QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Giới thiệu chung về gà Chín cựa tại Vườn quốc gia Xuân Sơn
Hiện nay, tại Việt Nam, nhiều địa phương như Lạng Sơn (xã Mẫu Sơn), Bắc Ninh (Công ty Dabaco), Nghệ An đã phân bố rộng rãi giống gà Chín cựa Tuy nhiên, gà Chín cựa tại Vườn quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ) sở hữu những đặc điểm ngoại hình hoàn toàn khác biệt so với các vùng miền khác, đặc biệt là đối với gà trống.
Màu lông: Lông đầu, lưng và đuôi có màu đỏ tươi, bụng màu đen; đuôi lông màu đen và uốn cong
Gà mái có lông đỏ tươi, phát triển tốt, láng bóng, thường chia thành 7 thùy rõ ràng Kích thước trung bình của lông dài từ 6,5 cm đến 7,4 cm, cao từ 5,0 cm đến 5,4 cm, mang lại vẻ ngoài săn chắc và khỏe mạnh Đặc biệt, một số gà trưởng thành còn có ráy tai màu trắng, tạo điểm nhấn riêng biệt cho giống gà này.
Gà mái có tổng cộng 8 cựa, mọc trên xương ống chân, được sắp xếp từ ngắn đến dài theo chiều từ dưới lên trên Cựa cuối cùng có hình dạng uốn cong lên, tạo nên điểm nhấn đặc biệt trên chân gà Đuôi của gà mái thường thẳng, nằm đúng vị trí, nhưng cũng có thể uốn cong nhẹ, thể hiện sự đa dạng trong kiểu dáng Tất cả những đặc điểm này đều giúp phân biệt và nhận biết dễ dàng hơn các đặc điểm ngoại hình của gà mái.
Màu lông: Lông đầu, lƣng và đuôi có màu vàng hoặc nâu; bụng dày màu sáng đen; đuôi lông màu nâu
Mào đỏ tươi, phát triển tốt, láng bóng Một số gà thành thục tích tai có màu trắng
Số cựa: 6 cựa màu vàng, mọc trên xương ống chân, các cựa được sắp xếp từ ngắn đến dài theo chiều từ dưới lên trên
Gà Chín cựa Xuân Sơn (Phú Thọ) Gà Chín cựa Mẫu Sơn (Lạng Sơn)
Tình hình nghiên cứu bảo tồn gà chín cựa ở trong và ngoài nước
Bảo tồn nguồn gen vật nuôi là vấn đề cấp bách có tính toàn cầu, góp phần vào bảo vệ đa dạng sinh học Công ƣớc Đa dạng Sinh học (CBD), được phê chuẩn vào tháng 12 năm 1993, đã trở thành bước ngoặt lớn trong lĩnh vực môi trường và phát triển bền vững CBD là công ước đầu tiên giải quyết toàn diện các vấn đề về bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững và tiếp cận nguồn gen, chuyển giao công nghệ, kể cả công nghệ sinh học (http://www.biodiv.org) Việc bảo tồn nguồn gen vật nuôi không chỉ giúp duy trì đa dạng sinh học mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực quốc gia.
Gần đây, 109 quốc gia đã phê chuẩn kế hoạch toàn cầu về bảo tồn nguồn di truyền động vật, góp phần quan trọng vào việc thiết lập mạng lưới quốc tế về bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen động vật một cách hiệu quả [FAO, 2007a; FAO, 2007b] Các nỗ lực hợp tác đa quốc gia thể hiện rõ qua việc xây dựng và duy trì một ngân hàng thông tin toàn cầu về nguồn di truyền động vật của 205 quốc gia, cung cấp dữ liệu về các giống vật nuôi quý hiếm, phục vụ mục đích khai thác và phát triển giống theo hướng đặc sản hoặc hàng hóa, thúc đẩy sự phát triển bền vững ngành chăn nuôi toàn cầu.
FAO tiến hành dự án: “Xây dựng báo cáo đầu tiên về hiện trạng nguồn gen vật nuôi toàn cầu”
Tại Ấn Độ, đã xây dựng một cơ quan chuyên trách bảo tồn qũy gen vật
Chúng tôi đang triển khai nhiều dự án quan trọng, tập trung vào đa dạng hóa nguồn gen vật nuôi và xây dựng hệ thống thông tin nguồn gen quốc gia Các nghiên cứu nổi bật bao gồm phân tích đặc điểm di truyền và bảo tồn các giống cừu, dê vùng sa mạc, nhằm duy trì nguồn gen quý hiếm của các loài này Đồng thời, chúng tôi còn nghiên cứu tín hiệu phân tử dựa trên kiểm định di truyền của các gen mắn đẻ, giúp cải tiến và phát triển các giống cừu, dê bản địa phù hợp với điều kiện địa phương.
Chương trình germplasma vật nuôi quốc gia tại Mỹ và nhiều dự án bảo tồn giống gà nội tại Trung Quốc đã được triển khai hiệu quả, sử dụng các nguồn tài chính đa dạng và địa điểm khác nhau Các viện như Viện Gia cầm, Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp ở Yangzhou và Trung tâm Nguồn gen gia cầm ở Anhuni đã bảo tồn tổng cộng 11 giống gà Trung Quốc, trong đó giống Chahua nổi bật với tiềm năng di truyền cao và được khai thác hiệu quả Công nghệ sinh học hiện đại với các kỹ thuật di truyền phân tử như phân tích microsatellite và mitochondrial DNA đã giúp đánh giá đa dạng di truyền giữa các giống gà, hướng dẫn quản lý, bảo tồn và sử dụng nguồn gen vật nuôi toàn cầu Trong nghiên cứu về gà nội tại châu Âu, các phương pháp phân tích microsatellite đã xác định các giống gà ưu tiên cho bảo tồn nhằm duy trì đa dạng di truyền cũng như hỗ trợ khai thác và phát triển giống, góp phần vào công tác bảo tồn và sử dụng nguồn gen hiệu quả.
Các nước Đức, Pháp, Nauy, Ý, Balan đã tham gia tổ chức bảo tồn nguồn gen gia cầm châu Âu, nhằm gìn giữ và khai thác đa dạng di truyền của các giống nội địa Sau khi sử dụng kỹ thuật di truyền phân tử để đánh giá đa dạng gen, những giống gà đặc trưng như Moewen, Marran, Jerhoens, Padova, chân xanh Partidge đã được xác định có tính trạng quý hiếm phù hợp cho phát triển Giống gà Marran của Pháp đóng vai trò quan trọng trong việc ưu tiên phát triển không chỉ trong nước mà còn mở rộng ra các quốc gia châu Âu khác (Granevitze Z và cộng sự, 2007) Tại Hungary, có 6 giống gà nội địa được đăng ký bảo tồn, trong đó giống Transylvanian Naked Neck Speckled Hodmezovasarhely thể hiện sự đóng góp đáng kể vào nguồn gen gia cầm của quốc gia.
Phát triển bền vững, được định nghĩa bởi FAO (2007b), là quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm đảm bảo sự phát triển liên tục, đáp ứng nhu cầu của cả thế hệ hiện tại và tương lai Các quốc gia đã ủng hộ khái niệm này như một phương hướng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và xây dựng xã hội bền vững Vấn đề khai thác tài nguyên theo hướng phát triển bền vững là một trong những ưu tiên hàng đầu, nhằm duy trì sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, đảm bảo sự sống động của cộng đồng xã hội trong tương lai.
