1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ mội số loài sâu hại chính tại rừng văn hóa lịch sử côn sơn kiếp bạc, thị xã chí linh, tỉnh hải dương

64 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chính tại rừng văn hóa lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc, Thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Tác giả Vũ Quang Tuân
Người hướng dẫn GS. Nguyễn Thế Nhã
Trường học Trường Đại Học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng và môi trường
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Sự hình thành dịch sâu hại (11)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu về côn trùng trên thế giới (0)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước (0)
  • CHƯƠNG II: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (16)
    • 2.1. Vị trí địa lý (16)
    • 2.2. Đặc điểm về địa hình, đất đai, khí hậu, tài nguyên (0)
    • 2.3. Điều kiện kinh tế xã hội (19)
    • 2.4. Thực trạng các ngành kinh tế (21)
    • 2.5. Đánh giá thuận lợi và khó khăn (21)
  • CHƯƠNG III: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (22)
    • 3.2. Đối trƣợng và phạm vi nghiên cứu (22)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (22)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (22)
      • 3.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu (22)
      • 3.4.2. Phương pháp điều tra thực địa (0)
      • 3.4.3. Phương pháp sử lý nội nghiệp (29)
      • 3.4.4. Cách xác định loài sâu hại chính (0)
  • CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (31)
    • 4.1. Kết quả nghiên cứu về đặc điểm của các ô tiêu chuẩn tại rừng văn hóa lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc (31)
    • 4.2. Xác định hiện trạng sâu hại tại rừng trồng thuộc khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, thị xã Chí Linh, Tỉnh Hải Dương (34)
      • 4.2.1. Kết quả điều ta sơ bộ tình hình sâu bệnh hại tại rừng trồng tại khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc (34)
    • 4.3 Xác định thành phần các loàn sâu hại trong rừng trồng Thông nhựa và rừng trồng Keo tai tƣợng tại khu di tích lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc (35)
    • 4.4. Hiện trạng nhóm sâu hại thông nhựa và keo tai tƣợng (38)
      • 4.4.1. Tỷ lệ nhóm sâu hại Thông, Keo (38)
      • 4.4.2. Đánh giá rút ra loài gây hại chủ yếu (38)
      • 4.4.3. Kết Luận (0)
    • 4.5. Đặc điểm hình thái và tập tính sinh học của một số loài sâu hại chính tại rừng trồng thông, keo thuộc khu di tích côn sơn – kiếp bạc (0)
      • 4.5.1. Sâu róm thong (Dendrolimus punctatus Walker) (51)
      • 4.5.2. Ong ăn lá thông (Diprion pini L) (0)
      • 4.5.3. Sâu kèn nhỏ (Acanthopsyche sp) (53)
    • 4.6. Các biện pháp quản lý sâu hại rừng trồng thông, keo thuộc khu di tích lịch sử côn sơn - kiếp bạc (57)
  • CHƯƠNG V KẾT LUẬN – TỒN T I – KIẾN NGHỊ (62)
    • 5.1. Kết luận (62)
    • 5.2. Tồn tại (63)
    • 5.3. Kiến nghị (63)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Sự hình thành dịch sâu hại

Các yếu tố sinh thái thuận lợi như thức ăn, nhiệt độ và độ ẩm tạo điều kiện cho loài sâu hại sinh trưởng và phát triển nhanh chóng, dẫn đến sự tăng số lượng cá thể hàng loạt Sự phát sinh hàng loạt này không xảy ra đột ngột, mà là kết quả của quá trình tích tụ do các yếu tố ngoại cảnh và nội tại của loài, như khả năng sinh sản lớn, vòng đời ngắn và tốc độ sinh trưởng nhanh Khi điều kiện thuận lợi đạt đỉnh, loài sâu hại phát triển mạnh mẽ đến mức gây dịch, nhưng sau đó các yếu tố bất lợi xuất hiện khiến dịch giảm đi rõ rệt.

Diễn biến một trận dịch thường xảy ra 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1 của quá trình gây hại là giai đoạn tiềm tàng, khi các điều kiện thuận lợi đã xuất hiện nhưng sâu hại chưa chuẩn bị sẵn sàng để tận dụng những điều kiện này Trong giai đoạn này, sâu hại bắt đầu tăng khả năng sinh sản và tích lũy nguồn lực để chuẩn bị thành dịch Các ổ sâu chuẩn bị gây hại thường có mật độ cao hơn so với vùng lân cận, với tốc độ sinh sản nhanh và tỷ lệ trứng nở tốt Tuy nhiên, tỷ lệ sâu đực so với sâu cái vẫn thấp hơn các vùng xung quanh, và các loài thiên địch của sâu chưa xuất hiện, làm cho khả năng kiểm soát tự nhiên còn hạn chế.

- Giai đoạn 2: Giai đoạn tăng số lƣợng cá thể trong một số thế hệ

Các thế hệ của sâu liên tục tăng số lượng cá thể, đặc trưng bởi cơ thể chứa nhiều chất dinh dưỡng và mỡ Sâu cái đẻ trứng với số lượng lớn, quá trình đẻ kéo dài và tỷ lệ trứng nở cao, giúp giảm tỷ lệ sâu non chết sót.

Tỷ lệ sâu cái cao trong quần thể gây ra nguy cơ lây truyền dịch bệnh dịch hại Cây trồng thời điểm này cung cấp nguồn thức ăn thuận lợi cho sự phát triển của sâu hại, dẫn đến mật độ sâu tăng cao và gây tác hại nghiêm trọng cho năng suất Một số điểm xuất hiện mật độ sâu cao, cần được theo dõi chặt chẽ để phòng tránh thiệt hại lớn Các loài thiên địch bắt đầu xuất hiện và hoạt động để kiểm soát sâu hại, mặc dù mật độ còn thấp, góp phần cân bằng sinh thái và hạn chế sự lây lan của dịch bệnh.

Giai đoạn 3, hay còn gọi là giai đoạn cao điểm của trận dịch, đặc trưng bởi mật độ sâu trồng đạt mức tối đa và số lượng sâu tăng đột biến do các yếu tố sinh thái thuận lợi Các cá thể sâu hoạt động mạnh hơn, gây thiệt hại lớn cho rừng do khả năng phàm ăn tăng cao, làm giảm nhanh lượng thức ăn và dễ dẫn đến bùng phát dịch Trong giai đoạn này, số con cái giảm do thiếu thức ăn, trong khi số con đực ít hơn, làm tăng tỷ lệ sâu đực ở thế hệ tiếp theo; trong khi đó, các loài thiên địch lại có nhiều thức ăn hơn, hoạt động mạnh mẽ hơn để kiểm soát sâu hại, dẫn đến hàng loạt sâu bị chết và trận dịch bắt đầu suy giảm.

- Giai đoạn 4: Giai đoạn suy thoái

Khi nguồn thức ăn cạn kiệt và bị các thiên địch tấn công, số lượng sâu hại giảm mạnh, khiến sâu cái mất khả năng sinh sản, còn sâu đực trở nên uể oải và dễ chết Sự cạnh tranh về thức ăn và sự phát triển của các loài thiên địch đạt đỉnh cao giúp tiêu diệt hoàn toàn sâu hại Sau khi loài sâu hại giảm, cây cối bắt đầu đâm chồi nảy lộc, nhiều cây vẫn có thể chết sau vài lần bị ăn trụi nhưng rừng dần phục hồi trở lại.

Khi dịch bệnh phát triển, việc áp dụng các biện pháp phòng trừ tại nguồn lây là rất quan trọng Tuy nhiên, điều còn cần thiết hơn là ngăn chặn dịch không lây lan rộng ra bằng các biện pháp cách ly và phòng ngừa hiệu quả để kiểm soát dịch bệnh tốt hơn.

1.2 T nh h nh nghiên cứu về côn tr ng trên thế giới

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về côn trùng, trong đó nhà tự nhiên học vĩ đại người Thụy Điển Carl Von Linne đóng vai trò quan trọng Ông được coi là người đầu tiên phát triển hệ thống phân loại động thực vật, bao gồm côn trùng Các công trình của ông đã đặt nền móng cho việc phân loại chính xác và khoa học các loại côn trùng, góp phần nâng cao hiểu biết về thế giới tự nhiên.

Tuy nhiên mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX các nhà nghiên cứu về côn trùng mới đƣợc quan tâm và phát

Trong lịch sử phân loại côn trùng, các công trình nghiên cứu bắt đầu từ năm 1904 với Krepton, tiếp theo là Martunov năm 1928 và Weber năm 1938, đã đề xuất các hệ thống phân loại dựa trên bộ và họ của côn trùng Các hệ thống này rõ ràng khác nhau tùy thuộc vào quan điểm của từng tác giả Đến giữa thế kỷ XX, các nghiên cứu của Manfred Koch (1955), A.I Linski (1962), M.A Ioneson (1962), Brues A.L Metander (1965), cũng như Donald Borr và Richard E White (1970-1978), đã góp phần mở rộng và hoàn thiện hệ thống phân loại, giúp nhận biết và hiểu rõ hơn về các loài côn trùng.

Watson (1975) đã đề cập đến thuyết tiến hóa quản lý hệ sinh thái nông nghiệp, hướng dẫn sử dụng kỹ thuật sản xuất có trách nhiệm nhằm hạn chế thiệt hại về mặt kinh tế cho hệ sinh thái nông nghiệp Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp quản lý bền vững để bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp Việc sử dụng kỹ thuật sản xuất có trách nhiệm góp phần giảm thiệt hại môi trường, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp.

Ravllin và Haynes (1987) đã sử dụng phương pháp mô phỏng trung quản lý côn trùng ký sinh để phòng trừ sâu hại ngoài kho lá Mô hình của họ kết hợp dữ liệu điều tra thực địa về mật độ sâu hại, xu hướng phát triển quần thể, mức độ ký sinh và nhiệt độ để đưa ra các giải pháp kiểm soát hiệu quả Phương pháp sử dụng thiên địch để tiêu diệt sâu hại là một chiến lược không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường Tuy nhiên, chỉ áp dụng một phương pháp duy nhất chưa đảm bảo tính tổng hợp và hiệu quả dài hạn trong quản lý dịch hại.

