có độ cao trên 400m Đặc điểm của đất feralit đỏ vàng là tầng dày, thành phần cơ giới nặng, có đặc tính chua, giữ ẩm tốt, nhưng dễ bị rửa trôi mạnh do chế độ canh tác chưa hợp lý Loại đất này phù hợp để phát triển các cây nguyên liệu cho ngành giấy và cây lâu năm.

Đất dốc tụ chủ yếu tập trung ven các đồi, gò, có màu xám hoặc xám đen, với thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt trung bình, đất chua và hàm lượng N, P, K không cao do quá trình phong hóa và rửa trôi Vùng đất này thích hợp để trồng các loại cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày.

Tài nguyên nước của xã bao gồm 2 nguồn chính:

Nguồn nước mặt bao gồm toàn bộ diện tích đất mặt nước ao, hồ, đầm trên địa bàn xã cũng như hệ thống suối trong khu vực Mặc dù tài nguyên nước mặt không đa dạng về loại hình, nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước cho phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản địa phương.

Nguồn nước ngầm trong đất sâu tại khu vực ruộng đồng có độ sâu từ 2 đến 5 mét, còn ở các khu vực gò đồi núi thấp, độ sâu này từ 10 đến 20 mét, cho thấy nguồn nước này khá phong phú, dễ khai thác và chủ yếu phục vụ nhu cầu ăn uống, sinh hoạt của người dân Hiện nay, nguồn nước ngầm được khai thác thông qua các phương pháp giếng khơi và giếng khoan; tuy nhiên, cần sử dụng tiết kiệm và hợp lý để tránh tình trạng thiếu nước vào mùa khô hạn, góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước cho cộng đồng.

Xã có tổng diện tích rừng là 1.563,92 ha, chiếm hơn 41% tổng diện tích tự nhiên của toàn xã, trong đó có rừng sản xuất rộng 1.081,96 ha và rừng phòng hộ là 481,96 ha Điều này cho thấy rừng của xã rất phong phú và đa dạng, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế địa phương.

Rừng của xã thuộc loại rừng nhiệt đới với thảm thực vật phong phú, chủ yếu gồm các loại tre, nứa, vầu, bương Do nạn chặt phá khai thác bừa bãi, các cây lấy gỗ đã gần như tuyệt chủng Rừng tự nhiên tập trung nhiều ở khu vực có độ cao từ 700 đến 800 mét trở lên Ngoài ra, xã còn có các tài nguyên khoáng sản phong phú, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương.

Trên địa bàn xã: Có 2 khu vực có quặng sắt ở xóm Mịn 2 và xóm Mu

Vốn nhỏ, đã được khai thác nhưng vẫn còn tiềm năng phát triển trong tương lai để nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp và cải thiện thu nhập cho người dân Ngoài ra, nguồn lực nhân văn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của địa phương.

Mỹ Thuận là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng, với nhân dân các dân tộc đoàn kết, cần cù và nỗ lực vượt qua khó khăn để phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống Các dân tộc trong xã tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, tích cực học hỏi các tiến bộ khoa học trong sản xuất và quản lý xã hội Đội ngũ cán bộ trẻ, năng động và có trình độ cao đóng vai trò quan trọng trong lãnh đạo các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương Những nhân tố này là nền tảng vững chắc đưa Mỹ Thuận tiến bước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng xã giàu đẹp, văn minh. -Tận dụng sức mạnh truyền thống và đội ngũ trẻ năng động Mỹ Thuận với những tiến bộ khoa học hiện đại, đồng hành cùng bạn xây dựng tương lai phát triển bền vững.

Điều kiện kinh tế- xã hội

Trong những năm gần đây, kinh tế xã Mỹ Thuận đã có những bước phát triển đáng kể, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân Xã tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng chuyên canh và sản xuất hàng hóa, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Những nỗ lực này giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương.

Nông nghiệp xã hiện nay chủ yếu tập trung vào các hoạt động trồng lúa, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản và kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm để phát triển kinh tế địa phương Hiện tại, xã chưa có khu công nghiệp quy mô lớn tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất công nghiệp, nhưng đã hình thành các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhỏ lẻ, phân tán khắp địa bàn để phục vụ nhu cầu địa phương.

