TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu Bướm ngày trên thế giới
Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) gồm có Bướm ngày và Bướm đêm, là nhóm côn trùng được rất nhiều người quan tâm Trên thế giới có khoảng
Bướm là loại côn trùng có hơn 170.000 loài với mức độ đa dạng cao so với các loại côn trùng khác Nhiều quốc gia trên thế giới, như Anh, Pháp, Mỹ, Đức và Nhật Bản, đều có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về loài bướm Các nghiên cứu này không chỉ tập trung vào thành phần loài mà còn chú trọng đến sinh thái, sinh học cũng như các hoạt động bảo tồn bướm nhằm duy trì đa dạng sinh học.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa bướm và môi trường là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn của các nhà sinh thái học và sinh học Hiện nay, môi trường sống của các loài sinh vật, đặc biệt là bướm và côn trùng, đang bị phá huỷ nghiêm trọng do sự thu hẹp diện tích rừng, chặt phá rừng và khai thác gỗ Côn trùng, dù có kích thước nhỏ, nhưng sinh khối của chúng rất lớn và đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, là nguồn dưỡng chất dồi dào giúp duy trì sự sống của nhiều loài động vật khác như chim, lưỡng cư, bò sát, nhện và các loài côn trùng ăn thịt.
Bướm là nhóm động vật đa dạng, phong phú, phổ biến trên hầu hết các hệ sinh thái trên cạn, góp phần quan trọng trong đa dạng sinh học (New, 1997) Chúng gần gũi với con người và được yêu thích nhờ giá trị văn hóa và tính thẩm mỹ cao Nhu cầu sử dụng bướm cho mục đích khoa học và thương mại ngày càng lớn, với hàng triệu mẫu bướm được thu thập và buôn bán mỗi năm trên toàn thế giới Bướm còn được sử dụng trong trang trí, làm quà lưu niệm, và làm bộ sưu tập, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp nuôi và bảo tồn bướm.
Bướm ngày đang đối mặt với nhiều nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên đặc biệt Trong đó, bốn nguyên nhân chính gây áp lực và đe dọa các loài bướm bao gồm sự phá hủy và thay đổi sinh cảnh, ô nhiễm môi trường, sử dụng thuốc trừ sâu và các hoạt động khai thác đất đai không bền vững Những tác động này không chỉ làm giảm số lượng và đa dạng của bướm ngày mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái tự nhiên Việc bảo vệ sinh cảnh và giảm thiểu ô nhiễm là yếu tố then chốt để duy trì sự tồn tại của các loài bướm quý hiếm này.
3 nhiễm môi trường; Các loài ngoại lai; Khai thác thương mại ( New et
Các loài bướm có phân bố hẹp, phụ thuộc chặt chẽ vào rừng và dễ bị tổn thương do sự thay đổi của môi trường sống, do đó việc bảo vệ rừng là yếu tố then chốt để giữ gìn chúng Nghiên cứu của Thomas (1991) tại Costa Rica cho thấy các loài bướm phân bố hạn chế về địa lý có khả năng thích nghi kém hơn với môi trường biến đổi so với các loài có phạm vi phân bố rộng, qua đó nhấn mạnh tác động tiêu cực của phá rừng đối với sự tồn tại của chúng Thêm vào đó, Thomas và Marllorie (1985) chỉ ra rằng đa dạng loài bướm liên quan mật thiết với độ che phủ thực vật mặt đất và các giai đoạn diễn thế của rừng, cho thấy rằng chiến lược bảo tồn hiệu quả nhất là bảo vệ nhiều loại sinh cảnh khác nhau Để bảo tồn bướm cũng như các loài sinh vật khác, cần xác định chính xác vị trí và mối quan hệ của chúng với các loài xung quanh, nắm bắt phân bố địa lý, điều kiện sinh thái cùng yêu cầu về sinh cảnh, và càng nhiều thông tin về sinh học của loài càng tốt (Schappert, 2000).
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về sinh học và bảo tồn bướm, đặc biệt về xác định cây chủ, vòng đời, tập tính và phân bố của các loài bướm Các nghiên cứu này có giá trị khoa học cao, giúp hiểu rõ hơn về quá trình sinh học và cách bảo vệ các loài bướm quý hiếm Trong số đó, nhiều loài bướm đã được ghi trong danh lục của CITES và IUNI, nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác nghiên cứu và bảo tồn các loài có nguy cơ tuyệt chủng.
Nghiên cứu Bướm ở Việt Nam
Các nghiên cứu về côn trùng chủ yếu tập trung vào nhóm côn trùng có hại, các biện pháp phòng trừ và thiên địch, trong khi những nghiên cứu về côn trùng có lợi mới chỉ dừng lại ở mức đánh giá kinh tế mà chưa chú ý đến nhiều tác dụng khác của chúng Các nghiên cứu cơ bản về côn trùng Việt Nam vẫn còn hạn chế, chủ yếu ở dạng báo cáo, tài liệu giảng dạy và trong phạm vi hẹp.
Hiện tại, tại Việt Nam vẫn chưa có tài liệu đầy đủ về các loài côn trùng để phục vụ công tác nghiên cứu, tra cứu và ứng dụng Việc này gây khó khăn trong việc xác định, phân loại và khai thác tiềm năng của các loài côn trùng đại diện Do đó, cần có các dự án nghiên cứu và tài liệu chuyên sâu hơn để nâng cao kiến thức và ứng dụng côn trùng trong các lĩnh vực khác nhau tại Việt Nam.
Nghiên cứu điều tra côn trùng miền Bắc Việt Nam của Viện Bảo vệ Thực Vật năm 1976 đã xác định tổng cộng 181 loài bướm thuộc 9 họ khác nhau Dự án này có sự hợp tác của các nhà côn trùng học đến từ Trung Quốc và Việt Nam, nhằm nâng cao hiểu biết về đa dạng sinh học côn trùng tại khu vực phía Bắc Kết quả này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các chiến lược bảo vệ và quản lý nguồn lợi sinh vật tự nhiên.
Các khảo sát về bướm chủ yếu được thực hiện tại các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam Nhiều nghiên cứu về bướm do các nhà côn trùng quốc tế từ Nhật Bản, Liên Bang Nga, Cộng Hòa Séc và các quốc gia khác thực hiện Tại Việt Nam, các hoạt động nghiên cứu và khảo sát về bướm tập trung nhiều ở Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga (VRTC) và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (IEBR).
Các công trình xuất bản sách về Bướm thường kèm theo ảnh minh họa, giúp người đọc dễ nhận biết các loài Bướm hơn, mặc dù số lượng còn hạn chế ở từng Vườn quốc gia, vùng miền, hoặc toàn bộ Việt Nam Các nghiên cứu về Bướm tại Vườn quốc gia Cúc Phương đã đóng góp đáng kể, như các tác phẩm của Lương Văn Hào et al (2004) và Ikeda et al (1998, 1999, 2000) Ngoài ra, sách về các loài Bướm phổ biến ở Việt Nam của Devyatkin và Monastyrskii (2001) cũng rất hữu ích Nghiên cứu tại miền Trung Việt Nam cho thấy sự phân bố của Bướm theo độ cao thể hiện đa dạng về loài và phong phú của quần thể Bướm ở các đai cao thấp hơn so với các đai thấp, như được Vũ Văn Liên (2005) trình bày.
Các nghiên cứu về bướm ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc xây dựng danh sách các loài, trong khi các nghiên cứu về sinh học và sinh thái của bướm còn rất hạn chế Tuy nhiên, đã có một số công trình do các nhà nghiên cứu nước ngoài thực hiện, như nghiên cứu của Koiwaya et al (2003) về vòng đời của bốn loài bướm thuộc giống Theclini (Lycaenidae) ở Pia Oac (Cao Bằng) và SaPa (Lào Cai), những loài chỉ sinh sống tại các vùng núi cao.
Tạ Huy Thịnh và Hoàng Vũ Trụ (2004) đã tiến hành nghiên cứu so sánh độ tương đồng về thành phần loài bướm giữa các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên Nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về đa dạng sinh học của các khu bảo tồn, góp phần vào việc bảo tồn và quản lý bền vững các loài bướm tại Việt Nam Kết quả cho thấy mức độ đồng nhất cao trong thành phần loài bướm giữa các khu vực, đồng thời cũng đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự đa dạng của loài Các phát hiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập các chiến lược bảo tồn phù hợp, nhằm duy trì đa dạng sinh học của hệ sinh thái tự nhiên.