Các nghiên cứu đáng chú ý về côn trùng trong khu vực chủ yếu đến từ các công trình của Trung Quốc Năm 1987, Thái Bàng Hoa và Cao Thu Lâm đã công bố công trình về phân loại côn trùng rừng Vân Nam, góp phần mở rộng hiểu biết về đa dạng sinh học trong khu vực Ngoài ra, nghiên cứu về hình thái và tập tính các loài sâu hại lâm nghiệp có thể được tìm thấy trong tài liệu "Côn trùng rừng Trung Quốc" của Xiao Gangrou Các công trình nghiên cứu về các loại côn trùng thiên địch cũng được ghi nhận trong cuối tạp chí "Côn trùng thiên địch", góp phần vào các chiến lược sinh học trong kiểm soát sâu hại.

Năm 1989, Coulson, Sauders, Loh, Oliveria, Bary Drummond và Swain đã công bố các chuyên đề và nghiên cứu về quản lý côn trùng gây hại rừng Các chương trình IPM đã được triển khai nhằm từng bước hoàn thiện và giải quyết các vấn đề tồn tại trong kiểm soát sâu hại Nhờ đó, các quyết định phù hợp về quản lý sâu hại đã được đưa ra, mang lại hiệu quả trong lĩnh vực lâm nghiệp và có thể áp dụng rộng rãi trong nông nghiệp.

1.3 T nh h nh nghiên cứu trong nước

Năm 1979, Nguyễn Trung Tín đã hoàn thiện nghiên cứu về loài Ong cắn lá Mỡ, đóng góp quan trọng trong việc hiểu rõ sinh thái và tác hại của loài ong này Dựa trên công trình của ông, Bộ Lâm Nghiệp đã ban hành quy trình phòng trừ ong ăn lá Mỡ, nhằm bảo vệ cây trồng và nâng cao hiệu quả sản xuất Quy trình này đáp ứng nhu cầu bảo vệ nguyên liệu gỗ phục vụ ngành công nghiệp giấy, sợi và chế biến gỗ, góp phần tăng năng suất và bảo vệ môi trường rừng.

Năm 1987, cơ quan Kiểm Lâm vùng 1 (Quảng Ninh) và vùng 2 (Thanh Hóa) đã tiến hành nghiên cứu các loài sâu hại và phát triển các loại côn trùng ký sinh, côn trùng ăn thịt sâu róm nhằm kiểm soát sâu bệnh hiệu quả.

Bọ Ngựa, Bọ xít, Kiến, Ruồi, Ong ký sinh …

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Vị trí địa lý

Thị xã Chí Linh nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hải Dương, cách trung tâm tỉnh 40 km, giáp với huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh về phía đông, tỉnh Bắc Ninh về phía tây, huyện Nam Sách về phía nam, và tỉnh Bắc Giang về phía bắc Phía Bắc và Đông Bắc của thị xã là vùng đồi núi thuộc cánh cung Đông Triều, trong khi ba mặt còn lại được bao quanh bởi sông Kinh Thầy, sông Thái Bình và sông Đông Mai, tạo nên vị trí địa lý đặc biệt Thị xã gồm 8 phường và 12 xã, trong đó có 13 xã, phường là miền núi, chiếm 76% diện tích và 56% dân số toàn thị xã, góp phần quan trọng vào đặc thù địa phương Ngoài ra, Chí Linh còn có Trường Đại học Sao Đỏ cùng hơn 120 cơ quan, doanh nghiệp và nhà máy, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Chí Linh nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có vị trí địa lý thuận lợi với hệ thống giao thông đa dạng Đường bộ có Quốc lộ 18 chạy dọc theo hướng đông-tây qua trung tâm thị xã, kết nối Hà Nội và Quảng Ninh, cùng với Quốc lộ 37 nối liền Quốc lộ 5 và Quốc lộ 18, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và giao thương Đường 37 còn là tuyến đường vành đai chiến lược quốc gia từ trung tâm thị xã đi tỉnh Bắc Giang Hệ thống giao thông thủy dài 40 km bao quanh phía đông, tây, nam của thị xã, giúp kết nối thuận tiện với Hải Phòng, Bắc Giang và Đáp Cầu (Bắc Ninh), góp phần thúc đẩy giao thương và phát triển kinh tế địa phương.

Khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc hiện thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nổi bật là điểm đến lịch sử và văn hóa quan trọng của vùng Phía bắc giáp huyện Cảm Lý – Bắc Giang, phía nam tiếp giáp các phường Cộng Hòa và Văn An của thị xã Chí Linh, giúp kết nối các địa điểm du lịch và di tích lịch sử Phía đông nằm gần xã Hoàng Hoa Thám và xã Bắc An, trong khi phía tây giáp huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, tạo thành trung tâm văn hóa có vị trí chiến lược trong khu vực.

2 2 Đặc điểm về địa h nh đất đai khí hậu tài nguyên a Đặc điểm bề địa hình

Chí Linh là thị xã miền núi có địa hình không phức tạp, nằm ở khu vực thấp và gần biển Nơi đây có độ cao so với mực nước biển từ 1 đến 15 mét, thậm chí có các điểm chỉ cách mặt nước biển từ 1 đến 2 mét Điều này giúp phát triển nông nghiệp và du lịch biển hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế và sinh sống của người dân.

Nơi địa hình cao nhất cách mặt nước biển trên 600m Địa hình chia ra thành 3 khu vực là:

 Địa hình đồi núi thấp

 Địa hình đồi gò lƣợn sóng

 Địa hình đồng bằng phù sa b Đất đai, thổ nhưỡng

Tổng diện tích tự nhiên của Chí Linh là 29.618 ha, chia ra:

- Đất nông nghiệp 9.784 ha, chiểm tỉ lệ 33,03%

- Đất lâm nghiệp 14.470 ha, chiếm tỉ lệ 48,86%

- Đất chuyên dùng 2.467 ha, chiếm tỉ lệ 8,33%

- Đất ở 1.110 ha, chiếm tỉ lệ 3,75%

Địa hình Chí Linh đa dạng phong phú, gồm có diện tích đồi núi và đồng bằng xen kẽ, tạo nên cảnh quan đa dạng tự nhiên Trong tổng diện tích, đất khác chiếm 1.787 ha, chiếm tỷ lệ 6,03%, phản ánh sự phân bổ đất đai phong phú Địa hình chia làm 3 tiểu vùng chính, đều có đặc điểm dốc bậc thang từ phía bắc xuống phía nam, góp phần định hình đặc điểm tự nhiên của khu vực.

- Khu đồi núi bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng, càng về phái Bắc đồi núi càng cao, đỉnh cao nhất là Dây Diều cao 616 m, đèo Trê cao 536 m

Khu đồi bát úp gó lƣợn sóng xen kẽ bãi bằng có độ cao trung bình từ 5-60 mét, mang đặc điểm địa hình địa chất hấp dẫn Các đồi có độ dốc từ 10-15°, tạo nên cảnh quan đa dạng và phù hợp để khám phá Xen kẽ là những bãi bằng nổi bật với độ cao trung bình khoảng +2,5 mét, tạo nên một cảnh quan hài hòa giữa đồi và bằng phẳng Tổng thể, khu vực này nổi bật với hệ sinh thái phong phú và cảnh quan hấp dẫn phù hợp cho các hoạt động du lịch tự nhiên.

- Khu bãi bằng phù sa mới, phân bố ở phía nam đường 18, địa hình tuơng đói bằng phẳng, càng về phái Nam càng trũng, có nơi cốt đất chỉ +0,8m

Đất Chí Linh được hình thành từ hai nhóm chính: nhóm đất đồi núi phát triển tại chỗ trên các đá sa thạch và nhóm đất thủy thành do phù sa của sông Kinh Thầy và Thái Bình bồi đắp Theo tài liệu của Viện Nông hóa Thổ nhưỡng Việt Nam, đất nông nghiệp ở Chí Linh được phân loại dựa trên đặc tính và nguồn gốc hình thành, góp phần vào chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững của địa phương Các loại đất này đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nâng cao năng suất và thúc đẩy hoạt động sản xuất nông nghiệp hiệu quả.

- Địa hình: cao 21%, vàn 47,2%, thấp 27,5%, trũng 4,3%

- Thành phần cơ giới: đất thị nhẹ 42,2%, thịt trung bình 28,1%, nặng 29,7%

- Độ chua: cấp I: 74,5%, cấp II: 15%, cấp III: 8%, cấp IV: 2,5% c Khí hậu – Thủy văn

Chí Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt là mùa khô hanh lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 và mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Nhiệt độ trung bình hàng năm của khu vực là 23°C, trong đó tháng 1 và tháng 2 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 10-12°C, còn tháng 6 và tháng 7 ghi nhận mức nhiệt cao nhất khoảng 37-38°C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.463 mm, với tổng tích ôn khoảng 8.200°C, và độ ẩm tương đối trung bình đạt 81,6%, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt của cư dân địa phương.

