Được sự nhất trí của Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, Bộ môn Bảo vệ thực vật rừng, tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần sâu hại Bồ đề và đề xuất biện pháp quản lý
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để đánh giá kết quả học tập sau 4 năm, khóa học 2011 – 2015 tại
trường Đại học Lâm nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, gắn liền lý thuyết với thực tiễn sản xuất nhà trường đã tổ chức cho sinh viên thực tập và làm khóa luận tốt nghiệp
Được sự nhất trí của Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, Bộ
môn Bảo vệ thực vật rừng, tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần
sâu hại Bồ đề và đề xuất biện pháp quản lý sâu hại cây Bồ đề (Styrax
tonkinensis) tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”
Trong suốt thời gian nghiên cứu cùng với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Bảo vệ thực vật rừng, đến nay khóa luận của tôi đã hoàn thành Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Lê Bảo Thanh – người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ tận tình trong suốt thời gian tôi triển khai và hoàn thiện khóa luận
Tôi xin cảm ơn các cán bộ tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Do điều kiện nghiên cứu có hạn và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Hy vọng nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và quý độc giả để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Hòa
Trang 2TÓM TẮT KHÓA LUẬN
1 Tên khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu thành phần sâu hại bồ đề và đề
xuất biện pháp quản lý sâu hại cây bồ đề (Styrax tonkinensis) tại Vườn
quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”
2 Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Hòa
3 Giáo viên hướng dẫn: TS Lê Bảo Thanh
4 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được thành phần các loài sâu hại cây bồ đề và xác định loài sâu hại chính
- Xác định đặc điểm sinh học của loài sâu hại chính
- Đề xuất được các biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại chính
5 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần loài sâu hại cây Bồ đề
- Đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại chính
- Thử nghiệm các biện pháp phòng trừ cho loài sâu hại chính
- Đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại Bồ đề cho khu vực nghiên cứu
+ Biến động mật độ của 2 loài sâu hại chính trong thời gian nghiên cứu + Ảnh hưởng của độ cao tới mật độ sâu hại
+ Biến động của mật độ sâu hại theo tuổi cây
Trang 3+ Đánh giá sơ bộ về mức độ gây hại của 2 loài sâu hại chính trong thời gian nghiên cứu
Từ đó đã thử nghiệm và đưa ra biện pháp phòng trừ thích hợp với loài sâu hại chính tại địa phương
Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp kỹ thuật lâm sinh
+ Biện pháp vật lý cơ giới
+ Biện pháp bẫy đèn
+ Biện pháp hóa học
Lựa chọn, đề xuất một số biện pháp phòng trừ cho 2 loài sâu hại chính:
- Biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Sau khi áp dụng biện pháp này thì số lượng sâu hại ở ô thí nghiệm giảm đi không đáng kể Từ 36,67% xuống còn 23,33% sau 20 ngày thực hiện biện pháp này
- Biện pháp vật lý cơ giới: Trước khi áp dụng biện pháp này thì tỷ lệ phần trăm cây có sâu ở ô thí nghiệm là 46,67%, còn ô đối chứng là 50% Sau
20 ngày thực hiện biện pháp này thì số lượng sâu giảm đi rõ rệt Cụ thể ở ô thí nghiệm giảm xuống còn 20% trong khi đó ở ô đối chứng tăng lên 60% Nên
áp dụng biện pháp này thường xuyên để hạn chế gia tăng số lượng sâu hại
- Biện pháp bẫy đèn: Số lượng sâu trưởng thành bắt được là không nhiều Nguyên nhân có thể là do đây không phải là thời gian có dịch nên số lượng sâu còn ít Tuy nhiên khi có dịch xảy ra thì nên áp dụng biện pháp này
để bắt sâu trưởng thành của 2 loài sâu hại chính nhằm làm giảm khả năng sinh sôi của dịch hại