Xã có tổng dân số là 7.598 người, trong đó nữ chiếm tỷ lệ 51,04% với 3.878 người, phản ánh sự phân chia dân cư hợp lý Toàn xã có 1.822 hộ dân phân bổ đều trên 15 khu dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cộng đồng Dân số nông nghiệp chiếm đa số với 6.078 người, thể hiện đặc trưng nông thôn của địa phương Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 1,18%, đáp ứng xu hướng phát triển và mở rộng dân cư của xã.

Xã có 5.130 người trong độ tuổi lao động, chiếm 67,52% dân số, trong đó khoảng 80% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, phần còn lại tập trung vào ngành thủ công, dịch vụ thương mại Để thúc đẩy phát triển kinh tế, cần tăng cường đào tạo lao động có trình độ cao hơn, giúp họ tham gia vào các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, qua đó nâng cao thu nhập và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường lao động Năm 2010, thu nhập bình quân của người dân đạt 5,60 triệu đồng/năm, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Thực trạng môi trường tại xã Mỹ Thuận

4.1.1 Nước sinh hoạt của người dân

4.1.1.1 Nguồn nước sinh hoạt của người dân

Nguồn nước sinh hoạt tại các khu vực điều tra chủ yếu được cung cấp từ ba nguồn chính là nước khe, giếng khoan và giếng đào Không có hộ gia đình nào sử dụng nguồn nước từ ao hồ hoặc sông suối để phục vụ sinh hoạt hàng ngày Kết quả thống kê cho thấy các nguồn nước này đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của cư dân một cách phù hợp và ổn định.

Bảng 4.1 Thống kê nguồn nước phục vụ sinh hoạt STT Nguồn nước sử dụng Số hộ Tỷ lệ (%)

Dựa trên bảng kết quả, phần lớn các hộ dân đều sử dụng nước giếng đào, chiếm tỷ lệ 67% với 70 hộ Ngoài ra, còn có 15 hộ (14%) sử dụng nước giếng khoan và 20 hộ (19%) sử dụng nước khe Thực tế này phản ánh việc nhiều hộ dân vẫn phụ thuộc vào các nguồn nước tự nhiên để sinh hoạt hàng ngày Việc sử dụng nước giếng đào phổ biến cho thấy mức độ tiếp cận nguồn nước sạch còn hạn chế, đòi hỏi các giải pháp cải thiện hệ thống cung cấp nước sạch tại địa phương.

Xã chưa có hệ thống cấp nước hợp vệ sinh, phần lớn hộ gia đình sử dụng nước giếng khoan và giếng đào cho sinh hoạt hàng ngày Việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo vệ sinh này là nguyên nhân chính gây ra các bệnh đường ruột, đặc biệt trong mùa mưa lũ lớn khi nguy cơ nước giếng bị nhiễm bẩn tăng cao Cần có giải pháp cải thiện hệ thống cấp nước để nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Hình 4.1 Tỷ lệ các HGĐ có thiết bị lọc nước

Nguồn nước sinh hoạt và ăn uống của người dân chủ yếu lấy từ các giếng có độ sâu từ 6 đến 12 mét Trong đó, đến 89% hộ gia đình không trang bị thiết bị lọc nước, phần còn lại sử dụng các phương pháp lọc sơ bộ như bể lắng, cát hoặc sỏi trước khi sử dụng Tuy nhiên, quan sát thực tế cho thấy nguồn nước giếng của người dân thường không đảm bảo vệ sinh do chuồng chăn nuôi xây dựng gần khu vực giếng để thuận tiện lấy nước phục vụ chăn nuôi, và đa phần các hộ dân chưa có hệ thống cống thải hoặc chỉ sử dụng cống thải lộ thiên, gây ra nguy cơ nước thải ngấm vào nguồn nước giếng, ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn vệ sinh nước sinh hoạt hàng ngày.

Vấn đề vệ sinh môi trường (VSMT) liên quan mật thiết đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe của con người Sử dụng nước sạch là yếu tố quan trọng để duy trì môi trường sống an toàn và lành mạnh Khi VSMT kém, nguy cơ mắc các bệnh dịch ở người sẽ tăng cao, gây ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng Do đó, việc nâng cao ý thức về vệ sinh môi trường và đảm bảo nguồn nước sạch cần được đặt lên hàng đầu để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

4.1.1.2 Chất lượng nước sinh hoạt của người dân Để đánh giá chất lượng nước sinh hoạt của người dân trước hết tôi đánh giá cảm quan của người dân về chất lượng nguồn nước sử dụng thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn

Sau khi tổng hợp câu hỏi phỏng vấn tôi thu được kết quả dưới đây:

Không có thiết bị lọc nước

Bảng 4.2 Đánh giá cảm quan của người dân về nguồn nước sử dụng

TT Vấn đề nguồn nước sử dụng Số hộ Tỷ lệ (%)

Theo bảng kết quả, có 16% hộ gia đình (17 hộ) cho rằng nguồn nước hiện tại có mùi, trong khi đó, 74% hộ (78 hộ) khẳng định nước sử dụng không gặp vấn đề gì Ngoài ra, còn có 10% hộ (10 hộ) cho biết nước nhà có vấn đề như cặn và váng, phản ánh mức độ đa dạng về chất lượng nguồn nước trong cộng đồng.

Nguyên nhân chính gây ra mùi hôi nước là do giếng nước được đào gần các khu vệ sinh, cống thải gây ô nhiễm Ngoài ra, mùi tanh từ các ống dẫn nước kim loại trong gia đình cũng góp phần làm giảm chất lượng nước Rất ít gia đình nhận thấy nước có cặn hoặc váng trong quá trình sử dụng Để đánh giá chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu, đề tài dựa trên các thông số như pH, độ cứng, tổng chất rắn hòa tan (TDS), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) và nhu cầu oxy hóa học (COD).

Sau khi lấy mẫu và phân tích tại Trung tâm Thực hành Thí nghiệm Khoa Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường của Trường Đại học Lâm Nghiệp, đã thu được kết quả chính xác về chất lượng mẫu thử Các phân tích này giúp đưa ra đánh giá chi tiết về tình trạng tài nguyên rừng và môi trường, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ hệ sinh thái Việc thực hiện đúng quy trình lấy mẫu và phân tích đảm bảo độ tin cậy cho các kết quả nghiên cứu, phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu của ngành.

Bảng 4.3 Kết quả phân tích các thông số trong mẫu nước sinh hoạt của xã Mỹ Thuận

Các thông số pH Độ cứng

- Theo QCVN01: 2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống, ta thấy: Thông số TDS nằm trong giới hạn cho phép

Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt, QCVN 02:2009/BYT, giá trị pH của nước sinh hoạt tại các khu vực đều nằm trong ngưỡng cho phép, đảm bảo an toàn và phù hợp với tiêu chuẩn sức khỏe cộng đồng Việc duy trì pH trong phạm vi quy định giúp hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt ổn định, đáp ứng yêu cầu về vệ sinh và an toàn.

- Theo QCVN 08: 2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt: Các thông số BOD 5 , COD đều nằm trong giới hạn cho phép

- Theo QCVN09: 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm: Thông số độ cứng nằm trong giới hạn cho phép

Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt, giải trí, cơ quan công sở, gây ô nhiễm môi trường Các thành phần ô nhiễm chính trong nước thải sinh hoạt bao gồm BOD5, COD, nitơ và photpho, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước Một yếu tố ô nhiễm quan trọng khác là các loại mầm bệnh truyền qua các vi sinh vật trong phân, đe dọa sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái.

Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, cùng với các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh nguy hiểm Chất hữu cơ trong nước thải gồm protein (40-50%), carbohydrate (40-50%) và chất béo (5-10%), với nồng độ dao động từ 150 đến 450 mg/l Nguồn phát sinh nước thải chủ yếu bắt nguồn từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người, góp phần tạo ra lượng lớn chất hữu cơ và các hợp chất gây ô nhiễm.

Nước thải sinh hoạt phát sinh từ các hoạt động hàng ngày như ăn uống, tắm rửa, giặt giũ của người dân trong xã Đặc biệt, các hộ sử dụng bể vệ sinh tự hoại sẽ thải ra lượng nước dùng cho vệ sinh hàng ngày Ngoài ra, việc chăn nuôi tại gia đình cũng làm tăng lượng nước thải, gây ô nhiễm môi trường do nước thải chăn nuôi lẫn vào nước thải sinh hoạt.

Ngoài ra, nước thải từ trạm y tế xã, trường học và ủy ban cũng được dẫn vào hệ thống thoát nước thải sinh hoạt của khu, xã Đáng chú ý là nước thải từ trạm y tế có khả năng mang các mầm bệnh nguy hiểm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Lượng nước thải tính theo phương pháp dựa trên điều tra 105 hộ dân tại 7 khu đặc trưng nhất của xã, giúp đánh giá chính xác mức độ ô nhiễm và kế hoạch xử lý phù hợp.