Do đặc điểm của địa hình, địa mạo nên khí hậu Chí Linh đƣợc chia làm 2 vùng:

+ Khí hậu vùng đồng bằng phía nam mang đặc điểm khí hậu nhƣ các vùng đồng bằng trong tỉnh

Vùng bán sơn địa chiếm phần lớn diện tích khu vực nhờ vị trí địa lý và địa hình phân hóa đa dạng, ảnh hưởng đến khí hậu nơi đây Mùa đông ở vùng bán sơn địa thường lạnh hơn so với vùng khí hậu đồng bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại cây phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương Tài nguyên rừng phong phú và đa dạng là điểm mạnh của vùng, đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Chí Linh có tổng diện tích đất đồi rừng là 14.470 ha, trong đó rừng trồng chiếm 1.208 ha và rừng tự nhiên rộng 2.390 ha Rừng tự nhiên chứa nhiều loại gỗ quý, ước tính khoảng 140.000 m³, đồng thời là nơi đa dạng các loài động thực vật đặc trưng, cung cấp nguồn dược liệu quý cho y học Rừng trồng chủ yếu gồm keo tai tượng và thông, nằm trong khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, góp phần bảo tồn hệ sinh thái và phát triển kinh tế địa phương.

Chí Linh có nguồn nước phong phú nhờ vào hệ thống sông Kinh Thày, Thái Bình và Đông Mai bao bọc, cùng kênh mương trung thủy nông dài 15,5 km chạy qua các cánh đồng chính của huyện, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu ổn định Ngoài ra, nguồn nước từ nhà máy điện Phả Lại cung cấp quanh năm, thúc đẩy phát triển nông nghiệp và sinh hoạt của cộng đồng Huyện còn sở hữu 33 hồ đập với tổng diện tích tự nhiên lên đến 409 ha và nguồn nước ngầm sạch, trữ lượng lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và sinh thái.

Khoáng sản Chí Linh dù không đa dạng về chủng loại, nhưng nổi bật với các nguồn tài nguyên có trữ lượng lớn và giá trị kinh tế cao như đất cao lanh với trữ lượng 40 vạn tấn, sét chịu lửa lên tới 8 triệu tấn, cùng các loại đá, cát vàng phục vụ xây dựng, và mỏ than nâu với trữ lượng hàng tỷ tấn.

2.3 Điều kiện kinh tế x hội a Dân số, dân tộc

Chí linh có 157.418 dân trong đó nam là 79.939, nữ là 77.497

Dân tộc đƣợc thống kê qua bảng sau:

STT Dân tộc Số dân

Số lao động làm việc trong các ngành: 71.925 người

 Lao động nông, lâm nghiệp, thủy sản 55.855 người

 Công nghiệp - xây dựng 7.767 người

 Lao động do cấp Thị xã là 65.558 người

 Lao động nông, lâm nghiệp, thủy sản 54.019 người

 Công nghiệp - xây dựng 4.983 người

 Dịch vụ 6.556 người b Cơ sở hạ tầng

Thị xã có 20 đơn vị hành chính trực thuộc:

+ Phả Lại có 1.382,5 ha và 21.309 nhân khẩu

+ Văn An có 1.438,46 ha và 9.040 nhân khẩu

+ Chí Minh có 1.147,22 ha và 9.131 nhân khẩu

+ Sao Đỏ có 561,64 ha và 24.026 nhân khẩu

+ Thái Học có 781,34 ha và 5.408 nhân khẩu

+ Cộng Hòa có 2.648,52 ha và 14.663 nhân khẩu

+ Hoàng Tân có 1.055,03 ha và 6.844 nhân khẩu

+ Bến Tắm có 2.026,23 ha và 6.369 nhân khẩu

* 12 xã: Hoàng Hoa Thám, Lê Lợi, Hoàng Tiến, Kênh Giang, Văn Đức, An Lạc, Tân Dân, Đồng Lạc, Bắc An, Cổ Thành, Nhân Huệ, Hƣng Đạo

2.4 Thực trạng các ngành kinh tế a Ngành trồng tr t

Diện tích đất trồng trọt của các xã còn hạn chế, nhưng nhờ đầu tư vào giống mới, phân bón và thuốc trừ sâu trong những năm gần đây, năng suất cây trồng đã được nâng lên rõ rệt, góp phần thúc đẩy phát triển ngành nông nghiệp địa phương.

Ngành chăn nuôi chủ yếu được tổ chức theo hình thức chăn nuôi hộ gia đình, chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu sản xuất Ngoài ra, còn có một số trang trại nhỏ theo mô hình trang trại quy mô lớn hơn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế Trong khi đó, ngành lâm nghiệp phát triển dựa trên việc quản lý và khai thác tài nguyên rừng bền vững để đảm bảo sự đa dạng sinh học và phát triển kinh tế lâu dài.

Tài nguyên rừng trồng thông nhựa, keo tai tƣợng phát triển tốt còn có các sản phẩm cây con, nhựa thông…

Ngành lâm nghiệp ngoài các hoạt động quản lý bảo vệ, trồng rừng còn sản xuất tạo giống và cây con phục vụ cho thị trường

2.5 Đánh giá thuận lợi và khó khăn

Ban quản lý rừng tỉnh Hải Dương nhận được sự quan tâm và hỗ trợ từ các cấp chính quyền, hàng năm được cấp kinh phí để thực hiện các công tác bảo vệ rừng hiệu quả và bền vững.

Ban quản lý luôn chú trọng đến công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, nhằm đáp ứng đủ số lƣợng và chất lƣợng

Cơ sở hạ tầng đƣợc đảm bảo, hệ thống giao thông thuận lợi

Điều kiện kinh tế xã hội

Chí linh có 157.418 dân trong đó nam là 79.939, nữ là 77.497

Dân tộc đƣợc thống kê qua bảng sau:

STT Dân tộc Số dân

Số lao động làm việc trong các ngành: 71.925 người

 Lao động nông, lâm nghiệp, thủy sản 55.855 người

 Công nghiệp - xây dựng 7.767 người

 Lao động do cấp Thị xã là 65.558 người

 Lao động nông, lâm nghiệp, thủy sản 54.019 người

 Công nghiệp - xây dựng 4.983 người

 Dịch vụ 6.556 người b Cơ sở hạ tầng

Thị xã có 20 đơn vị hành chính trực thuộc:

+ Phả Lại có 1.382,5 ha và 21.309 nhân khẩu

+ Văn An có 1.438,46 ha và 9.040 nhân khẩu

+ Chí Minh có 1.147,22 ha và 9.131 nhân khẩu

+ Sao Đỏ có 561,64 ha và 24.026 nhân khẩu

+ Thái Học có 781,34 ha và 5.408 nhân khẩu

+ Cộng Hòa có 2.648,52 ha và 14.663 nhân khẩu

+ Hoàng Tân có 1.055,03 ha và 6.844 nhân khẩu

+ Bến Tắm có 2.026,23 ha và 6.369 nhân khẩu

* 12 xã: Hoàng Hoa Thám, Lê Lợi, Hoàng Tiến, Kênh Giang, Văn Đức, An Lạc, Tân Dân, Đồng Lạc, Bắc An, Cổ Thành, Nhân Huệ, Hƣng Đạo

Thực trạng các ngành kinh tế

Diện tích đất trồng trọt của các xã còn hạn chế, nhưng nhờ đầu tư vào giống mới, phân bón và thuốc trừ sâu trong những năm gần đây, năng suất đã được nâng lên đáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp địa phương.

Ngành chăn nuôi chủ yếu được tổ chức theo hình thức chăn nuôi hộ gia đình, chiếm đa số trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, trong khi đó một số ít đã chuyển sang mô hình trang trại nhằm nâng cao hiệu quả và quy mô sản xuất Bên cạnh đó, ngành lâm nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn, góp phần bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.

Tài nguyên rừng trồng thông nhựa, keo tai tƣợng phát triển tốt còn có các sản phẩm cây con, nhựa thông…

Ngành lâm nghiệp ngoài các hoạt động quản lý bảo vệ, trồng rừng còn sản xuất tạo giống và cây con phục vụ cho thị trường.

Đánh giá thuận lợi và khó khăn

Ban Quản lý Rừng tỉnh Hải Dương nhận được sự quan tâm từ các cấp chính quyền và ngành liên quan, hàng năm được cấp kinh phí để thực hiện các công tác bảo vệ rừng hiệu quả.

Ban quản lý luôn chú trọng đến công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, nhằm đáp ứng đủ số lƣợng và chất lƣợng

Cơ sở hạ tầng đƣợc đảm bảo, hệ thống giao thông thuận lợi

Dân cư có thu nhập cao thường không gặp phải tình trạng phá rừng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên, vào mùa khô hàng năm, vật liệu cháy dưới mặt đất tích tụ nhiều, gây nguy cơ cháy rừng nghiêm trọng Đặc biệt, diện tích rừng trồng như thông, keo dễ bị sâu róm thông gây hại, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và đất đai trống trải.

Ban quản lý rừng tỉnh Hải Dương cần có biện pháp quản lý bảo vệ rừng, đặc biệt coi trọng công tác phòng ngừa sâu bệnh hại

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Để bảo vệ rừng trồng tại khu di tích lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, cần hoàn thiện các biện pháp quản lý sâu hại chính Các biện pháp này bao gồm việc xác định rõ các loại sâu hại chính, đánh giá mức độ gây hại và triển khai các biện pháp phòng trừ phù hợp Việc chủ động giám sát và kiểm soát dịch bệnh giúp duy trì sức khỏe của rừng, góp phần bảo vệ di tích lịch sử và phát triển bền vững khu vực Đồng thời, áp dụng các phương pháp sinh học và kỹ thuật mới trong quản lý sâu hại sẽ nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng trồng, đảm bảo生态 cân đối và sự phát triển lâu dài của hệ sinh thái.

Mục tiêu cụ thể: Đánh giá đƣợc hiện trạng các loại sâu tại khu vực nghiên cứu

Xác định đƣợc các loài sâu hại chính và đặc điểm sinh học của chúng Đề xuất đƣợc các biện pháp phòng ngừa các loài sâu hại chính.

Đối trƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tƣợng: Các loại sâu hại trong rừng trồng Thông và rừng trồng Keo

- Phạm vi nghiên cứu: toàn bộ rừng trồng thông thuộc khu di tích lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc.