Các giống vật nuôi đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học và có giá trị kinh tế cao nhờ khả năng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái địa phương Chúng không chỉ là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công tác lai tạo giống mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Tuy nhiên, giống vật nuôi dưới tác động của thiên nhiên và áp lực thị trường đang ngày càng suy giảm về số lượng và đa dạng, gây ra nguy cơ mất đi nguồn gen quý giá Ngoài ra, các loài dã thú bị đe dọa nghiêm trọng do mất môi trường sống và hoạt động săn bắt của con người, làm tăng áp lực bảo vệ đa dạng sinh học tự nhiên.
Nhiều giống vật nuôi địa phương đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, dù chúng có năng suất thấp nhưng mang giá trị quý giá như thơm ngon, khả năng chịu đựng dinh dưỡng thấp và thích nghi tốt với điều kiện sinh thái Bộ Khoa học và Công nghệ đã triển khai đề án bảo tồn nguồn gen vật nuôi từ năm 1989, nhằm giữ gìn và phát huy các giống truyền thống này Đây là hoạt động quan trọng để bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì nguồn gen quý hiếm của các giống vật nuôi Việt Nam.
Nghiên cứu của Cúc N.T.K, Simianer H và cộng sự (2010; 2011) đã xác định rằng giống gà Mía có đa dạng di truyền cao và khả năng tiệt chủng thấp nhất trong các giống gà nội Việt Nam Theo đó, giống gà này không cần ưu tiên bảo tồn để tránh nguy cơ tuyệt chủng, mà nên tập trung phát triển và khai thác nhằm tận dụng giá trị kinh tế và xã hội Kết quả này góp phần hỗ trợ các quyết định về chính sách bảo tồn giống gà nội phù hợp với tiêu chí sinh học và kinh tế.
Nhà xuất bản Lao động – xã hội (2002) giới thiệu kỹ thuật chọn và nhân giống gà công nghiệp hướng thịt như ISA-30MPK, AA, Cobb, cùng với giống gà thả vườn như Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabiir, Sasso Các phương pháp này bao gồm nhân giống gà thuần chủng, chọn giống gà ông bà, và lựa chọn gà con 1 ngày tuổi, 21 ngày tuổi hoặc 42 ngày tuổi để đảm bảo chất lượng và năng suất cao Ngoài ra, kỹ thuật chọn gà ở các giai đoạn 19-21 tuần tuổi, gà đẻ, cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình nhân giống Các phương pháp lai như lai kinh tế, lai cải tiến, lai tạo và lai gây thành được sử dụng để nâng cao hiệu quả sinh trưởng, khả năng kháng bệnh và năng suất của giống gà.
Tình hình nghiên cứu bảo tồn gà chín cựa tại Vườn quốc gia Xuân Sơn
Theo số liệu điều tra, gà chín cựa có đặc điểm nổi bật với chân có từ 6-8 cựa và sống theo tập tính hoang dã trong khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn Gà chín cựa có khả năng bay cao và xa, khả năng kháng bệnh tốt, nhưng hiện nay số lượng của giống này đang bị lai tạp với nhiều giống gà khác Việc bảo tồn nguồn gen bằng cách tuyển chọn, nuôi dưỡng và nhân giống gà chín cựa đang được triển khai, đồng thời đánh giá di truyền bằng chỉ thị phân tử cũng được tiến hành để duy trì và bảo vệ đặc điểm đặc trưng của giống gà này.
Năm 2012, Bộ Nông nghiệp & PTNT giao nhiệm vụ cho Vườn quốc gia Xuân Sơn thực hiện dự án bảo tồn nguồn gen gà Lôi trắng (Lophura nycthemera sp) và gà Chín cựa (Galus domesticus ssp) tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, trong giai đoạn 2012-2015 Mục tiêu của dự án là bảo tồn và phát triển bền vững nguồn gen của hai loài gà này, đồng thời cung cấp giống thương mại chuẩn cho người dân trong và ngoài khu vực để tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập bền vững cho cộng đồng và giảm áp lực lên giá trị tài nguyên của Vườn quốc gia.
Giải trình tự gen ty thể và lưu trữ trên hệ thống ngân hàng gen (Genbank) của loài gà cho thấy:
G9C 05 G9C 17 G9C 38 G9C 42F GLM 02 AB268541 Gallus E03 AB268539 Gallus E01 G9C 33
AB268518 Gallus B03 AB268516 Gallus B01 AB294232 Gallus B07 AB268531 Gallus D02
HQ836349 Gallus A12 AB268522 Gallus C01 AB268528 Gallus C07 AB268527 Gallus C06
Chín cựa do có mức tương đồng cao về trình tự gen Gal với gà nhà phân
Gà Liên Minh được xếp vào phân nhánh E03 trong nhánh E, thể hiện sự phân nhóm dựa trên đặc điểm gen Gà Tàu Vàng có mức tương đồng cao về trình tự gen Gal với gà nhà nhánh A, do đó được nhóm vào phân nhánh A Sự phân chia này phản ánh khác biệt về nguồn gốc và phân bố địa lý của các giống gà, góp phần hiểu rõ sự đa dạng di truyền trong các loài gà.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu
Góp phần lưu giữ kiến thức bản địa trong chăn nuôi giống Gà chín cựa
2.1.2 Mục tiêu cụ thể Đánh giá tình hình chăn nuôi gà Chín cựa trên địa bàn xã Xuân Sơn
Xác định sự khác biệt về kỹ thuật chăn nuôi giống gà chín cựa so với các giống gà khác;
Để bảo tồn và lưu truyền giống Gà chín cựa trong cộng đồng xã Xuân Sơn, cần xác định và loại bỏ các rào cản quan trọng khiến kỹ thuật chăn nuôi này gặp khó khăn Việc nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của giống gà bản địa là yếu tố then chốt để duy trì truyền thống chăn nuôi lâu đời Đồng thời, cần thực hiện các chính sách hỗ trợ về kỹ thuật và nguồn lực để thúc đẩy phát triển mô hình chăn nuôi bền vững Việc bảo tồn giống Gà chín cựa không chỉ giữ gìn giá trị văn hóa mà còn góp phần nâng cao thu nhập cho người dân địa phương, giữ vững bản sắc truyền thống cộng đồng.
Đối tƣợng nghiên cứu
Kiến thức bản địa trong chăn nuôi Gà chín cựa.
Phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Phạm vi về nội dung:
Kiến thức bản địa trong chăn nuôi Gà chín cựa bao gồm các phương thức nuôi, kỹ thuật xây dựng chuồng trại, chăm sóc, cho ăn, và kỹ thuật nhân nuôi sinh sản Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp nâng cao hiệu quả chăn nuôi và bảo tồn giống gà bản địa Áp dụng các kỹ thuật phù hợp sẽ đảm bảo sức khỏe và năng suất của đàn gà chín cựa, góp phần phát triển bền vững ngành nông nghiệp địa phương.
2.3.2 Phạm vi về không gian: Địa điểm nghiên cứu đƣợc xác định là 04 thôn (Dù, Lạng, Lấp, Cỏi) thuộc xã Xuân Sơn- thuộc vùng đệm trong Vườn quốc gia Xuân Sơn
Nội dung nghiên cứu
Hiện trạng chăn nuôi gà Chín cựa tại khu vực nghiên cứu đã ghi nhận số lượng gà đạt từ 6-8 cựa, phân theo đặc điểm màu sắc và số cựa Các đàn gà này thể hiện đặc điểm nổi bật về ngoại hình, góp phần giúp đánh giá chính xác về tình hình chăn nuôi tại địa phương Việc khảo sát tình hình này cung cấp thông tin quan trọng để xây dựng các chiến lược quản lý và phát triển bền vững ngành chăn nuôi gà Chín cựa.
Nội dung 2: Tìm hiểu kỹ thuật chăn nuôi giống gà chín cựa tại xã Xuân
Sơn: Kỹ thuật xây dựng chuồng trại; Kỹ thuật chăm sóc, cho ăn; Phương thức nuôi; Kỹ thuật nhân nuôi, sinh sản
Để chăn nuôi gà chín cựa hiệu quả tại xã Xuân Sơn, cần đảm bảo các điều kiện tự nhiên phù hợp, như khí hậu thuận lợi và nguồn thức ăn phong phú Ngoài ra, điều kiện kinh tế - xã hội của xã góp phần hỗ trợ phát triển mô hình chăn nuôi này, nhờ vào chính sách hỗ trợ và cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện Đặc điểm dân sinh và kinh tế của các hộ gia đình nuôi gà chín cựa cũng đóng vai trò quan trọng, khi đa số người dân có truyền thống chăn nuôi và đủ vốn đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế địa phương.
Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Các phương pháp thu thập số liệu a) Kế thừa có chọn lọc từ các nguồn tài liệu:
- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Xuân Sơn tại: + Ủy ban nhân dân xã Xuân Sơn
+ Các phòng ban thuộc ủy ban nhân dân xã Xuân Sơn
+ Các tổ chức, dự án, chương trình đã có hoạt động tại địa phương
- Kiểm tra những số liệu thu thập đƣợc tại khu vực nghiên cứu
- Tiến hành thu thập bằng ghi chép, sao chụp b) Điều tra xã hội học:
Mỗi thôn lựa chọn khảo sát, tiến hành phỏng vấn 15 hộ; do đó tổng có 60 hộ đƣợc điều tra phỏng vấn
Phát phiếu phỏng vấn nhằm thu thập thông tin về tình hình chăn nuôi, đặc điểm dân số - kinh tế của các hộ gia đình nuôi Gà chín cựa, cũng như kỹ thuật chăn nuôi hiện tại Việc điều tra giúp nắm bắt chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả và phát triển ngành chăn nuôi Gà chín cựa bền vững Đây là bước quan trọng trong việc khảo sát thực tế, đánh giá mức độ phổ biến và kỹ thuật thực hành của các hộ gia đình nuôi Gà chín cựa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.
Nội dung các mẫu phiếu điều tra đƣợc thể hiện ở phần Phụ lục c) Khảo sát thực tế tại các hộ chăn nuôi gà chín cựa
- Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng chuồng trại
+ Vật liệu xây chuồng nuôi;
- Tìm hiểu kỹ thuật chăm sóc và cho ăn
+ Thành phần thức ăn của gà chín cựa;
+ Cách thức chế biến thức ăn;
+ Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị bệnh
- Tìm hiểu kỹ thuật nhân nuôi và sinh sản
+ Tuổi thành thục sinh sản của gà chín cựa;
+ Khoảng thời gian gà đẻ;
+ Số trứng đẻ mỗi lứa;
2.5.2 Các phương pháp xử lý số liệu a) Tổng hợp tỉ lệ % các phương án trả lời trong mẫu phiếu phỏng vấn:
Phương pháp thống kê thường quy trong đánh giá chăn nuôi gà chin cựa giúp đảm bảo độ chính xác và khách quan trong quá trình phân tích Đánh giá kiến thức bản địa đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà chin cựa, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương Phương pháp phân tích SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) là công cụ hữu hiệu để xác định các yếu tố nội tại và ngoại lệ ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi, từ đó đề ra chiến lược phát triển bền vững Trong đó, bảng đánh giá chi tiết về các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức giúp các nhà chăn nuôi và nhà quản lý có cái nhìn toàn diện, từ đó tối ưu hoá các lợi thế và hạn chế những rủi ro.
Những đặc tính tích cực (ƣu điểm) của kỹ thuật chăn nuôi
Gà chín cựa Điểm yếu
Những đặc tính tiêu cực (nhƣợc điểm) của kỹ thuật chăn nuôi Gà chín cựa
Các yếu tố, thực trạng có thể giúp duy trì kiến thức bản địa trong chăn nuôi Gà chín cựa Điểm mạnh- Cơ hội
Có thể phát huy những điểm mạnh nhƣ thế nào để lợi dụng các cơ hội duy trì kiến thức bản địa? Điểm yếu- Cơ hội
Có thể khắc phục những điểm yếu bằng cách nào để lợi dụng các cơ hội duy trì kiến thức bản địa?
Các yếu tố, thức trạng có thể cản trở việc áp dụng kiến thức bản địa trong chăn nuôi Gà chín cựa Điểm mạnh- Thách thức
Để vượt qua các thách thức cản trở việc áp dụng kiến thức bản địa trong quá trình chăn nuôi giống gà, cần phát huy những điểm mạnh như tận dụng nguồn gen địa phương phù hợp với điều kiện môi trường, áp dụng các kỹ thuật truyền thống kết hợp với tiến bộ khoa học để nâng cao năng suất, đồng thời xây dựng các mô hình chăn nuôi bền vững dựa trên kiến thức dân gian Việc nhận diện rõ các điểm mạnh này giúp giúp khắc phục những điểm yếu và thúc đẩy sự phát triển của ngành chăn nuôi gà theo hướng hiệu quả và bền vững.
Để vượt qua các thách thức cản trở việc áp dụng kiến thức bản địa trong chăn nuôi giống gà, cần xác định các điểm yếu hiện tại và phát triển các giải pháp phù hợp Việc nâng cao nhận thức của người chăn nuôi về lợi ích của kiến thức địa phương giúp thúc đẩy ứng dụng hiệu quả hơn Đồng thời, xây dựng các chương trình đào tạo, tập huấn nhằm truyền đạt kỹ thuật chăn nuôi phù hợp với điều kiện thực tế cũng là cách khắc phục hiệu quả Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để xác định và phát triển mô hình chăn nuôi phù hợp với đặc thù địa phương sẽ giúp vượt qua rào cản về kiến thức và công nghệ Cuối cùng, tăng cường hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu, chính quyền và người chăn nuôi là yếu tố then chốt để ứng dụng kiến thức bản địa thành công trong lĩnh vực chăn nuôi gà.
QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN
Điều kiện tự nhiên
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm về phía Tây của huyện Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hoà Bình và Sơn La
- Từ 21003’ đến 21012’ vĩ độ Bắc;
- Từ 104051’ đến 105001’ kinh độ Đông
* Ranh giới Vườn quốc gia:
- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình;
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;
- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Vườn quốc gia Xuân Sơn có địa hình đa dạng với độ dốc lớn, nhiều khu vực núi đất xen kẽ núi đá vôi, tạo nên cảnh quan độc đáo Địa hình nơi đây cao dần từ Đông sang Tây và từ Nam lên Bắc, mang lại trải nghiệm hấp dẫn cho du khách yêu thích khám phá thiên nhiên hoang sơ.
- Kiểu địa hình núi trung bình, độ cao ≥700m, chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, cao nhất là đỉnh núi Voi 1.386 m, núi Ten 1.244m, núi Cẩn 1.144m;
Vườn có kiểu địa hình chủ yếu là núi thấp và đồi với độ cao dưới 700m, chiếm khoảng 65% tổng diện tích tự nhiên, phần lớn là các dãy núi đất xen lẫn địa hình caster phân bố phía Đông và Đông Nam, có độ dốc trung bình từ 25-30 độ và độ cao trung bình khoảng 400m Ngoài ra, địa hình thung lũng, lòng chảo và dốc tụ chiếm khoảng 5% tổng diện tích, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình, phần lớn diện tích này được sử dụng để canh tác nông nghiệp.
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984, khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn có quá trình phát triển địa chất phức tạp, được gọi là vùng đồi núi thấp sông Mua với cấu trúc dạng phức tạp nếp lồi Nơi đây nổi bật với nham thạch đa dạng về loại và tuổi khác nhau, nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp, phản ánh một lịch sử địa chất phong phú và đa chiều.
Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH) phân bố từ độ cao 700-1386m, tập trung chủ yếu ở phía Tây của Vườn, giáp ranh với huyện Đà Bắc thuộc tỉnh Hòa Bình và huyện Phù Yên tỉnh Sơn La.
Đất feralit đỏ vàng phát triển chủ yếu ở vùng đồi núi thấp dưới 700m, có thành phần cơ giới nặng và tầng đất dày, ít đá lẫn, mang đặc điểm đất khá màu mỡ Loại đất này phù hợp để trồng các loài cây lâm nghiệp phát triển tốt, góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp và rừng ở khu vực đồi núi thấp.
Đất Rangin, hay còn gọi là đất hình thành trong vùng núi đá vôi, đặc trưng bởi loại đá vôi cứng, khó phong hóa Địa hình dốc đứng khiến quá trình phong hóa bị rửa trôi nhanh chóng, chỉ phát triển chủ yếu trong các hang hốc hoặc chân núi đá Do đặc điểm này, đất Rangin thường có cấu trúc đặc biệt phù hợp với các cây trồng thích nghi với điều kiện đất nghèo dinh dưỡng.
Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa cùng thung lũng là loại đất phì nhiêu, có tầng đất dày và màu nâu đặc trưng Thành phần cơ giới chủ yếu là limon giúp đất giữ độ ẩm tốt và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng trọt Hàng năm, đất nhận thêm lớp phù sa mới khá màu mỡ từ các sông suối, duy trì độ màu mỡ cao cho đất, phù hợp với các hoạt động nông nghiệp.
Dưới dựa trên số liệu quan trắc khí tượng thủy văn của trạm Minh Đài và Thanh Sơn, khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nơi đây có hai mùa rõ rệt mỗi năm: mùa mưa và mùa khô, ảnh hưởng đến sinh thái và hoạt động của cộng đồng địa phương.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm đến 90% lượng mưa hàng năm, với tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 và tháng 9 hàng năm Trung bình lượng mưa hàng năm đạt khoảng 1.826 mm, trong khi mức độ cực đại có thể lên tới 2.453 mm (năm 1971), phản ánh sự biến đổi lớn của lượng mưa theo từng năm.
- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; thường chịu ảnh
13 hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa ít và có nhiều sương mù
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở khu vực là 22,5°C, mang lại khí hậu ôn hòa dễ chịu Trong các tháng 6 và 7, nhiệt độ không khí cao nhất đạt đỉnh, có thể lên tới 40,7°C, thể hiện mùa hè nóng bức Ngược lại, vào mùa đông từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 0,5°C, tạo điều kiện cho mùa đông mát mẻ.
- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8 (trên 87%), thấp nhất vào tháng 12 (65%)
Vườn quốc gia Xuân Sơn nổi bật với hệ thống suối tự nhiên phong phú, gồm Suối Thân, Suối Thang và Suối Chiềng, tất cả đều chảy về hệ thống sông Vèo và sông Dày Hai con sông này hợp lưu tại Minh Đài, tạo thành tuyến đường thủy dài khoảng 120km, với chiều rộng trung bình 150m, thuận lợi cho hoạt động vận chuyển đường thủy từ thượng nguồn về Sông Hồng.
3.1.5 Hiện trạng rừng và sử dụng đất
3.1.5.1 Diện tích các loại đất, loại rừng
Theo kết quả điều tra hiện trạng rừng và sử dụng đất của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Đông Bắc bộ tháng 1 năm 2013, tổng diện tích tự nhiên là 15.048 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm đa số với diện tích 14.617,5 ha, giúp đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững rừng Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 312,4 ha, còn đất phi nông nghiệp là 118,1 ha, thể hiện cơ cấu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch của khu vực (Chi tiết cụ thể xem trong bảng 3.1)
Bảng 3 1: Hiện trạng rừng và các loại đất đai Vườn quốc gia Xuân Sơn
Tổng diện tích tự nhiên 15.048,0 1.128,8 455,4 26,4 2.817,4 4.060,0 6.560,0
1 Đất có rừng 12.715,3 892,4 450,6 26,4 2.598,0 3.228,0 5.519,9 a Rừng tự nhiên 10.498,8 871,4 430,1 26,4 1.192,3 2.512,6 5.466,0 b Rừng trồng 2.216,5 21,0 20,5 - 1.405,7 715,4 53,9
- Không có cây gỗ tái sinh 596,5 39,4 - - 62,6 211,5 283,0
- Có cây gỗ tái sinh 1.305,7 162,3 4,8 - 83,9 535,6 519,1
Từ kết quả điều tra cho thấy:
Đất có rừng chiếm đến 87% diện tích đất lâm nghiệp, trong đó rừng tự nhiên chiếm 82,6%, bao gồm các loại rừng đa dạng như rừng giầu (8,2%), rừng trung bình (14%), rừng nghèo (12,5%), rừng phục hồi (22,6%), rừng núi đá (39,7%) và rừng hỗn giao (3%) Rừng trồng chiếm 17,4% tổng diện tích đất có rừng, chủ yếu gồm các loài cây như Keo và Bồ đề, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của khu vực.
3.1.5.2 Trữ lượng các loại rừng
Trữ lượng các loại rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn được tổng hợp như sau:
Bảng 3 2: Hiện trạng trữ lượng các loại rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn Đơn vị tính: gỗ-m3; tre nứa- 1000 cây
Tre nứa 1.025 - 51 - 603 224 147 a Rừng tự nhiên
- Rừng núi đá 191.581 24.619 9.223 - - - 157.739 b Rừng trồng
- Rừng gỗ có trữ lƣợng 33.715 669 - - 21.597 10.942 508
Dữ liệu được lấy từ Chương trình điều tra, đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng toàn quốc, với các chỉ tiêu bình quân về trữ lượng rừng tự nhiên và rừng trồng tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005-2010, do Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn thực hiện.
3.1.6 Thảm thực vật, động vật và phân bố của các loài quý hiếm
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố thành các mảng lớn ở độ cao dưới 700m tại phía Nam của Vườn, với hệ sinh thái đa dạng và phong phú Thực vật trong rừng chủ yếu bao gồm các loài trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae), và họ Vang (Caesalpiniaceae), tạo nên một hệ sinh thái rừng đặc trưng, bền vững và quan trọng.
Đặc điểm kinh tế - Xã hội
3.2 1 Dân số, lao động và dân tộc
Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm gồm 29 thôn thuộc 6 xã: Xuân Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Đồng Sơn, Kim Thượng và Xuân Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Các xóm chủ yếu phân bố dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200 đến 400 mét so với mực nước biển Khu vực này tập trung chủ yếu ở phía Đông, một phần phía Bắc và phía Nam của Vườn quốc gia Xuân Sơn, phù hợp với tiêu chuẩn SEO về du lịch sinh thái và bảo tồn thiên nhiên.
Dân số tại các xã trong khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn và vùng đệm (gồm 29 thôn/xóm) năm 2012 là 12.559 người với 2.908 hộ, trong đó có 2.984 người và 794 hộ cư trú trong vùng lõi của Vườn quốc gia.
Trong Vườn quốc gia và khu vực vùng đệm có tổng cộng 7.391 lao động, chiếm 58,8% tổng dân số của khu vực Trong đó, số lao động vùng lõi là 1.647 người, chiếm 22,3%, còn khu vực vùng đệm có 5.744 lao động, chiếm 77,7% tổng số lao động.
Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm là nơi sinh sống của ba dân tộc chính, trong đó dân tộc Mường chiếm đa số với 2.324 hộ, chiếm tỷ lệ 79,9% Dân tộc Dao có 546 hộ, chiếm 18,7%, còn dân tộc Kinh chỉ có 38 hộ, chiếm 1,4%.
Người Mường sống thành từng xóm riêng biệt tại các địa phương như Lấp, Lạng, Nước Thang và Dù, vẫn giữ gìn tính cộng đồng trong sản xuất Họ thường hỗ trợ lẫn nhau trong các công việc như làm ruộng, nương rẫy, hái lượm, thể hiện truyền thống gắn bó keo sơn của cộng đồng Mường Với truyền thống làm ruộng nước lâu đời, người Mường bảo vệ sự ổn định và bền vững của các cánh đồng, góp phần giữ gìn nông nghiệp truyền thống và phát triển bền vững.
Người Dao phân bố chủ yếu tại các xóm Dù, Cỏi, Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng và Thân, nơi vẫn còn lưu giữ nhiều phong tục, tập quán và truyền thống đặc trưng của người Dao Việt Nam Những nét văn hóa này không chỉ phản ánh bản sắc độc đáo của cộng đồng mà còn là nguồn tài nguyên nhân văn quý giá cần được bảo tồn và phát huy Việc bảo tồn các phong tục truyền thống của Người Dao góp phần quảng bá nét đẹp văn hóa đặc trưng và thu hút du lịch cộng đồng.
3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu bao gồm lúa nước, khoai, sắn và các cây trồng phục vụ chăn nuôi Thời gian sinh trưởng của cây trồng kéo dài do thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn, ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cây Phần lớn nguồn nước tưới phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khiến mùa khô thường xảy ra tình trạng thiếu nước, làm giảm diện tích đất canh tác lúa nước và chủ yếu chỉ canh tác một vụ trong năm.
Khu vực trồng khoai, sắn chủ yếu nằm ở các sườn đồi có đất ít dốc, phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên của môi trường Do diện tích trồng không lớn và điều kiện tự nhiên ảnh hưởng lớn đến năng suất, nên sản lượng khoai, sắn còn hạn chế, chưa đạt hiệu quả cao Việc mở rộng diện tích và cải thiện kỹ thuật canh tác là cần thiết để nâng cao năng suất và sản lượng trong thời gian tới.
- Các loại cây trồng khác: ngô, đậu, lạc đƣợc trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng không đủ điều kiện để làm ruộng nước
Chăn nuôi luôn được chú trọng trong các gia đình cùng với trồng trọt để đảm bảo nguồn thực phẩm ổn định Hiện nay, hình thức chăn nuôi chủ yếu diễn ra nhỏ lẻ theo hộ gia đình, nhằm phục vụ nhu cầu tại chỗ và chưa hướng tới sản xuất hàng hóa tập trung Tuy nhiên, một số hộ gia đình đã chuyển sang mô hình chăn nuôi gia trại hoặc trang trại để nâng cao hiệu quả và quy mô Bên cạnh đó, phong tục chăn thả tự do vào rừng vẫn còn duy trì ở một số nơi, gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng non mới trồng.
3.2.2.3 Các hoạt động dịch vụ thương mại
Vườn quốc gia Xuân Sơn nổi bật với thế mạnh về du lịch sinh thái, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng địa phương Các hình thức du lịch chính tại đây gồm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và du lịch tham quan nghỉ dưỡng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững và bảo tồn giá trị tự nhiên của khu vực.
Các hoạt động du lịch không chỉ tạo nguồn thu nhập cho cư dân địa phương mà còn nâng cao ý thức bảo vệ rừng, môi trường, hệ sinh thái và cảnh quan Tuy nhiên, hiện nay, dịch vụ du lịch chủ yếu tập trung ở trung tâm xã Xuân Sơn, chủ yếu là bán lẻ hàng hóa tiêu dùng hàng ngày và cung cấp nhà nghỉ tạm thời cho du khách, dẫn đến lượng khách thăm quan vườn chưa nhiều Số lượng khách đến tham quan còn hạn chế, chưa phát huy tiềm năng du lịch của vùng.
21 xứng với tiềm năng do một số nguyên nhân sau:
+ Chưa có hệ thống tổ chức quản lý, hướng dẫn và dịch vụ phù trợ như: Nhà hàng, nhà nghỉ, khu vui chơi giải trí
+ Các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu vực còn nhỏ lẻ, tự phát và chƣa phát triển
+ Sản phẩm du lịch chƣa đa dạng, lực lƣợng tham gia làm dịch vụ du lịch còn mỏng, chƣa khai thác hết tiềm năng sẵn có
3.2.2.4 Đời sống và thu nhập của người dân
Thu nhập bình quân đầu người trong khu vực vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia đạt khoảng 7,9 triệu đồng mỗi năm Nguồn thu nhập chính của người dân trong khu vực chủ yếu đến từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc Nhờ vào các hoạt động này, người dân đã duy trì cuộc sống ổn định và góp phần phát triển kinh tế địa phương Việc nâng cao thu nhập và phát triển nền kinh tế sinh thái là mục tiêu quan trọng để bảo vệ và phát huy giá trị của khu vực.
Tỷ lệ hộ nghèo của 6 xã thuộc Vườn quốc gia Xuân Sơn chiếm 35,9%, thấp hơn mức trung bình của huyện Tân Sơn, cho thấy mức độ nghèo đói còn tồn tại nhưng đã được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo cao hơn tại vùng lõi của Vườn quốc gia so với vùng đệm, đặt ra thách thức lớn cho công tác bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững khu vực Đây là vấn đề cần được chú trọng trong giai đoạn 2013-2020 để đảm bảo cân đối giữa bảo tồn và phát triển kinh tế - xã hội của Vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ.
Hệ thống đường giao thông vào vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt đầu tư để nâng cao khả năng tiếp cận Tính đến năm 2012, đã có 94 km đường nhựa và bê tông đến trung tâm các xã, góp phần cải thiện giao thông khu vực Ngoài ra, 67,7 km đường bê tông đã được trải đến các thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao đời sống cộng đồng dân cư.
Trong khu vực Vườn quốc gia, trạm y tế kiên cố tại trung tâm xã Xuân Sơn (xóm Dù) phục vụ cộng đồng với 10 giường bệnh và đội ngũ gồm 1 bác sỹ, 2 điều dưỡng, 1 y sỹ, cùng 2 y tá, mỗi xóm có 1 y tá riêng Dụng cụ khám chữa bệnh tại địa phương được trang bị đơn giản để thực hiện các dịch vụ khám, chữa bệnh thông thường Mặc dù hạn chế về trang thiết bị, công tác y tế đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể như phát thuốc điều trị sốt rét, sốt xuất huyết, tiêm phòng dịch và tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng.
- Giáo dục trong khu vực Vườn quốc gia đã được chú trọng, hầu hết các xã
22 có trường tiểu học và trường trung học cơ sở Các xóm đều có lớp cắm bản từ lớp
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hiện trạng quần thể gà Chín cựa tại xã Xuân Sơn
4.1.1 Đặc trƣng quần thể gà Chín cựa
Qua khảo sát, phỏng vấn 60 hộ chăn nuôi gà Chín cựa (16 hộ/ thôn), cho thấy phần lớn các hộ trong thôn đều tập trung chăn nuôi giống gà Chín cựa, trong đó nhiều hộ đã mở rộng quy mô đàn nuôi lên đến 100 con và sử dụng giống gà đã qua tuyển chọn đạt từ 6-8 cựa Những kết quả này cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của mô hình chăn nuôi gà Chín cựa tại địa phương, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy ngành nông nghiệp tại vùng.
Bảng 4.1 Số cá thể gà Chín cựa tại 04 thôn thuộc xã Xuân Sơn ĐVT: Con
08 cựa; gà mái đạt 06 cựa
(Nguồn: Số liệu điều tra, phỏng vấn năm 2017)
Hình 4.1: Biểu đồ điều tra gà Chín cựa tại 04 thôn thuộc xã Xuân Sơn
Dựa trên kết quả khảo sát, hầu hết các hộ dân tại xã Xuân Sơn đều thực hiện nuôi giống gà Chín cựa với quy mô trung bình từ 28 đến 35 con mỗi hộ, trong đó đặc biệt là thôn Lạng, với trung bình 37 con trên hộ.
Tất cả các cá thể gà nuôi tại các hộ đạt tỷ lệ 100% từ 6-8 cựa, phản ánh giá trị kinh tế vượt trội của loại gà này so với các giống và cá thể gà khác Việc sở hữu gà có từ 6-8 cựa không chỉ nâng cao giá trị thương phẩm mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi Điều này cho thấy sự ưu thế của giống gà này trong thị trường, góp phần thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi gà tại địa phương.
Đàn nuôi được mở rộng dần từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch hàng năm, nhằm phục vụ nhu cầu Tết Nguyên Đán và Giỗ tổ Hùng Vương.
4.1.2 Đặc điểm hình thái gà Chín cựa
Ngoài chỉ tiêu đạt từ 6-8 cựa, theo thông tin thu thập từ cán bộ Vườn Quốc gia Xuân Sơn, hình thái và màu sắc bộ lông của gà phản ánh mức độ thuần chủng của giống Các đặc điểm này không chỉ thể hiện đặc tính đặc trưng của giống gà mà còn giúp đánh giá chất lượng và độ thuần chủng của chúng Việc quan sát màu sắc và hình thái bộ lông đóng vai trò quan trọng trong quá trình chọn giống và bảo tồn giống gà có nguồn gốc thuần khiết.
4.1.2.1 Đặc điểm hình thái Gà trống:
Màu lông: Lông đầu, lưng và đuôi có màu đỏ tươi, bụng màu đen; đuôi lông màu đen và uống cong
Gà Mào có lông màu đỏ tươi, phát triển tốt, láng bóng và thường chia thành 7 thùy rõ ràng Kích thước của mào dao động từ 6,5 đến 7,4 cm về chiều dài và từ 5,0 đến 5,4 cm về chiều cao Ngoài ra, một số gà đã trưởng thành còn có ráy tai có màu trắng, là đặc điểm nhận biết quan trọng khi đánh giá sự trưởng thành của giống gà này.
Cựa chân của thú có 8 cựa mọc trên xương ống chân, được sắp xếp từ ngắn đến dài theo chiều từ dưới lên trên Cựa cuối cùng có đặc điểm riêng biệt với hình dáng cong lên, giúp nhận diện dễ dàng Đuôi của thú luôn thẳng, nằm đúng vị trí, nhưng có thể uốn cong để phù hợp với các hoạt động hàng ngày Các đặc điểm này rất quan trọng trong việc xác định cấu trúc và chức năng của chân thú.
4.1.2.2 Đặc điểm hình thái Gà mái:
Màu lông: Lông đầu, lƣng và đuôi có màu vàng hoặc nâu; bụng dày màu sáng đen; đuôi lông màu nâu
Mào: đỏ tươi, phát triển tốt, láng bong Một số gà thành thục ráy tai có màu trắng
Số cựa: 6 cựa màu vàng, mọc trên xương ống chân, các cựa được sắp xếp từ ngắn đến dài theo chiều từ dưới lên trên
Từ những đặc điểm (tiêu chí) trên tôi tiến hành điều tra tại 60 hộ dân về hình thái gà Chín cựa Kết quả đƣợc tổng hợp vào bảng sau:
Bảng 4.2 Số cá thể gà Chín cựa đạt chuẩn tiêu chí tại 04 thôn điều tra Stt Tên thôn Tổng số (con)
(Nguồn: Số liệu điều tra, phỏng vấn năm 2017)
Hình 4.2: Điều tra gà Chín cựa đạt về màu sắc (bộ lông) tại 04 thôn
Dựa trên bảng 4.2 và hình 4.2, tỷ lệ gà đạt tiêu chuẩn hình thái (màu sắc bộ lông) là 77%, gồm 1540 con trong tổng số 1990 con, trong đó gà trống đạt 80% và gà mái đạt 75% Điều này chứng tỏ người dân trong khu vực đã nhận thức rõ về việc chọn lọc cá thể nuôi và nhân giống Các cá thể trống có hình thái đẹp, màu sắc bộ lông thu hút thị trường và được bán với giá cao, đồng thời đặc tính di truyền của loài được duy trì và ổn định.
Tìm hiểu kỹ thuật chăn nuôi giống gà chín cựa tại xã Xuân Sơn
4.2.1 Kỹ thuật xây dựng chuồng trại
Chuồng nuôi của các hộ trên địa bàn xã Xuân Sơn thường có 02 loại cố định và không cố định, cụ thể đƣợc mô tả tại bảng sau:
Bảng 4.3 Kỹ thuật xây dựng chuồng trại nuôi gà Chín cựa tại xã Xuân Sơn
Cố định Không cố định
Biến động từ 12-20m²/40 cá thể (rộng từ
Biến động từ 1-3m²/ 7-10 cá thể (rộng từ 1-2m x dài 1-1,5 m x cao 1,5m)
Mái chuồng làm bằng lá Cọ và Prôxi măng; làm 2 mái, mái lợp qua vách chuồng khoảng 1 m để tránh mƣa hắt làm ƣớt nền chuồng
Nền kiên cố và chắc chắn giúp dễ vệ sinh, sát trùng và tiêu độc hiệu quả Thiết kế nền có độ dốc thích hợp đảm bảo thoát nước tốt, tránh ẩm ướt và ngăn chuột đào bới Nền chuồng được lát xi măng hoặc cát sạch sẽ, tạo môi trường sạch sẽ, an toàn cho vật nuôi.
Tường vách chuồng được xây cách hiên 1-1,5 mét để đảm bảo thông thoáng và an toàn Vách xây cao từ 30-40 cm, phần phía trên được làm bằng lưới thép và phên nứa để tạo lớp che chắn tự nhiên Rèm che chắn được làm từ nhiều vật liệu như vải bạt, bao tải, phên nứa giúp giữ kín và bảo vệ vật nuôi hiệu quả Các giải pháp này kết hợp giúp đảm bảo sự thoáng mát, an toàn và phù hợp với môi trường chăn nuôi.
20 cm phía ngoài chuồng nuôi
Mái chuồng làm bằng lá Cọ; làm 1 mái, mái lợp qua vách chuồng khoảng 1 m để tránh mƣa hắt làm ƣớt nền chuồng
Nền đất Tường vách chuồng và vách đƣợc làm bằng Nứa hoặc gỗ theo hình tròn hoặc hình vuông
3 Bố trí chuồng trại Chuồng được làm tại vườn hoặc trại
Chuồng đƣợc làm tại nhà
Dựa trên bảng phân tích, bước đầu các hộ dân đã quan tâm đầu tư xây dựng chuồng nuôi, thể hiện sự chú trọng vào việc cải thiện điều kiện chăn nuôi Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hộ xây dựng chuồng nuôi sơ sài, chưa được chú trọng đúng mức, chủ yếu sử dụng vật liệu như tre, nứa, lá cọ để quây lại và thiếu hệ thống kín gió, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi Các hộ dân cần nâng cao ý thức và đầu tư bài bản hơn vào xây dựng chuồng trại để đảm bảo môi trường chăn nuôi an toàn, hiệu quả và vệ sinh.
Chuồng nuôi cố định là loại chuồng được các hộ xây dựng tại các trang trại, thường nằm xa khu dân cư, nhằm phục vụ mục đích phát triển kinh tế và kinh doanh chăn nuôi Quy mô đàn trong chuồng cố định thường dao động từ 40 đến 60 cá thể trưởng thành, đảm bảo hiệu quả trong quản lý và chăm sóc vật nuôi.
Chuồng nuôi không cố định thường được các hộ xây dựng tạm thời ngay tại nhà với mục đích phục vụ sinh hoạt hàng ngày và thường có quy mô nhỏ từ 3 đến 10 cá thể Những chuồng này mang tính chất "tạm bợ" nhằm đáp ứng nhu cầu nuôi nhốt linh hoạt và phù hợp với điều kiện thực tế của hộ gia đình Để làm rõ hơn về đặc điểm của loại chuồng nuôi này, tôi đã tổng hợp thông tin vào bảng dữ liệu, giúp dễ dàng hình dung về quy mô cũng như hình thức xây dựng tạm thời của các chuồng nuôi nhỏ lẻ.
Bảng 4.4 Số lƣợng các loại chuồng nuôi gà Chín cựa
TT Loại chuồng Số lƣợng
(Nguồn: Số liệu điều tra, phỏng vấn năm 2017)
Số lượng chuồng chăn nuôi không cố định, với 37 chuồng chiếm 62% tổng số, phản ánh thực trạng chăn nuôi gà Chín cựa tại địa phương Mặc dù người dân đã nhận thức rõ về giá trị kinh tế của đàn gà Chín cựa, phần lớn các hộ vẫn chưa chú ý đáng kể đến việc đầu tư xây dựng và duy trì hệ thống chuồng trại phù hợp để nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Các hộ đầu tư chuồng nuôi cố định, gồm 23 chuồng chiếm 38% tổng số, đều là những hộ có kinh nghiệm nuôi gà Chín cựa trên 10 năm Những hộ này cũng có tiềm lực kinh tế mạnh, quy mô mỗi đàn nuôi tập trung từ 60 cá thể trở lên.
Kết quả điều tra cho thấy có một số đặc điểm khác biệt rõ rệt giữa xây dựng chuồng nuôi gà Chín cựa và chuồng nuôi gà thông thường, tập trung vào các yếu tố như thiết kế, kích thước và điều kiện môi trường Các đặc điểm này giúp tối ưu hóa năng suất và sức khỏe của đàn gà Chín cựa, mang lại lợi ích kinh tế cao hơn Việc hiểu rõ những khác biệt về xây dựng chuồng nuôi là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả chăn nuôi và đảm bảo điều kiện sinh thái phù hợp cho từng loại gà.
Các loại vật liệu làm chuồng thường giống nhau và đều tận dụng các nguồn vật liệu sẵn có trên địa phương, phù hợp với mô hình chuồng nuôi không cố định Trong thời gian gần đây, xu hướng chuyển dịch từ nuôi quy mô nhỏ lẻ sang hình thức nuôi thả vườn với đàn lớn và tập trung một giống gà đã thúc đẩy việc xây dựng chuồng trại kiên cố hơn để đảm bảo an toàn và hiệu quả chăn nuôi.
4.2.2 Kỹ thuật chăm sóc và thức ăn
Kết quả điều tra cho thấy, thành phần các loại thức ăn cho gà Chín cựa tại 60 hộ thuộc 4 thôn xã Xuân Sơn phong phú, đa dạng và phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của đàn gà Các loại thức ăn chủ yếu bao gồm cám công nghiệp, cám tự chế biến, các loại phụ phẩm nông nghiệp như cám gạo, cám mì và các loại rau, cỏ tự nhiên Việc nghiên cứu thành phần thức ăn này giúp tối ưu hóa chế độ dinh dưỡng cho gà Chín cựa, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng thịt gà trong khu vực Thấu hiểu thành phần thức ăn còn giúp người chăn nuôi điều chỉnh chế độ dinh dưỡng phù hợp, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Bảng 4.5 Thành phần thức ăn trong chăn nuôi gà Chín cựa tại xã Xuân Sơn
Bộ phận sử dụng Ghi chú Tên phổ thông Tên khoa học
Sử dụng trong giai đoạn nhỏ
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017)
Các loại thức ăn chủ yếu là các nguồn có sẵn do các hộ tự sản xuất tại địa phương, mang lại sự tiện lợi và phù hợp với nhu cầu của phương pháp nuôi thả vườn Ngoài ra, gà còn tự kiếm các loại thức ăn tự nhiên trong môi trường nuôi để bổ sung dinh dưỡng Nhờ đó, phương thức nuôi thả vườn giúp giảm chi phí thức ăn và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Trong quá trình nuôi gà, việc bổ sung thức ăn phù hợp theo từng giai đoạn phát triển là rất quan trọng Đặc biệt, giai đoạn từ sơ sinh đến 4 tuần tuổi, các hộ chăn nuôi nên sử dụng cám tổng hợp để đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho gà con phát triển khỏe mạnh Việc chọn lựa loại thức ăn phù hợp giúp gà sinh trưởng tốt và tăng khả năng chống bệnh tật trong quá trình trưởng thành.
* Cách thức chế biến thức ăn:
Các loại thức ăn trên đƣợc các hộ chế biến nhƣ sau:
Bảng 4.6 Cách chế biến thức ăn nuôi gà Chín cựa
TT Loại thức ăn Cách chế biến
1 Lúa Để nguyên hạt hoặc xay
(Nguồn số liệu điều tra năm 2017)
Đối với Lúa, tùy vào tuổi của gà mà có thể chế biến thành dạng xay hoặc để nguyên để cho gà ăn trực tiếp Lúa sau khi xay để nấu rượu có thể được tận dụng làm thức ăn cho gà, giúp tiết kiệm và nâng cao hiệu quả chăn nuôi Đối với Ngô, có thể xay (vỡ) hoặc đun chín để cho gà ăn trực tiếp hoặc qua quá trình chế biến, đồng thời Ngô sau khi xay để nấu rượu cũng là nguồn thức ăn hữu ích Đối với Săn, được rủi nhỏ và phơi khô trước khi cho gà ăn trực tiếp hoặc đun chín, giúp đảm bảo dinh dưỡng và an toàn cho vật nuôi.
Kết quả điều tra cho thấy, tập đoàn thức ăn chăn nuôi gà Chín cựa tại xã Xuân Sơn chủ yếu gồm thức ăn tận dụng từ sản xuất nông nghiệp và thức ăn tự kiếm trong tự nhiên Điểm khác biệt lớn nhất giữa nguồn thức ăn của gà Chín cựa và gà thường chính là việc sử dụng cám tổng hợp trong giai đoạn từ sơ sinh đến 4 tuần tuổi (30 ngày).
4.2.3 Một số bệnh thường gặp: cách phòng và điều trị a ) Phòng bệnh bằng vắc xin: Trong quá trình chăn nuôi gà Chín cựa các hộ dân đã được cán bộ thú y địa phương và cán bộ kỹ thuật Vườn quốc gia Xuân Sơn khuyến cáo lịch tiêm các loại vắc xin sau:
Bảng 4.7 Phương pháp phòng bệnh bằng vắc xin
Ngày tuổi Loại vắcxin dùng Cách sử dụng
5 Vắcxin Gumboro lần 1 Nhỏ vào mắt, mũi
Vắcxin Lasota lần 1 Vắcxin Đậu gà
Nhỏ vào mắt, mũi Chủng vào màng cánh
10 Vắcxin Cúm gia cầm lần 1 Tiêm dưới da cổ hoặc tiêm bắp ức
15 Vắcxin Gumxboro lần 2 Nhỏ vào mắt, mũi
25 Vắcxin Lasota lần 2 Nhỏ vào mắt, mũi
40 Vắcxin Cúm gia cầm lần 2 Tiêm dưới da cổ hoặc tiêm bắp ức
Vắcxin Niu-cát-xơn Hệ1 Vắcxin Tụ huyết trùng
Tiêm dưới da Tiêm dưới da
Vắcxin Đậu gà Vắcxin Niu-cát-xơn Hệ1 Vắcxin Tụ huyết trùng
Chủng vào màng cánh Tiêm dưới da
Những điều kiện chăn nuôi gà chín cựa tại xã Xuân Sơn
4.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Xuân Sơn
4.3.1.1 Điều kiện tự nhiên i) Vị trí địa lý: Xã Xuân Sơn nằm về phía Tây của huyện Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hoà Bình và Sơn La
- Từ 21003’ đến 21012’ vĩ độ Bắc;
- Từ 104051’ đến 105001’ kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp xã Đồng Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Phía Nam giáp xã Kim Thƣợng, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình;
- Phía Đông giáp xã Xuân Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Từ vị trí địa lí trên cho ta thấy:
Xã Xuân Sơn cách các trung tâm tiêu thụ lớn như thành phố Việt Trì 80km và Hà Nội 130km ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường và trao đổi hàng hóa của địa phương, đặc biệt là đối với gà Chín cựa Tuy nhiên, chính vị trí địa lý này đã tạo điều kiện hình thành giống gà Chín cựa đặc trưng của Xuân Sơn Bên cạnh đó, địa hình và địa thế của vùng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và giữ gìn giống gà độc đáo này.
- Địa hình xã Xuân Sơn có độ dốc lớn với nhiều chỗ dốc, núi đất xen núi đá vôi, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc
- Kiểu địa hình núi trung bình, độ cao ≥700m, chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, cao nhất là đỉnh núi Voi 1.386 m, núi Ten 1.244m, núi Cẩn 1.144m;
Thung lũng, lòng chảo và dốc tụ chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên của xã, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình Phần lớn diện tích của những khu vực này được sử dụng cho hoạt động canh tác nông nghiệp, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương.
Các đặc điểm địa hình cho ta một số nhận xét:
Xã Xuân Sơn có địa hình đa dạng, tạo ra các yếu tố cách ly tự nhiên giúp hình thành giống gà Chín cựa đặc trưng Các kiểu địa hình như thung lũng, lòng chảo và dốc tụ không chỉ là nơi sinh hoạt và canh tác của các đồng bào dân tộc, mà còn cung cấp nguồn thức ăn phong phú và không gian sống phù hợp cho các loài sinh vật, góp phần phát triển đa dạng sinh học địa phương.
Việc phát triển giống gà Chín cựa và các sản phẩm liên quan gặp nhiều khó khăn do đặc điểm địa hình, như các khu vực thung lũng, lòng chảo và dốc tụ chỉ chiếm khoảng 5% diện tích, không phù hợp để quy mô đàn theo hình thức nuôi thả vườn Ngoài ra, địa hình chia cắt nhiều dốc lớn gây cản trở giao thông và vận chuyển hàng hóa trong khu vực cũng như ra ngoài huyện và tỉnh, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và phát triển nghề chăn nuôi.
Khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong miền Bắc Việt Nam, nơi có quá trình phát triển địa chất phức tạp theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984.
Vùng đồi núi thấp sông Mua được các nhà địa chất gọi là khu vực có cấu trúc dạng phức nếp lồi, nổi bật với đặc trưng địa hình đa dạng Khu vực này chứa nhiều loại nham thạch với các tuổi khác nhau, xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp tạo nên cảnh quan địa chất phong phú và đặc sắc.
Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH) phân bố chủ yếu từ độ cao 700-1386m, tập trung về phía Tây của Vườn, giáp ranh với huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình) và huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La).
Đất feralit đỏ vàng phát triển chủ yếu ở vùng đồi núi thấp dưới 700m, có thành phần cơ giới nặng và tầng đất dày, ít đá lẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loại cây lâm nghiệp Loại đất này có màu mỡ, phù hợp trồng các loài cây công nghiệp và cây rừng, góp phần vào phát triển kinh tế khu vực đồi núi.
Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi) chủ yếu phát triển trên đá vôi, một loại đá cứng và khó phong hóa Do đặc điểm địa hình dốc đứng, quá trình phong hóa diễn ra chậm và dễ bị rửa trôi theo suốt chiều dốc Chính vì vậy, đất Rangin thường chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá vôi, góp phần tạo nên đặc trưng địa hình và thảm thực vật của khu vực.
Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa, thung lũng là loại đất phì nhiêu, có tầng đất dày, màu nâu đặc trưng, chủ yếu chứa thành phần limon (L) Loại đất này thường được bồi đắp hàng năm bởi lớp phù sa mới, giúp duy trì độ màu mỡ cho đất trồng trọt Đặc điểm địa chất và phù sa liên tục bổ sung đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nông nghiệp trong vùng.
Theo dữ liệu quan trắc khí tượng thủy văn của trạm Minh Đài và Thanh Sơn, khu vực xã Xuân Sơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc trưng bởi hai mùa rõ rệt hàng năm là mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm tới 90% tổng lượng mưa hàng năm, với tháng cao điểm là tháng 8 và tháng 9 Lượng mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 1.826 mm, trong khi lượng mưa cực đại từng ghi nhận là 2.453 mm vào năm 1971.
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Trong thời gian này, nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa ít, và xuất hiện nhiều sương mù, góp phần tạo nên đặc trưng khí hậu khô hạn của mùa này.
Nhiệt độ trung bình hàng năm tại khu vực là 22,5°C, phù hợp với khí hậu ôn đới Trong các tháng cao điểm mùa hè, đặc biệt là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ không khí có thể đạt tới mức cao nhất tuyệt đối, lên đến 40,7°C, gây nắng nóng gay gắt Ngược lại, vào mùa đông từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối có thể giảm xuống còn 0,5°C, mang lại cảm giác lạnh giá và khắc nghiệt.
- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8 (trên 87%), thấp nhất vào tháng 12 (65%)