Nước thải sinh hoạt trung bình một người một ngày khoảng 102 lít Vậy toàn xã trung bình 1 ngày thải ra khoảng 775000 lít

Mỗi người dân thải ra khoảng 0,06-0,08 m³ phân mỗi ngày, tương đương khoảng 400-500 lít nước tiểu Với dân số xã khoảng 7.598 người, tổng lượng phân thải ra hàng ngày ước tính khoảng 3.700 kg, trong khi lượng nước tiểu phát sinh lên tới khoảng 8.320 lít mỗi ngày Những thông số này cho thấy mức độ ô nhiễm tiềm năng từ hoạt động sinh hoạt hằng ngày và cần có giải pháp xử lý phù hợp nhằm bảo vệ môi trường.

Nước thải chăn nuôi trung bình của 1 hộ (không tính trang trại) trung bình là 0,073 m 3 thì lượng nước thải trong 1 ngày của 1822 hộ trong xã là 133,006 m 3

Vậy tổng lượng nước thải trong 1 ngày của xã Mỹ Thuận là 774996 +

Đánh giá việc quản lý môi trường tại xã Mỹ Thuận - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ

4.2.1 Công tác quản lý môi trường tại xã

Xã hiện chưa có quy chế quản lý môi trường, hệ thống xử lý nước thải và rác thải chưa được xây dựng đầy đủ, gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường địa phương Đồng thời, xã chưa xây dựng quy hoạch khu xử lý rác thải và chưa có trạm cấp nước sạch, dẫn đến khó khăn trong việc cung cấp nước sạch cho cộng đồng dân cư Cần có các giải pháp cấp bách nhằm cải thiện quản lý môi trường, xây dựng hệ thống xử lý nước thải, rác thải và đảm bảo cung cấp nước sạch cho người dân.

Xã hiện chưa có bãi chôn lấp rác thải tập trung, chỉ có một số điểm tập kết rác thải tự phát tại các khu vực dân cư Người dân chưa có quy định hay quy trình rõ ràng về thu gom và xử lý rác thải theo tiêu chuẩn, gây khó khăn trong công tác quản lý môi trường Đối với chất thải hữu cơ dễ phân hủy, phần lớn người dân tận dụng thức ăn thừa để cho gà, lợn, trong khi những phần còn lại được ủ cùng phân chuồng hoặc đổ ra bãi rác, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Phế thải nông nghiệp chủ yếu gồm rơm rạ và thân cây ngô, được sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi trâu, bò, đặc biệt vào mùa rét khi cỏ khan hiếm Một số hộ nông dân đốt rơm ngoài đồng để làm phân bón, trong khi một số ít sử dụng làm chất đốt Tuy nhiên, hiện tại chưa có hộ nông dân nào tận dụng rơm thừa để trồng nấm, mở ra cơ hội khai thác giá trị từ phế thải nông nghiệp một cách hiệu quả hơn.

Việc vứt bỏ các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu một cách bừa bãi ngoài đồng ruộng xuất phát từ ý thức của người dân còn hạn chế và thiếu ý thức bảo vệ môi trường Đồng thời, tình trạng này còn do thiếu các bể chứa rác thải nguy hại ngoài đồng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nông thôn Nhận thức về ý nghĩa của việc xử lý đúng các chất thải nguy hại là rất cần thiết để giảm thiểu ô nhiễm đất đai và nguồn nước Chính quyền cần tăng cường công tác tuyên truyền, xây dựng các cơ sở thu gom và xử lý rác thải nông nghiệp hiệu quả để bảo vệ môi trường nông thôn bền vững.

Chất thải từ hoạt động chăn nuôi thường được ủ tại nhà hoặc xử lý ngoài đường, đồng ruộng rồi đem bón ruộng để làm phân bón hữu cơ tự nhiên Các gia đình có trang trại chăn nuôi thường thải trực tiếp chất thải của lợn, gà, ngan, vịt xuống ao để nuôi cá, góp phần tái chế nguồn dinh dưỡng và giảm ô nhiễm môi trường Ngoài ra, mỗi khu chăn nuôi thường có từ 3-4 hộ xây dựng bể biogas từ 15 con lợn trở lên để chứa phân, phục vụ nhu cầu chất đốt của gia đình, góp phần giảm khí thải và sử dụng năng lượng sạch.