Nội dung nghiên cứu

- Xác định các loại sâu hại hại rừng trồng thuộc khu di tích lịch sử Côn

+ Xác định loài sâu hại

+ Xác định thành phần các loài sâu hại rừng trồng Thông, Keo

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của các loài sâu hại chính

- Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý sâu hại chính tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Kế thừa tài liệu về đặc điểm sinh trưởng của rừng trồng tại khu vực rừng trồng thuộc khu di tích lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc, nghiên cứu này giúp hiểu rõ quá trình phát triển và các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của rừng trồng trong khu di tích Các kết quả từ nghiên cứu năm 2016 cung cấp cơ sở khoa học để quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả hơn, góp phần duy trì sinh thái và giá trị lịch sử của khu di tích Thông qua việc phân tích đặc điểm phát triển rừng, bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn rừng trồng trong khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

- Kế thừ tài liệu về tình hình sâu hại của khu vực nghiên cứu, tài liệu về thành phần loài

3.4.2 Phương pháp điều t a th c địa

Yêu cầu: Trong ô có  100 cây nên diện tích 1 ô là 1000 m 2

Dụng cụ: Thước dây, cọc mốc hay sơn, dao, chai lọ đựng côn trùng

Số ư ng: 12 ô tiêu chuẩn hình chữ nhật Gồm 9 ô điều tra rừng thồng

Thông và 3 ô điều tra về rừng trồng Keo

Trong mỗi cấp tuổi 3 ô lại đƣợc bố trí theo các dạng địa hình khác nhau chân, sườn, đỉnh

 Tiến hành điều tra đặc điểm cơ bản của các ô tiêu chuẩn

Dụng cụ đo chiều cao cây bao gồm thước đo chiều cao cây (Blumeleiss hoặc sào), kẹp kính hoặc thước dây để đo chu vi và từ đó tính ra D1,3 Các dụng cụ này giúp xác định chính xác chiều cao và các đặc điểm của cây theo các ô tiêu chuẩn Địa điểm khảo sát, nằm trong khu vực điều tra, đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập dữ liệu môi trường và đánh giá đặc trưng của rừng hoặc khu vực nghiên cứu Việc sử dụng các thiết bị đo chuẩn và đúng quy trình giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

Ngày điều tra: Người điều tra:

Số hiệu ô tiêu chuẩn Đặc điểm của ô O1 O2 O3 … On

2 Địa điểm ô (Lô, khoảnh, Lâm

5 Độ cao so với mặt biển (m)

8 Thời gian trồng (năm) / Tuổi

Hình 3 1: Sơ đồ tiêu chuẩn

17 Điều tra côn trùng trong ô tiêu chuẩn

Phương pháp ngẫu nhiên hệ thống được thực hiện bằng cách chọn mỗi 2 hàng để kiểm tra, sau đó chọn từ 3 đến 5 cây trong hàng đó để điều tra Nhờ phương pháp này, tổng cộng có 17 cây được chọn làm cây tiêu chuẩn nhằm đảm bảo tính đại diện và độ chính xác của mẫu Phương pháp lựa chọn cây theo quy trình này giúp đảm bảo tính khách quan, đồng thời tối ưu hóa quá trình kiểm tra và đánh giá cây trồng.

Chọn mẫu và điều tra:

A- iều tra côn trùng sống trên cây

Dụng cụ: Dao, kéo cắt cành, đồ chứa mẫu côn trùng, vợt

Khi điều tra trên cây tiêu chuẩn cần chú ý tới đặc điểm tán cây, chiều cao cây, đặc điểm sinh học của sâu mà chọn mẫu cho thích hợp:

- Cây thấp  2,5 m: Điều tra toàn bộ cây

Để kiểm tra các cây cao trên 2,5 mét, chọn 5-6 mẫu cành phân bố đều trong tán cây và sử dụng kéo, dao hoặc câu liêm sắc để lấy mẫu Ước lượng tổng số mẫu cành của mỗi cây dựa trên việc đếm số mẫu cành của một cành cấp 1 (mọc ra từ thân chính) rồi nhân với tổng số cành cấp 1 trên cây Việc lấy mẫu đều và chính xác giúp đảm bảo kết quả điều tra đáng tin cậy và chính xác hơn trong phân tích sinh học cây trồng.

- Đếm số cá thể sâu có trên các cành điều tra này, ghi theo biểu mẫu sau:

Số hiệu ô tiêu chuẩn: Loài cây:

Ngày điều tra: Tuổi cây:

Tổng số cành của cây

B - iều tra mức độ hại lá của các loài sâu

Chúng tôi lựa chọn từ các cành điều tra để đánh giá mức độ gây hại của sâu ăn lá Cụ thể, mỗi cành được lấy mẫu 5 đến 6 lá tại phần gốc để xác định tổn thương do sâu ăn lá ở khu vực này Ngoài ra, còn kiểm tra 2 lá ở phần giữa cành và 1 hoặc 2 lá ở phần đầu ngọn của cành để đánh giá mức độ thiệt hại tổng thể do sâu gây ra Điều này giúp đưa ra kết luận chính xác về mức độ gây hại của sâu ăn lá trên cây điều.

Phân cấp hại của các lá theo tiêu chuẩn sau:

Cấp 0 = lá không bị hại

Cấp I = phiến lá bị hại < 25% diện tích Cấp II = phiến lá bị hại từ 26 đến 50% diện tích Cấp III = phiến lá bị hại từ 51 đến 75% diện tích Cấp IV = phiến lá bị hại trên 75% diện tích Kết quả thu đƣợc sẽ ghi vào mẫu biểu sau:

Số hiệu ô tiêu chuẩn: Loài cây:

Ngày điều tra: Tuổi cây:

Số lá bị hại các cấp Chỉ số hại

C- iều tra sâu hại thân, cành, ng n

Trên 5 – 6 cành điều tra sâu hại lá, dựa vào các dấu vết hoặc triệu chứng để tính tổng số cành hoặc tổng số ngọn bị sâu hại, đối với sâu hại thân thì đếm tổng số cây bị hại so với tổng cây điều tra Dùng dao cắt tất cả các cành hoặc ngọn bị hại chẻ ra để bắt các loài sâu hoặc xác định mức độ bị hại Kết quả thu đƣợc đƣợc ghi vào mẫu biểu sau:

Số hiệu ô tiêu chuẩn: Loài cây:

Ngày điều tra: Tuổi cây:

Loài sâu Trứng Sâu non Nhộng Trưởng

D- iều tra côn trùng sống trong đất:

Xác định ô dạng bản điều tra sâu dưới đất: Mỗi ô dạng bản 1x1m, nằm ở gốc của cây tiêu chuẩn, mỗi lần điều tra 5 ô

Đầu tiên, bạn cần bóc lớp thảm mục trên bề mặt bằng tay để kiểm tra các loại côn trùng Tiếp theo, dùng cuốc để đào từng lớp đất sâu khoảng 10 cm, đưa đất về mỗi phía để dễ dàng kiểm tra Khi cuốc đất, hãy dùng tay hoặc cành cây để tách đất ra, tìm kiếm các loại côn trùn Quá trình này tiếp tục cho đến khi lớp đất không còn sâu nữa thì dừng lại.

Chú ý: Đất ở các lớp đƣợc đƣa sang các phía khác nhau để tránh nhầm lẫn giữa các lớp Sau khi đào xong nhớ lấp lại

Kết quả thu đƣợc ghi vào biểu sau:

Số hiệu ô tiêu chuẩn: Loài cây:

Ngày điều tra: Tuổi cây:

STT ô dạng bản Độ sâu lớp đất

Số lƣợng sâu Các động vật khác

 Là pha trứng - là pha sâu non

0 là pha nhộng + là pha sâu trưởng thành

Các công việc của mục 2.3 đƣợc lặp lại sau 7-10 ngày

Thu thập các loại côn trùng như trứng, sâu non, nhộng và sâu trưởng thành không thuộc bộ cánh vẩy để bảo quản, bằng cách ngâm trong dung dịch Formon 5% hoặc cồn 70-90 độ, nhằm đảm bảo duy trì chất lượng và tránh hư hỏng Đối với sâu trưởng thành có bộ cánh vẩy, cần làm căng theo tiêu chuẩn rồi sấy khô để bảo quản hiệu quả.

3.4.3 Phương pháp sử lý nội nghiệp

Sau khi thu được kết quả, tiến hành tính toán số liệu dựa trên các công thức để xác định mật độ sâu hại, tỷ lệ sâu hại và mức độ sâu hại trung bình, giúp đánh giá chính xác mức độ thiệt hại của cây trồng Cách tính mật độ các loài sâu hại tại mỗi ô tiêu chuẩn hoặc ô dạng bản bao gồm việc sử dụng các công thức chuyên dụng để đo lường mức độ gây hại và hệ số biến động trong các đợt điều tra, từ đó cung cấp dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý và phòng trừ sâu bệnh hiệu quả.

M là mật độ sâu hại (số cá thể 1 loài/ cây hoặc m 2 ) ai là số lƣợng sâu hại có trên cây điều tra thứ i

N là tổng số cây điều tra b Xác định tỷ lệ % cây bị sâu bệnh và mức độ bị hại

Tỉ lệ cây bị sâu hại là số cây bị sâu bệnh hại trên tổng số cây điều tra đƣợc xác định theo công thức sau :

Trong đó: n là số cây bị sâu bệnh

N là tổng số cây điều tra

Nếu giá trị P% > 50% thì loài đó phân bố đều

Nếu giá trị 25% < P% < 50% thì loài đó phân bố không đều

Nếu giá trị P% < 25 % thì loài đó phân bố ngẫu nhiên c Xác định mức độ bị hại bình quân

Mức độ sâu hại bình quân trong khu vực điều tra tính theo công thức :

Trong đó: ni: là số mẫu (cành, ngọn, cây, diện tích) bị hại ở mỗi cấp hại i

22 vi: là trị số của cấp hại I

N: là tổng số cây điều tra

V: là số cấp cao nhất, trong trường hợp này V = 4

Phân cấp hại tiêu chuẩn sau:

Trong quá trình đánh giá mức độ hại của cây trồng, tỷ lệ phần trăm lá bị hại (R%) đóng vai trò quan trọng Cụ thể, nếu R% từ 26% đến 50%, thì lá bị hại vừa phải, cần chú ý theo dõi Khi R% từ 51% đến 75%, lá bị hại nặng hơn, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cây trồng Nếu R% vượt quá 75%, lá bị hại rất nặng, gây thiệt hại nghiêm trọng Ngoài ra, tỷ lệ phần trăm thân, cành, ngọn bị hại cũng được tính toán bằng công thức phù hợp để đánh giá mức độ thiệt hại chính xác hơn.