Yếu tố địa lý và khí hậu đóng vai trò quyết định trong sự đa dạng thành phần loài bướm tại các khu vực khác nhau ở Việt Nam Tác giả Tạ Huy Thịnh cùng các cộng sự đã nghiên cứu côn trùng, bao gồm cả bướm, dọc theo tuyến đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên, và nhận thấy chỉ số đa dạng thấp do phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ sinh thái nông nghiệp Độ cao cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thành phần loài bướm, góp phần tạo ra sự tương đồng trong phân bố loài giữa các khu vực khác nhau.
Nghiên cứu của Vũ Văn Liên và Đặng Thị Đáp (2002) chỉ ra rằng rừng thứ sinh tại Vườn quốc gia Cúc Phương có thành phần loài bướm phong phú hơn so với rừng nguyên sinh Trong khi đó, Spitzer et al (1993) ghi nhận rằng độ đa dạng bướm khác nhau tùy thuộc vào loại sinh cảnh, với các sinh cảnh có thảm thực vật đa dạng tự nhiên thường có tính đa dạng bướm cao hơn so với các sinh cảnh rừng thứ sinh.
Nghiên cứu về biến động theo mùa của Bướm tại Việt Nam còn rất hạn chế, nhưng đã có một số công trình đáng chú ý Monastyrskii (2002) đã nghiên cứu thành phần loài Bướm tại các vườn quốc gia như Ba Bể, Hoàng Liên and Cát Tiên, phát hiện có hai đỉnh cao về đa dạng loài: đỉnh thứ nhất vào tháng 4 và tháng 5, hoặc tháng 6 ở một số vườn; đỉnh thứ hai rơi vào tháng 10 và tháng 12 tại các vườn khác Các nhà côn trùng học đều nhận thấy, ở miền Bắc Việt Nam, Bướm thường phong phú nhất vào tháng 5 và tháng 10, phù hợp với các nghiên cứu tại Mê Linh, Vĩnh Phúc của Thái Đình et al (2005), khi xác định thành phần loài cao nhất vào tháng 5 và tháng 10 Tuy nhiên, nếu trong các vườn quốc gia như Ba Bể hay Hoàng Liên có thành phần loài cao vào tháng 12, điều này lại chưa phù hợp với các quy luật chung của khu vực.
Nghiên cứu về sinh học, sinh thái và bảo tồn bướm tại Vườn quốc gia Tam Đảo cung cấp những số liệu ban đầu quan trọng về đa dạng sinh học của loài này trong khu vực Các kết quả này góp phần nâng cao hiểu biết về đặc điểm sinh thái, tập tính và mức độ bảo tồn của bướm, từ đó thúc đẩy các hoạt động bảo vệ và duy trì hệ sinh thái tự nhiên của Vườn quốc gia Tam Đảo.
9 loài Bướm (họ Papilionidae, Pieridae, và Nymphalidae) của mottj Đặng Thái Đáp (chủ biên) và Vũ Văn Liên, Đặng thị Hường , Nguyễn Thế
Nghiên cứu Bướm ở Vườn quốc gia Xuân Sơn
Vườn Quốc Gia Xuân Sơn sở hữu rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, tạo điều kiện thuận lợi cho sự đa dạng của khu hệ côn trùng, đặc biệt là hệ Bướm Tuy nhiên, nghiên cứu về hệ Bướm tại khu vực này còn hạn chế, và theo kết quả điều tra năm 2008 của Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật, Vườn Quốc Gia Xuân Sơn đã phát hiện hơn 551 loài côn trùng thuộc 327 giống.
66 họ trong 7 bộ, một số loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam
Kết quả điều tra tại Vườn quốc gia đã bổ sung 64 loài côn trùng mới vào hệ sinh thái côn trùng Việt Nam, bao gồm các loài như Như: Byasacrassipes Oberthur, Troides helena (Lin), và Jumnos ruckeri tonkienensis Nagai Các phát hiện này góp phần làm phong phú thêm kiến thức về đa dạng sinh học côn trùng trong khu vực, cung cấp dữ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn và nghiên cứu khoa học.
Luận văn Thạc sĩ của Bùi Xuân Trường năm 2013 đã nghiên cứu đặc điểm của khu hệ Bướm ngày tại Vườn quốc gia Xuân Sơn Nghiên cứu này đã xác định các đặc điểm cơ bản của khu hệ Bướm ngày, làm nền tảng cho việc đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả tài nguyên côn trùng rừng trong khu vực.
Tóm lại: Phần lớn các nghiên cứu ở Việt Nam nói chung và ở Vườn
Quốc Gia Xuân Sơn chủ yếu tập trung vào xây dựng danh sách các loài, trong khi nghiên cứu về sinh học và sinh thái của Bướm còn hạn chế, đặc biệt về đặc điểm sinh vật học và tình trạng của các loài Bướm cũng như sự đa dạng thành phần loài ở các khu vực khác nhau Việc ứng dụng chỉ số đa dạng sinh học để định lượng tính đa dạng của các loài sinh vật, bao gồm Bướm, vẫn chưa được thực hiện đủ nhiều Việc xác định các loài Bướm chỉ thị phản ánh biến đổi môi trường, tình trạng các loài quý hiếm, đặc hữu có giá trị bảo tồn trong khu vực nghiên cứu sẽ là nền tảng quan trọng cho công tác giám sát môi trường, quản lý bảo tồn, cũng như đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với đa dạng sinh học tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Góp phần tăng tính đa dang sinh học loài Bướm ngày tại khu vực nghiên cứu.
Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá bổ sung tính đa dạng sinh học của loài Bướm ngày ở khu vực nghiên cứu
- Đề xuất được các giải pháp bảo tồn các loài Bướm ngày ở Vườn quốc gia Xuân Sơn.
Đối tƣợng nghiên cứu
Pha trưởng thành của các loài trong bộ cánh vảy hoạt động ban ngày.
Nội dung nghiên cứu
Xác định thành phần loài Bướm ngày trong khu vực nghiên cứu
Đánh giá mức độ đa dạng của các loài Bướm ngày
Đa dạng thành phần loài
Đa dạng tập tính sinh hoạt
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài Bướm ngày chính cảu khu vực nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp bảo vệ nhằm tăng tính sinh học của các loài Bướm trong khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Công tác chuẩn bị điều tra bao gồm
Chuẩn bị kiến thức về đặc điểm hình thái và tập tính của các loài Bướm ngày giúp việc nhận dạng chính xác và hiệu quả hơn trong quá trình điều tra Hiểu rõ đặc điểm sinh thái của từng loài Bướm, bao gồm môi trường sống, thói quen ăn uống và tập quán sinh sản, đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu và bảo tồn các loài Bướm Trang bị kiến thức về cách phân biệt các loài Bướm dựa vào các đặc điểm nhận dạng như màu sắc, hình thái cánh và các đặc điểm sinh thái sẽ nâng cao hiệu quả của chương trình điều tra tại khu vực nghiên cứu.
Để chuẩn bị nhân lực hiệu quả cho công tác điều tra, cần xác định rõ địa bàn điều tra gồm diện tích rừng, đực điểm và cấu trúc rừng Đặc biệt, những tuyến điều tra khó khăn và phức tạp đòi hỏi có người có hiểu biết sâu về địa hình khu vực để thuận tiện cho việc thu thập số liệu chính xác Việc chuẩn bị nhân lực phù hợp không chỉ nâng cao hiệu quả công tác mà còn đảm bảo độ chính xác của dữ liệu thu thập trong quá trình điều tra.
Trong kế hoạch điều tra, cần xác định rõ các thiết bị và dụng cụ cần thiết như bản đồ, mấy ảnh, bảng biểu, cùng các dụng cụ hỗ trợ như vợt bắt Bướm, bao giấy và lọ đựng mẫu để đảm bảo công tác chuẩn bị diễn ra thuận lợi và chính xác.
Vợt bắt Bướm được làm bằng vải màn dạng túi hình thang, có đường kính miệng khoảng 30cm, đáy 20cm, chiều dài từ 40-50cm và cán dài khoảng 1m Mép vợt tròn cứng, thường được làm bằng kim loại có đường kính từ 2-4mm và chắc chắn gắn vào cán vợt, giúp dễ dàng bắt và kiểm soát bướm.
Bao giấy giúp bảo vệ mẫu khỏi bị hỏng, rách nát và duy trì trạng thái ban đầu của mẫu Kích thước của bao giấy phù hợp với kích thước của mẫu vật, đảm bảo sự an toàn và bảo vệ tối đa Việc chọn lựa bao giấy phù hợp là yếu tố quan trọng trong quá trình bảo quản mẫu.
Hình 2.02: Cách gấp bao giữ mẫu Đầu tiên ta gấp chéo đường giấy theo đường chéo (1) sao cho 2 đầu giấy thừa ra bằng nhau (2) và (3) chiều rộng từ 2÷3 cm
Sau đó gấp tiếp 2 đầu giấy (2) và (3) vào Gấp 2 góc giấy (4) và (5) ta sẽ đƣợc bao giấy giữ mẫu (6) Mỗi bao giấy chỉ chứa một mẫu vật
Thường dùng lọ nhựa tròn đường kính miệng 20cm, cao 25cm để đựng mẫu sau khi bắt, miệng lọ bịt bằng tấm vải màn để thoáng khí
2.4.2 Phương pháp điều tra Để xác định thành phần loài và đánh giá tính đa dạng của các loài Bướm ngày cần tiến hành thu thập mẫu vật trong khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành 4 đợt điều tra dự kiến thời gian nhƣ sau:
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Kế thừa các taì liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở khu vực nghiên cứu
Xuân Sơn – Phú Thọ là địa phương nổi bật trong công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên côn trùng, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học Critical for sustainable conservation, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Phiến năm 2005 Bài luận thạc sĩ của Bùi Xuân Trường tập trung nghiên cứu hệ sinh thái bướm ngày tại Vườn quốc gia Xuân Sơn – Phú Thọ, nhằm nâng cao nhận thức về giá trị bảo tồn của các loài côn trùng trong khu vực Các công trình này đều nhấn mạnh vai trò của việc bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên để duy trì nguồn gen quý giá và thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái bền vững tại tỉnh Phú Thọ.
Kế thừa một số tài liệu khác trên một số trang Web
2.4.2.2 Phương pháp điều tra theo tuyến
Xác định tuyến điều tra
Các tuyến điều tra cần được thiết kế để nhanh chóng thu thập kết quả đại diện cho khu vực nghiên cứu Điều này đòi hỏi các tuyến phải đi qua các dạng sinh cảnh chính và các dạng địa hình khác nhau, giúp đảm bảo tính địa diện của dữ liệu thu thập được Việc này đảm bảo rằng kết quả điều tra phản ánh đầy đủ và chính xác đặc điểm của khu vực nghiên cứu, hỗ trợ cho các hoạt động quản lý và bảo tồn hiệu quả.
Các dạng sinh cảnh được chọn dựa trên tiêu chuẩn chung là các dạng sinh cảnh điển hình của khu vực Trong khu vực nghiên cứu, đã xác định được một số dạng sinh cảnh tiêu biểu như rừng tự nhiên, thảm cỏ, vùng đất trống và các khu vực canh tác nông nghiệp, phản ánh đặc trưng tự nhiên và hoạt động sử dụng đất của địa phương.
1) Rừng tái sinh phục hồi (SC1)
2) Trảng cỏ cây bụi tiếp giáp khu dân cƣ (SC2)
3) Rừng kín thường xanh trên núi đá vuôi (SC3)
4) Rừng kín thường xanh trên đồi núi thấp (SC4)
5) Rừng trồng hỗn giao (SC5)
6) Rừng kín thường xanh ven suối (SC6)
Bảng 2.01 Đặc điểm của các sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu
SC 01 Đây là khu vực rừng tái sinh phục hồi sau nương rẫy tiếp giáp nương rẫy trồng cây nông nghiệp chủ yếu là sắn Rừng có cấu trúc đơn giản chỉ có 1 tầng cây gỗ Thực vật chủ yếu nhƣ: Thôi ba, bã đậu, Hu đay, Ba gạc, Xoan nhừ, và một số loài cây bụi nhƣ chít, Lau, Mua, Cỏ lào, Dây leo,
SC 02 Trảng cỏ, cây bụi tiếp giáp với khu vực có dân cƣ sinh sống có cây ăn quả và hoa màu Thực vật chủ yếu gồm: Mít, Táo,
Na, Nhãn, xoài, Thực bì chủ yếu gồm: lúa nước, cỏ tranh, các cây bụi nhỏ nhƣ : Mua, mò hoa trắng, Cỏ lào, khoai môn,
Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi (SC03) có hệ thực vật phong phú và ít bị tác động, thể hiện qua các loài thực vật chỉ thị như Lát hoa, Nghiến, Sâng, Đinh, cùng thảm tươi phổ biến gồm Gai, Thài lài, Ráy, Dương xỉ Trong khi đó, rừng kín thường xanh trên đồi núi thấp (SC04) cũng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, với đặc điểm giống như rừng trên núi đá vôi nhưng có sự khác biệt về điều kiện địa lý và thành phần thảm thực vật.
Khu vực IIIA1 có độ cao trung bình từ 700-800 mét trở lên so với mực nước biển, tạo điều kiện lý tưởng cho hệ sinh thái rừng phát triển Rừng được chia thành 4 tầng sinh thái riêng biệt, với chủ yếu là các loài cây thuộc họ Dẻ, họ De, họ Sến và họ Ngọc Lan, góp phần duy trì đa dạng sinh học phong phú Tầng cây bụi chủ yếu gồm các loài như xú hương, Mua, Ba gạc, mang lại sự phong phú và đa dạng cho hệ sinh thái rừng Ở tầng thảm tươi, các loài thực vật như Dương xỉ, Ráy và Thiên niên kiện tạo ra một lớp thảm thực vật dày đặc, giúp bảo vệ đất đai và duy trì cân bằng sinh thái trong khu vực.
Khu vực SC05 là vùng rừng trồng hỗn giao chủ yếu gồm các loài cây bản địa như Lát hoa, Chò chỉ, Chò xanh, cùng với rừng trồng thuần loài Keo lai Thảm thực vật trong khu vực chủ yếu là các loài cỏ tranh và cây bụi nhỏ như Mua, tạo điều kiện thuận lợi cho đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.
Rừng kín thường xanh ven suối ở độ cao từ 700m trở lên đang bị tác động mức trung bình, trong tình trạng rừng IIIA1 Các loài thực vật chủ yếu tại đây bao gồm Sâng, Trai lý, Bứa đá, Gội và một số cây Dẻ, tạo nên hệ sinh thái đa dạng và phong phú Tầng cây bụi có diện tích lớn với các loài như Lấu, Xú hương, Găng, Hồng bì rừng, Đu đủ rừng, Mua và Hèo, góp phần duy trì sự đa dạng của quần thể cây bụi Thảm thực vật tươi phát triển mạnh nhờ vào môi trường ven suối ẩm ướt, nơi thường gặp các loài cây họ Đay và Thu hải đường, tạo nên hệ sinh thái phong phú, quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.
Trên cơ sở đó xác lập 3 tuyến điều tra nhƣ sau:
Tuyến 1: Từ văn phòng Vườn quốc gia đến trạm Quản lý
Tuyến 2: Từ trạm Quản lý bảo vệ rừng Xuân Sơn đến xóm Lấp có chiều dài là 4,5km
Tuyến 3: Từ xóm Lấp đến chân Thác Ngọc, có chiều dài là
Xác định điểm điều tra
Trong quá trình khảo sát, tôi đã tiến hành đi dọc tuyến điều tra khi nhận thấy có sự thay đổi về trạng thái rừng hoặc sinh cảnh, từ đó lập điểm điều tra tại các khu vực này Nhờ cách bố trí các điểm điều tra một cách khoa học, tôi đã xác định được tổng cộng 30 điểm khảo sát phù hợp để đảm bảo việc thu thập dữ liệu chính xác và toàn diện.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN
Giới thiệu chung về Vườn quốc gia
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm về phía Tây nam của huyện Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hoà Bình và Sơn La
- Từ 21 0 03’ đến 21 0 12’ vĩ độ Bắc;
- Từ 104 0 51’ đến 105 0 01’ kinh độ Đông
* Ranh giới Vườn quốc gia:
- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình;
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;
- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Huyện Tân Sơn chủ yếu là đất rừng tự nhiên, núi cao
Vườn quốc gia Xuân Sơn có địa hình đồi núi với độ dốc lớn, bao gồm nhiều khu vực dốc hiểm trở và núi đất xen lẫn núi đá vôi Địa hình nơi đây cao dần từ Đông sang Tây và từ Nam lên Bắc, tạo nên cảnh quan đa dạng và hấp dẫn cho du khách khám phá.
Vườn quốc gia có kiểu địa hình núi trung bình với độ cao trên 700m, chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Voi với chiều cao 1.386m, theo sau là núi Ten cao 1.244m và núi Cẩn cao 1.144m.
Vườn quốc gia chủ yếu có kiểu địa hình núi thấp và đồi, với độ cao dưới 700m chiếm khoảng 65% tổng diện tích Phần lớn diện tích là các dãy núi đất xen lẫn địa hình caster, phân bố chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam của Vườn Địa hình này có độ dốc trung bình từ 25-30 độ và độ cao trung bình khoảng 400m, tạo nên một hệ sinh thái đa dạng và phong phú.
- Địa hình thung lũng, lòng chảo và dốc tụ, chiếm khoảng 5% tổng diện
35 tích tự nhiên của Vườn, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình, phần lớn diện tích này đang đƣợc sử dụng canh tác nông nghiệp.
Điều kiện tự nhiên
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984, Vườn quốc gia Xuân Sơn có quá trình phát triển địa chất phức tạp với cấu trúc dạng phức nếp lồi Khu vực này, còn gọi là vùng đồi núi thấp sông Mua, có đặc điểm nổi bật là nham thạch đa dạng về loại hình và tuổi, phân bố xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp, thể hiện sự phong phú và đa dạng về địa chất của vùng.
Phía Tây và Tây Nam của khu vực nổi bật với các dãy núi thấp và trung bình, được hình thành chủ yếu từ các loại đá trầm tích và đá biến chất có kết cấu hạt mịn.
Từ trung tâm xã Xuân Sơn hướng Tây Bắc, nổi bật dãy núi đá vôi cao nhất là đỉnh Ten đạt 1.244m, với màu trắng xám, cấu tạo khối và có tuổi Triat trung Trong dãy núi đá vôi này, thường xuyên xuất hiện các thung tròn chứa nước chảy trên mặt, như thung xóm Lạng, xóm Dù và xóm Lấp Các thung thường được lấp đầy tàn tích đá vôi và có suối nước quanh năm chảy qua, tạo nên những cảnh quan sinh thái đẹp mắt Những thung tròn này biến thành các cánh đồng phù xa màu mỡ, rộng lớn, góp phần thúc đẩy nông nghiệp địa phương.
3.2.2 Thổ nhưỡng Đƣợc hình thành trong một nền địa chất phức tạp (có nhiều kiểu địa hình và nhiều lọa đá mẹ tạo đất khác nhau) cùng với sự phân hóa khí hậu, thủy văn đa dạng và phong phú nên có nhiều loại đất đƣợc tạo thành trong khu vực này Một số loại đất chính có nhiều giá trị trong khu vực:
Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH) hình thành trong điều kiện mát ẩm, có độ dốc lớn, không có nước đọng và không có kết vón Tầng mùn của loại đất này dày với tỷ lệ mùn cao từ 8-10% Chúng phân bố chủ yếu ở độ cao từ 700 đến 1386 mét, tập trung về phía Tây của Vườn, giáp ranh với huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình) và huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La), phù hợp với điều kiện khí hậu và địa hình của khu vực.
- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (Fe): là loại đất
Vành đệm feralit trưởng thành qua quá trình phát triển mạnh mẽ, đặc trưng rõ rệt, với màu sắc phụ thuộc vào loại đá mẹ và độ ẩm của đất Các loại đất này phân bố chủ yếu dưới độ cao 700m, có thành phần cơ giới nặng, đặc trưng bởi tầng đất dày và ít đá lẫn Đất feralit thường có màu mỡ, phù hợp để phát triển các loại cây lâm nghiệp, góp phần thúc đẩy sự đa dạng sinh học và khai thác nông nghiệp bền vững.
Đất Rangin, còn gọi là đất hình thành trong vùng núi đá vôi, chủ yếu phát triển ở những khu vực có đá vôi cứng và khó phong hóa Do đặc điểm địa hình dốc đứng, quá trình phong hóa bị hạn chế, khiến đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá vôi Đá vôi là loại đá khó phong hóa, dễ bị rửa trôi khi gặp nước mưa, dẫn đến sự phân bố của đất khá đặc thù trong các khu vực này.
- Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng
Đất phù sa DL có đặc điểm là loại đất phì nhiêu, tầng đất dày và màu nâu đặc trưng Thành phần cơ giới chủ yếu là limon, giúp tăng khả năng giữ nước và dinh dưỡng cho cây trồng Hàng năm, đất thường được bồi thêm một lớp phù sa mới dồi dào, duy trì độ màu mỡ cao, phù hợp cho nông nghiệp phát triển bền vững.
- Theo tài liệu quan trắc khí tƣợng thủy văn của trạm khí tƣợng
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân biệt rõ rệt qua hai mùa chính mỗi năm là mùa mưa và mùa khô, tạo điều kiện thuận lợi cho đa dạng sinh học phát triển.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10, chiếm tới 90% tổng lượng mưa trong năm Tháng cao điểm mưa rơi nhiều nhất là tháng 8 và tháng 9 hàng năm Trung bình lượng mưa hàng năm tại khu vực này là khoảng 1.826 mm, trong khi lượng mưa cực đại có thể lên tới 2.453 mm, như đã ghi nhận vào năm 1971.
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khiến nhiệt độ giảm thấp, lượng mưa ít và xuất hiện nhiều sương mù.
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 22 0 C đến là
Tháng 6 và tháng 7 hàng năm ghi nhận nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối, có thể lên tới 40,7°C, trong khi đó, thời gian từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau lại là giai đoạn có nhiệt độ thấp nhất, xuống đến 0,5°C.
- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8 (trên 87%), thấp nhất vào tháng 12 (65%)
Vườn quốc gia Xuân Sơn nổi bật với hệ thống suối tự nhiên gồm Suối Thân, Suối Thang và Suối Chiềng, tất cả đều đổ nước vào hệ thống sông Vèo và sông Dày Hai con sông này hợp lưu tại Minh Đài trước khi chảy ra sông Hồng tại Phong Vực, tạo thành một tuyến sông dài khoảng 120km, trung bình rộng 150m Hệ thống sông này thuận lợi cho hoạt động vận chuyển bằng đường thủy, góp phần phát triển kinh tế khu vực từ thượng nguồn về sông Hồng.
Đặc điểm kinh tế xã hội
3.3.1 Dân số, dân tộc, lao động và phân bố dân cư
Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm gồm 29 thôn thuộc 6 xã: Xuân Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Đồng Sơn, Kim Thượng và Xuân Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Các thôn chủ yếu phân bố dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, nằm ở độ cao từ 200-400 mét so với mực nước biển Khu vực này tập trung chủ yếu ở phía Đông, một phần phía Bắc và Nam của Vườn quốc gia Xuân Sơn, tạo thành vùng sinh thái đa dạng và phong phú.
Theo thống kê năm 2012, dân số tại các xã nằm trong Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm gồm 12.559 người trong 2.908 hộ, trong đó khu vực lõi của Vườn quốc gia có 2.984 người.
Trong Vườn quốc gia và khu vực vùng đệm, tổng số lao động đạt 7.391 người, chiếm tỷ lệ 58,8% tổng dân số của khu vực này Cụ thể, số lao động làm việc trong vùng lõi là 1.647 người, chiếm 22,3% tổng số lao động, thể hiện vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trong việc duy trì và phát triển bảo vệ khu vực sinh thái đặc biệt này.
% tổng số lao động; số lao động khu vực vùng đệm là 5.744 người, chiếm 77,7% tổng số lao động
Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm là nơi sinh sống của ba dân tộc phổ biến, trong đó dân tộc Mường chiếm đa số với 2.324 hộ (79,9%), dân tộc Dao có 546 hộ (18,7%), còn dân tộc Kinh chỉ có 38 hộ (1,4%).
3.3.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
Trong chăn nuôi, có 41 loại cây trồng phục vụ phù hợp, tuy nhiên thời gian sinh trưởng kéo dài do ngày ngắn, ảnh hưởng bởi thời tiết và ánh sáng hạn chế Phần lớn nguồn nước tưới phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dẫn đến thiếu hụt nước trong mùa khô, khiến diện tích trồng lúa nước giảm sút và chủ yếu chỉ canh tác một vụ trong năm.
Diện tích trồng khoai, sắn chủ yếu ở các sườn đồi, nơi đất ít dốc và phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên Do đó, năng suất và sản lượng của các loại cây này vẫn còn ở mức hạn chế.
- Các loại cây trồng khác: ngô, đậu, lạc đƣợc trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng không đủ điều kiện để làm ruộng nước
Chăn nuôi luôn được coi trọng song vẫn chủ yếu theo hình thức nhỏ lẻ, nhằm phục vụ nhu cầu tại chỗ của các hộ gia đình Mặc dù phần lớn mô hình chăn nuôi tại địa phương chưa hướng tới sản xuất hàng hoá tập trung, vẫn còn một số hộ phát triển mô hình gia trại, trang trại để nâng cao hiệu quả Tuy nhiên, phong tục chăn thả tự do vào rừng vẫn còn duy trì, gây ảnh hưởng đến công tác chăm sóc và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng non mới trồng.
3.3.2.3 Các hoạt động dịch vụ thương mại
Du lịch sinh thái là thế mạnh của Vườn quốc gia Xuân Sơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương Các hình thức du lịch chính tại đây gồm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và du lịch tham quan nghỉ dưỡng, mang lại đa dạng trải nghiệm cho du khách Vườn quốc gia Xuân Sơn không chỉ nổi bật với vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ mà còn phát triển các loại hình du lịch bền vững, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa và tạo ra lợi ích lâu dài cho cộng đồng địa phương.
Các hoạt động du lịch không chỉ mang lại thu nhập cho cư dân địa phương mà còn nâng cao ý thức bảo vệ rừng, môi trường và cảnh quan thiên nhiên Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại xã Xuân Sơn mới chủ yếu tập trung ở trung tâm, phần lớn là các dịch vụ bán lẻ hàng hóa tiêu dùng và nhà nghỉ tạm thời dành cho khách tham quan, khiến lượng khách đến Vườn chưa nhiều Mặc dù tiềm năng du lịch của khu vực rất lớn, số lượng khách tham quan vẫn còn thấp do một số nguyên nhân như hạn chế về hạ tầng, quảng bá chưa đủ mạnh và sự cạnh tranh từ các địa phương khác.
+ Các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu vực còn nhỏ lẻ, tự phát và chƣa phát triển
+ Sản phẩm du lịch chƣa đa dạng, lực lƣợng tham gia làm dịch vụ du
3.3.2.4 Đời sống và thu nhập của người dân
Thu nhập bình quân đầu người trong khu vực vùng lõi và vùng đệm Vườn quốc gia đạt khoảng 7,9 triệu đồng mỗi người mỗi năm, phản ánh mức sống khá ổn định của cộng đồng địa phương Nguồn thu nhập chính của người dân trong khu vực chủ yếu đến từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của vùng.
Tỷ lệ hộ nghèo của 6 xã thuộc Vườn quốc gia Xuân Sơn chiếm 35,9%, thấp hơn mức trung bình của huyện Tân Sơn, cho thấy sự khác biệt trong mức sống của các khu vực Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo cao hơn ở vùng lõi Vườn quốc gia so với vùng đệm, đặt ra thách thức lớn cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững của khu vực này Đây là vấn đề cần được chú trọng nhằm đảm bảo cân bằng giữa bảo vệ thiên nhiên và nâng cao đời sống cộng đồng trong giai đoạn 2013-2020.
3.3.3 Thực trạng xã hội và cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông vận tải:
Hệ thống đường giao thông vào vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia luôn nhận được sự quan tâm đầu tư phát triển đáng kể Tính đến năm 2012, đã xây dựng tổng cộng 94 km đường nhựa và đường bê tông dẫn về trung tâm các xã, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận và thúc đẩy phát triển bền vững trong khu vực Ngoài ra, 67,7 km đường bê tông đã được trải thẳng đến các thôn xung quanh, tạo thuận lợi cho việc đi lại của cộng đồng và đảm bảo quy mô vận chuyển hàng hóa, dịch vụ.
Hệ thống điện cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất: Đều đã có điện lưới quốc gia
Trong khu vực Vườn quốc gia có 1 trạm y tế được xây kiên cố tại trung tâm xã Xuân Sơn (xóm Dù) với 10 giường bệnh, 1 bác sỹ,
Trong mỗi xóm, có 2 điều dưỡng, 1 y sĩ và 2 y tá, giúp đảm bảo chăm sóc sức khỏe cộng đồng Mỗi xóm đều có một y tá xóm để phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh tại địa phương Trang thiết bị tại trạm y tế chủ yếu đơn giản, chỉ phù hợp để khám và điều trị các bệnh thông thường Dù vậy, công tác y tế ở đây đã đạt nhiều thành tựu quan trọng như phát thuốc phòng sốt rét, sốt xuất huyết, tiêm phòng dịch, và tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh để nâng cao ý thức cộng đồng.
Giáo dục tại khu vực Vườn quốc gia đã được chú trọng với sự hiện diện của các trường tiểu học và trung học cơ sở ở hầu hết các xã Mỗi xóm đều có lớp học dành cho trẻ em, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của cộng đồng địa phương.
Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi tiểu học đến trường đạt 100%, phản ánh sự chăm sóc và quản lý tốt từ phía nhà trường và gia đình Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông đến lớp chỉ khoảng 70%, cho thấy còn nhiều thách thức trong việc giữ chân học sinh ở các cấp học cao hơn Điều này nhấn mạnh cần có các giải pháp thúc đẩy việc đi học, nâng cao chất lượng giáo dục và giảm tỷ lệ học sinh bỏ học để đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục của tất cả các độ tuổi.
- Hầu hết các phòng học và phòng ở của giáo viên đƣợc xây dựng kiên cố
(Nguồn: số liệu điều tra thu thập tại các xã của VQG Xuân Sơn năm 2012)
3.3.4 Nhận định về tình hình dân sinh kinh tế
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
Xác định thành phần loài Bướm ngày trong khu vực nghiên cứu
Qua các đợt điều tra tại khu vực nghiên cứu tôi đã ghi nhận được 55 loài Bướm ngày thuộc 38 giống, 7 họ khác nhau của bộ cánh vẩy (Lepidoptera)
Kết quả đƣợc ghi vào bảng sau:
Bảng 4.01: Danh lục các loài Bướm ngày trong khu vực nghiên cứu
STT Tên khoa học Điểm bắt gặp P%
II Pieridae - Họ Bướm phấn (Bướm cải)
III Nymphalidae - Họ Bướm giáp
IV Lycaenidae - Họ Bướm xanh
VI Amathusiidae - Họ Bướm rừng
VII Satyridae - Họ Bướm mắt rắn
Trong các đợt điều tra gần đây, nghiên cứu đã ghi nhận sự đa dạng phong phú của loài Bướm ngày tại khu vực Cụ thể, có tổng cộng 55 loài Bướm ngày thuộc 38 giống và 7 họ khác nhau của bộ cánh vẩy (Lepidoptera) Sự đa dạng này cho thấy khu vực nghiên cứu là môi trường lý tưởng cho sự sinh tồn và phát triển của các loài Bướm ngày Thông tin này góp phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao nhận thức về các loài côn trùng có ích trong tự nhiên.
Như vậy khu hệ Bướm ở Vườn quốc gia Xuân Sơn rất đa dạng, phong phú và chắc hẳn chƣa đƣợc hoàn thiện
Bảng danh lục thành phần loài thuộc đối tượng nghiên cứu cho thấy, các họ có số lượng loài nhiều nhất gồm họ Papilionidae với 13 loài, họ Pieridae và Danaidae cùng mỗi họ có 11 loài, họ Nymphalidae với 9 loài và họ Satyridae có 8 loài Trong khi đó, các họ Amathusiidae và Lycaenidae chỉ có mỗi 1 loài duy nhất, thể hiện đa dạng và phong phú của các họ thực vật trong nghiên cứu này.
Từ bảng danh lục trên tôi tiến hành xác định một số chỉ tiêu sau:
- Độ bắt gặp của các loài Bướm ngày trong khu vực nghiên cứu
Bảng 4.02: Độ bắt gặp của các loài Bướm ngày Độ bắt gặp Số loài Tỷ lệ
Hình 4.01 thể hiện độ bắt gặp của các loài bướm ngày trong khu vực điều tra Để làm rõ kết quả này, tôi đã lập danh sách các loài bướm thường gặp và ít gặp, giúp đánh giá chính xác sự phân bố và tần suất xuất hiện của các loài trong khu vực nghiên cứu.
Loài thường gặp Loài ít gặp Loài ngẫu nhiên 67.85%
Trong bảng trên, chúng ta nhận thấy có một loài thuộc họ Bướm Đốm Danaidae xuất hiện ở hầu hết các sinh cảnh, đặc biệt là ở 6 sinh cảnh mà tôi đã xác định rõ.
Bảng 4.03: Các loài Bướm ngày ít gặp trong khu vực điều tra
STT Tên loài Tên họ Sinh cảnh
1 Appias albina Pieridae SC1, SC2
2 Cethosia cyane Drury Nymphalidae SC1,
4 Delias pasithoe Linnaeus Pieridae SC2, SC2
3 Ideopsis similis Linnaeus Danaidae SC2, SC4,
6 Lethe confusa Aurivillius Satyridae SC1, SC2
7 Melanitis leda Linnaeus Satyridae SC1, SC2
5 Tirumala septentrionis Butler Danaidae SC1
8 Ypthima baldus Fabricius Satyridae SC1, SC2,
Bảng 4.03 cho thấy có 8 loài ít gặp, trong đó gồm 3 loài thuộc họ Bướm mắt rắn Satyridae, 1 loài thuộc họ Bướm giáp Nymphalidae, 2 loài thuộc họ Bướm đốm Danaidae, và 2 loài thuộc họ Bướm phấn Pieridae.
Trong khu vực nghiên cứu, tôi đã tiến hành thống kê số lượng giống và số loài theo từng họ để thể hiện rõ hơn sự phong phú của các loài bướm ngày Kết quả thu được được trình bày chi tiết trong bảng 4, giúp làm nổi bật đa dạng sinh học của các họ bướm trong khu vực này.
Bảng 4.04: Thống kê số loài và số giống theo từng họ
STT Họ Số loài P% Số giống P%
Hình 4.02: Tỷ lệ % số loài và số giống các họ Bướm ngày trong khu vực nghiên cứu
Dựa trên bảng 4.04 và Hình 4.02, họ Danaidae có số giống nhiều nhất với 13 loài chiếm 23,21% tổng số loài và giống đã thu thập được Họ Papilionidae và Pieridae đứng thứ hai, chiếm 19,64%, gồm 4 giống của Papilionidae (11,53%) và 6 giống của Pieridae (16,80%) Họ Nymphalidae có 9 loài, chiếm 16,07% tổng số loài trong nghiên cứu.
Trong bộ cánh vẩy (Lepidoptera), họ Họ 38 chiếm tỷ lệ cao nhất với 16,80%, tiếp theo là họ Satyridae gồm 8 loài chiếm 14,29% và 5 họ chiếm 15,16% Họ Amathusiidae có 3 loài và 3 giống, trong khi họ Lycaenidae có số lượng loài và giống ít nhất, với 1 loài chiếm 1,7% và 1 giống chiếm 2,86% Những dữ liệu này thể hiện rõ sự đa dạng về loài trong bộ cánh vẩy cũng như sự phong phú về hệ côn trùng của Vườn quốc gia Xuân Sơn, góp phần khẳng định giá trị đa dạng sinh học của khu vực.
Tính đa dạng của các loài côn trùng bộ cánh vẩy trong khu vực nghiên cứu 35 1 Đa dạng sinh cảnh sống
4.2.1 Đa dạng sinh cảnh sống
Môi trường sống của côn trùng rất đa dạng và phong phú phức tạp
Các loài sinh sống tại vùng núi cao, núi thấp, rừng hỗn giao, nương rẫy, trảng cỏ và bụi cây đa dạng, phù hợp với nhiều dạng sinh cảnh khác nhau Khu vực nghiên cứu tập trung chủ yếu tại vùng núi đá vôi, nơi có nhiều dạng cảnh quan đa dạng Kết quả điều tra 30 điểm đã phản ánh đặc trưng của các dạng cảnh quan trong khu vực, góp phần hiểu rõ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học của vùng nghiên cứu.
Bảng 4.05 Thành phần loài theo dạng sinh cảnh
Stt Sinh cảnh Số điểm điều tra
1 Rừng tái sinh phục hồi 9 40 71,42
3 Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi 4 2 3,5
5 Rừng kín thường xanh trên đồi núi thấp 3 6 10,7
6 Rừng kín thường xanh ven suối 5 20 35,71
Rừng tái sinh phục hồi
Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi
Rừng kín thường xanh trên đồi núi thấp
Rừng kín thường xanh ven suối
Hình 4.03: Thành phần loài theo dạng sinh cảnh
Từ kết quả trên cho có hai sinh cảnh phát hiện đƣợc trên
Khoảng 50% số loài Bướm trong khu vực nghiên cứu thuộc về các nhóm SC1 và SC2, cho thấy sự phân bố đa dạng của loài Bướm ở các sinh cảnh khác nhau Các loài Bướm thích nghi với môi trường để có thể khai thác thức ăn, giao phối và đẻ trứng, trong đó đa số thích nghi với các sinh cảnh rộng như bìa rừng, cây bụi hoặc các khoảng trống trong rừng Do đó, sinh cảnh này thường có sự đa dạng loài Bướm cao hơn so với các sinh cảnh trong rừng sâu, thiếu ánh sáng và ít cây bụi.
Các loài sống sâu trong rừng thường phân bố hẹp và ít gặp ở các sinh cảnh ngoài rừng Các khu dân cư có đất canh tác nông nghiệp, như SC02, là nơi có nhiều khoảng trống, gần nguồn nước thuận lợi cho việc bay lượn và tìm kiếm thức ăn, góp phần tạo ra đa dạng loài phong phú hơn so với các sinh cảnh khác Trong khi đó, khu vực nguyên sinh ở SC03 có mật độ cây dày và ánh sáng yếu, không thuận lợi cho quá trình di chuyển và tìm kiếm thức ăn của bướm ngày.
Hầu hết các loài bướm ngày tại Vườn quốc gia Xuân Sơn có mật độ quần thể trung bình, cho thấy sự đa dạng sinh học ổn định trong khu vực Trong đó, các loài phổ biến như Ideopsis similis Linnaeus và Cethosia cyane Drury thường xuất hiện nhiều ở rừng trồng và rừng tái sinh Sự phân bố của các loài bướm này phản ánh tầm quan trọng của việc bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên để duy trì nguồn gen và đa dạng sinh học.
4.2.2 Đa dạng về hình thái
Hình thái của các loài bướm thể hiện sự đa dạng phong phú và khả năng thích nghi cao với môi trường sống, giúp các nhà côn trùng học phân loại và bảo vệ chúng hiệu quả Thân bướm gồm ba phần chính: đầu, ngực và bụng, được che phủ bởi lớp vảy nhỏ, cùng với hai đôi cánh, đôi râu đầu và ba đôi chân ngực, nhưng cấu trúc và màu sắc của chúng có thể khác nhau tùy vào điều kiện sống Việc phân tích hình thái bên ngoài của côn trùng, đặc biệt là bướm, giúp xác định các đặc điểm thích nghi và hướng phân loại chính xác, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học.
Màu sắc của các loài bướm rất phong phú và phức tạp, do đó người ta thường dựa vào hệ gân cánh và các kiểu màu sắc để phân loại các loài bướm khác nhau Trong khu vực nghiên cứu, các loài trong họ Bướm mắt rắn (Satyridae) và họ Bướm nhảy (Hesperiidae) thường sở hữu màu sắc hơi tối và hình dạng cánh đơn giản Ngược lại, các loài trong họ Bướm phượng (Papiliondae), Nymphalidae, họ Bướm đốm (Danaidae) và họ Bướm phấn (Pieridae) hoạt động chủ yếu ở những khu vực rộng rãi, nhiều ánh sáng, khiến chúng có màu sắc sặc sỡ, hoa văn cánh đa dạng và phong phú.
Kích thước của các loài trong họ bướm phượng như Papilio memmon Linnaeus và Papilio paris Linnaeus không chỉ khác nhau giữa các loài mà còn thể hiện rõ rệt sự khác biệt giữa con đực và con cái Thông thường, con đực của các loài này thường có kích thước nhỏ hơn so với con cái, thể hiện đặc điểm sinh học đặc trưng của mỗi loài.
Bộ Cánh vẩy có sự đa dạng về hình thái, đặc biệt là về hình dạng cánh và màu sắc Nhiều loài bướm có kiểu cánh và màu sắc ít nổi bật, sử dụng kỹ thuật ngụy trang để tránh kẻ thù Điều này giúp chúng dễ dàng lẩn trốn và bảo vệ bản thân trong tự nhiên.
Trong khu vực điều tra tôi thống kê đƣợc một số dạng cánh nhƣ sau:
Bảng 4.06: Các dạng cánh trước cơ bản của các loài Bướm ngày
STT Dạng cánh Tên loài Ma số hình
1 Hình quạt có đuôi dài Papilio protenor euprotenor
2 Hình tam giác mép ngoài có răng cƣa
4 Hình quạt Eurema hecabe Linnaeus 4
Hình 4.04: Một số dạng cánh cơ bản
4.2.3 Đa dạng vê tập tính sinh hoạt
Tập tính sinh hoạt của các loài Bướm phản ánh mức độ đa dạng của chúng, với mỗi loài có đặc điểm riêng biệt phù hợp với môi trường sinh sống Các hành vi liên quan đến di chuyển, kiếm ăn, sinh sản và tự vệ thể hiện sự đa dạng cao trong tập tính của các loài Bướm Đây là những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phong phú và thích nghi của chúng trong tự nhiên.
Bay lượn là hoạt động chủ yếu của Bướm ngày, liên quan đến quá trình trao đổi chất, hoạt động ăn, sinh sản và tự vệ Các loài Bướm trong họ Papilionidae như Papilio paris và Graphium saperda thường bay nhanh, cánh chập chờn khi đậu vào hoa hút mật, thể hiện hoạt động săn mồi tích cực Một số loài trong họ Dannaidae khi hút mật thường bay say xưa, còn các loài trong họ Nymphalidae, Papilionidae thường bay đơn lẻ, trong khi một số loài trong họ Pieridae bay thành đàn, thể hiện sự đa dạng và phong phú về hình thức sinh sống của Bướm ngày.
Bướm họ Papilionidae thường thích những chỗ nhô cao hay đồi nhỏ, Giống Troides thường bay cao và bay nhanh nên rất khó thu bắt
Bướm thuộc họ Pieridae thích bay trong ánh nắng và thường bay sát mặt đất, tạo điểm nhấn cho cảnh quan tự nhiên Một số loài, như giống Hebomoia, thường bay trên ngọn cây và hiếm khi xuống mặt đất, thể hiện sự đa dạng trong hành vi di chuyển của chúng Giống Pieris là dạng bướm quen thuộc, thường bay đuổi nhau rồi vút lên cao, góp phần tạo sự sinh động và hấp dẫn trong môi trường sống của chúng.
Bướm họ Danaidae có khả năng bay xa, mặc dù không phải là những loài bay giỏi nhất, nhưng vẫn có thể di chuyển khoảng cách lớn Ngoài ra, các loài thuộc họ Amathusiidae và Satyridae thường bay sát mặt đất và di chuyển theo hình thức bay chuyền, giúp chúng dễ dàng tránh khỏi kẻ thù và tìm kiếm thức ăn.
46 năng bay nhanh, dẻo dai của chúng Chúng ƣa thích sinh cảnh nhiều ánh nắng và hoa màu
Các loài Bướm ngày thường có tập tính kiếm ăn đa dạng, phụ thuộc vào giai đoạn phát triển để đảm bảo dinh dưỡng cần thiết cho sinh sản Trong giai đoạn sâu non, thức ăn chính của chúng là lá cây, rễ cây và vỏ cây, còn ở giai đoạn trưởng thành, chúng chủ yếu tiêu thụ mật hoa và các chất khoáng Sự phong phú và đa dạng của thức ăn thể hiện khả năng thích nghi cao của côn trùng với môi trường sống, đồng thời phản ánh tính bền vững của chu trình vật chất trong tự nhiên.
Trong quá trình điều tra và nghiên cứu, tôi nhận thấy các loài bướm tại khu vực nghiên cứu có nguồn thức ăn phong phú và đa dạng Sự đa dạng của nguồn thức ăn được thể hiện rõ ràng qua bảng 4.09, cho thấy khả năng thích nghi và sinh trưởng của các loài bướm này trong môi trường nghiên cứu.
Bảng 4.07: Cây thức ăn của các loài Bướm trong khu vực nghiên cứu
Nguồn Luận văn thạc sỹ 2012 của Bùi Xuân Trường
TT Tên khoa học Cây thức ăn của các loài Bướm
Sâu non ăn lá các loài thuộc chi Hồng bì Quất Sâu trưởng thành hút chất khoáng
2 Papilion paris (Linnaeus, 1758) Hút mật hoa ở các cây họ Cam và chất khoáng
3 Papilio memnon Linnaeus Sâu non ăn lá cây
4 Papilio noblei de Nicéville Ăn các loài thuộc chi Quất hồng bì và cam
5 Papilio nephelus (Bosiduval, 1836) Hút mật hoa và các chất khoáng
6 Papilio polytes Linnaeus Sâu non ăn lá một số loài thực vật họ Cam
7 Graphium agamemnon Linnaeus Hút chất khoáng ven suối và đường đi
8 Graphium sarpedon Linnaeus Sâu trưởng thành hút mật cây có hoa Sâu non ăn các chi Long não, màng tang
9 Graphium doson (C&D Felder) Hút mật hoa cây dại, hay hút dịch từ các xúc vật để sống
10 Troides aeacus C&R Felder Sâu trưởng thành hút khoáng chất
Sâu non ăn một số thực vật thuộc họ cam
11 Troides aeacus C&R Felder Hút khoáng ở ven đường đi
II Pieridae - Họ Bướm phấn (Bướm cải)
12 Apias albina Boisduval Hút mật hoa và ăn một số cây non
13 Apias nero Fabricius Cỏ dại, cây bụi
14 Apias lyncida Cramer Sâu non ăn một số cây thuộc họ
15 Apias aganthon Gray Sâu non ăn lá cây, hút mật cây có hoa
16 Cepora nadina Lucas Sâu non ăn một số cây thộc họ
18 Prioneris philonome Doubleday Hút mật Cây có hoa và cỏ dại
19 Erema hecabe Linnaeus Thức ăn cho sâu non là Keo dậu đầu, sóng đắng và bồ kết tây (họ Đậu), bồ cu vẽ thuộc họ thầu dầu
20 Hebomio glaucippe Linnaeus Hút mật hoa
Sâu non ăn lá cây, sâu trửơng thành chích hút mật hoa
22 Delias pasithoe Linnaeus Sâu trưởng thành hút mật những cây hoa khác nhau
III Nymphalidae - Họ Bướm giáp
23 Cyresti thyodamas Boisduval Sâu non ăn lá cây Sung họ Dâu tằm
24 Cethosia cyane Drury Hút mật hoa, chất hữu cơ thối rữa
25 Kallima limborgii Cậy bụi có hoa, chât kháng ven đường
26 Euthalia monina Fabricius Sâu trưởng thành hút mật một số loài cây có hoa
27 Vindula erota Fabricius Thức ăn cho sâu non thuộc họ Lạc tiên (cây Thƣ diệp), hút phân động vật
28 Euthalia lubentina Cramer Sâu trưởng thành hút mật một sô loài cây có hoa
29 Cyrestis themire Sâu non ăn cây lá sung và sâu trưởng thành chích hút mật hoa cỏ
30 Junonia atlites (Linnaeus, 1763) Sâu trưởng thành hút mật hoa cỏ và chất hứu cơ thối rữa
Sâu trưởng thành hút mật một số cây có hoa
IV Lycaenidae - Họ Bướm xanh
32 Lampides boeticus Linnaeus Chích hút mật hoa và khoáng chất
Danaus genutia, hay còn gọi là Bướm Gramer, thường đậu trên hoa cỏ, cây bụi và thích hút mật từ các loài cây thuộc chi Đơn buốt, Cỏ hôi và họ Cúc Sâu non của loài này sống trên nhiều loại cây thuộc họ Thiên lý, với thức ăn chính là các loài cây có độc, giúp chúng tránh bị thiên địch tấn công hiệu quả.
Dẫn liệu đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài Bướm ngày trong
Trong khu vực điều tra, nghiên cứu đã tập trung mô tả các đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của một số loài Bướm ngày có giá trị về mặt thương mại, thẩm mỹ và du lịch sinh thái Mục tiêu của đề tài là cung cấp dữ liệu khoa học chính xác, nhằm hỗ trợ các nghiên cứu tiếp theo và thúc đẩy phát triển bền vững các loài bướm này trong khu vực Các kết quả thu được góp phần nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu, quảng bá và khai thác tiềm năng du lịch sinh thái dựa trên các loài Bướm ngày này.
4.3.1 Bướm phượng xanh lớn - Papilion protenor euprotenor
Fruhstorfer Bướm phượng xanh lớn (Papilion protenor euprotenor
Fruhstorfer) thuộc họ Bướm Phượng Papilionidae
Thân thể của loại côn trùng này dài khoảng 25mm, với cánh trước rộng 45mm và cánh sau dài 30mm, mang đặc điểm nổi bật là hình dạng đầu tam giác có điểm đốm lông màu đen Đôi mắt kép hình cầu, mỗi mắt có đường kính khoảng 1,2mm, giúp tăng khả năng quan sát và định hướng Râu đầu màu đen, hình dạng giống dùi đục, dài khoảng 14mm, góp phần vào quá trình cảm nhận và sinh tồn của loài.
Mặt trên cánh trước có màu xanh đen, được viền bạc chạy dọc theo gân cánh tạo điểm nhấn rõ nét Trong khi đó, cánh sau có viền bạc chạy theo gân cánh rõ hơn so với cánh trước, tạo nên sự khác biệt về màu sắc và họa tiết giữa hai phần cánh.
Bướm đực và bướm cái giống nhau, đặc biệt là phần mặt dưới của cánh sau, có những mảng màu đỏ sát mép cánh hình bán nguyệt Một điểm nhận dạng quan trọng là mảng màu đỏ khá lớn nằm ở mặt ngoài của cánh, gần gốc cánh, khác biệt so với loài Papilio menmon, nơi màu đỏ nhỏ hơn hoặc không có Những đặc điểm này giúp phân biệt giới tính và nhận diện chính xác các loài bướm trong tự nhiên.
Papilio menmon sở hữu vùng mặt dưới cánh trước màu xanh đen nổi bật, với dãy gân cánh màu bạc kéo dài từ gốc cánh đến vùng chót, tạo điểm nhấn ấn tượng Con đực và con cái đều không có đuôi dài, với sải cánh từ 100-130mm và bụng dài khoảng 15mm, mang đặc điểm nhận dạng dễ dàng trong các hoạt động khảo sát và nghiên cứu loài bướm này.
Chim thường bay đơn lẻ dọc theo các đường mòn ven rừng, bay với tốc độ khá nhanh và có mức dao động rộng của đường bay lên xuống Khi đậu, chúng thường xòe cánh và rung cánh, thể hiện đặc điểm tập tính độc đáo của loài chim này trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ: bảo vệ sinh cảnh sống, những loài cây thức ăn như họ Cam, chanh, bưởi
4.3.2 Bướm phượng bốn mảng trắng - Papilio nephelus (Bosiduval,
Bướm phượng bốn mảng trắng - Papilio nephelus (Bosiduval,
1836) thuộc họ Bướm Phượng Papilionidae
Cần bảo vệ tốt nơi cư trú của loài này trong các khu rừng tự nhiên và hạn chế săn bắt để bảo tồn đa dạng sinh thái Loài này phổ biến hơn ở các sinh thái cây bụi trảng cỏ dưới 700m và phân bố nhanh dọc các đường mòn trong rừng, đặc biệt ở những khu vực có khoảng trống chứa nước Ngoài ra, loài này cũng thường gặp là các cá thể đơn lẻ bay lượn trong môi trường tự nhiên.
Papilio helenus thường sống thành đàn lớn, bay chung với các loài bướm khác, đặc biệt là các loài có màu vàng hoặc hơi trắng hình trăng khuyết Bướm có sải cánh từ 105 đến 130 mm, với mặt trên cánh sau không có đốm đỏ, trong khi mặt dưới có các đốm đen ba mảnh trắng trên mép cánh sau Trên cánh sau có ba đốm trắng, trong đó có một đốm trắng lớn ở góc sau, giúp loài dễ nhận diện Khi bay, Papilio helenus rất giống với loài bướm phượng, tạo nên vẻ đẹp nổi bật trong tự nhiên.
Có kích thước lớn, thân dài 30mm, có đuôi dài 13mm, Màu đen, cánh
62 Đây cũng là một trong những loài Bướm nên nhân nuôi trong trang trại
4.3.3 Bướm phượng xanh lớn đốm đỏ - Papilio memmon Linnaeus
Bướm phượng xanh lớn đốm đỏ - Papilio memmon Linnaeus, thuộc họ Bướm Phượng Papilionidae
Con côn trùng có thân dài khoảng 30mm, cánh trước dài 50mm và cánh sau dài 30mm, đầu hình tam giác với đốm lông màu đen, kích thước 16mm Cánh trước hình tam giác màu xám đen, mặt trên có một đốm phấn đỏ gần gốc cánh, đặc biệt là một đốm phấn đỏ rõ ràng tại phần gốc cánh Cánh sau hình quạt với mép ngoài có răng cưa màu đen ở mặt trên, mặt dưới của cánh có các đốm phấn đỏ sát thân, và ở mép ngoài cuối đuôi cánh có ba chấm đen nằm giữa các đốm phấn đỏ.
Bụng có kích thước 14mm, màu đen Con đực và con cái thường khác nhau về màu sắc Bướm cái gồm các dạng có đuôi và không có đuôi
Thường bay đơn lẻ, bay rất nhanh Khi chúng đậu thường xòe cánh và rung cánh
Bảo vẹ sinh cảnh sống, những loài cây làm thức ăn nhƣ các cây họ Cam, chanh, bưởi Và nhân nuôi chúng ở các trang trại
4.3.4 Bướm chanh di cư - Catopsilia pomona Fabricius
Bướm chanh di cư Catopsilia pomona pomona Fabricius thuộc họ Bướm Phấn (Bướm cải) Pieridae
Kích thước dài 24 – 28mm, cách trước dài 36 – 38mm, cánh sau dài
23 – 25mm Râu đầu hình dùi đục màu vàng, dài 14 – 16mm, Mắt kép
Bướm hay tụ tập ở những chỗ đất ẩm ướt dọc lề đường
Bướm thường xuất hiện đơn lẻ hoặc theo từng đàn, chủ yếu đậu trên các cây bụi, bay nhanh và cao Khi đậu, chúng thường giữ hai cánh dựng đứng, tạo điểm nhấn đặc trưng của loài Thời điểm hoạt động lý tưởng của loài bướm này là vào sáng sớm hoặc buổi trưa.
4.3.5 Bướm cánh vàng viền đen – Eurema hecabe Linnaeus
Bướm cánh vàng viền đen – Eurema hecabe hecabe Linnaeus
Fabricius thuộc họ Bướm phấn (Bướm cải) Pieridae
4.3.6 Bướm loang – Delias pasithose Linnaeus
Bướm loang – Delias pasithose Linnaeus thuộc họ Bướm Phấn (Bướm cải) Pieridae
Hình thái: cây họ Bứa Clusiaceae, Táo ta và Đậu Fabaceae
Sóng đắng và Bồ kết tây, cùng với cây Bồ cu vẽ thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), thường phát triển mạnh ở những nơi ẩm thấp, rỉ nước Cây Keo dậu đầu cao là loại thức ăn chính cho sâu non, với bướm cái xuất hiện nhiều hơn bướm đực, thường tụ tập quanh những khu vực trống trải và vùng đất phù hợp thuộc họ Fabaceae Bướm E hecabe thường xuyên đẻ trứng trên cây mắc cỡ, được quan sát thấy phổ biến khắp nơi Sâu non chủ yếu ăn lá các loại cây thuộc họ Đậu, góp phần vào chu trình phát triển của các loài côn trùng này trong tự nhiên.
Bay chậm và thấp, sát các bụi cỏ, thường gặp và đôi khi có viền đen rộng hơn cùng màu xỉn hơn Mặt dưới của cánh có màu vàng với các vệt và đốm nhỏ màu nâu, trong khi con cái thường có phần trước rộng hơn ở chóp và góc ngoài cánh Viền đen ở cánh sau mảnh hơn, đôi khi dài từ 20 đến 21mm, và mặt trên cánh màu vàng phối hợp với viền đen tạo điểm nhấn đặc trưng.
Kích thước thân dài 20 – 22mm, cánh trước dài 25 – 27mm, cánh Chúng có cánh khoẻ ,có thể gặp cả đàn lớn bay thẳng đứng lên
Loài chim có bộ lông màu đen, bụng màu trắng xám, với cánh trước màu nâu đen và các vết trắng loang lổ Mặt trên của cánh sau phía trong có màu vàng, trong khi mặt ngoài nổi bật với màu nâu đen không vùng sáng Mặt dưới cánh sau chứa các vết vàng và đỏ giúp bảo vệ cơ thể khỏi kẻ thù.
Bướm trưởng thành tránh khỏi các loài chim
Tập tính sinh hoạt: Đây là loài di cư chủ động chúng thường bay đơn độc,
4.3.7 Bướm phấn chót cam – Hebomoia glaucippe Linnaeus
Bướm phấn chót cam – Hebomoia glaucippe Linnaeus Linnaeus thuộc họ Gướm Phấn (Bướm cải) Pieridae
Trong họ Bướm Phấn, loài này có kích thước lớn nhất với sải cánh từ 100-110mm Mặt trên của cánh màu trắng kết hợp với nửa ngoài cánh trước màu cam dễ nhận biết, trong khi mặt dưới dạng khoang lồ trông giống như lá khô khi con bướm đậu Phần con cái có viền đen rộng hơn so với con đực, và rìa cánh sau có các đốm đen chạy sát mép, giúp phân biệt giới tính rõ rệt.
Bay đơn lẻ, khi bay thì nhanh, khó bắt
4.3.8 Bướm lá vạch cam chót tù – Kallima limborgii
Bướm lá vạch cam chót tù – Kallima limborgii thuộc họ Bướm Giáp Nymphalidae
Chiều dài thân của loài này là 25mm, với cánh trước dài 40mm và cánh cải dài 90mm, giúp đặc trưng dễ nhận diện Khi đậu, mắt dưới của chúng xếp cánh trông giống như cái lá héo, tạo nên điểm nhận biết độc đáo Mặt trên của cánh bắt đầu từ gốc có màu xanh dương, gần chót cánh có một vạch xiên màu cam rất lớn, làm nổi bật đặc điểm ngoại hình Cả con đực và con cái có hình dạng tương tự nhau, nhưng điểm khác biệt là vạch màu cam ở vùng chót cánh trước có một chấm trắng nhỏ ở con đực và hai chấm nhỏ ở con cái, giúp dễ phân biệt giới tính.
Và khá bị hấp dẫn bởi những loài cây hoa khác nhau nhanh nhưng cao; khi bay đi do hoảng sợ thì thường rất lâu sau mới chịu đậu