Rác chợ thường được đổ ở cuối góc chợ, gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan khu vực Trung bình, rác thải chợ sau 2 đến 3 phiên chợ mới được xử lý bằng cách đốt, dẫn đến mùi hôi thối khó chịu ảnh hưởng đến không khí chung Do thiếu phương pháp xử lý hiệu quả, người dân thường tụ tập buôn bán ngoài đường xung quanh chợ, gây cản trở giao thông và làm mất trật tự đô thị.

Rác thải trạm y tế và rác thải xây dựng đổ ra bãi rác thải tự phát cùng với cả rác thải sinh hoạt

Lượng nước thải sinh hoạt, nước từ bể phốt và nước rửa chuồng trại được dẫn vào hệ thống rãnh thoát nước dọc theo đường làng, sau đó đổ ra sông, suối Ngoài ra, nước thải từ trạm xá cũng xả trực tiếp ra hệ thống thoát nước thải sinh hoạt của làng, xã, gây ô nhiễm môi trường.

Các gia đình không có hố ga dẫn nước thải đúng cách khiến lượng bùn lấp chiếm mất 2/3 rãnh thoát nước, dẫn đến tình trạng ngập úng vào mùa mưa lớn Ngoài ra, việc lấn chiếm ao trong làng để xây dựng đất đai, cùng với đường kênh thoát nước không được khơi thông, gây cản trở thoát nước hiệu quả Chính quyền xã cần quản lý chặt chẽ các đầm, ao nuôi cá để đảm bảo hệ thống thoát nước hoạt động tốt, tránh tình trạng ngập lụt do không có tuyến thoát nước phù hợp.

4.2.2 Nhận thức của người dân về các vấn đề môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường

Hầu hết các hộ gia đình nhận thông tin về VSMT, nhưng nguồn này không được cung cấp thường xuyên Thông tin về VSMT thường chỉ được quan tâm khi xảy ra các dịch bệnh như cúm gà, dịch tả, và người dân chủ yếu tiếp nhận qua đài, tivi, phát thanh của địa phương Hiện tại, xã chưa có các phong trào tuyên truyền, cổ động về VSMT, thể hiện sự chưa quan tâm đáng kể đến vấn đề môi trường Điều này dẫn đến người dân có rất ít kiến thức về môi trường nói chung và VSMT nói riêng.

* Về nguồn tiếp nhận thông tin về môi trường và các hoạt động bảo vệ môi trường

Bảng 4.11 Thống kê nguồn tiếp nhận các thông tin, hiểu biết về môi trường

TT Nguồn tiếp nhận Số hộ Tỷ lệ

Gần như toàn bộ hộ dân khảo sát đều nhiệt tình tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường khi có sự phát động của địa phương Tuy nhiên, nhận thức về môi trường của người dân vẫn còn khá đơn giản, chủ yếu tập trung vào các vấn đề như rác thải, khói bụi và nước thải ô nhiễm Chính sách xã hội mới chủ yếu áp dụng phương pháp sản xuất VAC, chưa triển khai các biện pháp giúp bà con giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nhưng vẫn kiểm soát dịch hại hiệu quả nhờ phương pháp quản lý tổng hợp IPM.

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về việc cần làm gì để cải thiện điều kiện VSMT thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4.12 Ý kiến về việc cải thiện điều kiện môi trường Ý kiến Số hộ Tỷ lệ (%)

Quản lý của nhà nước 15 15 Ý kiến khác 0 0

Qua bảng 4.12 ta thấy để cải thiện điều kiện môi trường nông thôn có các ý kiến như sau: 15% ý kiến cho rằng cần có sự quản lý của nhà nước

Có 52% ý kiến cho rằng cần nâng cao nhận thức của người dân, có 33% ý kiến cho rằng cần phải thu gom chất thải

Nhận thức về vệ sinh môi trường (VSMT) của mỗi người khác nhau, có người cho rằng chỉ có nhà nước và các cơ quan chức năng mới có thể cải thiện môi trường, trong khi đó, nhiều người nhấn mạnh tầm quan trọng của ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân để bảo vệ môi trường Một số ý kiến đề xuất xây dựng các dịch vụ thu gom chất thải nhằm duy trì môi trường sạch đẹp hơn Để đạt được hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng môi trường, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa cộng đồng, chính quyền địa phương và sự quản lý của nhà nước.

Đề xuất các biện pháp quản lý môi trường tại xã Mỹ Thuận – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ

Xã Mỹ Thuận là khu vực đang có sự phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng chưa cao chủ yếu do người dân chủ yếu làm nông nghiệp và ít có nghề phụ Các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn chưa phát triển đáng kể, trong khi điều kiện vật chất và hạ tầng còn yếu kém Việc người dân sử dụng không hợp lý các loại hóa chất và phân bón trong nông nghiệp đang ảnh hưởng đến môi trường nông thôn, nhưng chưa gây ra tác động xấu lớn do quá trình phát triển kinh tế vẫn còn hạn chế Tuy nhiên, công tác quản lý môi trường còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và cuộc sống của người dân trong tương lai Vì vậy, cần thiết phải đưa ra các giải pháp toàn diện nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường tại địa phương.

+ Tăng cường công tác quản lý giám sát các biến động môi trường đến từng hộ gia đình

Người dân trong xã chủ yếu sử dụng nước giếng khơi, do đó cần xây dựng chuồng nuôi gia súc, gia cầm cách xa khu vực giếng để đảm bảo vệ sinh Đồng thời, việc xây dựng các mô hình xử lý nước thải, phân từ chuồng nuôi như hệ thống hầm Biogas là rất cần thiết để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và bảo vệ nguồn nước sinh hoạt cho cộng đồng.

+ Xây dựng các hố rác tập chung của làng xã, hình thành các dịch vụ thu gom rác trên địa bàn xã

+ Xử lý nghiêm các hoạt đông gây ra ô nhiễm môi trường, thải nước thải và rác thải không đúng quy định

+Áp dụng biện pháp kinh tế trong quản lý môi trường, khuyến khích người dân thu gom và phân loại rác thải tại nguồn

Chính quyền địa phương nên triển khai chính sách hỗ trợ tài chính và kỹ thuật đối với các hộ gia đình gặp khó khăn để xây dựng các công trình vệ sinh, cấp nước sạch đạt tiêu chuẩn vệ sinh Việc này nhằm nâng cao điều kiện sống, bảo đảm sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy phát triển bền vững ở địa phương Hỗ trợ này góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường, cải thiện chất lượng cuộc sống của các hộ dân và đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn cho cộng đồng.

Hội nhà tiêu hợp vệ sinh là tổ chức gồm các hộ gia đình chia sẻ mục tiêu xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, trong đó các hộ đóng góp tiền để hỗ trợ nhau xây dựng và duy trì các nhà tiêu đảm bảo vệ sinh sạch sẽ cho cộng đồng.

+ Xây dựng các hố chứa chai, lọ, túi nilon…chứa thuốc bảo vệ thực vật trên cánh đồng để đốt hoặc xử lý đảm bảo VSMT

4.3.2 Đề xuất giải pháp thu gom rác thải

Hiện nay, xã Mỹ Thuận chưa có tổ thu gom rác thải hoặc bãi tập kết, xử lý rác thải tập trung, gây ra tình trạng tồn đọng rác trong cộng đồng Với lượng rác thải sinh hoạt hàng ngày ước tính khoảng 3.644kg, cùng với rác thải từ hoạt động chăn nuôi, trồng trọt, xây dựng, việc tổ chức thu gom và xử lý rác thải là cấp thiết để đảm bảo vệ sinh môi trường Do đó, xã cần xây dựng hệ thống thu gom rác thải hiệu quả và các điểm tập kết phù hợp để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

- Quy hoạch bãi tập kết rác thải tập trung:

Bãi tập kết rác thải sẽ được xây dựng tại khu Mịn 2, xã Mỹ Thuận, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Khu vực này có một bãi đất trống phù hợp để đảm bảo các yêu cầu xây dựng bãi tập kết rác thải, góp phần nâng cao công tác xử lý chất thải và bảo vệ môi trường địa phương.

- Gần các nguồn sản sinh các chất thải rắn

- Gần đường giao thông chính ngắn nhất nối nguồn sản sinh chất thải rắn và khu xử lý

- Đảm bảo các khoảng cách ly vệ sinh tới các khu vực lân cận, ở cuối hướng gió chủ đạo

- Diện tích đất đai rộng để xây dựng trạm trung chuyển

- Khu vực này có mực nước ngầm thấp, xa các nguồn nước mặt

Bãi tập kết và trung chuyển rác lộ thiên có quy mô khoảng 4 ha, được giới hạn bởi tường bao gạch không nung cao 2m để đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường Cổng vào rộng 5m thuận tiện cho xe vận chuyển rác ra vào một cách dễ dàng và thuận lợi Đường nội bộ bên trong bãi rộng rãi, giúp xe di chuyển thuận tiện, nâng cao hiệu quả xử lý rác thải.