Từ đó tính đƣợc tỉ lệ bị hại trung bình cho tất cả các đợt điều tra rồi đối chiếu với tiêu chuẩn sau để đánh giá:

Nếu A% < 10% bị hại nhẹ Nếu A% từ 10% - 25% bị hại vừa Nếu A% từ 26% - 50% bị hại nặng Nếu A% > 50 bị hại rất nặng

Khi tính số trung bình dựa trên mật độ tuyệt đối, ta thường thực hiện cho các cấp độ khác nhau, bắt đầu từ ô tiêu chuẩn nhỏ nhất Tiếp theo, mở rộng tính toán cho nhóm ô tiêu chuẩn và toàn khu vực điều tra để có cái nhìn toàn diện về mật độ tuyệt đối Quán lý dữ liệu theo các cấp độ này giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong phân tích mật độ ô tiêu chuẩn.

3.4.4 Cách ác định ài s u hại ch nh

Khi hoàn thành đƣợc kết quả nghiên cứu ta tiến hành xác định loài sâu chính thông qua các chỉ tiêu sau:

- Mật độ các loài sâu, tỷ lệ cây hay tỷ lệ ô dạng bản có sâu

- Số lần xuất hiên loài sâu

- Hệ số biến động số lƣợng cá thể mỗi loài

- Đặc tính sinh vật học của từng loài sâu hại

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu về đặc điểm của các ô tiêu chuẩn tại rừng văn hóa lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc

Bảng 4.1: Đặc điểm của các ô tiêu chuẩn tại khu vực nghiên cứu Địa điểm: Rừng trồng Thông và Keo thuộc khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc

Ngày điều tra: 23-26/02/2017 Người điều tra: Vũ Quang Tuân

STT Số hiệu Đặc điểm Ô1 Ô2 Ô3 Ô4 Ô5 Ô6 Ô7 Ô8 Ô9 Ô10 Ô11 Ô12

3 Hước dốc ĐN ĐN ĐN Tây TB TB Tây TB TB ĐN ĐN ĐN

5 Độ cao so với mặt nước biển (m) 115 98 95 106 97 94 103 94 93 86 82 80

6 Chân/ sườn/ đỉnh Đỉnh Sườn Chân Đỉnh Sườn Chân Đỉnh Sườn Chân Đỉnh Sườn Chân

13 Thực bì Cỏ dại, Ràng ràng

Cỏ dại, Sim, Ràng ràng

Cỏ dại, Sim, Ràng ràng, dương xỉ

Cỏ dại, Sim, Cậm càng

Cỏ dại, Sim, dương xỉ

Cỏ dại, Ràng ràng, dương xỉ

Cỏ dại, Sim, Cậm càng

Cỏ dại, Sim, Mua, Dương xỉ

Cỏ dại, Mua, Dương xỉ

Xác định hiện trạng sâu hại tại rừng trồng thuộc khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, thị xã Chí Linh, Tỉnh Hải Dương

4.2.1 Kết quả điều ta sơ bộ tình hình sâu bệnh hại tại rừng trồng tại khu di t ch Côn Sơn – Kiếp Bạc

Qua điều tra sơ bộ số lƣợng sâu hại tại rừng trồng ta thống kê đƣợc qua bảng sau:

Bảng 4.2: Điều tra sơ bộ số lƣợng sâu hại tại rừng Thông và Keo tại khu vực nghiên cứu

Loài cây Độ Tàn che (%)

Số cây có D1 3 ≥ 6cm Cây khỏe

Từ Bảng 4.2 ta có thể tính đƣợc tỷ lệ cây bị cây bị sâu bệnh nhƣ sau: + Tỷ lệ cây khỏe trung bình là 82,25 %

+Tỷ lệ cây bị sâu bệnh trung bình là 17,75 %

Kết quả tại Bảng 2 cho thấy, khu vực Rừng trồng ở khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc có tỷ lệ che phủ trung bình đạt 75%, phản ánh mức độ tàn che khá cao tại đây Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì và bảo vệ hệ sinh thái rừng trong khu di tích Độ tàn che cao góp phần bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái và hỗ trợ các mục đích phát triển bền vững của khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc.

Tỷ lệ cây khỏe đạt mức khá cao là 82,25%, trong khi các cây bị sâu bệnh chiếm 17,75%, cho thấy tình hình chăm sóc rừng khá tốt Đối với cây tái sinh trong khu vực trồng thuần loài như Thông, Keo, Lòng Máng Thường, Thẩu Tấu, hầu hết các cây tái sinh đều sinh trưởng và phát triển kém, cần chú ý đến công tác chăm sóc để nâng cao chất lượng rừng.

Điều tra tỷ lệ cây tái sinh bị sâu bệnh cho thấy khoảng 38% cây bị ảnh hưởng bởi các loại sâu bệnh phổ biến như sâu ăn lá, bọ xít và rầy Các loại sâu bệnh này gây thiệt hại đáng kể đến khả năng phát triển của cây, ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất và chất lượng sản phẩm Việc kiểm soát sâu bệnh hiệu quả là rất cần thiết để bảo vệ cây trồng và nâng cao hiệu quả nông nghiệp.

Cây bụi thảm tươi phát triển mạnh mẽ, bao gồm các loài như sim, cỏ dại, mua, dương xỉ, cậm càng và ràng ràng, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo độ che phủ rừng đạt mức khá, từ 69% đến 72% Những loại cây này góp phần bảo vệ đất, duy trì đa dạng sinh học và cải thiện hệ sinh thái rừng tự nhiên Hiểu rõ về các loài cây bụi thảm tươi giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường và phát triển bền vững rừng cây.

Xác định thành phần các loàn sâu hại trong rừng trồng Thông nhựa và rừng trồng Keo tai tƣợng tại khu di tích lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc

và rừng trồng Keo tai tƣợng tại khu di tích lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc

Trong thời gian nghiên cứu 3 đợt từ ngày 23/2 đến ngày 29/3/2017 đã phát hiên các loài sâu hại nhƣ sau:

Bảng 4.3: Danh mục các loài sâu hại phát hiện đƣợc trong rừng trồng

Thông, Keo tại khu vực nghiên cứu

TT Tên Việt Nam Tên khoa học Pha Tác

L1 Bọ hung nâu nhỏ Maladera orientalis

II BỘ CÁNH VẨY LEPIDOPTERA

H2 Họ ngoài lá khô Lasiocampidae

L2 Sâu róm thông Dendrolimus punctatus

L3 Sâu kèn nhỏ Acanthopsyche sp - Lá Keo

H4 Họ ngoài cuốn lá Tortricidae

L4 Sâu đục ngọn Evetria duplana Hb - Thân, cành

III BỘ CÁNH BẰNG ISOPTERA

L5 Mối đât lớn Macrotermes annandalei S - ,+ Rễ,

L6 Dến mèn nâu nhỏ Gryllus testacecus Walker + Lá, rễ Thông,

H7 HỌ Ong ăn lá thông

L7 Ong ăn lá thông Diprion pini L ●,+ Lá Thông

H8 Họ Bọ xít 5 cạnh Pentatomidae

L8 Bọ xít xanh Nezara viridula Linnaeus ●,-

Ghi chú: ●): Trứng; (-): Sâu non; (0): Nhộng; +): u trư ng thành

Bảng 4.3 cho thấy thành phần các loại sâu hại trong rừng trồng tại khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc gồm 8 loài thuộc 8 họ và 6 bộ khác nhau Đặc biệt, thành phần sâu hại khá đa dạng, bao gồm 4 loài sâu hại lá, 2 loài sâu hại thân, và 3 loài sâu hại rễ, phản ánh mức độ phong phú và phức tạp của các loài sâu hại trong khu vực.

Từ danh mục trên ta có thể thống kê đƣợc tỷ lệ số họ và số loài sâu hại theo bộ nhƣ sau:

Bảng 4.4: Thống kê số loài và số họ của sâu hại theo bộ

Tỷ lệ (%) Số Loài Tỷ lệ (%)

Bộ cánh vẩy (LEPIDOPTERA) chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số loài và họ, với 3 loài thuộc 3 họ, chiếm 37% Các bộ cánh cứng (COLEOPTERA), cánh bằng (SOPTERA), cánh thẳng (ORTHOPTERA), cánh màng (HYMENOPTERA) và cánh nửa cứng (HEMIPTERA) đều có tỷ lệ số loài và số họ bằng nhau, mỗi bộ chỉ có 1 loài thuộc 1 họ, chiếm tỷ lệ 12,5%.

Hiện trạng nhóm sâu hại thông nhựa và keo tai tƣợng

4.4.1 Tỷ lệ nhóm sâu hại Thông, Keo

Dựa vào kết quả điều tra trong Bảng 4.3, danh mục các loài sâu hại phát hiện được trong rừng trồng Thông, Keo tại khu vực nghiên cứu bao gồm 8 loài sâu hại thuộc 8 họ khác nhau Các loài sâu hại này được phân thành ba nhóm chính dựa trên vị trí gây hại: sâu hại lá, sâu gây hại thân và sâu hại rễ Thông qua phân loại này, nghiên cứu giúp hiểu rõ hơn về tác động của các loài sâu hại đối với rừng trồng và đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả.

