TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
Phục hồi rừng là quá trình đảo ngược quá trình thoái hóa của rừng thứ sinh nhằm khôi phục hoặc cải thiện cấu trúc và năng suất của rừng, đưa chúng về trạng thái ban đầu hoặc gần như ban đầu Trong đó, có ba thuật ngữ quan trọng là restoration (khôi phục), rehabilitation (phục hồi) và reclamation (cải tạo), trong đó “rehabilitation” nhấn mạnh đến việc ổn định hệ sinh thái rừng mà không nhất thiết phải tái tạo hoàn toàn như hệ sinh thái ban đầu Thực tế, việc cải tạo rừng theo mô hình “restoration” hoàn hảo là rất khó khăn và tốn nhiều thời gian do các quá trình vật chất và năng lượng đã có sự thay đổi sâu sắc trong rừng thứ sinh Do đó, thuật ngữ “rehabilitation” thường được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu về phục hồi rừng nghèo nhằm hướng đến việc đưa rừng về trạng thái ổn định phù hợp với quá trình tiến hóa tự nhiên và nâng cao sản lượng lâm nghiệp.
Còn theo Harrington (1999), Kumar (1999), Bradshaw (2002) và IUCN
Phục hồi rừng là quá trình tái thiết lập khả năng sản xuất của hệ sinh thái ở mức độ nhất định mà không nhất thiết phải duy trì đầy đủ tất cả các loài động thực vật như trong hệ sinh thái rừng nguyên sinh Dưới tác động của các yếu tố sinh thái và kinh tế, các khu rừng phục hồi có thể xuất hiện các loài mới, qua đó chức năng phòng hộ và các dịch vụ của rừng thứ sinh cũng dần được thiết lập theo thời gian.
Quan điểm hiện nay về phục hồi rừng thứ sinh nghèo đƣợc chia thành 3 nhóm chính nhƣ sau:
Phục hồi rừng là quá trình đưa rừng trở về trạng thái tự nhiên ban đầu trước khi bị tác động Các nhà nghiên cứu như Cairns (1995), Jordan (1995) và Egan (1996) đều nhấn mạnh rằng phục hồi rừng nhằm khôi phục chức năng sinh thái và cấu trúc của rừng tự nhiên, giúp đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái rừng.
Hệ sinh thái rừng được phục hồi đến mức độ bền vững thông qua các phương pháp tự nhiên hoặc nhân tạo, không nhất thiết phải giữ nguyên như hệ sinh thái ban đầu Quan điểm này nhận được nhiều sự đồng tình, trong đó Harrington (1999) và Kumar là những ví dụ tiêu biểu ủng hộ.
Ba là, tập trung vào việc xác định các nguyên tố và yếu tố rào cản của quá trình phục hồi rừng, trong đó nghiên cứu của ITTO (2002) nhấn mạnh rằng các khu vực đất rừng bị thoái hóa thường có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, cấu trúc đất không tốt, nhiều mầm bệnh, xói mòn mạnh và lửa rừng Để phục hồi rừng hiệu quả, cần xác định ảnh hưởng của các nhân tố này tới sự mất rừng nhằm hạn chế hoặc loại bỏ chúng, đồng thời quan điểm mới về phục hồi rừng đã liên hệ chặt chẽ hơn với các yếu tố xã hội, khi nguyên nhân chính gây mất rừng tại các nước nhiệt đới là do tác động của con người.
Việc nghiên cứu phục hồi rừng trên thế giới đƣợc bắt đầu từ rất sớm Năm
Năm 1930, Richard P.W thực hiện nghiên cứu đầu tiên về diễn thế tái sinh phục hồi rừng, nhận định rằng trong mỗi ô dạng bản, cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm hoặc đều, và thế hệ cây tái sinh có thể gồm các giống hoặc không giống lớp cây tầng cao Những nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng mở đầu cho khoa học phục hồi rừng, tuy nhiên, chúng chưa đề xuất các giải pháp cụ thể để thúc đẩy quá trình tái sinh rừng.
Tuy nhiên, khoa học nghiên cứu về phục hồi rừng mới thực sự phát triển vào những năm 1950 trở lại đây Điển hình là nghiên cứu của Barnard (1950),
Các nghiên cứu đều đồng thuận về việc tận dụng triệt để các điều kiện địa phương để thảm thực vật hiện có phát triển mạnh mẽ hơn Việc này giúp duy trì quá trình tái sinh tự nhiên của rừng, kết hợp với các biện pháp trồng bổ sung nhằm phục hồi cấu trúc rừng gần như ban đầu Đây là chiến lược thiết yếu để đảm bảo sự bền vững và phát triển bền vững của các hệ sinh thái rừng.
Trong nghiên cứu về rừng nhiệt đới châu Á, Van Steenis (1956) kết luận rằng quá trình tái sinh rừng phù hợp với các loài cây ưa sáng, mọc nhanh và có vòng đời ngắn, giúp duy trì sự liên tục của cây tái sinh phân tán Điều này đặc biệt phù hợp với các loài cây chịu bóng hoặc những loài cây ưa bóng tự nhiên trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới.
Khi nghiên cứu về những khu rừng nương rẫy bị bỏ hoang ở Brazil, Weidelt
Nghiên cứu năm 1968 cho thấy, các khu rừng thứ sinh có xu hướng phát triển trở lại về số lượng và thành phần loài, gần bằng với rừng nguyên sinh ban đầu Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi rừng thứ sinh diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Năm 1975, Whitimore nhấn mạnh rằng quá trình các khu rừng tái sinh hạt đạt đến trạng thái rừng nguyên sinh có thể kéo dài hàng trăm năm, đặc biệt đối với các khu rừng thuần loài có khả năng phát triển nhanh trên các khu đất trống nhờ vào lớp cây chồi và xử lý thực bì phù hợp Các nghiên cứu về kỹ thuật làm giàu rừng bắt đầu phát triển từ năm 1965, khi khái niệm làm giàu rừng được định nghĩa là việc bổ sung các loài cây có giá trị kinh tế vào các khu rừng đã phục hồi nhưng còn thiếu các loài này Đến năm 1989, Han Lamprecht và Aubreulle bổ sung rằng làm giàu rừng là phương pháp tối ưu nhất để cải thiện các lâm phần ban đầu thiếu loài cây tái sinh có giá trị kinh tế, góp phần xây dựng phương pháp làm giàu rừng theo rạch hiệu quả.
Năm 1996, nghiên cứu của Fedmaner cho thấy các yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình tái sinh phục hồi rừng bao gồm điều kiện lập địa, thành phần loài và nguồn gen mẹ gieo giống Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ là tổng hợp, chưa xác định rõ yếu tố nào có tác động mạnh nhất hay đề xuất các biện pháp khắc phục hiệu quả.
Các nghiên cứu trên, tuy ở những khía cạnh khác nhau song đều có ý nghĩa lớn lao, đặt nền móng cho khoa học phục hồi rừng ngày nay
Phục hồi hệ sinh thái rừng trở thành vấn đề nóng nỏng từ thập kỷ 80 của thế kỷ 20
Năm 1980, Cairn là chủ biên của cuốn “Quá trình phục hồi hệ sinh thái bị tổn thất”, do đó các chuyên gia đã phân tích các vấn đề liên quan đến sự tổn thất hệ sinh thái và các giải pháp khắc phục Sự suy thoái rừng với nhiều mức độ khác nhau đòi hỏi các hoạt động phục hồi rừng cũng rất đa dạng, phù hợp với hiện trạng của từng khu rừng Trong lịch sử, đã có nhiều kiểu trồng rừng được áp dụng để khôi phục hệ sinh thái ở các nước nhiệt đới, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái rừng.
-Trồng rừng kiểu Taungya (Psyllid):
Taungya có nguồn gốc từ Miến Điện và là một đóng góp quan trọng của nền lâm học nhiệt đới toàn cầu Thuật ngữ "Taungya" dùng để chỉ phương pháp canh tác tạm thời trên đồi núi, hay còn gọi là trồng trọt du canh, tận dụng người nông dân để trồng rừng non trên đất bỏ hoang Phương pháp Taungya chủ yếu được áp dụng ở các khu vực rừng nhiệt đới có tính chất phân mùa, như tại Ấn Độ, Pakistan, Cộng hòa Congo, Nigeria và các khu vực rừng mưa quy mô lớn khác Đây là mô hình trồng rừng kết hợp với nông nghiệp dựa trên lợi ích của cả nông dân và bảo tồn rừng, góp phần duy trì hệ sinh thái nhiệt đới đa dạng.
Công gô, người ta đã sử dụng một phương thức giống với taungya để trồng chuối đưa ra thị trường bán lấy tiền
-Trồng dặm dưới tán kiểu quảng canh (Extensive Enrichment Planting)
“Trồng dặm dưới tán” là phương pháp trồng cây con vào trong rừng nhằm giảm thiểu sự can thiệp của con người trong giai đoạn cây chưa trưởng thành vững vàng, phù hợp với các khu vực rừng nói tiếng Pháp tại Châu Phi Phương pháp này được áp dụng nhiều trong mô hình quảng canh để thúc đẩy quá trình tái sinh rừng tự nhiên hoặc tăng tỷ lệ các loài cây có giá trị, đặc biệt khi sự tái sinh tự nhiên bị hạn chế hoặc không khả thi do mức độ hỗ trợ thấp hoặc các loài cây có giá trị không xuất hiện Brasnett năm 1949 đã chỉ ra rằng trồng dặm dưới tán đem lại hiệu quả trong việc tái sinh từng phần, giúp giảm chi phí chăm sóc những đám cây tái sinh nằm rải rác so với việc chăm sóc rừng tự nhiên, đồng thời nâng cao khả năng phục hồi rừng trong các điều kiện khó khăn.
-Trồng dặm dưới tán kiểu thâm canh (Intensive Enrichment Planting)
Trồng rừng dưới tán kiểu thâm canh đòi hỏi chăm sóc toàn diện cho quần thể sau khi trồng, nhằm duy trì trữ lượng đầy đủ và tận dụng bất kỳ lớp cây tái sinh hợp lý nào có trong khu vực Phương pháp này được áp dụng ở những nơi thiếu hụt lớp cây tái sinh, mang lại hiệu quả cao và đã thành công trong nhiều dự án khác nhau Ở New South Wales, trồng rừng kiểu thâm canh đã giúp phát triển các rừng trồng cao tuổi, đặc biệt thành công với loài Araucaria cunninghamii, như đã được ghi nhận trong nghiên cứu của Holmes (1956).
1957), Ấn Độ (Krishnaswamy, 1952), Puectô Ricô và Malaysia
-Trồng rừng không tàn che bằng lao động trả công (Open Plantation by Direct labour)
Ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về phục hồi rừng
Phục hồi rừng bắt đầu bằng việc tái tạo thành phần chủ yếu của rừng là thảm thực vật cây gỗ, một quá trình sinh học gồm nhiều giai đoạn, kết thúc khi thế hệ mới của thảm cây gỗ bắt đầu khép tán Quá trình này giúp tạo điều kiện cho sự cân bằng sinh học xuất hiện, duy trì liên tục và đảm bảo khả năng khai thác bền vững nguồn tài nguyên rừng.
Các nghiên cứu về biện pháp phục hồi rừng bắt đầu từ những năm 1950, đặc biệt là năm 1961 Tuy nhiên, phải đến những năm 1990, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về phục hồi rừng và diễn thế rừng tại Việt Nam mới được thực hiện, trong đó nổi bật là các nghiên cứu phân loại đối tượng rừng và đề xuất các giải pháp phục hồi rừng hiệu quả.
Năm 1993, Thái Văn Trừng đã đề xuất hai bước cần thiết để phục hồi hệ sinh thái rừng bị nhiễm chất độc màu da cam ở miền Nam Việt Nam: trồng cây có khả năng tổng hợp nitơ tự nhiên để giải phóng đất, sau đó chặt bỏ lớp cây này và trồng các loại cây rừng có giá trị kinh tế Cũng trong năm đó, Đỗ Quang Điệp nghiên cứu rừng tái sinh tự nhiên dưới tán rừng khộp ở Easup - Đắk Lắk và nhấn mạnh rằng độ tàn che, thảm mục, độ dày của thảm tươi và điều kiện lập địa là các yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến số lượng và chất lượng cây tái sinh, góp phần mở rộng hiểu biết về quá trình khôi phục hệ sinh thái rừng tự nhiên.