Sân được làm bằng bê tông dày 20cm và đổ bê tông nền dày 10cm, cùng hệ thống thoát nước và thu gom nước rỉ từ rác, mưa hoặc chảy tràn vào hố ga để xử lý sơ bộ trước khi chảy vào hệ thống thoát chung Bên ngoài tường bao, trồng cây xanh để che chắn môi trường Rác thải sau khi tập kết sẽ được phun chế phẩm EM nhằm tiêu diệt vi sinh vật gây thối, giảm phát sinh khí H2S, SO2, NH3, giúp khử mùi hôi nhanh chóng, đồng thời giảm số lượng ruồi, muỗi và các côn trùng khác Rác hữu cơ xử lý bằng EM chỉ sau một ngày đã hết mùi, mùn hoá diễn ra rất nhanh, và xe rác được rửa sạch sau khi đổ rác tại bãi tập kết.

- Thành lập tổ thu gom rác để thu gom toàn bộ lƣợng rác thải phát sinh hàng ngày của địa phương về bãi tập kết rác thải tập trung

Tổ chức thu gom rác thải chịu trách nhiệm thu gom toàn bộ lượng chất thải rắn phát sinh của xã, đảm bảo không bỏ sót bất kỳ chất thải nào Sau đó, chất thải được đưa về bãi tập kết của xã để tiến hành phân loại và xử lý một cách hợp vệ sinh, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao ý thức cộng đồng về vệ sinh an toàn.

Các loại chất thải y tế phát sinh từ trạm y tế xã phải được thu gom và tập trung tại khu vực riêng biệt của bãi tập kết rác thải, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh Sau đó, cần liên hệ và hợp đồng với các bệnh viện đa khoa tỉnh để thực hiện việc đốt chất thải y tế một cách triệt để, đảm bảo quá trình xử lý an toàn và hợp vệ sinh.

Các loại chất thải sinh hoạt hàng ngày trong các khu dân cư sẽ được thu gom định kỳ theo từng khu vực dọc theo trục đường chính trong ngày để đảm bảo vệ sinh môi trường Hiện tại, chưa có bãi chôn lấp hoặc xử lý rác thải tập trung, do đó, đề nghị UBND huyện và xã cấp một khu đất để xây dựng bãi tập kết, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt nhằm nâng cao công tác quản lý và bảo vệ môi trường địa phương.

Khuyến khích người dân phân loại chất thải rắn tại hộ gia đình để nâng cao hiệu quả thu gom và xử lý chất thải Việc phân loại chất thải sinh hoạt thành ba nhóm chính là bước quan trọng giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả tái chế Để đạt được mục tiêu này, cần nâng cao ý thức của cộng đồng về việc phân loại đúng cách tại nguồn, góp phần xây dựng môi trường sống sạch đẹp và bền vững.

Chất thải sinh hoạt có chứa các chất hữu cơ dễ phân huỷ

Chất thải sinh hoạt có chứa các chất vô cơ và các chất khó phân huỷ Chất thải nguy hại

Các hộ gia đình cần phân loại chất thải ngay từ nguồn bằng cách sử dụng thùng, xô, chậu, túi nilon riêng biệt để chứa các loại rác thải khác nhau, giúp giảm thiểu việc sử dụng túi nilon trong sinh hoạt Việc hạn chế sử dụng túi nilon và không buộc nút khi chứa rác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phân loại và xử lý chất thải hiệu quả hơn.

* Rác sau khi đƣợc đƣa về bãi tập trung sẽ đƣợc phân loại và xử lý

Rác thải có thành phần hữu cơ sau khi được phân loại sẽ được ủ làm phân vi sinh Công nghệ ủ sử dụng các chủng vi sinh và enzyme để phân huỷ chất thải rắn hữu cơ, giúp chuyển đổi rác thải thành phân bón hữu ích Quá trình này không chỉ giảm thiểu lượng rác thải, mà còn góp phần bảo vệ môi trường và tạo ra nguồn phân bón tự nhiên hiệu quả.

- Rác thải có thể tái chế đƣợc phân loại và thu gom riêng sau đó tập kết và bán tái chế cho các cơ sở tái chế

- Rác thải vô cơ và các loại chất thải khác không thể tái chế sẽ đem đi chôn lấp hợp vệ sinh

Các loại chất thải nguy hại sau khi được phân loại đúng quy định sẽ được liên hệ với các cơ sở xử lý chất thải nguy hại của tỉnh hoặc các đơn vị xử lý chất thải công nghiệp phù hợp Việc phân loại chính xác giúp đảm bảo chất thải nguy hại được xử lý một cách hợp vệ sinh, an toàn cho môi trường và cộng đồng Đồng thời, việc liên hệ và chuyển giao chất thải đúng quy trình còn giảm thiểu các rủi ro về ô nhiễm và tác động tiêu cực đến sức khỏe người dân.

4.3.3 Truyền thông, giáo dục về bảo vệ môi trường

Ngày đăng: 14/08/2023, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. BộY Tế(2009), Quy chuẩn kỹ thuận quốc gia về chất lượng nước ăn uống/QCVN01:2009/BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: BộY Tế(2009)
Tác giả: BộY Tế
Năm: 2009
4. Bộ tài nguyên môi trường(2008), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt/QCVN08:2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tài nguyên môi trường(2008)
Tác giả: Bộ tài nguyên môi trường
Năm: 2008
5. Bộ tài nguyên môi trường(2008), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm/QCVN09:2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tài nguyên môi trường(2008)
Tác giả: Bộ tài nguyên môi trường
Năm: 2008
7. Hoàng Văn Hùng (2008), Bài giảng Ô nhiễm Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Ô nhiễm Môi trường
Tác giả: Hoàng Văn Hùng
Năm: 2008
8. Phạm Ngọc Quế (2003), Vệ sinh môi trường và phòng bệnh ở Nông thôn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường và phòng bệnh ở Nông thôn
Tác giả: Phạm Ngọc Quế
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
1. Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, 86% dân số nông thôn đƣợc sử dụng nước sạch, (30/11/2015) Khác
3. BộY Tế(2009), Quy chuẩn kỹ thuận quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt/QCVN02:2009/BYT Khác
6. Đặng Kim Chi (2011), Chất thải rắn nông thôn, nông nghiệp và làng nghề thực trạng và giải pháp, Viện Khoa học và Kỹ thuật môi trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Khác
9. Ứng dụng mô hình lọc nước ở quy mô hộ gia đình, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang Khác
10. Xã Mỹ Thuận (2014), Báo cáo thuyết minh bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 xã Mỹ Thuận – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Vị trí các điểm lấy mẫu tại xã Mỹ Thuận - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Bảng 2.1. Vị trí các điểm lấy mẫu tại xã Mỹ Thuận (Trang 18)
Hình 4.1. Tỷ lệ các HGĐ có thiết bị lọc nước - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Hình 4.1. Tỷ lệ các HGĐ có thiết bị lọc nước (Trang 26)
Bảng 4.2. Đánh giá cảm quan của người dân về nguồn nước - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Bảng 4.2. Đánh giá cảm quan của người dân về nguồn nước (Trang 27)
Bảng 4.3.  Kết quả phân tích các thông số trong mẫu nước sinh - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Bảng 4.3. Kết quả phân tích các thông số trong mẫu nước sinh (Trang 28)
Bảng 4.4. Tỷ lệ hộ gia đình có cống thải - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Bảng 4.4. Tỷ lệ hộ gia đình có cống thải (Trang 30)
Bảng 4.5. Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp qua một số năm - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Bảng 4.5. Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp qua một số năm (Trang 33)
Bảng 4.6. Tổng lượng phân gia súc, gia cầm thải ra môi trường - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Bảng 4.6. Tổng lượng phân gia súc, gia cầm thải ra môi trường (Trang 37)
Bảng 4.8. Tỷ lệ kiểu nhà vệ sinh - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Bảng 4.8. Tỷ lệ kiểu nhà vệ sinh (Trang 39)
Bảng 4.11. Thống kê nguồn tiếp nhận các thông tin, hiểu biết về - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Bảng 4.11. Thống kê nguồn tiếp nhận các thông tin, hiểu biết về (Trang 44)
Bảng 4.12. Ý kiến về việc cải thiện điều kiện môi trường - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Bảng 4.12. Ý kiến về việc cải thiện điều kiện môi trường (Trang 45)
Hình 4.2. Cấu tạo bể lọc cát quy mô hộ gia đình - Thực trạng môi trường tại xã mỹ thuận   huyện tân sơn   tỉnh phú thọ
Hình 4.2. Cấu tạo bể lọc cát quy mô hộ gia đình (Trang 50)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w