Bảng 4.5: Thống kê tỷ lệ các nhóm sâu hại tại rừng trồng Thông, Keo

Nhóm sâu hại Số loài Tỷ lệ (%)

Among the eight pest species identified during the investigation, four are leaf feeders, three attack stems, and three target roots Notably, the large subterranean termite (Macrotermes annandalei) damages both the stem and roots, while the small brown scarab beetle (Maladera orientalis) affects both cones and roots Additionally, the small brown field cricket (Gryllus testacecus) inflicts damage on leaves and roots, highlighting the diverse range of pests impacting plant health.

4.4.2 Đánh giá rút ra loài gây hại chủ yếu

Trong phòng trừ sâu hại, không nhất thiết phải xử lý nhiều loài cùng lúc, vì mức độ gây hại của từng loài thay đổi theo từng thời điểm Việc dự báo chính xác và đưa ra các biện pháp phòng trừ phù hợp khi mật độ sâu hại vượt ngưỡng cho phép là yếu tố quyết định hiệu quả trong bảo vệ rừng.

Cơ sở rút ra các loài chủ yếu đƣợc dựa vào các chỉ tiêu sau:

- Mật độ các loài sâu, tỷ lệ cây hay tỷ lệ ô dạng bản có sâu

- Số lần xuất hiên loài sâu

- Hệ số biến động số lƣợng cá thể mỗi loài

- Đặc tính sinh vật học của từng loài sâu hại

Kết quả nghiên cứu về thành phần, mật độ, số lượng cá thể xuất hiện các pha và một số chỉ tiêu khác được ghi nhận qua ba đợt điều tra, lần 1 từ ngày 23/02 đến 28/02, lần 2 từ 07/03 đến 13/03, và lần 3 từ 21/03 đến 27/03, được tổng hợp trong bản biểu chi tiết để đánh giá sự biến động và đặc điểm của các yếu tố trong từng đợt.

4.4.2.1 Sâu hại á th ng nh

Trong nghiên cứu về các loài sâu hại trong rừng trồng Thông và Keo, bảng 3 đã xác định được ba loài sâu hại lá chính gồm sâu róm thông, ong ăn lá thông và rè mèn nâu đỏ Các số liệu về mật độ sâu hại, tỷ lệ phần trăm (P%) và mức độ gây hại (R%) đã được thống kê rõ ràng, cung cấp cái nhìn toàn diện về tác động của các loài sâu hại này đối với rừng trồng Đây là những thông tin quan trọng để xây dựng các biện pháp quản lý sâu hại hiệu quả nhằm bảo vệ rừng và nâng cao năng suất trồng trọt.

Bảng 4.6: Thống kê mật độ, tỷ lệ và mức độ gây hại của sâu hại lá tại khu vực rừng trồng Thông nhựa

Loài sâu Đợt điều tra

Ong ăn lá thông R Rế mèn nâu nhỏ

Qua bảng 4.6 trên cho ta thấy cả 3 loài đều xuất hiện ở cả 3 lần điều tra nhƣng tỷ lệ cây có sâu và mật độ sâu trên cây ko cao:

Sâu róm thông 0,43 cá thể/ cây, Tỷ lệ cây có sâu trung bình là 15,37 % với mức độ gây hại trung bình là 17,44 %

Ong ăn lá thông 0.083 cá thể/cây, Tỷ lệ cây có sâu trung bình là 9,11 % với mức độ gây hại trung bình là 5,29 %

Rế mèn nâu nhỏ 0,033 cá thể/cây Tỷ lệ cây có sâu trung bình là 3,9 % Với mức độ gây hại trung bình là 3,11 %

Để đảm bảo hiệu quả trong công tác phòng trừ sâu hại, cần xác định chính xác loài sâu hại chính gây hại cây trồng Điều này đòi hỏi phải dựa trên các tiêu chí như mật độ, tỷ lệ xuất hiện và mức độ gây hại của từng loài sâu hại Chỉ khi nhận diện đúng loài sâu hại chính, biện pháp phòng trừ mới phát huy tối đa hiệu quả.

Dựa theo kết quả thu đƣợc ta thấy: Sâu róm thông, Ong ăn lá thông và

Rế mèn xuất hiện ở tất cả các đợt điều tra nhưng với mật độ rất thấp, chỉ 0,033 cá thể/cây, vì vậy chủ yếu tập trung vào hai loài gây hại chính là Sâu róm thông và Ong ăn lá thông Những loài này đặc biệt gây tác động lớn vào thời kỳ cây ra lá non, làm lá không phát triển, giảm khả năng quang hợp và ảnh hưởng tiêu cực đến sự sinh trưởng của cây thông Ngoài ra, Sâu róm và Ong ăn lá thông rất dễ phát triển thành dịch, đòi hỏi phái theo dõi thường xuyên để áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả nhất, bảo vệ sức khỏe của cây thông.

 Ảnh hưởng cả thời gian tới mật độ của sâu hại lá thông

Các loài sâu hại trong các đợt điều tra có sự biến động nhẹ về mật độ, nhưng không đáng kể do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết Thời tiết mưa ẩn, kết hợp với một số ngày lạnh, đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự sinh trưởng và phát triển của các loài sâu hại, như được thể hiện qua biểu đồ nghiên cứu.

Hình 4.1: Mật độ của sâu hại lá Thông nhựa qua đợt điều tra Ảnh hưởng của địa hình tới mật độ sâu hại thông

Bảng 4.7: Thổng kê mật độ sâu hại lá Thông nhựa ở các dạng địa hình

STT Loài Sâu hại Chân đồi Sườn đồi Đỉnh đồi

Hình 4.2: Mật độ sâu ăn lá Thông nhựa theo dạng địa hình

MẬ T ĐỘ (CÁ THỂ /CÂY )

Mật độ (cá thể/cây)

Sâu róm thông Ong ăn lá thông

Dựa trên bảng 4.7 và biểu đồ 4.2, các loài sâu hại phân bố không đều trong khu vực nghiên cứu, với xu hướng tập trung ở chân đồi và sườn đồi nhờ điều kiện thuận lợi về thức ăn, nơi cư trú và điều kiện thời tiết như nhiệt độ và độ ẩm Ngược lại, tại đỉnh đồi, mật độ sâu hại ít hơn do các yếu tố khí hậu khắc nghiệt không tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của chúng.

 Ảnh hưởng của hướng phơi tới mật độ sâu hại lá thông

Các đặc điểm địa hình của các khu vực nghiên cứu gồm các dãy núi kéo dài từ Đông sang Tây, ảnh hưởng đáng kể đến phân bố các loài sâu bệnh Các ô tiêu chuẩn nghiên cứu chủ yếu nằm ở các hướng Đông Nam và Tây Bắc, giúp đánh giá tác động của hướng phơi sáng đến mật độ sâu hại chính Nghiên cứu tập trung vào hai loài chính là Sâu róm thông và Ong ăn lá thông, qua thống kê trong bảng đã cho thấy rõ mức độ ảnh hưởng của hướng phơi sáng đối với mật độ sâu hại của chúng.

Bảng 4.8: Thống kê mật độ sâu hại lá Thông nhựa theo hướng phơi

STT Loài sâu Đông Nam Tây Bắc

Hình 4.3: Mật độ sâu hại lá Thông nhựa theo hướng phơi

Sâu róm thông Ong ăn lá thông

Bảng 4.8 và biểu đồ 4.3 cho thấy mật độ sâu hại khác biệt rõ rệt giữa hai hướng phơi chính Đông Nam và Tây Bắc, trong đó mật độ sâu hại ở hướng Đông Nam cao hơn nhiều so với hướng Tây Bắc Nguyên nhân chính là do rừng ở hướng Đông Nam thường sinh trưởng và phát triển tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho sâu hại tập trung do có nguồn thức ăn phong phú hơn Điều này cho thấy hướng phơi ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và sinh trưởng của sâu hại trong rừng.

4.4.2.2 Sâu hại á keo t i tư ng

Trong nghiên cứu về các loài sâu hại phát hiện được trong rừng trồng Thông, Keo tại khu vực nghiên cứu, chỉ có duy nhất một loài sâu hại lá keo là Sâu kèn nhỏ (Acanthopsyche sp.) Kết quả điều tra qua ba đợt cho thấy loài sâu này xuất hiện và gây ảnh hưởng rõ rệt trong các giai đoạn khảo sát, góp phần xác định đặc điểm và mức độ phổ biến của sâu kèn nhỏ trong khu vực nghiên cứu.

Bảng 4.9: Thống kê mật độ, tỷ lệ và mức độ gây hại của sâu hại lá tại khu vực rừng trồng Keo tai tƣợng

Loài sâu Đợt diểu tra

M (cá thể/cây) P (%) R (%) Đợt 1 0,14 11,76 10 Đợt 2 0,17 14,7 12,5 Đợt 3 0,2 17,64 15

Qua bảng 9, chúng ta nhận thấy sự xuất hiện của loài sâu kèn nhỏ hại lá keo trong cả 3 đợt nghiên cứu, mặc dù mật độ trung bình khá thấp chỉ 0,176 cá thể/cây Tỷ lệ cây bị sâu chiếm khoảng 14,7%, và mức độ gây hại chủ yếu ở mức thấp trung bình là 12,5%, cho thấy mức độ ảnh hưởng còn hạn chế đến sinh trưởng của cây keo.

Loại gây hại lá chính của khu vực rừng trồng là tác nhân đáng chú ý, đặc biệt vào thời kỳ ra lá non, chúng gây hại nghiêm trọng đến quá trình sinh trưởng của cây Những tác động này làm ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây, dẫn đến giảm năng suất và chất lượng rừng trồng Việc kiểm soát các loại gây hại này là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe của rừng và duy trì sự bền vững của hệ sinh thái.