Hiệu quả phục hồi rừng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, đặc tính sinh vật học của các loài, và điều kiện kinh tế - xã hội của khu vực (Nguyễn Ngọc Lung, 1995; Nguyễn Luyện, 1992) Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phục hồi và phát triển của rừng sau khi bị suy thoái Việc đánh giá đầy đủ các yếu tố tự nhiên và xã hội là cần thiết để xác định phương pháp phục hồi phù hợp, nhằm đảm bảo hiệu quả lâu dài trong bảo vệ và phục hồi rừng.
Vũ Xuân Đê (1999) nhấn mạnh rằng việc hỗ trợ tái sinh tự nhiên bằng phương pháp tái sinh nhân tạo là cần thiết để đảm bảo khả năng phục hồi của rừng Theo ông, tiêu chuẩn chính để đánh giá đối tượng làm giàu rừng là khả năng tái sinh tự nhiên, nhưng trong thực tế, khả năng này không đủ để đảm bảo rừng phát triển với chất lượng và trữ lượng cao, do đó cần thực hiện các biện pháp nhân tạo để nâng cao hiệu quả phục hồi rừng.
Hầu hết các công trình nghiên cứu tập trung vào việc khám phá quy luật của quá trình diễn thế tái sinh và phục hồi rừng, cung cấp cơ sở khoa học quan trọng để xác định các phương pháp phục hồi rừng hiệu quả Để đảm bảo thành công trong phục hồi rừng, cần có quy trình quy phạm rõ ràng, phù hợp với từng điều kiện thực tế Quy phạm ngành (QPN) 14-92, kèm theo quyết định số 200/QĐ-KT (năm 1993), đã ban hành hướng dẫn kỹ thuật về các biện pháp lâm sinh phục hồi rừng, tạo nền tảng pháp lý cho các dự án khôi phục rừng Đồng thời, QPN 21-98 đã bổ sung các tiêu chuẩn định lượng để xác định đối tượng, phương pháp, thời gian và kết quả đạt được của hoạt động phục hồi rừng, giúp nâng cao hiệu quả và tính khoa học của quá trình này.
Một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho phục hồi rừng thứ sinh nghèo chủ yếu đƣợc áp dụng hiện nay:
Kỹ thuật phục hồi rừng bằng khoanh nuôi bảo vệ (KNBV) tận dụng khả năng tự tái sinh và diễn thế của hệ sinh thái rừng để phục hồi rừng tự nhiên một cách bền vững Phương pháp này hướng đến việc ngăn chặn các tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài như chặt phá, chăn thả, đốt rừng thông qua các biện pháp hành chính hiệu quả Áp dụng theo Quyết định số 14 - 92, kỹ thuật khoanh nuôi bảo vệ giúp duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng một cách tự nhiên và bền vững.
Kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên là phương pháp phục hồi rừng dựa vào khả năng tự tái sinh của các rừng nghèo hiện có, chủ yếu sử dụng hạt hoặc chồi để thúc đẩy quá trình hồi phục Qua kỹ thuật này, người ta có thể bổ sung, nâng cao mật độ và tổ thành cây tái sinh, đảm bảo rừng được phục hồi hiệu quả và phù hợp với các mục tiêu đề ra Phương pháp này giúp khôi phục hệ sinh thái rừng một cách bền vững, tận dụng khả năng tự nhiên của rừng để duy trì và phát triển rừng một cách tối ưu.
Kỹ thuật phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh (KNXTTS) kết hợp làm giàu rừng là giải pháp tận dụng khả năng tự nhiên của rừng để phục hồi và phát triển bền vững Phương pháp này khai thác diễn thế tự nhiên, đồng thời áp dụng các biện pháp bảo vệ, kỹ thuật lâm sinh và trồng bổ sung cần thiết Theo quy định tại Quyết định số 21-98, kỹ thuật này thúc đẩy quá trình tái sinh rừng hiệu quả, góp phần bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái rừng một cách bền vững.
Kỹ thuật làm giàu rừng là phương pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao hiệu quả sinh trưởng của rừng, bằng cách cải thiện tỷ lệ cây mục đích trong rừng thứ sinh nghèo hoặc tăng tỷ lệ cây tốt trong rừng trồng Đây là biện pháp quan trọng giúp thúc đẩy sự phát triển bền vững của rừng, tối ưu hóa năng suất và chất lượng gỗ, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế lâu dài.
Ngoài các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chủ yếu nhằm tác động vào rừng để khôi phục rừng thứ sinh nghèo, cuốn “Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng” hướng dẫn cách sử dụng đất dựa trên tiềm năng sản xuất đất (cao, trung bình, thấp) Hướng sử dụng đất phụ thuộc vào thảm thực vật, độ dày tầng đất cùng điều kiện kinh tế - xã hội, nhằm thúc đẩy các biện pháp như tái sinh rừng, làm giàu rừng bằng cây bản địa chịu bóng, trồng cây lâm sản ngoài gỗ hoặc thực hiện khoanh nuôi bảo vệ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và sinh thái của rừng.
Nghiên cứu đề xuất giải pháp phục hồi rừng Dẻ ăn quả góp phần vào công cuộc phục hồi rừng nói chung Đề tài này cũng đề xuất các hướng mới trong kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi rừng Những giải pháp này không chỉ giúp phát triển rừng Dẻ ăn quả mà còn mở ra hướng đi mới trong quản lý và bảo tồn rừng bền vững.
1.2.2 Một số mô hình phục hồi rừng của Việt Nam đã đƣợc áp dụng
Sau 4 năm thực hiện mô hình phục hồi rừng tại vùng hồ thủy điện Sơn La, cấu trúc rừng đã thay đổi đáng kể, chuyển từ rừng một tầng tán sang rừng hai tầng tán với độ tàn che tăng từ 0,3 lên 0,7, đáp ứng mục tiêu về mặt cấu trúc Các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng cũng ghi nhận sự cải thiện rõ rệt, với chiều cao vút ngọn tăng 192,59% và đường kính trung bình tăng 185,31%, góp phần bảo vệ chức năng phòng hộ và sinh kế cho cộng đồng dân tộc thiểu số địa phương.
2 - 3 loài trong công thức tổ thành ở cả tầng cây cao và 4 - 5 loài ở tầng cây tái sinh [9]
Dự án phục hồi rừng bền vững tại tỉnh Phú Thọ, với các huyện Tân Sơn và Thanh Sơn, đã triển khai mô hình trình diễn phục hồi rừng nghèo kiệt dựa trên cộng đồng từ năm 2010 Sau hơn một thập kỷ thực hiện, dự án đã thành công trong việc trồng bổ sung cây gỗ bản địa và cây lâm sản ngoài gỗ, xây dựng trên 100 ha rừng thứ sinh nghèo kiệt Kết quả rõ rệt cho thấy chất lượng và độ che phủ của rừng tăng từ 35,9% năm 2000 lên 50% năm 2012, góp phần nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp khoảng 350 tỷ đồng mỗi năm Đồng thời, dự án góp phần phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết nguồn nước, từ đó cải thiện đời sống của người trồng rừng và tăng cường sự gắn bó của cộng đồng với rừng.
Dự án phục hồi rừng bằng các biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên đã đạt được nhiều kết quả vượt mong đợi sau 7 năm thực hiện, so với các vùng đối chứng Trong những năm đầu, các biện pháp tác động chủ yếu bao gồm phát luộc dây leo bụi rậm, chặt bớt cây phi mục đích để tạo điều kiện cho cây tái sinh phát triển Tuy nhiên, sau 7 năm khoanh nuôi, các biện pháp được nâng cao như điều chỉnh tổ thành tầng cây cao, tổ thành cây tái sinh và trồng bổ sung đã góp phần thúc đẩy phục hồi rừng hiệu quả hơn.
Đặc điểm hình thái và sinh thái của Dẻ ăn quả (Castanopsis boisii Hickel
Dẻ ăn quả (Castanopsis boisii Hickel & A Camus), còn gọi là Dẻ gai Yên Thế, thuộc họ Dẻ (Fagaceae), là loại cây gỗ nhỡ cao từ 10-15 mét, đường kính thân có thể đạt 30-40 cm, thân tròn, thẳng, và xù xì Vỏ cây dày màu xám trắng nứt dọc nhỏ, phần thân dưới cành có đặc điểm tròn dẹp và dài, với các vết đẽo hoặc xước chảy nhựa màu tím nhạt sau đó chuyển sang đen Cành non nhẵn, có nhiều đốm trắng, cành nhánh dài màu chàm trắng, khô giòn dễ gãy, uốn cong xuống phía gốc, mang lá đều đặn và tán lá rộng xum xuê.
Lá đơn, mọc cách, hình ngọn giáo hoặc hình trái xoan với mép nguyên, đầu hơi tròn, dài từ 9-16 cm và rộng 4-7 cm Mặt trên của lá có màu xanh đậm, nhẵn bóng, trong khi mặt dưới có nhiều vảy nhỏ màu hồng gỉ sắt xếp dày đặc Gân bên của lá có từ 10-14 đôi, cùng nhiều gân nhỏ mảnh, nổi rõ hơn ở mặt dưới Cuống lá mảnh, dài khoảng 1,5 cm, giúp dễ dàng nhận biết đặc điểm của loại lá này.
- 1,8 cm, có lá kèm hình gai sớm rụng Tán lá Dẻ rất dễ nhận biết từ xa trên các quả đồi nơi có Dẻ phân bố
Hoa đơn tính cùng gốc mọc đầu cành, với hoa tự đực hình bông đuôi sóc dài 5–10 cm, trục chính có lông Hoa đực đơn độc, chỉ nhị kéo dài, bao phấn tròn Hoa tự cái trên trục, dài hơn, có lông mềm, kèm lá bắc ngắn, trong khi hoa cái thưa, đầu nhụy xẻ 3 Bông mang quả dài 4–7 cm, thường cong, tập trung ở phần gốc, bên ngoài được bao bọc bởi đấu có đường kính 2–3 cm, nhiều gai nhọn xếp sát nhau nhưng không phủ kín vách đấu Trong vách đấu dày lông màu nâu, khi chín, vách đấu giãn ra để quả lò ra ngoài, mỗi đấu chứa một quả hình bầu dục dài 1–2 cm, đường kính 0,7–1,0 cm, rốn nhỏ, đầu nhọn màu nâu nhạt, có lông tơ mềm, vỏ quả giòn dễ vỡ, chứa phôi trắng nhiều tinh bột, có mùi thơm đặc trưng.
Hệ rễ hỗn hợp, rễ cọc và rễ bên phát triển b, Đặc điểm sinh thái
Dẻ có thể bắt đầu ra hoa kết quả từ tuổi 4 - 5 trở đi, đạt sản lƣợng cao ở tuổi
Hoa Dẻ nở rộ từ tháng 9 đến hết tháng 11, mang lại vẻ đẹp đặc trưng của mùa thu Quả chín từ tháng 8 đến tháng 9 năm sau, tạo ra mùa thu hoạch phong phú Thời điểm ra quả của Hoa Dẻ thường dao động từ 20-35 tuổi và giảm dần đến 40-50 tuổi Mùa sai quả phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, đặc biệt là gió hại và đợt rét đậm rét hại Thông thường, cây Hoa Dẻ đạt mùa sai quả trong khoảng 2 năm, đảm bảo năng suất ổn định cho người trồng.
Dẻ ăn quả là cây thường xanh, ưa sáng và phát triển tốt trên các loại đất pha cát, đặc biệt là trên đá sa thạch hoặc phấn sa Cây thường tập trung thành các quần thể ưu thế tại các khu vực chân và sườn đồi, giúp tận dụng tối đa điều kiện sinh thái phù hợp để phát triển tốt.
Tái sinh hạt tốt trên đất trống hoặc dưới tán rừng thưa, khả năng tái sinh chồi mạnh, là loài cây tiên phong ở rừng sau khai thác kiệt.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng ở Việt Nam, đặc biệt là rừng Dẻ ăn quả tỉnh Hải Dương, đóng vai trò quan trọng trong định hướng phát triển rừng bền vững Việc áp dụng các phương pháp mới giúp bảo tồn giá trị đa dạng sinh học, thúc đẩy sự phục hồi tự nhiên của hệ sinh thái rừng, góp phần duy trì nguồn tài nguyên gắn bó lâu dài với cộng đồng địa phương Tăng cường các kỹ thuật lâm sinh phù hợp góp phần nâng cao năng lực quản lý và bảo vệ rừng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ngành lâm nghiệp Việt Nam.