- Biện pháp sinh học: Cần bảo vệ các loài thiên địch của 2 loài sâu hại chính
- Biện pháp hóa học: Số lượng sâu hại đã giảm một cách khá triệt để khi áp dụng biện pháp này Ở ô thí nghiệm tỷ lệ cây có sâu giảm từ 70%
xuống còn 13,33% Điều này cho thấy biện pháp này có thể áp dụng được tại địa phương Tuy nhiên để đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường và để giảm
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Khái quát về tính hình nghiên cứu côn trùng trên thế giới 2
1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng ở Việt Nam 3
1.3 Cây Bồ đề và tình hình nghiên cứu sâu hại cây Bồ đề 5
1.3.1 Thông tin chung về cây Bồ đề 5
1.3.2 Những nghiên cứu về sâu hại cây Bồ đề 5
1.3.3 Tình hình sâu hại cây Bồ đề 5
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.1 Mục tiêu 7
2.2 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 7
2.3 Nội dung nghiên cứu 7
2.4 Phương pháp nghiên cứu 7
2.4.1 Công tác chuẩn bị 7
2.4.2 Điều tra thực địa 7
CHƯƠNG 3 16
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 16
3.1 Điều kiện tự nhiên 16
3.1.1Vị trí địa lý 16
3.1.2 Địa hình địa thế 16
3.1.3 Địa chất, đất đai 16
3.1.4 Khí hậu thủy văn 17
3.1.5 Thảm thực vật, động vật 18
3.2 Đặc điểm về dân cư – kinh tế 19
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 21
4.1 Thành phần các loài sâu hại cây Bồ đề tại khu vực nghiên cứu 21
4.2 Xác định loài sâu hại chủ yếu trên cây Bồ đề 24
Trang 54.3 Đặc điểm sinh vật học của các loài sâu hại chủ yếu 27
4.3.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của loài sâu hại chủ yếu 27
4.3.2 Biến động mật độ các loài sâu hại chủ yếu 30
4.4 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ 35
4.4.1 Kết quả thử nghiệm biện pháp kỹ thuật lâm sinh 35
4.4.2 Kết quả thử nghiệm biện pháp vật lý cơ giới 37
4.4.3 Kết quả thử nghiệm biện pháp bẫy đèn 38
4.4.4 Kết quả thử nghiệm biện pháp hóa học 39
4.5 Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại bồ đề 40
4.5.1 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh 40
4.5.2 Biện pháp vật lý cơ giới 41
4.5.3 Biện pháp sinh học 42
4.5.4 Sử dụng thuốc hóa học 42
KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 44
Trang 6
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Bẫy đèn dùng để bắt sâu trưởng thành 13
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ % số họ trong các bộ côn trùng 23
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ % số loài trong các bộ côn trùng 23
Hình 4.3 Tỷ lệ % của các nhóm sâu hại cây Bồ đề 24
Hình 4.4 Nhộng sâu non ăn lá bồ đề 27
Hình 4.5 Sâu non sâu xanh ăn lá bồ đề 28
Hình 4.6 Trứng sâu non sâu xanh ăn lá 28
Hình 4.7 Sâu trưởng thành bọ hung nâu lớn 30
Hình 4.8 Biến động mật độ sâu trưởng thành của 2 loài sâu hại chính 31
Hình 4.9 Ảnh hưởng của vị trí địa hình tới mật độ sâu hại chính 32
Hình 4.10 Biến động mật độ sâu hại theo tuổi cây 34
Hình 4.11 Lá cây bồ đề bị sâu hại phá hoại 35
Hình 4.12 Tỷ lệ % cây bị sâu sau khi áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh 36
Hình 4.13 Tỷ lệ % cây bị sâu sau khi áp dụng biện pháp vật lý cơ giới 37
Hình 4.14 Tỷ lệ % cây bị sâu hại sau khi áp dụng biện pháp hóa học 39
Hình 4.15 Côn trùng có ích (Nguồn internet) 42
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 01: Đặc điểm các ô tiêu chuẩn 8
Biểu 02: Điều tra số lượng chất lượng sâu hại lá 9
Biểu 03: Đánh giá mức độ hại lá của sâu ăn lá 10
Biểu 04: Điều tra sâu hại thân và xung quanh gốc cây 10
Mẫu biểu 05: Điều tra sâu dưới đất 11
Bảng 3.1: Thành phần động vật Vườn quốc gia Xuân Sơn 19
Bảng 4.1 Danh lục các loài sâu hại cây Bồ đề 21
Bảng 4.2 Thống kê số họ và số loài theo các bộ côn trùng 22
Bảng4.3 Tỷ lệ % của các nhóm sâu hại cây Bồ đề 24
Bảng 4.4 Sự biến động về mật độ các loài sâu hại cây Bồ đề 25
Bảng 4.5 Biến động mật độ các loài theo các đợt điều tra 30
Bảng 4.6 Mật độ các loài sâu hại chủ yếu ở các vị trí độ cao khác nhau 32
Bảng 4.7 Kiểm tra sự chênh lệch mật độ sâu hại giữa các vị trí khác nhau theo tiêu chuẩn |U| 33
Bảng 4.8 Kiểm tra sự chênh lệch mật độ sâu hại giữa các cấp tuổi cây khác nhau 33
Bảng 4.9 Mật độ các loài sâu hại chính ở các cấp tuổi cây khác nhau 34
Bảng 4.10 Mức độ gây hại của 2 loài sâu hại chính 35
Bảng 4.11 Kết quả thử nghiệm biện pháp kỹ thuật lâm sinh 36
Bảng 4.12 Kết quả thí nghiệm biện pháp vật lý cơ giới 37
Bảng 4.13 Kết quả thử nghiệm biện pháp bẫy đèn 38
Bảng 4.14 Kết quả thử nghiệm biện pháp hóa học 39
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước nhiệt đới, rừng và đất rừng chiếm 2/3 diện tích đất đai cả nước Rừng có vai trò rất quan trọng không thể thay thế được trong việc đáp ứng các nhu cầu của con người Rừng cung cấp lâm sản, lương thực, thực phẩm, làm sạch không khí, nguồn nước, hạn chế lũ lụt, điều hòa dòng chảy, cung cấp oxi cho các loài sinh vật Tuy nhiên cho đến nay diện tích rừng nước ta đã và đang bị suy giảm một cách nhanh chóng về cả số lượng và chất lượng do nhiều nguyên nhân như: chặt phá rừng bừa bãi, sự gia tang dân
số, thiên tai, lũ lụt, sự kinh doanh rừng không hợp lý Bên cạnh đó do công tác quản lý rừng còn nhiều bất cập, nạn cháy rừng vẫn thường xuyên xảy ra, sâu bệnh hại thường xuyên gây dịch lớn ở nhiều nơi làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng mà chúng ta chưa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu Đứng trước tình hình đó ngành lâm nghiệp đã có chủ trương, chiến lược đúng đắn nhằm đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ, sử dụng tài nguyên rừng hợp lý
Cây Bồ đề (Styrax tonkinensis) là loài cây dễ trồng, sinh trưởng mạnh
trên các vùng đất dốc, có khả năng bảo vệ đất, chống xói mòn, thời gian thu hoạch nhanh Nhưng hiện nay, cây Bồ đề thường xuyên phải đối mặt với nhiều loài sâu hại làm ảnh hưởng tới chất lượng của cây
Tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cây Bồ đề
đã được trồng trên diện tích khá lớn nhằm phủ xanh đất trống và đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây sự sinh trưởng
và phát triển của cây Bồ đề đang gặp trở ngại không nhỏ, nguyên nhân là do
sự bùng phát dịch của loài sâu xanh ăn lá Bồ đề đã khiến cho phần lớn diện tích rừng Bồ đề tại địa phương bị ăn trụi lá Ban quản lý rừng tại địa phương
đã ra sức phòng trừ dịch do sâu hại gây ra nhưng mấy năm gần đây thì loại sâu này vẫn phát triển mà chưa có biện pháp triệt để Để góp phần giải quyết
những vấn đề trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần sâu hại bồ
đề và đề xuất biện pháp quản lý sâu hại cây bồ đề (Styrax tonkinensis) tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”
Trang 9Chương I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Côn trùng là lớp động vật phong phú nhất.Nó chiếm tổng số loài trên trái đất.Trong đó loài côn trùng có ích chiếm 99% còn lại 1% côn trùng
có hại.Sự phong phú về thành phần loài, số lượng cá thể trong loài và đa dạng
về các loại sinh cảnh sống đã góp phần tạo ra tính đa dạng sinh vật trên trái đất [] Điều này đã làm các nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu côn trùng và hiện đã có rất nhiều loài côn trùng được xuất bản, công bố
1.1 Khái quát về tính hình nghiên cứu côn trùng trên thế giới
Ngay từ khi loài người mới xuất hiện, đặc biệt từ khi con người biết trồng trọt và chăn nuôi họ đã thấy được sự phá hoại nhiều mặt của côn trùng Trong một cuốn sách cổ của Xêri viết vào năm 3000 TCN đã nói tới những cuộc bay khổng lồ và sự phá hoại rất lớn của những đàn châu chấu sa mạc
Trong các tác phẩm nghiên cứu của ông nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa được hơn 60 loài động vật chân
có đốt
Nhà tự nhiên học vĩ đại người Thụy Điển Carlvon Linnes được coi là người đầu tiên đã đưa ra đơn vị phân loại và tập hợp xây dựng được một bảng phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng Sách phân loại thiên nhiên của ông đã được xuất bản tới 10 lần
Liên tiếp các thế kỉ sau như thế kỉ XIX có Lamarck, thế kỉ XX có Handlirich, Krepton 1904, Ma-tư-nốp 1928, Weber 1938 tiếp tục cho ra những bảng phân loại côn trùng của họ
Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh năm 1745.Hội côn trùng ở Nga được thành lập năm 1859.Nhà côn trùng Nga Keppen đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề
Trang 10Năm 1910 – 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài in trong 31 tập Trong đó đã đề cập đến hàng nghìn loài cánh cứng thuộc họ bọ lá Chrysomlidae
Năm 1948 A.I Ilinski đã xuất bản cuốn “Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng” trong đó đề cập đến phân loại một số loài bọ lá
Ở Rumani năm 1962 M.A Ionescu đã xuất bản cuốn “Côn trùng học” trong đó đề cập đến phân loại loài Họ Bọ lá Chrysomelidae Tác giả cho biết trên thế giới đã phát hiện được 24.000 loài bọ lá và tác giả đã miêu tả cụ thể được 14 loài
Năm 1966 Bey – Bienko đã phát hiện và mô tả được 300.000 loài côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng
Năm 1959 Trương Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng học” Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loại bọ lá phá hoại nhiều loại cây rừng
Năm 1978, Sở nghiên cứu động vật trường Đại học Nông nghiệp Triết Giang đã xuất bản cuốn “Hình vẽ côn trùng thiên địch” trong đó đề cập đến đặc điểm sinh học của một số loài ăn thịt
Năm 1987 Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn “Côn trùng rừng Vân Nam” đã xây dựng bảng tra của 3 họ phụ và họ Bọ lá (Chrysomelidae) cụ thể họ phụ Chrysomelinae đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài, họ phụ Glirucinae đã giới thiệu 93 loài
1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng ở Việt Nam
Trước năm 1954 nói chung là các công trình nghiên cứu về côn trùng ở nước ta còn rất ít Nổi bật là các công trình nghiên cứu sau: Năm 1897 đoàn nghiên cứu người Pháp “Mission parie” đã điều tra côn trùng Đông Dương trong đó có Việt Nam, đến năm 1904 công bố kết quả đã phát hiện được 1020 loài côn trùng trong đó có 541 loài bộ cánh cứng, 168 loài bộ cánh vẩy, 139
Trang 11loài chuồn chuồn, 59 loài muỗi, 55 loài cánh màng, 9 loài bộ 2 cánh và 49 loài thuộc bộ khác
Năm 1921 Vitalis de Salvza chủ biên tập “Faune Entomologi que de L’indochine” đã công bố thu thập 3612 loài côn trùng Riêng miền Bắc Việt Nam có 1196 loài
Trong cuốn “Sâu hại rừng và cách phòng trừ” của tác giả Đặng Vũ Cẩn
1973 có giới thiệu một số loài sâu bọ hung hại lá bạch đàn là: Bọ hung nâu lớn, Bọ hung nâu xám bụng dẹt, Bọ hung nâu nhỏ sâu trưởng thành của các loài này thường sống trên cây bạch đàn
Trong giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp” của tác giả Trần Công Loanh (1989) có giới thiệu một loài Bọ ăn lá hồi (Oides decempunctaca) thuộc họ
Bọ lá (Chrysomelidea), bộ Cánh cứng (Coleoptera) Loài sâu này xuất hiện ở rừng Hồi ở Lạng Sơn nhất là 2 huyện Văn Lãng, Tràng Định khi phát dịch
chúng đã ăn trụi lá hàng chục ha rừng hồi
Trong cuốn “Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp” của các tác giả Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2001) đưa ra các phương pháp về điều tra đánh giá và dự tính dự báo khả năng phát dịch sâu hại
Năm 2009 – 2011, Nguyễn Thế Nhã đã xác định được 4 loài sâu ăn lá Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana) tại khu nghiên cứu Đông Bắc Loài gây hại nhiều nhất là loài Sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha) thuộc họ Ngài độc
Trong cuốn “Sâu, bệnh hại cây Bạch đàn và Keo” Phạm Quang Thu đã
đề cập đến một số loài sâu hại cây Bạch đàn, Keo và đưa ra một số biện pháp phòng trừ sâu hại trên hai loại cây này
Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu về sâu hại các loài cây đã được thực hiện và xuất bản khác
Trang 121.3 Cây Bồ đề và tình hình nghiên cứu sâu hại cây Bồ đề
1.3.1 Thông tin chung về cây Bồ đề
Bồ đề (Styrax tonkinensis) là cây gỗ trung bình, cao 18 – 20m, có thể
trên 20m, đường kính ngang ngực 20 – 25cm Thân cây màu trắng, tương đối tròn, vỏ mỏng Tán cây mỏng và thưa
Bồ đề là loài cây đặc hữu, mọc phổ biến ở miền Bắc trong rừng lá rộng thường xanh bị phá tán hoặc rừng gỗ xem Tre, Vầu, Nứa Phân bố tương đối rộng ở nhiều vùng thuộc miền núi phía Bắc Bồ đề được trồng nhiều ở vùng Trung tâm Bắc Bộ
1.3.2 Những nghiên cứu về sâu hại cây Bồ đề
Thành phần hại cây Bồ đề không nhiều, nhưng cây Bồ đề thường bị hại bởi loài sâu xanh ăn lá, gây trụi nhiều cánh rừng lớn ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của rừng
Trong cuốn “Côn trùng rừng” của tác giả Trần Công Loanh và Nguyễn Thế Nhã xuất bản năm 1997 đã nghiên cứu loài sâu hại cây Bồ đề là Sâu xanh
ăn lá Bồ đề
Sâu Xanh bồ đề (Fentonia sp.) lần đầu tiên được nghiên cứu hoàn chỉnh
ở Việt Nam của tác giả Lê Nam Hùng
1.3.3 Tình hình sâu hại cây Bồ đề
1.3.3.1 Tình hình sâu hại trên cả nước
Theo Trạm Bảo vệ thực vật Lục Yên (Yên Bái) cho biết, loại sâu hại bồ
đề là sâu khoang với sâu xanh với diện tích nhiễm tăng từ 5ha lên tới gần 20ha chỉ trong vòng 1 tuần
Sâu lạ phá hơn 100ha rừng cây bồ đề ở Lào Cai, hơn 100ha rừng cây bồ
đề ở xã Bảo Yên đã bị một loại sâu lạ tàn phá nặng nề
1.3.3.2 Tình hình sâu hại Bồ đề tại khu vực nghiên cứu
Theo báo cáo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Phú Thọ thì Sâu xanh hại lá xuất hiện trên các rừng Bồ đề 3 – 5 tuổi tại các xã Kim Thượng, Xuân Đài, Long Cốc, Đồng Sơn Mật độ sâu non trung bình 5 – 10 (con/cây); cao từ 20 –
Trang 1330 (con/cây) Tỷ lệ lá hại trung bình 15 – 20%; cao 30 – 45% Diện tích bị sâu hại khoảng 497ha / 766ha Trong đó diện tích nhiễm trung bình là 222ha, nhiễm nặng là 275ha
Trong 2 năm 2011 và 2012, dịch sâu hại Bồ đề đã làm thiệt hại lớn cho người dân tại địa phương, gây hoang mang lo sợ về trận dịch lớn sẽ xảy ra.Vì vậy, các ban nghành liên quan cùng với người dân cần phải có biện pháp quản
lý sâu hại một cách thích hợp
Trang 14CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
- Xác định được thành phần và đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài sâu hại cây Bồ đề
- Đề xuất được các biện pháp phòng trừ tổng hợp các loài sâu hại chính
2.2 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng: Các loài sâu hại chính trên cây Bồ đề
- Địa điểm nghiên cứu: Vườn Quốc gia Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần và phân bố của các loài sâu hại cây Bồ đề
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài sâu hại chính
- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ đối với các loài sâu hại chính
- Đề xuất các biện pháp quản lí sâu hại cây Bồ đề
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.2 Điều tra thực địa
Tiến hành điều tra sơ bộ để nắm được khái quát tình hình sâu hại tại khu vực điều tra từ đó làm cơ sở cho các công tác điều tra tỉ mỉ sau này
Trang 15Sau khi thiết lập ô tiêu chuẩn chúng ta cần điều tra các đặc điểm cơ bản như: độ dốc, hướng dốc, thảm thực vật, số cây, tàn che…
Các số liệu điều tra được ghi vào biểu dưới đây:
Biểu 01: Đặc điểm các ô tiêu chuẩn
Trang 162.4.2.2 Lựa chọn cây tiêu chuẩn và xác định các chỉ tiêu trên cây tiêu chuẩn
Chọn cây tiêu chuẩn: Rừng trồng bồ đề theo hàng nên tôi chọn cây tiêu chuẩn trong ô tiêu chuẩn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, cứ cách một hàng điều tra một hàng, trong hàng cứ năm cây điều tra một cây Mỗi ô tiêu chuẩn điều tra 10 cây
Các công việc chủ yếu sau khi chọn cây tiêu chuẩn:
- Tiến hành đánh dấu cây tiêu chuẩn bằng sơn
- Đo các chỉ tiêu sinh trưởng của cây như D1,3, Hvn…
- Thực hiện các nội dung theo thứ tự điều tra sâu bệnh hại lá; điều tra sâu bệnh hại thân cành ngọn, điều tra mức độ gây hại và điều tra sâu bệnh hại
rễ
a Điều tra sâu hại lá
Trên 4 cành tiêu chuẩn đã chọn của cây tiêu chuẩn, tiến hành quan sát đếm số lượng cá thể của từng loại sâu hại mỗi cành theo các giai đoạn phát triển của chúng Kết quả thu được ghi vào biểu 02
Biểu 02: Điều tra số lượng chất lượng sâu hại lá
Số hiệu OTC:………… Loài cây:…………
Ngày điều tra:……… Tuổi cây:…………
Trứng Sâu non các tuổi Nhộng Sâu
trưởng thành
Tổng
số cành
Ghi chú
1 2 3 4 5
1
2
…
Trang 17b Điều tra mức độ gây hại của sâu ăn lá
Trong mỗi cây tôi chọn 4 cành để điều tra, ở mỗi cành tôi chọn 6 lá để điều tra.Ngắt 2 lá ở phần gốc cành, 2 là phần giữa cành, 2 lá ở phần đầu ngọn cành để điều tra.Việc phân cấp lá bị sâu hại dựa vào diện tích lá bị hại
Kết quả thu đƣợc ghi vào biểu sau:
Biểu 03: Đánh giá mức độ hại lá của sâu ăn lá
Ghi chú
1
2
…
c Điều tra sâu hại thân và xung quanh gốc
Trên những cành của cây điều tra tôi dựa vào các dấu vết và các triệu chứng để tính tổng số cành, số ngọn bị hại so với toàn bộ số cành và số ngọn điều tra.Đối với sâu hại thân thì tổng số cây bị hại so với tổng số cây điều tra.Sau đó dừng dao cắt tất cả các cành hoặc ngọn bị hại rồi chẻ ra để bắt các loài sâu hại để điều tra
Kết quả thu đƣợc ghi vào biểu sau:
Biểu 04: Điều tra sâu hại thân và xung quanh gốc cây
Ghi chú
1
Trang 18d Điều tra sâu hại dưới đất
Để điều tra thành phần,số lượng và sự phân bố của các loài sâu hại dưới đất tôi tiến hành lập 5 ô dạng bản có diện tích 1 m2
, vị trí nằm ở 4 góc của OTC và 1 ô dạng bản nằm ở giữa OTC Khi xác định xong vị trí của các ô dạng bản, trước hết dùng tay bới lớp cỏ, thảm mục trên bề mặt, vừa bới vừa nhổ hết cỏ của lớp bề mặt để tìm kiếm các loài côn trùng, sau đó dùng cuốc cuốc từng lớp đất, mỗi lớp sâu 10cm, đất ở mỗi lớp được đưa về mỗi phía Cuốc đến đâu dùng tay bóp nhẹ lớp đất để tìm kiếm các loài côn trùng, cứ như vậy cho tới khi không có sâu nữa thì thôi
Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu sau:
Mẫu biểu 05: Điều tra sâu dưới đất
Số lượng sâu hại
Động vật khác
Ghi chú Trứng Sâu
non Nhộng
Sâu trưởng thành
- Đối với pha sâu non, trứng, nhộng khó nhận biết trực tiếp: Bắt sống
và nuôi Việc nuôi sâu thuận lợi cho giám định sâu
- Đối với pha trưởng thành của côn trùng bộ cánh vẩy thì xử lý thành tiêu bản và ghim lại vào tấm xốp sau đó phơi
Trang 19- Sau đó chụp ảnh mẫu thu được trong OTC để có ảnh trong bộ cơ sở
dữ liệu về sâu hại cây Bồ đề
- Kế thừa tài liệu: Đối với các loài đã biết
- Phỏng vấn: Phỏng vấn cản bộ quản lý rừng tại xã Kim Thượng và người dân xung quanh để có được thông tin cơ bản về các loài sâu hại chính
2.4.2.5 Phương pháp thử nghiệm các biện pháp phòng trừ
Cơ sở tiến hành thử nghiệm các biện pháp phòng trừ trong đề tài này bao gồm:
- Sử dụng phương pháp phân tích kết quả điều tra và điều kiện áp dụng các biện pháp để tiến hành phòng trừ sâu hại thích hợp nhất
- Căn cứ vào đặc điểm sinh học, sinh thái, đặc điểm và tập tính của loài sâu hại rồi đưa ra biện pháp phòng trừ
- Thí nghiệm một số biện pháp phòng trừ cơ bản Tiến hành lập các ô thí nghiệm biện pháp, phân tích kết quả điều tra sâu, kết hợp với phỏng vấn
a Sử dụng bẫy đèn
Để tiến hành thử nghiệm biện pháp phòng trừ bằng bẫy đèn tôi đã sử dụng 1 bẫy đèn là đèn dầu để bắt bướm, tiến hành vào chiều tối và thu lại kết quả vào sáng hôm sau
Trang 20Hình 2.1 Bẫy đèn dùng để bắt sâu trưởng thành
b Sử dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh
Tôi chọn 02 ô tiêu chuẩn có cách thức chăm sóc khác nhau, cụ thể một
ô được áp dụng biện pháp chăm sóc đó là cuốc xới, vun gốc, ô còn lại không
áp dụng biện pháp tác động dùng để làm ô đối chứng
Ở ô tiêu chuẩn áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh tôi lựa chọn ngẫu nhiên cây trong ô và tiến hành các biện pháp như cuốc xới và vun gốc với bán kính quanh gốc cây là 50cm
Ở ô tiêu chuẩn dùng để đối chứng tôi cũng tiến hành chọn cây ngẫu nhiên sau đó đánh dấu lại để dễ dàng nhận biết trong các đợt điều tra sâu hại
c Biện pháp vật lý cơ giới
Là biện pháp dùng trực tiếp sức người hay các phương tiện để tiêu diệt sâu hại Phương pháp này bao gồm việc bắt giết, dẫn dụ sâu, ngăn chặn sâu…
Tôi chọn 2 ô tiêu chuẩn như nhau, cụ thể một ô được áp dụng biện pháp bắt giết, ô còn lại không tác động dùng để đối chứng
Ở ô thí nghiệm tôi tiến hành biện pháp vật lý cơ giới, tiến hành điều tra cây tiêu chuẩn sau đó bắt giết sâu hại trên cây điều tra
Ở ô tiêu chuẩn dùng để đối chứng tôi cũng tiến hành chọn cây ngẫu nhiên sau đó đánh dấu lại để dễ dàng nhận biết trong các đợt điều tra sâu hại
Trang 21d Biện pháp hóa học
Biện pháp này chính là sử dụng các chất hóa học để tiêu diệt sâu hại, biện pháp này khá đơn giản, hữu hiệu, hiệu lực diệt sâu cao Các biện pháp sử dụng như phun thuốc vào gốc cây, bả độc, vòng độc…
Đối với loài sâu xanh ăn lá bồ đề thì phun thuốc Neretox trộn với vôi bột sau đó phun cho 30 cây tiêu chuẩn của ô thí nghiệm còn ô đối chứng thì không phun Sau thời gian 5 ngày và 10 ngày kiểm tra số lần xuất hiện của sâu trên những cây đã phun
Đối với loài bọ hung nâu lớn thì dùng thuốc bột thấm nước Depterex phun vào gốc cây
2.4.2.6 Phương pháp xử lí số liệu
a Tính mật độ
Tính mật độ sâu hại theo công thức sau:
M = ∑
Trong đó: M: Là mật độ sâu hại trong OTC hoặc ô dạng bản
ai: Là số lượng sâu hại cố trên cây điều tra thứ i hoặc ô dạng bản thứ i
N: Là tổng số cây điều tra hoặc tổng số ô dạng bản
b Tỉ lệ có sâu
P% = x100%
Trong đó: n: Là số cây hoặc số ô dạng bản có loài sâu hại cần tính
N: Tổng số cây điều tra hoặc ô dạng bản điều tra
Nếu giá trị của P% > 50% thì loài đó phân bố đều
Nếu giá trị của P% 25-50% loài đó phân bố không đều
Nếu gia trị của P% < 50% thì loài đó phân bố ngẫu nhiên
c Tính mức độ hại lá
R% = ∑
Trang 22vi: là trị số cấp hại i N: là tổng số lá quan sát của 1 cây V: là trị số cấp hại cao nhất ( V = 4 ) Nếu R% ≤ 25%: Bị hại nhẹ
Nếu R% 26-50%: Lá bị hại vừa
Nếu R% 51-75%: Lá bị hại nặng
Nếu R% > 75%: Lá bị hại rất nặng
2.4.2.7 Phương pháp đề xuất các biện pháp phòng trừ
Dựa vào đặc điểm sinh học và tập tính của loài sâu hại chính, điều kiện
cơ bản nhất của khu vực nghiên cứu có thể đề xuất các biện pháp phòng trừ hợp lý nhất
Biện pháp phòng trừ nên đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp với điều kiện của người dân tại khu vực nghiên cứu
Trang 23CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
* Ranh giới Vườn quốc gia:
- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình;
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;
- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Kiểu địa hình thấp và đồi, độ cao < 700m, chiếm khoảng 65% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, phần lớn là các dãy núi đất, có xen lẫn địa hình caster, phân bố phía Đông và Đông Nam Vườn, độ dốc trung bình từ 25º - 30º, độ cao trung bình 400m
- Địa hình thung lung, lòng chảo và dốc tụ, chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình, phần lớn diện tích này đang được sử dụng canh tác nông nghiệp
3.1.3 Địa chất, đất đai
3.1.3.1 Địa chất
Trang 24nhà địa chất gọi đây là vùng đồi núi thấp song Mua.Toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi.Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen
kẽ thành các dải nhỏ hẹp
3.1.3.2 Đất đai
- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH): Phân bố từ 700 –
1368m, tập trung ở phía Tây của Vườn, giáp với huyện Đà Bắc ( tỉnh Hòa Bình), huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La)
- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (Fe): Phân bố dưới
700m, thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, ít đá lẫn, đất khá màu mỡ, thích hợp cho các loài cây lâm nghiệp phát triển
- Đất Rangin ( còn gọi là đất hình thành trong vùng núi đá vôi): Đá vôi
là loại đá cứng, khó phong hóa, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hóa đến đâu lại bị rửa trôi đến đó, nên đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc dưới chân núi đá
- Đất dốc tụ và phù sa song suối trong các bồn địa và thung lung( DL):
Là loại đất phì nhiêu, tầng dày, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon Hàng năm thường được bồi them một lớp phù sa mới khá màu mỡ
3.1.4 Khí hậu thủy văn
3.1.4.1 Khí hậu
- Theo tài liệu quan trắc khí tượng thủy văn của trạm khí tượng Minh Đài và Thanh Sơn, khí hậu tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa cao nhất là thang 8,9 hàng năm Lượng mưa bình quân cả năm là 1.826mm, lượng mưa cực đại có thể tới 2.453mm (năm 1971)
- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa ít và có nhiều sương mù
Trang 25- Nhiệt độ trung bình cả năm là 22,5ºC; nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối vào các tháng 6 và 7 hàng năm, có khi lên tới 40,7ºC; nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối xảy ra vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, có khi xuống tới 0,5ºC
- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7,8 (trên 87%) thấp nhất vào tháng 1,2 (65%)
3.1.4.2 Thủy văn
- Vườn quốc gia Xuân Sơn có các hệ thống suối như: Suối Thân; Suối Thang; Suối Chiềng các suối này đổ ra hệ thống Sông Vèo và Sông Dày Hai sông này hợp lưu tại Minh Đài, rồi đổ vào sông Hồng tại Phong Vực Tông chiều dài của sông 120km, chiều rộng trung bình 150m, thuận lợi cho việc vận chuyển đường thủy từ thượng nguồn về sông Hồng
3.1.5 Thảm thực vật, động vật
3.1.5.1 Thảm thực vật rừng
- Theo hệ thống phân loại Thảm Thực vật Việt Nam của GS-TS Thái Văn Trừng, thì rừng ở đây thuộc kiểu “Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới” với các kiểu chính là:
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp: Phân bố ở độ cao dưới 700m Kiểu rừng này phân bố thành mảng lớn tại khu vực phía Đông và phía Nam của Vườn Đây là kiểu rừng đã bị tác động nhưng vẫn giữ được cấu trúc nguyên sinh
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới: Phân bố ở độ cao từ
700 – 1386m Kiểu rừng này bao phủ phần trên của núi Voi, núi Ten, núi Cẩn
và phía Tây của Vườn
Trang 26+ 9 loài chim, trong đó có 1 loài ở thứ hạng đang bị đe dọa (VU)
+ 9 loài bò sát trong đó có 2 loài ở thứ hạng cực kì nguy cấp (CR), 4 loài nguy cấp (EN) và 2 loài đang bị đe dọa (VU)
3.2 Đặc điểm về dân cư – kinh tế
Nằm trong Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đêm có 29 thôn thuộc 6 xã là Xuân Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Đồng Sơn, Kim Thượng và Xuân Đài Các xóm phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất,
ở độ cao từ 200 – 400m, tập trung ở phía Đông, một phần phía Bắc và Nam của Vườn quốc gia
- Dân số: Theo kết quả thống kê tại các xã năm 2012 Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 12.559 người với 2.908 hộ trong đó nằm trong vùng lõi Vườn quốc gia có 2.984 người với 794 hộ
- Dân tộc: Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 3 dân tốc đang sinh sống Trong đó: Dân tộc Mường có 2.324 hộ chiếm 79,9%; dân tộc Dao có 546 hộ, chiếm 18,7%; dân tộc Kinh có 38 hộ, chiếm 1,4%
Trang 27- Lao động: nông nghiệp là chủ yếu, các sản phẩm chính là lúa nước, lúa nương, khoai sắn và một số sản phẩm chăn nuôi gia súc gia cầm
- Cơ sở hạ tầng: Đã có đường cấp phối đi tới phần lớn các thôn xóm trong khu vực Vườn quốc gia và vùng đệm, tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế xã hội, giao lưu văn hóa và du lịch sinh thái Giáo dục trong khu vực được chú trọng, hầu hết các xã đều có trường tiểu học và trung học cơ sở.Y tế cũng đang được quan tâm và phát triển