36 và phát triển kém nên cần phải thường xuyên theo dõi để có hướng phòng ngừa phù hợp

Thời gian tác động đến mật độ của sâu kèn nhỏ gây hại lá ở cây keo được thể hiện rõ qua các đợt điều tra, cho thấy sự biến đổi của mật độ sâu theo từng giai đoạn Biểu đồ minh họa rõ ràng xu hướng tăng giảm của số lượng sâu kèn nhỏ, góp phần xác định thời điểm nguy cơ cao để triển khai các biện pháp phòng trừ hiệu quả Việc theo dõi mật độ sâu qua các đợt khảo sát giúp quản lý sâu bệnh chính xác hơn, từ đó giảm thiểu thiệt hại cho cây keo.

Hình 4.4: Mật độ sâu kèn nhỏ hại lá Keo tai tƣợng

Đặc điểm hình thái và tập tính sinh học của một số loài sâu hại chính tại rừng trồng thông, keo thuộc khu di tích côn sơn – kiếp bạc

4.5.1 Sâu róm thong (Dendrolimus punctatus Walker) nh 4 S u thông Đặc điểm hình thái và tập tính sinh học:

Sâu non có 6 tuổi, mỗi tuổi đều có chiều dài và đường kính mảnh đầu khác nhau, phản ánh sự phát triển qua từng giai đoạn Trong quá trình trưởng thành, sâu non thay đổi về màu sắc và vị trí lông, giúp phân biệt các tuổi khác nhau của chúng Hiểu rõ đặc điểm này rất quan trọng trong việc nhận biết và bảo vệ sâu non hiệu quả.

Sau khi nở, sâu non thường tự ăn vỏ trứng của mình rồi nằm im trong khoảng 5–7 phút trước khi tập trung thành đàn từ 20–30 con Ở tuổi đầu tiên, sâu có khả năng nhả tơ, có thể phân tán và di chuyển đến nơi khác; khoảng 12 giờ sau khi nở, sâu bắt đầu ăn lá thông non, chỉ gặm mép lá tạo hình răng cưa chứ không ăn hết toàn bộ lá Theo các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, sau 3–7 ngày, sâu non lột xác lần đầu và chuyển sang tuổi thứ hai Trong giai đoạn này, sâu thường ăn vỏ xác của mình, thường để lại phần vỏ đầu hoặc chỉ ăn hết 1/3 vỏ Từ tuổi thứ ba trở đi, sâu bắt đầu ăn cả lá, thường cắn bỏ một đoạn lá ở đầu trước khi ăn, thay vì chỉ gặm mép như trước.

5 sâu ăn rất mạnh Lƣợng lá ăn rất nhiều và ăn chỗ nào thì ăn cụt hết mới di chuyển sang chỗ khác (Nguồn: daln.gov.vn)

4.5.2 Ong ăn á thông (Diprion pini L) nh 4.9 Ong ăn á thông Đặc điểm hình thái và tập tính sinh học

Sâu trưởng thành thuộc dạng ong, có màu vàng nâu rõ nét Con cái có kích thước khoảng 4x9mm, trong khi con đực nhỏ hơn, khoảng 2,9x6,3mm Râu đầu của sâu trưởng thành có nhiều hơn 9 đốt, với râu của con cái hình răng lược ngắn và của con đực có dạng lông chim Cánh trước của sâu không có mạch, chỗ nối giữa ngực và bụng không thắt lại, và các đốt chân có 2 cựa ở cuối, giúp nhận diện đặc điểm nổi bật của loài.

Trứng của ong ăn lá thông có kích thước khoảng 0,4 x 1,9mm, hình bầu dục hơi cong, xếp dọc theo chiều dài của lá thông Màu sắc của trứng thường thay đổi từ trắng đục đến trắng sữa, rồi chuyển sang màu xám hoặc vàng nhạt Ong đẻ trứng trên những lá thông hơi non, giúp tăng khả năng phát triển của ấu trùng.

Sâu non thường từ 5 đến 6 tuổi, với màu sắc phù hợp để bảo vệ khỏi kẻ thù Sâu non 1 tuổi có màu xanh giống lá cây, giúp nguỵ trang hiệu quả Khi trưởng thành, màu sắc của sâu non trở nên vàng hơn, thể hiện sự phát triển qua các giai đoạn Thời gian phát triển của sâu non tại nhiệt độ 25-30°C kéo dài khoảng 25-28 ngày Khi gặp kẻ thù, sâu non phản ứng bằng cách nâng cao đầu và bụng, rồi phóng ra một giọt chất lỏng như nhựa thông để xua đuổi kẻ thù một cách hiệu quả.

Nhộng thuộc loại nhộng trần, màu vàng nâu Nhộng cái có kích thước

6 x 9,2mm, nhộng đực 3,1 x 7,1mm Nhộng nằm trong kén mỏng kết bằng tơ gắn vào lá hoặc ở phần cuống lá sát cánh và thân Thời gian nhộng khoảng 9-

21 ngày ở nhiệt độ 25- 30 o C Con đực có giai đoạn nhộng thường dài hơn con cái (đực 15 ngày, cái 12 ngày) (Nguồn: daln.gov.vn)

4.5.3 Sâu kèn nhỏ (Acanthopsyche sp) nh 4.1 S u k n nhỏ

- Đặc điểm hình thái, tập tính sinh học

Con đực trưởng thành có thân dài 4-5mm và sải cánh từ 11-13mm, thân màu nâu xám phủ lông trắng, râu đầu hình lông chim, cánh trên màu nâu xám có lớp lông trắng, trong khi cánh sau màu trắng xám Con cái không có cánh dài 6-8mm, đầu nhỏ màu cà phê, ngực và bụng màu trắng vàng, bụng uốn cong và thường nằm trong kén Trưởng thành đẻ từ 100-270 trứng, trung bình một con đực có khả năng sinh sản đáng kể, góp phần quan trọng vào quá trình sinh sản và duy trì quần thể.

200 trứng), tỉ lệ nở là 99% Thời gian đẻ từ 5-7 ngày

+ Trứng: Hình bầu dục dài 0,6mm, rộng 0,4mm, màu trắng xám

Sâu non có chiều dài từ 6-9mm, với đặc điểm nổi bật là các đốt ngực và đầu có màu nâu vàng, bụng màu trắng xám Trên lưng của đốt bụng thứ 8 xuất hiện hai chấm nâu, trong khi đốt thứ 9 có bốn chấm nâu, giúp nhận diện chính xác loài sâu này Sâu non thường sống trong một túi màu lá khô, trên đó có các dính, tạo môi trường thuận lợi để phát triển.

46 các lá khô nhỏ Sâu non ăn vào sáng sớm hay buổi tối hoặc lúc râm mát, trƣa không ăn

Sâu non đực lột xác 5 lần, trong khi sâu non cái lột xác tới 6 lần, thể hiện quá trình phát triển liên tục của sâu trong giai đoạn trưởng thành Mỗi lần lột xác, sâu non đều nhả tơ khép kín túi và chỉ để lại sợi tơ dính vào cành hoặc lá, giúp chúng giữ vị trí vững chắc trên cây Vào mùa đông, mặc dù thời tiết lạnh, sâu non vẫn hoạt động ăn chồi và lá non, thể hiện khả năng sinh tồn đáng kể Sâu non có thể sống kéo dài từ 38 ngày trở lên, tùy thuộc vào điều kiện môi trường và giới tính, góp phần vào sự phát triển của loài trong mùa sinh trưởng.

Trong quá trình phát triển, sâu non nhả một sợi tơ dài 10mm để dính vào cành hoặc lá, tạo thành một chiếc túi treo lủng lẳng Sau đó, sâu non quay đầu xuống và tiến hành quá trình chuyển hóa thành nhộng Quá trình này kéo dài 77 ngày, đánh dấu giai đoạn quan trọng trong vòng đời của sâu.

Nhộng cái dài từ 5-7mm, màu vàng, hình thoi với đầu và ngực nhỏ uốn cong, có hàng gai nhỏ màu nâu đen từ đốt thứ 3 đến đốt thứ 6 trên lưng, cuối bụng có 2 gai ngắn Nhộng đực dài từ 4,5-6mm, màu nâu vàng, trên lưng các đốt bụng thứ 4 đến thứ 8 có hai hàng gai nhỏ trên dưới, cuối bụng cũng có 2 gai nhỏ Cả nhộng đực và cái đều nằm trong túi làm bằng tơ quấn cùng lá khô, có màu lá khô và sợi tơ treo vào cành lá; túi của con cái dài từ 12-13mm, trong khi túi của con đực dài từ 7-10mm.

Sâu kèn gây hại làm lá bị đốm khô và thủng, dẫn đến mất khả năng quang hợp của cây, khiến cây trở nên còi cọc Sâu non từ tuổi 1 đến 3 chỉ ăn lớp biểu bì của lá, trong khi các tuổi sau ăn lá thành các lỗ hoặc ăn hết lá, chỉ để lại gân lá Mật độ sâu kèn có thể lên đến hàng vạn con trên một cây, gây thiệt hại nghiêm trọng cho năng suất và sức khỏe của cây trồng.

4.5.4 ối đất (Macrotermes) nh 4.11 ối đất ớn

- Đặc điể h nh thái, tập t nh sinh học

Mối là một trong những côn trùng gây hại nguy hiểm nhất ở rừng, chia làm 2 loại:

* Loại mối có sinh sản: gồm mối chú , mối vu v mối giống

Mối chúa có vai trò quan trọng trong việc sinh sản và duy trì nòi giống của tổ mối Phần bụng của mối chúa rất to, gấp 250-300 lần phần đầu, giúp tích trữ dưỡng chất để sinh sản Trong một tổ mối thường chỉ có duy nhất một mối chúa, đảm bảo sự phát triển và ổn định của quần thể mối Phần đầu và ngực của mối chúa ít thay đổi, giữ chức năng sinh học quan trọng trong quá trình sinh sản.