- Xác định mối quan hệ giữa một số chỉ tiêu sinh trưởng của Dẻ tái sinh với một số đặc điểm điều kiện lập địa khu vực nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phục hồi rừng Dẻ tại khu vực nghiên cứu.
Đối tƣợng nghiên cứu
Rừng Dẻ ăn quả tại xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Hình 2.1 Vị trí lập các tuyến điều tra tại xã Hoàng Hoa Thám
Vị trí lập các tuyến điều tra
Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài đƣợc thực hiện tại xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
-Thời gian: Công tác thu thập số liệu ngoại nghiệp từ 15/03/2015 đến 31/03/3015
Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của điều kiện lập địa như độ dốc, độ cao, độ ẩm đất, độ tàn che, và độ che phủ của cây bụi, thảm tươi, thảm khô, cũng như thảm mục đến sự sinh trưởng của cây Dẻ tái sinh Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ phát triển của đường kính tán, đường kính gốc và chiều cao vút ngọn của Dẻ, góp phần xác định các điều kiện tối ưu để nâng cao khả năng sinh trưởng và phát triển của loài cây này trong môi trường tự nhiên.
Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng khu vực nghiên cứu
Các đặc điểm cấu trúc của tầng cây cao bao gồm đường kính tại vị trí 1.3 mét (D1.3), chiều cao vút ngọn (H_vn), chiều cao dưới cành (H_dc), đường kính tán (D_t), và độ tàn che (TC) Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hình thái và chức năng của tầng cây cao trong hệ sinh thái rừng.
- Đặc điểm cấu trúc cây bụi, thảm tươi: Tên loài cây bụi thảm tươi, tỷ lệ che phủ, chiều cao trung bình, tình hình sinh trưởng
Cấu trúc cây tái sinh thường được đánh giá dựa trên các đặc điểm chính như chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán (D t), và đường kính gốc (D o), giúp xác định chất lượng và trạng thái sinh trưởng của cây Ngoài ra, yếu tố nguồn gốc tái sinh và mật độ cây trong khu vực cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng phục hồi của rừng sau khai thác hoặc tác động của môi trường Những đặc điểm này giúp các nhà quản lý rừng lựa chọn phương pháp chăm sóc phù hợp, đảm bảo sự phát triển bền vững của rừng tái sinh.
2.4.2 Nghiên cứu đặc điểm điều kiện lập địa khu vực nghiên cứu
- Điều kiện địa hình: Kinh độ, vĩ độ, độ dốc, hướng dốc, vị trí tương đối của khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm thổ nhƣỡng: Loại đất, bề dày tầng đất, độ xốp, tỷ lệ đá lẫn, thành phần cơ giới, màu sắc, độ chặt, độ ẩm, pH
- Điều kiện khí hậu khu vực: Nhiệt độ, độ ẩm, lƣợng mƣa, tốc độ gió, lƣợng bốc hơi, số giờ nắng,
2.4.3 Mối quan hệ giữa một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây tái sinh với một số đặc điểm điều kiện lập địa
- Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sinh trưởng chiều cao cây
- Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sinh trưởng đường kính cây
2.4.4 Đề xuất một số giải pháp phục hồi rừng Dẻ tại khu vực nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp kế thừa và tổng hợp tài liệu Để thực hiện các nội dung đã đề ra, đề tài đã tiến hành kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn, đất đai, thổ nhƣỡng, tài nguyên của khu vực, điều kiện kinh tế - xã hội: dân số, dân tộc, lao động, ngành nghề, sản xuất hàng hóa, phong tục tập quán của khu vực nghiên cứu, các văn bản quy phạm về khoanh nuôi phục hồi rừng, kế hoạch, chiến lƣợc phát triển nông lâm nghiệp của địa phương, số liệu về hiện trạng rừng Đây là những thông tin rất hữu ích cho việc đƣa ra giải pháp phục hồi rừng Dẻ của đề tài
2.5.2 Phương pháp điều tra thực địa
2.5.2.1 Phương pháp xác định đặc điểm cấu trúc rừng Dẻ
*Điều tra tầng cây cao
Để điều tra các tuyến tái sinh, tiến hành khảo sát 5 tuyến, mỗi tuyến rộng 10 mét và chiều dài phụ thuộc vào số cây tái sinh cách nhau 20 mét; mỗi cây tái sinh xem như một mẫu nghiên cứu Trong quá trình này, đo độ dốc, độ cao của từng cây và khoảng cách từ cây mẹ đến cây tái sinh, đồng thời lấy các số liệu về cường độ ánh sáng dưới tán và ngoài nơi trống, tốc độ gió, nhiệt độ, độ ẩm để phân tích môi trường sống của các cây tái sinh Ngoài ra, kiểm tra độ chặt, độ ẩm và pH của đất, xác định thành phần cơ giới của đất bằng phương pháp xoe con giun và tỷ lệ đá lẫn nhằm đánh giá điều kiện đất đai phù hợp cho sự phát triển của cây trồng Các ô dạng bản được lập trung tâm cây tái sinh để khảo sát tỷ lệ che phủ của các loài cây bụi tươi, thảm tươi và thảm khô, đảm bảo tính toàn diện trong điều tra đa dạng sinh học Cuối cùng, đánh giá độ tàn che của tầng cây cao tại vị trí cây tái sinh bằng phương pháp truyền thống 50 điểm, giúp hiểu rõ hơn về tầng tầng sinh thái trong khu vực nghiên cứu.
- Điều tra chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành đo bằng thước Blumleis
- Đường kính tán được đo bằng thước dây độ chính xác 2 cm
- Đường kính ngang ngực được xác định thông qua đo chu vi bằng thước dây có chia vạch đến mm và tính theo công thức D = C/3,1416
Điều tra chất lượng sinh trưởng của cây được thực hiện bằng phương pháp quan sát bằng mắt thường, dựa trên kinh nghiệm của người điều tra Quá trình này giúp đánh giá chính xác sự phát triển của cây dựa trên các đặc điểm quan sát trực tiếp Chất lượng cây được phân chia thành 3 cấp độ khác nhau, phản ánh mức độ sinh trưởng và sức khỏe của cây, từ đó đưa ra các quyết định quản lý phù hợp Sử dụng kỹ thuật quan sát cộng với kinh nghiệm chuyên môn đảm bảo độ chính xác cao trong việc phân loại chất lượng cây, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.
+ Cây tốt (T): là những cây có tán lá phát triển tròn đều, thân tròn thẳng, không bị khuyết tật, không bị sâu bệnh
+ Cây trung bình (TB): là những cây sinh trưởng kém hơn cây tốt, không cong queo, sâu bệnh, cụt ng ọn, ít khuyết tật
+ Cây xấu (X): là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởng kém, khuyết tật nhiều, bị sâu bệnh
Các kết quả điều tra đƣợc ghi vào mẫu biểu sau:
Mẫu biểu 01 BIỂU ĐIỀU TRA CẤU TRÚC TẦNG CÂY CAO
Tuyến điều tra: Hướng phơi:
Người điều tra: Ngày điều tra:
Khoảng cách tới cây tái sinh (m)
Điều tra các đặc điểm của cây bụi và thảm tươi được thực hiện trên từng tuyến điều tra bằng phương pháp lập ô dạng bản có diện tích 4 m² (2m x 2m), trong đó cây tái sinh được đặt ở vị trí trung tâm của ô Phương pháp này giúp xác định chính xác sự phân bố và đặc điểm của cây bụi, thảm tươi trong khu vực nghiên cứu.
- Chiều cao cây đo bằng thước dây hoặc thước kẻ ly với những cây có chiều cao nhỏ hơn 20 cm
Kết quả đƣợc ghi vào mẫu biểu 02:
Mẫu biểu 02 BIỂU ĐIỀU TRA CẤU TRÚC CÂY BỤI THẢM TƯƠI
Tuyến điều tra: Hướng phơi:
Người điều tra: Ngày điều tra:
Tên loài cây bụi, thảm tươi chủ yếu
Trong quá trình điều tra, các đặc điểm của cây tái sinh được khảo sát tại từng tuyến, với cây tái sinh được xác định dựa trên chiều cao từ 30 cm đến tối đa 3 mét Các số liệu thu thập giúp đánh giá khả năng phát triển và phân bố của cây tái sinh, cung cấp dữ liệu quan trọng cho các hoạt động bảo tồn và quản lý rừng bền vững.
- Chiều cao vút ngọn được đo bằng thước dây có độ chính xác đến 1 cm
- Đường kính tán đo bằng thước ly có độ chính xác đến 1 cm
- Đường kính gốc được xác định bằng thước ly có độ chính xác đến 1 mm
Nguồn gốc cây tái sinh có thể được xác định bằng cách quan sát gốc cây; nếu gốc mọc thẳng thì đó là cây tái sinh từ hạt, còn nếu gốc cong và có mấu lớn phía dưới thì đó là cây tái sinh từ chồi.
- Số cây tái sinh mạ: Ở xung quanh cây tái sinh đếm những cây mạ xung quanh có chiều cao nhỏ hơn 30 cm
Kết quả điều tra cây tái sinh đƣợc thể hiện trong biểu sau:
Mẫu biểu 03 BIỂU ĐIỀU TRA CÂY TÁI SINH
Tuyến điều tra: Hướng phơi:
Người điều tra: Ngày điều tra:
TS mạ (nếu có) (cây)
2.5.2.2 Phương pháp điều tra điều kiện thổ nhưỡng
Tại các vị trí xác định cây tái sinh, chúng tôi tiến hành phân tích các đặc điểm thổ nhưỡng như thành phần cơ giới, loại đất, màu sắc, tỷ lệ đá lẫn, độ chặt, độ ẩm, pH và độ xốp của đất để đánh giá điều kiện đất đai phù hợp cho sự phát triển của cây.
Các chỉ tiêu phản ánh đặc điểm thổ nhưỡng thông thường được xác định tại các điểm trên tuyến rồi tính giá trị trung bình
+ Thành phần cơ giới: Theo cuốn “Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng” [11] thành phần cơ giới được xác định bằng phương pháp xoe con giun
Để chuẩn bị đất cho quá trình nặn, cần đảm bảo đất có độ ẩm phù hợp, đạt trạng thái hơi dẻo để dễ dàng tạo hình Sau đó, lấy đất đã đủ độ ẩm, vò thành thỏi dài khoảng 8-10 cm và đường kính khoảng 3 mm Cuối cùng, cuộn thỏi đất thành vòng tròn để chuẩn bị cho các bước tiếp theo trong quá trình chế tác.
Nếu không vê đƣợc thành thỏi, đất rời rạc: Đất cát
Vê thành từng đoạn, viên rời rạc: Đất cát pha
Vê thành thỏi nhƣng bị đứt gãy: Đất thịt nhẹ
Vê thành thỏi nhƣng khi bị khoanh tròn bị đứt gãy: Đất thịt trung bình
Vê thành thỏi nhƣng bị nứt nẻ khi khoanh tròn: Đất thịt nặng
Vê thành thỏi không bị đứt gãy khi khoanh tròn: Đất sét
Độ chặt của đất là chỉ số thể hiện độ xốp của đất, xác định bằng phương pháp trọng lực Quá trình đo độ chặt được thực hiện bằng dụng cụ Push-cone có hình trụ dài 25 cm, một đầu nhọn cắm xuống đất và một đầu là thước đo lực ấn Khi đo, người đo ấn đầu nhọn xuống đất cho đến khi không thể ấn tiếp nữa, sau đó ghi lại giá trị trên thước Trong mỗi tuyến điều tra, thực hiện đo tại 5 điểm và tính trung bình các giá trị để có kết quả chính xác nhất.
Màu sắc của đất được quan sát và mô tả dựa trên ba nhóm màu cơ bản: đen (mùn), đỏ (hợp chất sắt Fe), và trắng (silicat) Để xác định nhanh màu sắc đất ngoài thực địa, có thể dùng mẫu đất xoe con giun, dùng ngón tay miết mạnh lên tờ giấy trắng để tạo thành vệt dài Màu sắc đất cuối cùng là sự tổng hợp của các màu theo thứ tự từ nhiều đến ít, giúp dễ dàng nhận biết đặc điểm đất trong quá trình khảo sát.
Tỷ lệ đá lẫn được ước tính theo phần trăm diện tích đá lẫn chiếm chỗ trên toàn bộ ô nghiên cứu Theo Liên Hợp Quốc, tỷ lệ đá lẫn trong đất được phân thành 6 mức dựa trên phần trăm thể tích chung của đất Các mức này giúp đánh giá chính xác mức độ đá lẫn trong đất, từ đó hỗ trợ các nghiên cứu về đặc điểm đất đai và quản lý đất hiệu quả Việc phân loại tỷ lệ đá lẫn theo tỷ lệ phần trăm là bước quan trọng trong phân tích đất đai nhằm mục đích đánh giá độ phù hợp của đất cho các mục đích sử dụng khác nhau.
+ Độ ẩm đất: Dùng máy đo giá trị pH và độ ẩm Kelway soil tester (Phụ biểu
19) bằng cách dùng lực ấn máy xuống đất tại vị trí cây tái sinh điều tra Đọc giá trị độ ẩm đất ở thang đo phía dưới có giá trị từ 0 – 100 % Đọc giá trị pH ở thang đo 3,5 - 8 và đánh giá pH theo giáo trình Thổ nhƣỡng học [2], giá trị pH đƣợc chia thành các cấp độ chua khác nhau nhƣ sau: o pH = 3 - 4,5 : chua nhiều o pH = 4,6 - 5,5: chua vừa o pH = 5,6 - 6,5: chua ít o pH = 6,6 - 7,5: trung tính o pH = 7,6 - 8,0: kiềm yếu o pH = 8,1- 8,5: kiềm vừa o pH = 8,6 - 9,0: kiềm nhiều
Các mẫu đất được mang về phòng phân tích tại Trung tâm Thí nghiệm thực hành Khoa Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp để tiến hành phân tích Đầu tiên, mẫu đất sau khi lấy về phải được phơi khô ở nơi sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát, tránh tiếp xúc trực tiếp với nắng, đồng thời loại bỏ rễ cây, lá, xác côn trùng và đá lẫn Sau đó, mẫu đất khô và sạch được nghiền nhỏ bằng cối sứ và dùng rây 1 mm để lọc Mẫu đất đã xử lý sẽ được đóng gói trong bao nilon để phục vụ cho quá trình phân tích, với lượng mẫu chuẩn là 20 gam sau khi đã qua xử lý Cuối cùng, chuẩn bị đầy đủ hóa chất phù hợp về nồng độ và dụng cụ cần thiết cho từng chỉ tiêu cần phân tích.
- Xác định tỷ trọng bằng phương pháp Picnomet, giá trị tỷ trọng được đánh giá theo Katriski thành 6 cấp nhƣ sau: [2]
Tỷ trọng (g/cm 3 ) Đánh giá
< 1 Đất giàu chất hữu cơ
1 – 1,1 Đất trồng trọt điển hình
1,4 – 1,6 Tầng đất bị nén chặt dưới tầng C
1,6 – 1,8 Tầng tích tụ bị nén chặt
Để xác định dung trọng của đất, ta sử dụng phương pháp ống dung trọng, cân và sấy, trong đó lấy 5 gam đất cho vào bình định mức rồi đổ nước cất đã đun sôi để nguội và đun sôi trong 30 phút để phân tích Sau khi để nguội, tiến hành cân bình định mức đã chứa nước cất và đất, sau đó đổ đất đi và đổ nước cất vào bình để xác định dung trọng chính xác Theo đánh giá của Katriski, dung trọng đất được phân thành 3 cấp độ khác nhau, giúp đưa ra kết quả chính xác và phù hợp với các tiêu chuẩn đánh giá đất.
d < 2,5: đất có hàm lƣợng mùn cao
2,5 < d < 2,66: đất có hàm lƣợng mùn trung bình
- Xác định độ xốp bằng công thức: P% =
Trong đó d là tỷ trọng; D là dung trọng của đất thì độ xốp đƣợc đánh giá theo Katrinxki nhƣ sau: [2]
TT Mức độ xốp Độ xốp (%)
-Xác định hàm lượng đạm dễ tiêu bằng phương pháp Kononova Hàm lượng đạm dễ tiêu đƣợc chia thành 3 cấp nhƣ sau: [2]
Mức độ N thủy phân (mg/100g đất)
Phương pháp Oniani xác định hàm lượng lân dễ tiêu trong đất bằng cách sử dụng H2SO4 để giải phóng photphat từ đất, giúp đo lượng lân dễ tiêu một cách chính xác Nguyên tắc chính của phương pháp là thủy phân đất với axit sulfuric để tạo ra dạng photphat dễ tiêu, từ đó có thể phân tích và xác định hàm lượng lân trong mẫu đất Đây là phương pháp phổ biến và đáng tin cậy trong các nghiên cứu đánh giá độ dinh dưỡng của đất trồng cây.
Điều kiện tự nhiên
Thị xã Chí Linh có vị trí tại trung du miền núi ở phía Bắc của tỉnh Hải Dương, có tọa độ địa lý như sau:
+ Từ 20 0 05’ đến 21 0 15’ vĩ độ Bắc
+ Từ 106 0 17’ đến 106 0 38’ kinh độ Đông
Thị xã Chí Linh nằm trong khu vực có giới hạn tiếp giáp với các huyện Lục Nam (tỉnh Bắc Giang) ở phía Bắc, huyện Quế Võ, Gia Bình (tỉnh Bắc Ninh) ở phía Tây, huyện Nam Sách, Kinh Môn ở phía Nam, và huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh) ở phía Đông Đây là địa phương có tổng cộng 20 đơn vị hành chính gồm 8 phường và 12 xã, với diện tích tự nhiên là 282 km² Theo số liệu năm 2011, dân số trung bình của thị xã là 160.098 người, với mật độ dân số đạt khoảng 569 người/km², góp phần vào sự phát triển và đô thị hóa của khu vực.
Với vị trí địa lý thuận lợi cùng ranh giới rõ ràng, thị xã có khả năng giao lưu, kết nối thương mại hiệu quả Đây còn là điều kiện thuận lợi để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp và lâm nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Vị trí địa lý ưu việt giúp thúc đẩy hoạt động buôn bán, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ trong khu vực.
3.1.2 Địa hình Địa hình Chí Linh có độ dốc nghiêng dần từ Bắc Tây Bắc xuống Đông Nam Địa hình đa dạng có cả phần núi cao, đồi thấp và đồng bằng, đƣợc chia thành
- Vùng núi cao thuộc cánh cung Đông Triều xen bãi bằng với các xã phía Bắc của thị xã, cấu tạo địa chất chủ yếu là đá trầm tích
Vùng đồi lượn sóng nằm giữa thị xã, bám theo quốc lộ 18, có độ cao khoảng 50-60 mét và độ dốc khoảng 10-15 độ, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nông lâm nghiệp Khu vực này có nhiều đồi thấp phù hợp với mô hình vườn đồi, góp phần thúc đẩy các hoạt động nông nghiệp bền vững và đa dạng hóa nông nghiệp địa phương.
Vùng đồng bằng phù sa phía Nam quốc lộ 18 có địa hình tương đối bằng phẳng, ngày càng thấp và trũng hơn về phía Nam Độ cao và mức độ chia cắt giảm dần từ vùng núi thấp đến vùng đồi rồi xuống đồng bằng, tạo nên sự chuyển tiếp tự nhiên giữa các khu vực địa lý Hệ thống đồi núi phía Bắc tỉnh đóng vai trò như một bức tường chắn giúp bảo vệ vùng đồng bằng của thị xã khỏi ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên bên ngoài.
Chí Linh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt, mùa mƣa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là khoảng 23°C, mang lại khí hậu dễ chịu cho cư dân và du khách Tháng 6 và tháng 7 ghi nhận nhiệt độ cao nhất từ 36°C đến 38°C, phù hợp cho các hoạt động ngoài trời vào mùa hè Trái lại, tháng 1 và tháng 2 có nhiệt độ thấp nhất, dao động khoảng 10°C đến 12°C, tạo điều kiện lý tưởng để tận hưởng khí hậu mát mẻ trong những tháng đầu năm.
Trong năm, lượng mưa trung bình là 1.480 mm, với đợt mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8, chiếm tới 78% lượng mưa cả năm Thời gian mưa diễn ra trong khoảng 145 ngày, chủ yếu từ tháng 3 đến tháng 10 Độ ẩm không khí trung bình đạt 85%, cao nhất vào tháng 4 và thấp nhất vào tháng 11, với mức độ ẩm thấp nhất là 33,5% Tổng số giờ nắng trong năm là 1.379 giờ, phản ánh khí hậu nắng ấm của khu vực.
Gió gồm hai hướng chính là gió mùa Đông Bắc và gió Đông Nam Gió Đông Bắc mang đặc trưng khô, lạnh ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp ở vùng đồi núi.
Khu vực đồi rừng có khí hậu thuận lợi, phù hợp với nhiều loại cây trồng nông nghiệp và lâm nghiệp khác nhau Đặc biệt, khí hậu này rất phù hợp để phát triển các loài cây Dẻ ăn quả, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Việc tận dụng đặc điểm khí hậu này giúp tăng sản lượng và giá trị của các loại cây trồng, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồi rừng.
Chí Linh chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều từ sông Phả Lại và sông Thương, với lưu lượng nước trung bình khoảng 286 m³/giây, thấp nhất đạt 181 m³/giây Trong khu vực còn có 33 hồ đập tự nhiên với dung tích tự thủy khoảng 400 ha, góp phần điều hòa nguồn nước Ngoài ra, Chí Linh còn có nguồn nước ngầm sạch, trữ lượng lớn, có khả năng khai thác phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, đảm bảo nguồn nước ổn định và bền vững cho địa phương.
3.1.5 Hiện trạng đất đai trên địa bàn khu vực
Theo thống kê hiện trạng sử dụng đất của thị xã [1], tính đến ngày 01/01/2011 toàn thị xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 28.202.8 ha:
Đất nông nghiệp chiếm 73,4% tổng diện tích tự nhiên của thị xã, với tổng diện tích là 20.700,77 ha Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 51,2% tổng diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp chiếm 46%, và đất nuôi trồng thủy sản chiếm 2,8% Việc quản lý và phát triển đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy kinh tế địa phương và đảm bảo nguồn lực nông nghiệp bền vững.
Đất phi nông nghiệp chiếm 7.360,2 ha, tương đương 26,1% tổng diện tích tự nhiên của thị xã Trong đó, đất ở chiếm 15,1% diện tích đất phi nông nghiệp, đất chuyên dùng chiếm 55,3%, đất tôn giáo, tín ngưỡng chiếm 0,3%, đất nghĩa trang, nghĩa địa chiếm 1,9%, và đất sông suối, mặt nước chuyên dùng chiếm 27,3%.
Diện tích đất chưa sử dụng còn lại là 141,8 ha, chiếm 0,5% tổng diện tích đất tự nhiên của thị xã, trong đó đất bằng chưa sử dụng chiếm 59,6%, đất đồi núi chưa sử dụng chiếm 39%, và đất núi đá chưa có rừng cây chiếm 1,3% Nhìn chung, diện tích đồi núi không lớn nhưng khu vực này có vị trí chiến lược về kinh tế, văn hóa xã hội và quốc phòng Vùng đất ít chịu ảnh hưởng của gió bão, còn giữ được sự màu mỡ, phù hợp để trồng các loại cây lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển giống dê, phù hợp với điều kiện tự nhiên của khu vực.
Kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số, lao động, dân tộc và phân bố dân cƣ
Theo số liệu thống kê năm 2011, dân số thị xã Chí Linh đạt 161.077 người, trong đó dân số đô thị là 38.520 người, chiếm khoảng 25,6% tổng dân số Dân cư phân bố không đều, dẫn đến mật độ dân số trung bình của thị xã là 571 người trên mỗi km², phản ánh sự phân bố dân cư không đồng đều trên địa bàn.
Trong khu vực nghiên cứu, tổng số lao động là 79.167 người, chiếm khoảng 55% dân số trong độ tuổi lao động Lực lượng lao động hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương.
75,4 %; lao động công nghiệp xây dựng chiếm 12,5 %; lao động dịch vụ chiếm 12,1 %
Chí Linh là địa phương có sự đa dạng về dân tộc, với cộng đồng người Kinh chiếm phần lớn dân số Ngoài ra, còn có 16 dân tộc thiểu số khác sinh sống tại đây, như Mán, Hoa, Khơ Me, Tày, Nùng, Sán Dìu và nhiều dân tộc khác, tạo nên một cộng đồng đa văn hóa phong phú và đặc sắc.
Nguồn nhân lực trong vùng dồi dào với những lao động cần cù, chịu khó và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm nghiệp Đây là lợi thế lớn giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển kinh tế địa phương.
3.2.2 Kinh tế, văn hóa, xã hội
Thị xã đạt mức thu nhập bình quân đầu người 22,2 triệu đồng mỗi năm, phản ánh sự phát triển kinh tế ổn định Cơ cấu kinh tế gồm nông - lâm, thủy sản chiếm 23%, công nghiệp - xây dựng chiếm 45,6%, và dịch vụ chiếm 31,4%, thể hiện xu hướng tích cực phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tuy nhiên, sự phát triển này đặt ra thách thức về bảo vệ môi trường, đặc biệt là yêu cầu xây dựng và phát triển hệ thống rừng đặc dụng để bảo vệ cảnh quan tự nhiên.
Hoạt động văn hóa thông tin được triển khai mạnh mẽ nhằm tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và nâng cao nhận thức pháp luật trong nhân dân Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được phát động rộng rãi trên địa bàn huyện, góp phần thúc đẩy sự phát triển văn hóa cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Trong công tác bảo vệ an ninh chính trị và giữ vững trật tự an toàn xã hội, xã đã đạt được những thành tựu rõ rệt khi công tác này được củng cố vững chắc và ngày càng ổn định Toàn xã tích cực phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, tổ chức hội nghị phát động và ký cam kết thi đua xây dựng “làng an toàn” và “khu dân cư an toàn về an ninh trật tự”, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm và đảm bảo trật tự xã hội.
Trạm y tế đã thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng, với tổng số lượt khám chữa bệnh đạt 976 Các dịch vụ khám và điều trị miễn phí dành cho hội người cao tuổi và trẻ em đã góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng Việc này giúp đảm bảo quyền tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân địa phương.
Trong lĩnh vực giáo dục, ba trường học địa phương đã đạt nhiều tiến bộ rõ rệt, trong đó Trường Tiểu học chuẩn quốc gia giai đoạn 1, Trường Trung học cơ sở và Trường Mầm non đều đã có những bước phát triển đáng ghi nhận Chất lượng dạy và học đã được nâng cao, đảm bảo sĩ số học sinh đạt 100%, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh Về mặt văn hóa giáo dục và y tế, địa bàn vẫn giữ được mức độ phát triển tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo vệ và phát triển rừng.
- Toàn xã có hệ thống điện phủ khắp, có 100 % số hộ nông dân dùng điện cho sinh hoạt và sản xuất kinh doanh dịch vụ
- Hệ thống thủy lợi của xã tương đối hoàn thiện, xây dựng tốt kế hoạch phòng chống úng, lụt, bão năm 2012
Hệ thống giao thông được củng cố và hoàn thiện bằng cách nâng cấp các đoạn xuống cấp, đặc biệt trên các tuyến đường bê tông và phần lề đường Các công trình cũng được tập trung vào củng cố đoạn đường võng, đọng nước, nhằm đảm bảo an toàn và thuận tiện cho người dân Ngoài ra, việc kịp thời tháo dỡ các tụ điểm đổ nguyên vật liệu trên các trục đường giao thông góp phần nâng cao hiệu quả lưu thông và giảm thiểu ảnh hưởng đến việc đi lại của nhân dân.
*Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
Trong khu vực nghiên cứu, tài nguyên rừng chủ yếu là rừng nghèo và rừng thuần loài, trong khi rừng giàu và rừng tự nhiên còn rất ít, hạn chế đáng kể khả năng khai thác và phát triển bền vững Người dân chủ yếu sống dựa vào chăn nuôi, trồng trọt, và ít quan tâm đến rừng, dẫn đến sự suy giảm và mai một các hệ sinh thái rừng tự nhiên Các nghiên cứu về mô hình phát triển rừng Dẻ ăn quả thay thế rừng Dẻ già cỗi và kém phát triển hiện vẫn còn hạn chế và chưa được áp dụng rộng rãi, gây khó khăn trong việc phục hồi và nâng cao giá trị rừng Đề xuất phục hồi rừng Dẻ ăn quả trong đề tài này góp phần giải quyết những tồn tại trên, thúc đẩy phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng và nâng cao sinh kế của người dân địa phương.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm điều kiện lập địa khu vực nghiên cứu
Điều kiện lập địa, gồm địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu và thành phần thảm thực vật, là những yếu tố ảnh hưởng chính đến sự sinh trưởng và phát triển của Dẻ Để đề xuất các giải pháp hồi phục rừng hiệu quả, cần phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh trưởng của Dẻ và điều kiện lập địa Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng và khí hậu trong khu vực nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của loài cây này, từ đó hỗ trợ các giải pháp phục hồi rừng phù hợp và bền vững.
4.1.1 Điều kiện địa hình Ảnh hưởng của địa hình đến sự tồn tại và phát triển của cây rừng nói chung và cây tái sinh nói riêng được biểu hiện một cách rõ rệt Địa hình ảnh hưởng lớn đến các nhân tố sinh thái nhƣ lƣợng mƣa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió, từ đó sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của rừng, đặc biệt là cây tái sinh Độ cao của địa hình có ảnh hưởng lớn đến tính chất vật lý đất, nó được thể hiện trong mối liên hệ với hướng phơi và hướng gió Ở các hướng phơi khác nhau sẽ thu nhận đƣợc nguồn năng lƣợng, lƣợng ánh sáng, nhiệt lƣợng khác nhau, do đó sẽ ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng của cây rừng Kết quả điều tra về điều kiện địa hình đƣợc trình bày trong bảng 4.1:
Bảng 4.1 Đặc điểm điều kiện địa hình tại các tuyến điều tra
Tuyến điều tra Độ dốc trung bình
(độ) Độ cao tuyệt đối
Từ bảng 4.1 trên cho thấy khu vực nghiên cứu có độ cao tuyệt đối dao động từ
20 - 104 m, độ dốc từ 13,6 - 25 độ, ở các hướng phơi khác nhau Độ dốc ở đây theo đánh giá trong quyển “Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng “
Là thuận lợi và tốt cho quá trình tái sinh rừng nhờ khả năng hạn chế xói mòn bề mặt đất Với độ cao tuyệt đối thấp, khu vực này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trồng rừng và chăm sóc rừng hiệu quả.
Khí hậu đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lâu dài đến sinh trưởng và phát triển của cây rừng cũng như thảm thực vật rừng, qua đó hình thành thành phần loài và cấu trúc tổ thành của các loài cây Chế độ chiếu sáng và nhiệt độ, độ ẩm do khí hậu quy định, quyết định sự phân bố và đa dạng của thảm thực vật Thay đổi khí hậu gây ra những biến động trong lớp thảm thực vật, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác phục hồi rừng Hiểu rõ đặc điểm khí hậu tại khu vực nghiên cứu là yếu tố then chốt để xây dựng các chiến lược phục hồi rừng hiệu quả.
Kết quả tổng hợp số liệu của trạm khí tƣợng thị xã Chí Linh đƣợc thể hiện trong bảng 4.2 nhƣ sau:
Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu khí hậu khu vực nghiên cứu (năm 2014)
Chỉ tiêu khí hậu T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12 Cả năm Nhiệt độ TB ( 0 C) 16,9 16,6 19,5 24,9 28,5 29,5 29,1 28,3 28,3 26,3 22,2 16,5 23,8 Độ ẩm kk TB (%) 73 83 93 88 80 83 84 86 83 75 82 70 81,7
Tổng bốc hơi (mm) 87 48,1 23,8 44,1 101,7 81,8 70,6 66,1 67,4 100,7 60 130 881,3 Tổng số giờ nắng
(Nguồn: Trạm dự báo khí tượng thủy văn thị xã Chí Linh, năm 2014)
Khu vực có nhiệt độ trung bình không cao, đạt 23,8°C, với tháng 12 có nhiệt độ thấp nhất là 16,5°C và tháng 6 cao nhất là 29,5°C Độ ẩm không khí trung bình thấp nhất vào tháng 1 và tháng 12, lần lượt 70% và 73%, trong khi tháng 3 có độ ẩm cao nhất đạt 93% Tổng lượng mưa trung bình năm là 1097,7 mm, thấp nhất vào tháng 1 chỉ 1 mm và cao nhất vào tháng 8 là 274,9 mm Lượng bốc hơi trung bình năm là 881,3 mm, thấp nhất trong tháng 3 chỉ 23,8 mm và cao nhất vào tháng 12 là 130 mm Khí hậu khu vực khá ôn hòa, ít xảy ra thiên tai như bão lũ hay hạn hán, số ngày có giông chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 9 Tổng số giờ nắng trong năm là 1457,9 giờ, với tháng có nhiều giờ nắng nhất là tháng 5 (192,3 giờ) và ít nhất là tháng 2 (24,4 giờ) Đặc biệt, từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, lượng bốc hơi vượt quá lượng mưa, gây ra tình trạng thiếu nước, ảnh hưởng đến khả năng nảy mầm của chồi và hạt, cũng như gây khó khăn cho sự tái sinh của cây con trong giai đoạn mạ, khi cây cần lượng ẩm phù hợp để sinh trưởng Sự chênh lệch giữa lượng mưa và lượng bốc hơi thể hiện rõ qua biểu đồ hình 4.1.
Hình 4.1 So sánh lƣợng mƣa và lƣợng bốc hơi tại khu vực năm 2014
Tổng lượng mưa (mm) Tổng bốc hơi (mm)
Kết hợp kết quả điều tra một số chỉ tiêu khí hậu khi đi điều tra các tuyến nhƣ sau:
Bảng 4.3 Bảng điều tra điều kiện khí hậu
Cường độ ánh sáng dưới tán (Klux)
Nhiệt độ dưới tán ( 0 C) Độ ẩm không khí dưới tán (%)
Dựa trên bảng 4.3, cường độ ánh sáng dưới tán dao động từ 0,1-0,2 Klux, nhiệt độ dưới tán trung bình là 23,9°C, và độ ẩm không khí dưới tán đạt trung bình 89,74% Các chỉ tiêu khí hậu này phù hợp hoàn toàn với số liệu khí tượng của Trạm Khí tượng Chí Linh, Hải Dương, cho thấy điều kiện khí hậu của khu vực nghiên cứu luôn duy trì ổn định và phù hợp với đặc điểm khí hậu chung của vùng.
Tính chất lý hóa học của đất đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây rừng thông thông qua quá trình điều hòa dinh dưỡng Tỷ trọng đất tại khu vực nghiên cứu dao động từ 2,28 đến 3,96 g/cm³, trung bình là 3,29 g/cm³, cho thấy không có sự chênh lệch lớn giữa các vị trí Theo thang đánh giá của Katriski, đất ở đây giàu Fe₂O₃ do d > 2,7, phản ánh đặc tính lý hóa của đất Dung trọng đất trong khu vực dao động từ 1,62 đến 2,34 g/cm³, trung bình là 2 g/cm³, cho thấy đất có giá trị dung trọng cao, góp phần vào khả năng giữ nước và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng.
Bảng 4.4 Đặc điểm thổ nhƣỡng khu vực nghiên cứu
Tuyến Thành phần cơ giới
Loại đất Độ chặt (mm) Độ ẩm (%) Độ xốp (%)
N-NH 4 (mg/100 g đất) pH Tỷ lệ đá lẫn (%)
1 Thịt TB Feralit đỏ vàng 13,4 13,4 44,6 8,1 3,8 6,6 14,5
2 Thịt TB Feralit đỏ vàng 17,1 12,4 38,5 7,4 2,7 6,2 18,3
3 Thịt nặng Feralit đỏ vàng 18,1 14,3 30,8 7,1 4,3 6,4 8,8
4 Thịt TB Feralit đỏ vàng 17,1 16,6 30,9 6,9 2,8 6,3 18,2
5 Thịt TB Feralit đỏ vàng 14,9 12,3 44,8 6,9 1,6 6,1 3,0
Kết quả nghiên cứu tại các tuyến điều tra cho thấy đất trong khu vực chủ yếu là đất feralit đỏ vàng, có thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt trung bình Độ chặt của đất dao động từ 13,4 mm đến 18,1 mm, phù hợp với các đặc trưng của đất feralit Ngoài ra, độ ẩm đất trong khu vực nằm trong khoảng 12,3% đến 16,6%, phản ánh tình trạng độ ẩm phù hợp cho phát triển cây trồng.
Trong khu vực nghiên cứu tại Việt Nam, độ ẩm đất thấp, ảnh hưởng đến khả năng dưỡng chất của đất Độ xốp đất, một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá độ phì nhiêu, đặc biệt là đất rừng, chịu tác động bởi kết cấu đất, thành phần cơ giới và khoáng vật, có mối quan hệ chặt chẽ với trọng lượng và dung trọng của đất Kết quả điều tra cho thấy độ xốp trung bình của khu vực nằm trong khoảng 30,8% đến 44,8%, với trung bình là 37,9%, thuộc mức độ xốp rất thấp theo thang đánh giá đất Ngoài ra, hàm lượng đạm dễ tiêu trong đất dao động từ 1,6 mg/100g đất trở lên, phản ánh khả năng cung cấp dinh dưỡng cho thực vật.
Đất có hàm lượng đạm dễ tiêu trung bình là 3,12 mg/100 g, thể hiện mức độ nghèo hàm lượng đạm dễ tiêu Hàm lượng lân dễ tiêu dao động từ 6,9 ppm đến 8,1 ppm, trung bình 7,34 ppm, được xem là nghèo hàm lượng lân dễ tiêu, cho thấy đất không giàu chất hữu cơ Tỷ lệ đá lẫn chiếm từ 3% đến 18,3%, với giá trị trung bình phản ánh độ chặt và khả năng nâng cao dưỡng chất của đất.
Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, tỷ lệ đá lẫn đạt 12,56%, mức trung bình ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phát triển và sinh trưởng của cây tái sinh Tỷ lệ này còn tác động tới khả năng trao đổi chất dinh dưỡng và khoáng trong đất, làm giảm hiệu quả hấp thụ dưỡng chất của cây Giá trị pH trong đất nằm trong khoảng phù hợp để duy trì sự sinh trưởng tối ưu của cây trồng, đảm bảo môi trường đất phù hợp cho hoạt động sinh học Do đó, việc kiểm soát và điều chỉnh độ pH cùng với tỷ lệ đá lẫn là yếu tố quan trọng trong quản lý đất đai và nâng cao năng suất cây trồng.
Kết quả đánh giá cho thấy, từ 6,1 đến 6,6, trung bình 6,32, đất có độ chua ít, không gây nhiều khó khăn cho quá trình tái sinh, sinh trưởng và phát triển của cây Dẻ ăn quả Tuy nhiên, độ chua nhẹ này vẫn tác động khá rõ đến cây trồng tại khu vực nghiên cứu Thông qua các tuyến điều tra, đặc điểm thổ nhưỡng không có nhiều sự khác biệt, cho thấy tính chất đất trong khu vực không gây trở ngại đáng kể cho quá trình sinh trưởng của cây.
Hình 4.2 Đặc điểm đất và tiến hành xoe con giun xác định thành phần cơ giới đất
Đặc điểm cấu trúc rừng Dẻ khu vực nghiên cứu
4.2.1 Đặc điểm cấu trúc tầng cây cao
Tầng cây cao đóng vai trò quan trọng trong quần xã thực vật rừng, góp phần hình thành tiểu hoàn cảnh rừng, điều tiết quá trình tái sinh và ảnh hưởng đến hướng diễn thế của rừng Đặc thù của từng trạng thái hoàn cảnh rừng cùng với các nhân tố như điều kiện thổ nhưỡng, địa hình, hướng phơi, đai cao, nhiệt ẩm và tác động của con người tạo ra sự đa dạng và phong phú của tổ thành loài cây cao Việc nghiên cứu tầng cây cao là cơ sở khoa học thiết yếu để phân loại và đề xuất các giải pháp phục hồi rừng nhằm khôi phục tầng cây gỗ, yếu tố cốt lõi trong quá trình phục hồi rừng Kết quả thống kê đặc điểm cấu trúc của tầng cây cao trong khu vực nghiên cứu, được trình bày trong bảng 4.5, cung cấp những giá trị trung bình quan trọng cho công tác đánh giá và dựa vào đó đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển rừng hiệu quả.
Bảng 4.5 Thống kê đặc điểm cấu trúc tầng cây cao khu vực nghiên cứu
Chỉ tiêu Tuyến điều tra Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn S
Dựa trên bảng dữ liệu, ta có thể nhận thấy chiều cao của tầng cây cao dao động từ 7,9 đến 9,7 mét, trung bình là 8,9 mét, cho thấy chiều cao này đủ tiêu chuẩn để hình thành tầng tán chính Chiều cao dưới cành nằm trong khoảng 3,3 đến 4,8 mét, trung bình 4,1 mét, phản ánh khả năng hình thành tầng tán không thấp Đường kính 1,3 mét có giá trị từ 13,8 đến 19,9 cm, trung bình 16,9 cm, thể hiện cây đang ở độ tuổi thành thục Đường kính tán từ 3,5 đến 4,6 mét, trung bình 3,9 mét, cho thấy tán cây thường nghiêng và không tỏa rộng đều, chủ yếu là tán lệch Qua khảo sát và phỏng vấn người dân địa phương, nhận thấy tầng cây cao phát triển vượt trội ở các tuyến 1, 2 và 3 do rừng tại đây đạt độ tuổi thành thục từ 20 đến 30 tuổi, trong khi ở tuyến 4 và 5, tầng cây cao có chiều cao và đường kính tán thấp hơn vì độ tuổi rừng từ 15 đến 20 tuổi Giá trị độ lệch chuẩn dao động từ 0,6 đến 12,7, cho thấy các giá trị trung bình có mức độ biến động chấp nhận được, nhưng mức 12,7 tại các chỉ tiêu che phủ cho thấy có nhiều sai lệch Hệ số biến động S% nằm trong khoảng 9,2 đến 35,2%, thể hiện mức phân hóa rõ rệt về tầng cây cao trong khu vực nghiên cứu, đặc biệt là tuyến 5 với mức biến động che phủ lên đến 35,2%, còn tuyến 1 có mức biến động thấp nhất là 9,2%, phản ánh sự đa dạng về cấu trúc rừng tại các tuyến điều tra.
Hình 4.3 Hình ảnh tầng cây cao ở các tuyến điều tra
Hình 4.4 Chất lƣợng của Dẻ ở các tuyến điều tra
4.2.2 Đặc điểm cấu trúc cây bụi thảm tươi
Cây bụi thảm tươi ảnh hưởng lớn đến mật độ, phân bố, sinh trưởng và chất lượng của lớp cây tái sinh, do cạnh tranh về dinh dưỡng và ánh sáng dưới tán rừng Khi độ tàn che của tầng cây cao giảm, cây bụi thảm tươi phát triển thuận lợi; tuy nhiên, điều này gây bất lợi cho sự phát triển của cây tái sinh Tỷ lệ cây triển vọng giảm xuống vì khả năng sinh trưởng của cây bụi thảm tươi mạnh hơn, dần lấn át và làm giảm khả năng phát triển của cây tái sinh, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phục hồi rừng.
Kết quả điều tra về cây bụi thảm tươi tại 5 tuyến trong khu vực nghiên cứu cho thấy đa dạng sinh học cao, với tổng số 41 loại cây bụi Các loại cây này xuất hiện với tần số cao, phản ánh sự phong phú của thảm thực vật trong khu vực Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn các loại cây bụi thảm tươi để duy trì đa dạng sinh học Các kết quả này cung cấp thông tin quý giá cho công tác quản lý và bảo vệ hệ sinh thái khu vực.
Bảng 4.6 Đặc điểm cây bụi thảm tươi ở các tuyến điều tra
Tuyến Số loài cây bụi thảm tươi trong tuyến
Tỷ lệ che phủ thảm tươi cây bụi (%)
Tỷ lệ che phủ thảm khô (%)
Dưới khu vực nghiên cứu, lớp cây bụi thảm tươi có chiều cao trung bình từ 0,7 đến 0,9 mét, trung bình là 0,8 mét, với tỷ lệ che phủ dao động từ 17,5% đến 41,9%, trung bình 29,3% Trong khi đó, tỷ lệ che phủ của thảm mục thảm khô lớn hơn, dao động từ 30,5% đến 51,9%, trung bình 45,3%, cho thấy sự đa dạng và phân bố không đều của các loại thảm thực vật Kết quả điều tra ghi nhận có 41 loài cây bụi thảm tươi, trong đó tuyến 3 có số loài nhiều nhất với 22 loài, chứng tỏ tuyến này có sự đa dạng phong phú hơn so với tuyến 1 và tuyến 2, lần lượt chỉ có 10 và 12 loài Chất lượng cây bụi thảm tươi chủ yếu là tốt và trung bình, chiếm tỷ lệ cao, trong khi ít cây xấu Cây có phẩm chất tốt chiếm khoảng 22,8% đến 50,9%, trung bình là 41,8%; cây phẩm chất trung bình chiếm 29,4% đến 76,6%, trung bình 51,8%; và tỷ lệ cây bụi thảm tươi có phẩm chất xấu khá thấp, từ 0 đến 26,2%, trung bình 6,4% Cây bụi thảm tươi đóng vai trò quan trọng trong việc giữ ẩm đất, giảm tác động của gió dưới tán rừng, nhưng đồng thời cạnh tranh về ánh sáng và các yếu tố sinh thái khác với cây tái sinh trong giai đoạn đầu Phụ biểu 11 cho thấy, ở các tuyến điều tra, tỷ lệ che phủ của cây bụi thảm tươi và thảm mục thảm khô trung bình tương đối cân đối ở tuyến 1 và 2; tuy nhiên, tại tuyến 3, 4 và 5, tỷ lệ che phủ thảm mục thảm khô cao hơn rõ rệt so với tỷ lệ che phủ của cây bụi thảm tươi do sự tác động của hoạt động tỉa thưa và tu bổ rừng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây tái sinh.
Phụ biểu 12 cho thấy chiều cao trung bình của cây bụi thảm tươi khác nhau giữa các tuyến điều tra, nhưng không có sự sai khác rõ ràng giữa các tuyến Cây bụi cao nhất đạt 0,9 m ở tuyến 3, cho thấy sự phát triển của cây bụi thảm tươi ảnh hưởng lớn đến quá trình tái sinh, mật độ cây tái sinh và tỷ lệ cây có triển vọng.
Hình 4.5 Cây bụi thảm tươi cao vượt trội ở các tuyến điều tra
Hình 4.6 Cây bụi thảm tươi phát triển tốt ở các tuyến điều tra
Hình 4.7 Nơi không đƣợc phát dọn
Hình 4.8 Nơi đƣợc phát dọn CBTT
Hình 4.9 Tỷ lệ che phủ cây bụi thảm tươi ở các tuyến điều tra
Hình 4.10 Tỷ lệ che phủ thảm khô thảm mục ở các tuyến điều tra
4.2.3 Đặc điểm cấu trúc cây tái sinh
Tái sinh rừng là quá trình phát triển của thế hệ cây con trong hệ sinh thái rừng, xuất hiện dưới tán rừng, trong lỗ trống hoặc sau khai thác Việc tái sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cây mẹ, điều kiện đất đai và tác động của con người Kết quả nghiên cứu dựa trên mẫu N=231 tại 5 tuyến điều tra cho thấy đặc điểm cấu trúc cây tái sinh, được thể hiện qua các bảng và biểu đồ trung bình từ phụ biểu 13 đến phụ biểu 16, phản ánh rõ nét quá trình tái sinh của rừng.
Bảng 4.7 Thống kê đặc điểm cấu trúc cây tái sinh ở các tuyến điều tra
Tuyến điều tra Do (cm) Hvn (m) Hdc (m) Dt (cm) Mật độ
Dựa trên bảng điều tra, cây tái sinh trong khu vực có đường kính gốc trung bình là 0,8 cm, cho thấy mức độ sinh trưởng trung bình về đường kính Chiều cao vút ngọn của cây dao động từ 0,8 m đến 1,6 m, trung bình là 1,1 m, trong khi chiều cao dưới cành trung bình khoảng 0,5 m, từ 0,3 m đến 0,8 m Đặc điểm nổi bật là tán tỏa rộng với đường kính trung bình 52,5 cm, góp phần quan trọng vào sự sinh trưởng của rừng tái sinh Mật độ cây tái sinh tại khu vực này không cao, trung bình tập trung từ 350 cây/ha.
Hình 4.11 Dẻ tái sinh từ chồi Hình 4.12 Dẻ tái sinh từ hạt
4.2.3.1 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao
Chiều cao của cây tái sinh là yếu tố quan trọng để đánh giá triển vọng phát triển của rừng Số lượng và chất lượng cây tái sinh phản ánh khả năng sinh trưởng và phát triển của rừng, góp phần đảm bảo chất lượng rừng sau này Tái sinh có triển vọng sẽ dần thay thế tầng cây cao, nên nghiên cứu về phân bố chiều cao của cây tái sinh mang ý nghĩa thực tiễn lớn trong quản lý rừng bền vững.
Phân bố cây tái sinh theo chiều cao chịu ảnh hưởng chủ yếu của cạnh tranh về không gian và dinh dưỡng giữa các cây tái sinh và cây bụi thảm tươi, góp phần hình thành rừng nhiều tầng và liên tục Đề tài đã xác định phân bố cây theo cấp chiều cao bằng cách chia chiều cao thành 3 nhóm: dưới 0,5 m, từ 0,5 - 1 m, và trên 1 m, tạo cơ sở cho dự đoán số cây có khả năng tham gia vào tầng tán chính của rừng Kết quả phân bố cây theo cấp chiều cao thể hiện rõ trong bảng phân tích, giúp định hướng quản lý và phát triển rừng bền vững.
Bảng 4.8 Bảng phân bố tái sinh theo cấp chiều cao
Số cây % Số cây % Số cây %
Số cây có chiều cao dưới 0,5 mét chiếm tỷ lệ không lớn, trung bình 17,6%, trong khi số cây ở mức cao từ 0,5 đến 1 mét chiếm tỷ lệ lớn nhất, đạt trung bình 44,4%, còn số cây cao trên 1,0 mét chiếm 38% Hầu hết các cây tái sinh đều có triển vọng và tiềm năng trở thành tầng tán chính của rừng, đề xuất các biện pháp lâm sinh phù hợp như chăm sóc, bảo vệ cây tái sinh, và phát dọn cây bụi thảm tươi để tạo không gian dinh dưỡng hợp lý, nhằm thúc đẩy sự phát triển tốt của cây tái sinh.
Mật độ cây tái sinh khác biệt rõ rệt ở các tuyến, trong đó tuyến 2 và tuyến 5 có mật độ cao hơn so với các tuyến còn lại Sự khác biệt này chủ yếu do tác động của hoạt động tỉa thưa của con người, cùng với ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, đất đai và địa hình khu vực nghiên cứu.
Do đó cần dùng phân bố khoảng cách để tính toán và cho ra biểu đồ
Bảng 4.9 Nắn phân bố cây tái sinh theo chiều cao theo hàm khoảng cách
H (x) ft Xic Ft.Xic Pi Fl = n.Pi Kiểm tra
Trong phân tích tần số thực nghiệm, f_t được sử dụng để đo lường tần số quan sát, trong khi f_l đại diện cho tần số lý thuyết, yêu cầu f_l ≥ 5 để đảm bảo độ tin cậy của phân tích Dung lượng mẫu n phản ánh số lượng dữ liệu thu thập, còn Pi là xác suất ứng với từng tổ hoặc nhóm dữ liệu Sau khi gộp các tổ, số tổ mới là l, giúp đơn giản hóa bài toán thống kê Tham số r thể hiện đặc điểm của phân bố lý thuyết, còn k là số bậc tự do liên quan trong phân tích, và Xic là giá trị đứt quãng đã chuẩn hóa về 0, phục vụ kiểm định thống kê.
Kết luận dựa trên kiểm định giả thuyết bằng phương pháp Chi-square: Nếu X²_n ≤ X²_{05}(k), chúng ta chấp nhận giả thuyết H0 ở mức ý nghĩa α = 0,05, cho thấy phân bố lý thuyết phù hợp với phân bố thực nghiệm Ngược lại, nếu X²_n > X²_{05}(k), chúng ta bác bỏ giả thuyết H0, tức là dữ liệu thực nghiệm không phù hợp với phân bố lý thuyết.
- bác bỏ giả thuyết H0 ở mức ý nghĩa α = 0,05 (tức phân bố lý thuyết không phù hợp với phân bố thực nghiệm)
Kết luận: Phân bố khoảng cách phù hợp với phân bố thực nghiệm
Hình 4.13 Phân bố cây tái sinh theo chiều cao theo phân bố khoảng cách
4.2.3.2 Đánh giá phẩm chất cây tái sinh
Chất lượng cây tái sinh phản ánh rõ mức độ thuận lợi của điều kiện môi trường đáp ứng cho quá trình sinh trưởng và phát triển của rừng Kết quả phẩm chất cây tái sinh thể hiện qua các yếu tố quan trọng, góp phần đánh giá tổng thể về khả năng phát triển của rừng tự nhiên hoặc trồng mới Việc xác định tiêu chuẩn chất lượng cây tái sinh giúp nâng cao hiệu quả chăm sóc, bảo vệ và phục hồi rừng bền vững.
Bảng 4.10 Chất lƣợng cây tái sinh ở các tuyến điều tra
Tuyến điều tra Phẩm chất cây tái sinh
Mối quan hệ giữa một số đặc điểm sinh trưởng của cây tái sinh với một số đặc điểm điều kiện lập địa
Nghiên cứu nhằm phân tích mối quan hệ giữa khả năng sinh trưởng của Dẻ tái sinh và các yếu tố lập địa như khí hậu, địa hình, đất đai để xác định điều kiện lập địa phù hợp nhằm nâng cao năng suất cây trồng Qua điều tra thực tế, chúng tôi nhận thấy đường kính gốc, đường kính tán và chiều cao vút ngọn cây có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chiều cao vút ngọn được xem như chỉ tiêu phản ánh điều kiện lập địa (biểu cấp đất) Nghiên cứu tập trung vào mối liên hệ giữa chiều cao vút ngọn và các chỉ tiêu kích thước khác như đường kính tán, đường kính gốc, cũng như các yếu tố lập địa ảnh hưởng đến sự phát triển của cây Dẻ tái sinh Kết quả nghiên cứu được trình bày qua hai nội dung chính nhằm cung cấp những luận cứ khoa học giúp xác định điều kiện đất đai tối ưu cho sự sinh trưởng của loài cây này.
4.3.1 Ảnh hưởng điều kiện lập địa tới sinh trưởng chiều cao cây tái sinh Đối với sinh trưởng chiều cao vút ngọn của cây ta xét đến ảnh hưởng của chiều cao vút ngọn đến độ ẩm, độ xốp của đất, độ cao và độ dốc, độ tàn che, độ che phủ cây bụi thảm tươi, độ che phủ thảm khô thảm mục, xem ảnh hưởng của yếu tố nào đến chiều cao vút ngọn cây tái sinh là lớn nhất Đó là cơ sở cho việc đƣa ra các giải pháp phục hồi hợp lý và hiệu quả nhất
Sử dụng phần mềm SPSS 20.0, nghiên cứu đã xác định mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố điều kiện lập địa và sự tăng trưởng chiều cao của cây tái sinh, trong đó hệ số kiểm tra Sig < 0,05 cho thấy các yếu tố này có ý nghĩa thống kê quan trọng Cụ thể, độ ẩm ảnh hưởng đến sinh trưởng cây, với phương trình y = -0,017x² + 0,586x và hệ số xác định R = 0,54 cho thấy độ ẩm là yếu tố chính ảnh hưởng đến chiều cao cây tái sinh.
Phương trình y = 74,267/x – 5,952 (với R = 0,99) cho thấy rõ mối quan hệ giữa độ ẩm đất và chiều cao vút ngọn tái sinh, khi độ ẩm tăng thì chiều cao cây cũng tăng lên nhờ vào việc đất ẩm hơn giúp thông thoáng khí và thúc đẩy sinh trưởng cây Ngoài ra, độ dốc được biểu thị bằng phương trình y = 0,017x² – 0,843x + 11,123, tuy có R = 0,45 nhưng cũng phản ánh tác động của độ ẩm đến chiều cao vút ngọn của cây tái sinh.
Độ dốc (x) ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng chiều cao của cây tái sinh, khi độ dốc càng cao thì chiều cao cây giảm và khả năng tái sinh ít hơn do điều kiện lập địa ngày càng khắc nghiệt hơn, dẫn đến sự phát triển sinh trưởng của cây bị suy yếu Phân tích sơ đồ phân bố cây tái sinh (Hình 4.14) cho thấy phần đỉnh đồi có số lượng cây tái sinh ít hơn rõ rệt và quá trình sinh trưởng không diễn ra thuận lợi như ở sườn và chân đồi Ngoài ra, độ tàn che (y) được mô hình hóa bằng phương trình y = 0,992*1,12^x với hệ số xác định R = 0,34, cho thấy mức độ tàn che giảm dần theo sự tăng độ dốc.
Độ tàn che của tầng cây cao tăng làm giảm sinh trưởng chiều cao của cây tái sinh do sự phát triển mạnh mẽ của tầng tán làm giảm lượng ánh sáng tiếp nhận của tầng cây dưới, ảnh hưởng lớn đến chiều cao vút ngọn của cây tái sinh Yếu tố độ tàn che tầng cao có mối quan hệ trực tiếp với chiều cao cây tái sinh, trong đó độ che phủ thảm khô thảm mục có công thức y = -0,021x + 1,898, với hệ số xác định R = 0,29, cho thấy mức độ ảnh hưởng đáng kể Ánh sáng mặt trời đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của cây tái sinh, do đó, độ tàn che của tầng cao là yếu tố quyết định chính đến chiều cao và khả năng sinh trưởng của cây dưới tán.
Trong đó y là H vnts (m), x là độ che phủ thảm khô thảm mục (%)
Tỷ lệ che phủ của thảm khô và thảm mục ảnh hưởng trực tiếp đến chiều cao của cây tái sinh Khi thảm khô và thảm mục dày, chúng tạo thành một tầng nền giúp thúc đẩy quá trình phát triển của cây tái sinh từ hạt, nhưng cũng tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các cây Sự cạnh tranh này làm giảm tốc độ tăng trưởng chiều cao của cây tái sinh, dẫn đến chiều cao vút ngọn của chúng bị hạn chế.
*Ảnh hưởng tổng hợp điều kiện lập địa đến sinh trưởng chiều cao cây
Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xây dựng phương trình đa biến mô tả mối quan hệ giữa sinh trưởng chiều cao của cây tái sinh và các yếu tố điều kiện lập địa Phương trình này giúp phân tích hiệu quả tác động của từng nhân tố đối với sự phát triển của cây, từ đó cung cấp căn cứ khoa học cho các biện pháp quản lý và phục hồi rừng Việc xây dựng mô hình đa biến bằng SPSS giúp xác định các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chiều cao vút ngọn của cây, góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực quản lý rừng bền vững.
Trong đó: X 1 là độ ẩm, X 2 là độ xốp, X 3 là độ cao, X 4 là độ dốc, X 5 là độ tàn che và X 6 là tỷ lệ che phủ thảm khô thảm mục
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều cao của cây gồm độ ẩm, độ xốp, độ cao, độ dốc, độ tàn che và độ che phủ thảm khô, thảm mục Trong đó, độ ẩm và che phủ thảm khô, thảm mục có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là độ dốc và độ tàn che Mặc dù độ xốp và độ cao không thể hiện mối quan hệ rõ ràng khi xét riêng lẻ, nhưng khi đánh giá ảnh hưởng tổng hợp, chúng cho thấy tác động đáng kể đến chiều cao cây Nguyên nhân là do độ xốp phản ánh chưa chính xác do số lượng mẫu hạn chế, còn độ cao không phản ánh đúng vị trí cây tái sinh, do đó không được xem xét ảnh hưởng của chúng đến sinh trưởng chiều cao cây Trong phân tích, hệ số tương quan R cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến chiều cao cây.
= 0,53 cho thấy hệ số tương quan cao, mức độ tác động của điều kiện lập địa đến sinh trưởng chiều cao cây lớn
4.3.2 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sinh trưởng đường kính cây
Trong nghiên cứu này, hai giá trị đường kính chính được sử dụng là đường kính gốc và đường kính tán cây tái sinh để đánh giá ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sự sinh trưởng của cây Các yếu tố ảnh hưởng đến đường kính gốc và tán gồm độ ẩm, độ xốp của đất, độ dốc, độ cao, độ tàn che, độ che phủ của cây bụi thảm tươi và lớp thảm khô, mục nát Sự kết hợp các yếu tố này cho thấy rõ mối liên hệ giữa điều kiện lập địa và sự phát triển của cây, góp phần xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến kích thước cây trồng.
*Ảnh hưởng điều kiện lập địa tới sinh trưởng đường kính gốc cây tái sinh
Ta có kết quả phương trình tương quan giữa một số yếu tố lập địa với sinh trưởng đường kính gốc cây tái sinh (Phụ biểu 03) a, Độ ẩm: y = 0,694*ln(x) -1,288, R = 0,47
Độ ẩm đất ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng đường kính gốc cây tái sinh; khi độ ẩm tăng, đường kính gốc giảm do lượng nước dư thừa trong đất cùng điều kiện thời tiết gây ra sự hạn chế phát triển của rễ và thân cây Nghiên cứu cho thấy, độ ẩm đất cao không tốt cho sự phát triển của cây rừng, vì nó làm giảm tốc độ sinh trưởng của đường kính gốc Chỉ số y (đường kính gốc cây tái sinh) bị ảnh hưởng nghịch với độ ẩm đất x (tỷ lệ %, độ ẩm), trong đó độ ẩm càng cao, sinh trưởng đường kính gốc càng giảm.
Độ xốp của đất ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây tái sinh, khi độ xốp càng cao thì đất trở nên tơi xốp hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho rễ cây phát triển mạnh mẽ, khả năng hấp thụ dinh dưỡng và trao đổi khí diễn ra nhanh chóng Điều này giúp cây tái sinh dễ dàng hấp thụ dinh dưỡng và phát triển ổn định Đường kính gốc cây (y) tỷ lệ thuận với độ xốp (x), được mô tả bằng phương trình y = 0,016x với hệ số xác định R = 0,27, cho thấy sự liên hệ rõ ràng giữa độ xốp và kích thước gốc cây Khi cây có đường kính gốc lớn và chiều cao vượt trội, khả năng hình thành tầng tán chính của rừng sẽ càng lớn, mở ra triển vọng phát triển rừng bền vững hơn.
Độ cao (x) ảnh hưởng đáng kể đến đường kính gốc cây tái sinh (y), khi độ cao tăng thì đường kính gốc cũng tăng lên Tại vị trí chân đồi, nơi có độ cao thấp, cây tái sinh phát triển mạnh mẽ và tập trung đông đúc, trong khi ở những vị trí cao hơn, sự cạnh tranh về ánh sáng, dinh dưỡng và không gian sống khiến sự tăng trưởng đường kính gốc chậm lại Nhờ đó, các cây tái sinh ở những vùng cao hơn có xu hướng nhận được nhiều dinh dưỡng hơn, giúp cây không còi cọc hay kém phát triển Mối quan hệ giữa độ dốc (d) và đường kính gốc (y) được mô tả bởi phương trình y = 0,014x² - 0,689x + 9,036 với hệ số xác định R = 0,48, cho thấy độ dốc ảnh hưởng vừa phải đến sự phát triển của rễ cây.
Trong đó y là đường kính gốc cây tái sinh (cm), x là độ dốc (độ)
Khi độ dốc tăng, sinh trưởng đường kính gốc của cây giảm đáng kể, do điều kiện lập địa như khí hậu và đất đai nghèo nàn khiến cây tái sinh gặp nhiều khó khăn hơn trong việc phát triển đường kính gốc Đặc biệt, ở những vùng có độ dốc cao, đất trở nên khô cằn, không giữ được đủ dưỡng chất cần thiết để cây hấp thụ, dẫn đến sinh trưởng đường kính gốc kém Ngoài ra, mức độ che phủ tàn che cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của cây, với mô hình dự đoán y = -0,041x + 2,539, R = 0,38 cho thấy mối liên hệ nghịch giữa độ che phủ và khả năng phát triển của cây.
Độ tàn che (x) ảnh hưởng đến sinh trưởng của đường kính gốc cây tái sinh (y), khi độ tàn che tăng thì đường kính gốc cũng tăng lên, mặc dù hệ số tương quan R nhỏ cho thấy ảnh hưởng không lớn Tuy nhiên, do độ tàn che liên quan đến khả năng nhận ánh sáng của cây, nên nó vẫn tác động đáng kể đến sự phát triển của đường kính gốc Công thức mô tả mối quan hệ này là y = 68,372/x, với hệ số tương quan R = 0,42, thể hiện mối liên hệ trung bình giữa độ che phủ của cây bụi thảm tươi và đường kính gốc cây tái sinh.
Trong đó y là đường kính gốc cây tái sinh (cm), x là độ che phủ CBTT (%)
Đề xuất một số giải pháp phục hồi rừng Dẻ khu vực nghiên cứu
Dưới góc độ kinh tế, hoạt động chăn gà, nuôi ong, duy trì độ ẩm đất để trồng vải và lúa mang lại giá trị lớn cho cộng đồng địa phương Kết hợp trồng Lim xanh và Dẻ không chỉ bảo vệ rừng mà còn giúp người dân thu nhập từ 4-5 triệu đồng/ha/năm, với chi phí đầu tư thấp hơn so với trồng vải hay nhãn, đồng thời hạt Dẻ có giá cả ổn định và tiềm năng phát triển bền vững Tuy nhiên, hoạt động khai thác gỗ Dẻ làm than xuất khẩu và chặt cây Dẻ mới lớn làm củi gây ảnh hưởng không nhỏ đến rừng Tác động từ con người đã làm suy giảm diện tích rừng Dẻ ăn quả, đòi hỏi các giải pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để phục hồi và phát triển rừng bền vững.
Dẻ khu vực nghiên cứu nhƣ sau:
4.4.1 Duy trì độ ẩm đất phủ hợp Độ ẩm đất ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng chiều cao vút ngọn cây tái sinh, qua kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy độ ẩm đất càng tăng thì chiều cao vút ngọn tăng, đồng thời sinh trưởng đường kính tán quan hệ đồng biến với độ ẩm đất, khi độ ẩm đất tăng thì đường kính tán sinh trưởng mạnh Do đó ta cần duy trì độ ẩm đất ở mức thích hợp bằng cách duy trì lớp cây bụi thảm tươi bên dưới, hoặc duy trì lớp thảm khô thảm mục
4.4.2 Điều chỉnh độ tàn che ở mức thích hợp Đa phần cây cho quả và hạt đều là cây ƣa sáng, tuy nhiên tùy từng giai đoạn nhƣ cây non hoặc cây mạ mà mức độ ƣa sáng sẽ khác nhau Có những loài cây trong giai đoạn cây non là cây chịu bóng, do đó cần điều chỉnh độ tàn che để giảm lƣợng ánh sáng xuống Vì vậy đối với Dẻ ăn quả nghiên cứu ở đề tài này cũng vậy, cần điều chỉnh độ tàn che xuống một giá trị thích hợp bằng cách giảm lượng ánh sáng cây nhận được xuống một mức nào đó Từ phương trình tương quan giữa độ tàn che với sinh trưởng chiều cao vút ngọn và sinh trưởng đường kính tán, cho thấy độ tàn che tăng thì chiều cao vút ngọn giảm, độ tàn che tăng sinh trưởng đường kính tán giảm; do đó cần điều chỉnh độ tàn che xuống mức thích hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển chiều cao vút ngọn giúp cây trở thành cây tái sinh có triển vọng tương lai sẽ là tầng tán chính của rừng
-Tham khảo Luận văn Thạc sỹ Khoa học Lâm nghiệp của Ths Kiều Thị Dương “Nghiên cứu yêu cầu ánh sáng của Dẻ ăn quả (Castanopsis boisii
HÌnh dạng sinh thái của cây tái sinh dưới tán rừng tại các xã huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang được nghiên cứu để xác định độ tàn che thích hợp theo chiều cao và độ tuổi của cây Phương trình y = 309,63.x - 0,4311 được sử dụng để tính toán độ tàn che tối ưu, trong đó y là độ tàn che phù hợp với chiều cao x của cây tái sinh Đối với cây có chiều cao từ 0-40 cm (tương ứng với độ tuổi nhất định), độ tàn che thích hợp là 90% Các nghiên cứu này giúp đảm bảo sự phát triển bền vững của rừng tái sinh bằng cách duy trì các điều kiện sinh thái phù hợp.
- 80 cm tuổi 2 độ tàn che thích hợp là 55 % Với tuổi 3 ứng với chiều cao từ
Độ tàn che phù hợp cho cây cao từ 80-120 cm là 43% Ở độ tuổi 4-5, với chiều cao tương ứng từ 120-400 cm, độ tàn che thích hợp là 30% Việc điều chỉnh độ tàn che phù hợp trong phạm vi này chưa được đề cập do thiếu phương pháp chính xác để điều tra tuổi cây tái sinh Tuy nhiên, có thể tham khảo mức điều chỉnh như trên để áp dụng cho cây tái sinh trong khu vực nghiên cứu.
4.4.3 Điều chỉnh phân bố cây tái sinh
Dựa trên sơ đồ phân bố cây tái sinh tại các tuyến điều tra, có thể thấy sự phân bố không đều giữa các tuyến, với tuyến 1, 4, 5 tập trung nhiều hơn ở chân và sườn, trong khi tuyến 2 và 3 phân bố đều Thực địa cho thấy nguyên nhân phân bố cục bộ do cây mẹ không đều, lớp cây bụi thảm tươi dày hoặc tác động của con người trong quá trình khai thác và tu bổ rừng hàng năm Để cải thiện, cần loại bỏ những cây có phẩm chất kém ở các tuyến 1, 4, 5 và chú trọng bảo vệ cây tái sinh triển vọng để đảm bảo phân bố đồng đều.
4.4.4 Điều chỉnh số cây tái sinh có triển vọng theo chiều cao
Kết quả phân bố tái sinh theo cấp chiều cao cho thấy ở tuyến 1, số cây triển vọng chiếm tỷ lệ lớn nhất, trong khi tại tuyến 4, số cây này thấp hơn đáng kể Các cây tái sinh có chiều cao từ 0,5-1 m cũng cần được lưu ý, đặc biệt ở tuyến 5, nơi tỷ lệ cây có chiều cao này cao nhất, còn ở tuyến 1, tỷ lệ này lại thấp nhất Hình 4.13 thể hiện phân bố số cây theo chiều cao và khoảng cách, tập trung chủ yếu ở cấp chiều cao từ 0,75 đến 2,75 m, chứng tỏ số lượng cây tái sinh xuất hiện nhiều nhất tại các cấp chiều cao này Do đó, việc quan tâm đến các cây tái sinh có chiều cao triển vọng là rất cần thiết, bằng cách tác động xung quanh gốc cây để làm tăng độ xốp của đất và bảo vệ các cây có chiều cao nhỏ hơn nhằm thúc đẩy sự phát triển của quần thể tái sinh.
Phương trình tương quan giữa độ xốp và sự sinh trưởng đường kính gốc cây tái sinh cho thấy mối quan hệ chặt chẽ, khi độ xốp tăng thì đường kính gốc cũng tăng lên Do đó, việc tác động vào độ xốp là cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của cây tái sinh Độ xốp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng sinh trưởng và phát triển của rừng trẻ, góp phần nâng cao hiệu quả tái tạo rừng.
4.4.5 Tác động tùy thuộc nguồn gốc tái sinh
Dựa trên kết quả điều tra nguồn gốc tái sinh của Dẻ qua các tuyến, có thể thấy tuyến 1, 2, 5 chủ yếu tái sinh từ chồi, trong đó chất lượng cây tái sinh từ chồi tại tuyến 1 và 2 chiếm phẩm chất tốt, cần chú trọng đến việc tỉa bớt chồi và lựa chọn chồi khỏe mạnh để thúc đẩy sự phát triển của cây Tuyến 3 và 4 chủ yếu tái sinh từ hạt, do đó cần phát triển cây tái sinh từ hạt bằng cách dọn dẹp lớp cây bụi xung quanh, loại bỏ các cây cao kém, già cỗi hoặc thân rỗng để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây tái sinh từ hạt.
Cây tái sinh sinh trưởng tốt hơn ở điều kiện độ dốc thấp, do đó, khi quy hoạch phát triển rừng Dẻ, nên chọn trồng ở độ dốc vừa phải, thấp Theo Đỗ Đình Sâm trong “Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng”, độ dốc dưới 15 độ và trong khoảng 15-25 độ rất thuận lợi cho việc phát triển rừng Kết quả phỏng vấn người dân và cán bộ lâm nghiệp khu vực nghiên cứu cũng cho thấy các cây trồng cách nhau 10 mét mang lại năng suất hạt cao hơn, ngay cả trong những năm mất mùa Do đó, điều chỉnh phân bố cây trên mặt đất, đặc biệt là tập trung vào cây tái sinh có triển vọng, là biện pháp hiệu quả để phục hồi rừng Dẻ nhanh chóng.