Mối vua có chức năng chính là thụ tinh cho mối chúa, đảm bảo sự sinh tồn của tổ mối Mối vua được mối thợ chăm sóc tận tình, nhưng vẫn giữ nguyên hình dạng và kích thước như mối cánh đực ban đầu Trong một tổ mối, thường chỉ có một mối vua, tuy nhiên, một số loài mối còn có từ 2 đến 3 mối vua tương ứng với số mối chúa trong tổ.

Mối giống là thành phần quan trọng của tổ mối, gồm hai loại chính là mối có cánh và mối không cánh Mối có cánh thường có hai đôi cánh màng bằng nhau, dài hơn thân thể, khi không bay cánh được xếp dọc trên thân, có màu nâu đen với bụng màu trắng đục Trong khi đó, mối không cánh, còn gọi là mối vua hoặc mối chúa, có số lượng ít hơn và đảm nhận vai trò duy trì nòi giống của tổ mối.

* Loại mối kh ng sinh sản:

Mối lính có chức năng bảo vệ tổ khỏi kẻ thù, với đầu mối lớn hướng về phía trước để dễ dàng phát hiện nguy hiểm Hàm trên của mối lính được phát triển mạnh mẽ nhằm chống lại các mối đe dọa từ kẻ thù, giúp tăng khả năng phòng vệ cho tổ.

Các biện pháp quản lý sâu hại rừng trồng thông, keo thuộc khu di tích lịch sử côn sơn - kiếp bạc

Dựa trên nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đặc điểm của khu rừng trồng Thông và tình hình sâu hại tại khu vực nghiên cứu, tôi nhận thấy sâu hại phân bố ngẫu nhiên với mức độ gây hại ít, nhưng cần thực hiện các biện pháp phòng tránh để tránh xảy ra bùng phát dịch Do đó, việc áp dụng các biện pháp phòng trừ phù hợp là yếu tố quan trọng để giảm thiểu thiệt hại và duy trì sự phát triển bền vững của rừng trồng Thông và Keo.

Việc điều tra dự tính và dự báo sâu bệnh hại thường xuyên đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý cây trồng Qua quá trình này, người làm công tác nông nghiệp có thể nhận được những thông tin kịp thời và chính xác về tình hình phát sinh, phát triển của các loài sâu hại chính như sâu róm thông, ong ăn lá thông, mối, sâu kèn nhỏ Thông tin này giúp đưa ra các giải pháp phòng ngừa hiệu quả, từ đó kiểm soát tình hình sâu bệnh một cách hợp lý và chủ động.

Qua thời gian điều tra nghiên cứu về sâu hại tôi có phát hiện ra các loài thiên địch của sâu hại đƣợc thống kê qua bảng sau:

1 Bọ Xít đen ăn sâu róm thông

Hình 4.12: B xít đen Hình 4.13: Ki n Vống

Cần có các biện pháp bảo vệ các loài thiên địch này vì chúng có thể gíúp chúng ta giết trừ sâu hại tốt

Các loài động vật như chim, ếch và nhiều loài khác đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sâu hại tự nhiên, góp phần bảo vệ hệ sinh thái rừng Để duy trì sự cân bằng này, cần thực thi các biện pháp xử phạt nghiêm khắc đối với những người vào rừng săn bắt trái phép, nhằm bảo vệ và giữ gìn nguồn động vật quý hiếm.

Cần tăng cường tuyên truyền và giáo dục cho người dân quanh khu rừng về vai trò quan trọng của các loài thiên địch trong việc duy trì cân bằng sinh thái Việc nâng cao ý thức cộng đồng sẽ giúp họ hiểu rõ tác dụng của các loài này trong bảo vệ rừng, từ đó tích cực tham gia vào công tác bảo vệ và bảo tồn thiên nhiên Điều này góp phần thúc đẩy sự phối hợp hiệu quả giữa chính quyền và người dân trong công tác bảo vệ rừng một cách bền vững.

51 vệ rừng và các loại thiên định Hình thức tuyên truyền nhƣ: tranh ảnh, họp mặt các hộ gia đình …

Trên thế giới, người ta sử dụng các bẫy đèn có bước sóng ánh sáng phù hợp để diệt sâu hại dựa vào đặc tính quang quang của chúng, vì chúng bị thu hút bởi ánh sáng đèn Ở Việt Nam, nhiều đơn vị bảo vệ thực vật đã sử dụng bẫy côn trùng nhập ngoại để phòng trừ sâu róm thông hiệu quả cao, tuy nhiên giá thành đèn cao khiến việc sử dụng rộng rãi gặp khó khăn Để kiểm soát sâu róm thông tại các khu vực rừng thông, có thể làm bẫy đèn tự chế phù hợp với khả năng và điều kiện kinh tế, mang lại hiệu quả đáng kể Cách làm bẫy đèn tự tạo đơn giản và phù hợp với các điều kiện địa phương, giúp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả phòng trừ sâu hại.

H nh 4 15: Đ n bẫy côn tr ng

Đầu tiên, xác định thời gian vũ hoá của sâu róm thông trong diện tích quản lý để lên kế hoạch đặt bẫy hiệu quả Tiếp đó, chọn vị trí phù hợp để đặt bẫy đèn, yêu cầu san đất cho phẳng, rộng mỗi chiều 1,5m, nhằm tối ưu hóa quang cảnh thu hút sâu róm thông trưởng thành Bạn cần chuẩn bị khung bẫy bằng 4 khúc gỗ dài 1,2m buộc chặt thành hình vuông, sau đó trải tấm linon che kín để tạo thành bể chứa nước với chiều cao 15-20cm Đèn treo cách mặt nước 1,5m để thu hút sâu róm thông trưởng thành vào ban đêm, vì chúng sẽ theo ánh sáng bay tới và rơi xuống bể Để tăng hiệu quả bắt sâu, có thể bỏ thêm dầu hoả vào bể để tạo lớp màng chống bay trở lại của sâu và giúp dễ dàng thu gom chúng sau khi rơi xuống.

52 nước sẽ nhanh chết hơn Cũng có thể lợi dụng nơi có hồ ao, sông suối gần rừng để dặt bẫy đèn diệt sâu róm thông

Khi vệ sinh rừng, nên để lại một số cây có hoa nhằm thu hút các loài ký sinh thiên địch của sâu hại, giúp kiểm soát dịch hại tự nhiên hiệu quả Ngoài ra, việc trồng thêm các loại cây có hoa còn tăng cường đa dạng sinh học, thu hút nhiều thiên địch hơn, từ đó giảm thiểu sử dụng hóa chất độc hại trong quản lý sâu bệnh Điều này góp phần bảo vệ môi trường rừng bền vững và duy trì sinh thái cân đối.

Khi sử dụng biện pháp này, cần có sự hướng dẫn của đơn vị bảo vệ thực vật để đảm bảo hiệu quả và an toàn Phương pháp phòng trừ sâu hại này chỉ nên áp dụng khi dịch sâu phát triển mạnh trên diện rộng với mật độ cao và gây thiệt hại lớn, yêu cầu tiêu diệt ngay để ngăn chặn sự lây lan Cần căn cứ vào đặc điểm của từng loài sâu hại để lựa chọn thuốc phù hợp và dạng thuốc tối ưu, tránh sử dụng các loại thuốc có khả năng tiêu diệt nhiều sinh vật khác để bảo vệ các thiên địch của sâu hại.

+ Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM)

Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là hệ thống sử dụng các kỹ thuật và biện pháp phù hợp nhằm duy trì mật độ côn trùng gây hại ở mức thấp nhất, hạn chế thiệt hại kinh tế Phương pháp này dựa trên phân tích môi trường và quần thể gây hại để áp dụng các biện pháp kiểm soát hiệu quả và bền vững Thiết lập mục tiêu kiểm soát rõ ràng giúp hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu quá mức, bảo vệ cân bằng sinh thái Quản lý dịch hại tổng hợp góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, đảm bảo an toàn thực phẩm và nâng cao năng suất nông nghiệp.

Chọn giống cây chất lượng và chăm sóc hợp lý là những yếu tố then chốt giúp cây trồng phát triển khỏe mạnh và bền vững Việc này không những thúc đẩy sự sinh trưởng tốt mà còn tăng khả năng đề kháng với sâu bệnh và các tác nhân gây hại khác Đầu tư vào giống tốt và chăm sóc hợp lý sẽ là nền tảng để đạt năng suất cao, ổn định và bảo vệ mùa vụ hiệu quả.

Thiên địch là những loại côn trùng có ích, giúp kiểm soát sâu hại hiệu quả bằng cách tiêu thụ nguồn thức ăn chính là sâu hại, từ đó giảm đáng kể mật độ của sâu hại trong cây trồng Chúng tồn tại tự nhiên trong môi trường và được bảo vệ bằng cách không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hóa học, góp phần duy trì hệ sinh thái cân đối và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

3 Thường xuyên theo dõi rừng hàng tuần, tháng:

Quan sát sự sinh trưởng của cây trồng nhằm đưa ra các biện pháp tác động phù hợp để thúc đẩy sự phát triển tốt của rừng Việc điều tra mật độ sâu hại và thiên địch giúp đánh giá mức độ cân bằng trong hệ sinh thái rừng, từ đó hỗ trợ đưa ra các quyết định xử lý dịch hại hiệu quả và bền vững.

4 Ai cũng là chuyên gia

Để đạt hiệu quả cao trong phòng trừ sâu hại, cần nghiên cứu và áp dụng các biện pháp IPM kết hợp giữa sinh học, vật lý và hóa học Việc phối hợp các phương pháp này giúp khắc phục những hạn chế của từng phương pháp riêng lẻ, đảm bảo sự an toàn và hiệu quả trong kiểm soát sâu hại.

Ngày đăng: 14/08/2023, 21:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm