1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm vật hậu, phân bố và tình hình gây trồng loài giổi xanh (michelia mediocirs dandy) tại vườn quốc gia xuân sơn, huyện tân sơn, tỉnh phú thọ

84 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm vật hậu, phân bố và tình hình gây trồng loài Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp - https://www.forest.gov.vn
Chuyên ngành Quản lý, Bảo tồn Rừng và Phát triển Lâm nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (2)
    • 1.1. Một số đặc điểm chung về loài Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) (2)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (3)
  • Chương 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (9)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (9)
    • 2.2. Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu (9)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (9)
      • 2.3.1. Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Giổi xanh (9)
      • 2.3.2. Nghiên cứu đặc điểm vật hậu của loài Giổi xanh (9)
      • 2.3.3. Đánh giá tình hình gây trồng loài Giổi xanh tại VQG Xuân Sơn (9)
      • 2.3.4. Đề xuất các giải pháp bảo tồn loài Giổi xanh một cách hiệu quả và bền vững cho VQG Xuân Sơn (9)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (9)
      • 2.4.1. Công tác chuẩn bị (9)
      • 2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu (9)
      • 2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu (18)
  • Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (20)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (20)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (20)
      • 3.1.2. Địa hình, địa thế (20)
      • 3.1.3. Địa chất, đất đai (20)
      • 3.1.4. Khí hậu thủy văn (21)
      • 3.1.5. Hiện trạng rừng và sử dụng đất (22)
      • 3.1.6. Thảm thực vật, động vật và phân bố của các loài quý hiếm (24)
      • 3.1.7. Đặc điểm về cảnh quan, văn hóa và lịch sử (27)
    • 3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội (28)
      • 3.2.1. Dân số, lao động và dân tộc (28)
      • 3.2.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội (29)
      • 3.2.3. Hiện trạng xã hội (31)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (32)
    • 4.1. Đặc điểm phân bố của loài giổi xanh (32)
      • 4.1.1. Phân bố theo đai cao (33)
      • 4.1.2. Phân bố theo trạng thái rừng (35)
      • 4.1.3. Công thức tổ thành rừng nơi có loài Giổi xanh phân bố (37)
    • 4.2. Đặc điểm vật hậu của loài Giổi xanh (43)
    • 4.3. Đánh giá tình hình gây trồng loài Giổi xanh tại VQG Xuân Sơn (47)
    • 4.4. Đề xuất các giải pháp bảo tồn loài Giổi xanh một cách hiệu quả và bền vững cho VQG Xuân Sơn (51)
      • 4.4.1. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn loài Giổi xanh tại (51)
      • 4.4.2 Giải pháp bảo tồn và phát triển loài Giổi xanh tại VQG Xuân Sơn (54)
  • Chương 5 (57)
    • 5.1. Kết luận (57)
    • 5.2. Tồn tại (58)
    • 5.3. Kiến nghị. .................................................................................................... 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO (58)

Nội dung

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Một số đặc điểm chung về loài Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy)

Tên khoa học: Michelia mediocris Dandy

Tên thông thường: Giổi xanh

Giổi xanh thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) Bộ Ngọc lan (Magnoliales)

Giổi xanh là loài gỗ lớn, thân thẳng, tròn, đều, chiều cao đạt tới 25 - 30 m, đường kính D 1.3 đạt tới 100 cm Gốc có bạnh vè thấp, phân cành tự nhiên tốt

Vỏ nhẵn, màu nâu nhạt, có điểm các vệt trắng quanh thân Lớp vỏ trong màu xanh nhạt Vỏ có mùi thơm nhẹ

Lá đơn mọc cách, hình thuôn dài, nhẵn bóng, có chiều dài từ 12-13 cm và chiều rộng từ 6-12 cm Mặt trên của lá nhẵn màu xanh đậm, trong khi mặt dưới có màu xanh nhạt, nổi bật bởi các gân nổi rõ, trong đó có 10-16 đôi gân bên Lá kèm thường rụng sớm để lại vòng sẹo trên cành non và có long mặt ngoài, góp phần nhận dạng đặc trưng của cây.

Hoa mọc ở nách lá, với bao hoa màu trắng đục, tạo điểm nhấn đặc trưng cho cây Cây có rễ cọc ăn sâu, giúp cây vững chắc và hấp thụ nutrients hiệu quả Quả đại kép dài khoảng 10cm, vỏ có nhiều nốt sần, chứa đựng 4-5 hạt bên trong Khi chín, quả nứt ra để lộ hạt màu đỏ, mềm, có vị ngọt và chứa dầu thơm ngon Hạt có mùi thơm đặc trưng, vị cay vừa phải, rất hấp dẫn và có thể sử dụng trong các món ăn hay làm thuốc.

- Sinh học và sinh thái:

Giổi xanh phân bố phổ biến ở vùng rừng núi đất ẩm hoặc trên đất bazan tại Tây Nguyên, thích hợp với khí hậu nhiệt đới có nhiệt độ bình quân từ 20 – 30°C và lượng mưa khoảng 2.000 – 2.500mm Là loại cây trung tính, ưa sáng, cây trưởng thành thường chiếm tầng cao nhất của rừng, phù hợp với độ cao dưới 700m so với mực nước biển và đất đỏ, đất đổ vàng, đất tầng dày, thoát nước tốt Giổi xanh thường sống hỗn loại cùng các loài như Lim xẹt, Ràng ràng mít, Re, Ngát (miền Bắc) hoặc với Xoay, Thông nàng, Trám, Vạng, Dẻ, góp phần đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng Tây Nguyên.

(ở Tây Nguyên) Cây ưa sáng, sinh trưởng tương đối nhanh, tái sinh hạt tốt Cây non chịu bóng nhẹ

Giổi xanh phân bổ rộng rãi tại nhiều quốc gia Đông Nam Á và khu vực nam Trung Quốc Tại Việt Nam, loài cây này xuất hiện từ Thừa Thiên - Huế trở ra phía Bắc, với tập trung lớn ở các tỉnh như Nghệ An, Hà Tĩnh, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang và Hà Giang.

Tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, cây Giổi xanh phân bố chủ yếu trên các kiểu rừng núi đất, núi đất xen đá với độ cao dưới 800 mét Theo kết quả điều tra từ Viện sinh thái Tài nguyên sinh vật phối hợp với Viện điều tra Quy hoạch rừng (2013), cây Giổi xanh đã thích nghi tốt trong các khu rừng này Trong giai đoạn 1997–2002, tại phân khu phục hồi sinh thái xã Xuân Sơn, thôn Lạng, đã tiến hành trồng thử nghiệm cây Giổi xanh cho các hộ dân Đến năm 2014, khoảng 60% số cây đã ra hoa và sản lượng trung bình đạt 3kg/cây, cho thấy tiềm năng phát triển bền vững của loài này trong khu vực.

Gỗ giổi được ưa chuộng trong dân gian để đóng đồ, làm nhà và chạm khắc nhờ tính bền, ít mối mọt và cong vênh Thớ gỗ mịn dễ gia công giúp các nghệ nhân dễ dàng tạo hình và trang trí các sản phẩm từ gỗ giổi Nhờ đặc tính chống mối mọt, gỗ giổi là lựa chọn lý tưởng cho các công trình nội thất và đồ dùng lâu dài Đây là loại gỗ phổ biến được sử dụng rộng rãi trong thủ công mỹ nghệ và xây dựng nhờ độ bền và khả năng chống chịu tốt.

Hạt và vỏ cây có tác dụng làm thuốc kích thích tiêu hóa, giúp trị đau bụng và chứng ăn không tiêu Ngoài ra, vỏ cây còn có khả năng chữa sốt, là phương thuốc tự nhiên hiệu quả Hạt giổi còn được sử dụng rộng rãi làm gia vị trong nấu ăn, góp phần tăng hương vị cho món ăn hàng ngày.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Giổi xanh hay còn gọi là cây giổi có tên khoa học là Michelia mediocris

Dandy thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae), Bộ Ngọc lan (Magnoliales)

Theo Xia et al (2008), họ Ngọc lan (Magnoliaceae) gồm khoảng 300 loài phân bố chủ yếu tại các vùng ôn đới và nhiệt đới của Đông Nam Châu Á, chiếm 4/5 tổng số loài, còn lại thuộc về khu vực Châu Mỹ Latin, chiếm 1/5 Các loài trong họ Mộc lan chủ yếu xuất hiện từ vùng ôn đới Đông Nam của Bắc Mỹ qua vùng nhiệt đới châu Mỹ đến Brazil, nổi bật với đặc điểm nguyên thủy như bao hoa chưa phân hóa hoặc phân hóa chưa rõ ràng, số lượng lớn và rời rạc, nhị và nhụy hoa nhiều, rời rạc, sắp xếp thành hình xoắn ốc trên đế hoa hình nón thuôn dài.

Họ Ngọc lan thu hút sự chú ý của các nhà hình thái học, phân loại học và sinh học phân tử để giải quyết các tranh luận kéo dài về việc phân loại và sắp xếp thứ bậc của các nhóm trong hệ thống phân loại học Những đặc điểm và tính chất đặc trưng của họ Ngọc lan là lý do khiến chúng trở thành đối tượng nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực này (Dandy, 1927).

Các nghiên cứu lịch sử về cây họ Ngọc lan đã được thực hiện từ những năm 1950, 1978 và đến các năm 1984, 1996, góp phần cung cấp nền tảng kiến thức quan trọng về loại cây này (Law, 1984, 1996; Nooteboom, 1985; Chen & Nooteboom, 1993)[18][22] Gần đây, với sự phát triển của công nghệ phân tử, nhiều nghiên cứu mới về họ Ngọc lan trong lĩnh vực này đã được thực hiện, mở ra nhiều tiềm năng ứng dụng trong y học và công nghiệp chế biến (Qiu et al., 20XX).

1993, 1995, 1999; Soltis et al., 1998, 1999; Kim et al., 2001; Azuma et al., 2001; v.v.)[14] Tuy nhiên có một sự thống nhất giữa các quan điểm (Dandy,

Họ Ngọc lan (Nooteboom, 1993) được chia thành hai phân họ chính là Magnolioideae và Liriodendroideae (Law, 1984; Chen & Nooteboom, 1993; Nooteboom, 1998) Trong đó, phân họ Liriodendroideae gồm hai loài chính là Liriodendron tulipifera L và Liriodendron chinense (Hemsl.) Sarg., nổi bật với những đặc điểm khác biệt so với phân họ Magnolioideae như phiến lá phân thành hai thuỳ rõ rệt.

Các thuỳ và bao phấn mở hướng ngoài thường sớm rụng, trong khi quả có cánh nhưng không mở Các nghiên cứu phân tử gần đây của Chase et al (1993), Qui et al (1993), Ueda et al (2000) đã xác thực rõ ràng sự phân chia giữa hai phân họ này, góp phần làm rõ đặc điểm sinh học và phân loại của chúng.

Năm 1789, Antonil Laurentii de Jussieu là người đầu tiên công bố sự xuất hiện của chi Talauma trong tác phẩm 'Genera Plantarum', góp phần mở rộng kiến thức về thực vật ở vùng Lesser Antilles Bentham và Hooker (1862) đã phát triển hệ thống phân loại cây dựa trên các đặc điểm thực vật, trong đó họ giới thiệu hệ thống phân chia thành chỉ với 4 chi chính, bao gồm Magnolia do Linnaeus đặt tên năm 1753 và Michelia cũng do Linnaeus mô tả Những đóng góp này góp phần xây dựng cơ sở cho hệ thống phân loại thực vật hiện đại và hiểu biết về đa dạng sinh học của chi Talauma và các chi liên quan.

Trong lịch sử phân loại thực vật, các chi như Talauma Jussieu (1789), Manglietia Blume (1823) từng tồn tại độc lập Tuy nhiên, năm 1888, Prantl đã rút gọn các chi này chỉ còn lại ba chi, trong đó gộp chi Manglietia vào chi Magnolia để đơn giản hóa hệ thống phân loại Trước đó, vào năm 1886, Ballion đã đề xuất giữ nguyên các chi riêng rẽ hoặc xem chúng như các phân chi (subgenera) của chi Magnolia, mang lại sự linh hoạt trong việc phân loại thực vật thuộc nhóm này.

Năm 1927, James Edgar Dandy công bố hệ thống 10 chi của họ Mộc lan dựa trên hệ thống 4 chi của Bentham và Hooker (1862), trong đó ông xác nhận sự tồn tại của chi Aromadendron (được Blume tách ra từ chi Talauma năm 1825, dựa trên đặc điểm quả thịt không mở) Ngoài ra, Dandy còn giới thiệu thêm 4 chi mới để hoàn thiện hệ thống phân loại này, giúp nâng cao hiểu biết về các phân nhóm trong họ Mộc lan.

Kmeria Dandy (1927) dựa trên đặc điểm hoa đơn tính và tâm bì mở bụng của loài Magnolia duperreana Pierre, 1879, trong khi Pachylarnax Dandy (1927) được đặt tên dựa trên dạng quả của loài P praecalva Dandy Alcimandra Dandy (1927) được xác định dựa trên đặc điểm hoa đầu cành của loài Michelia cathcartii Hook.f et Thoms., 1855, còn Elmerrillia Dandy (1927) dựa trên đặc điểm không cuống nhuỵ và bao phấn mở trong của loài Michelia forbesii Baker (1923) cùng loài nghi Talauma papuana Schlechter (1913), loài được Dandy chọn làm loài gốc cho chi mới Sau này, Dandy (1964, 1978) tiếp tục bổ sung thêm hai chi Paramichelia Hu (1940) và Tsoongiodendron Chun (1963) vào hệ thống gồm 12 chi, phân chia thuộc hai tông Liriodendreae và Magnolieae, trong đó có sự phân chia nhỏ thành các phân chi và nhánh khác nhau trong chi Magnolia, góp phần làm rõ hệ thống phân loại các loài trong họ Magnoliaceae.

Năm 1984, Law Yu-Wu đã xây dựng hệ thống phân loại mới cho họ Mộc lan với cấu trúc gồm 2 phân họ, 2 tông, 4 phân tông và 14 chi, dựa trên hệ thống của Dandy cùng với việc bổ sung hai chi mới Ông đã thay thế nhánh Gynopodium trong chi Magnolia bằng Parakmeria Hu & Cheng (1951) và thêm chi Manglietiastrum Law (1979) để hoàn chỉnh hệ thống Đến năm 2000, ông tiếp tục hợp nhất hai chi Dugandiodendron Lozano (1975) và Woonyoungia Law (1997), nâng tổng số chi trong họ lên 16 Các công trình nghiên cứu của Nooteboom trong các năm 1985, 1987, 1993 và 1998 đã chia phân họ Magnolioideae thành hai tông chính: Magnolieae, gồm bốn chi là Magnolia, những công trình này được xem là những nghiên cứu toàn diện về họ Mộc lan.

Manglietia, Pachylarnax, Kmeria) và Michelieae (gồm 2 chi:

Elmerrillia vàMichelia), trong đó nhiều chi từng tồn tại riêng rẽ trong các hệ thống trước đã trở thành các nhánh của 2 chi Magnolia và Michelia[9]

Chi Giổi Michelia L thuộc họ Mộc lan, gồm khoảng 70 loài phân bố chủ yếu tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Á Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ (1999), chi Michelia có khoảng 19 loài, góp phần đa dạng sinh học và phong phú của hệ sinh thái địa phương.

(2003), chi này có khoảng 18 loài và một thứ; cũng trong danh lục này, ông đã liệt kê 3 loài: Paarmechelia braianensis (Gagnep.) Dandy, P Baillonii (Pierre)

Hu và Tsoongdendron odorum Chun đã trở thành synonym của các loài Michelia braianensis Gagnep., M Baillonii (Pierre) Finet & Gagnep., và M Odora (Chun) Nooteboom & B.L Chen Vũ Quang Nam và Xia Nian He (2009) đã làm rõ và bổ sung thêm hai loài Michelia trong hệ thực vật Việt Nam là Michelia gioii (A Chev.) Sima & H Yu và M Velutina DC Năm 2010, họ tiếp tục nghiên cứu và bổ sung thêm một loài mới là Michelia fulva Chang et B.L Chen, qua đó mở rộng hiểu biết về đa dạng sinh học của các loài Michelia tại Việt Nam.

1.3.Tình hình nghiên cứu loài Giổi xanh trong nước Ở nước ta từ những năm 1967 các cán bộ nghiên cứu khoa học thuộc Viện khoa học Lâm Nghiệp (Lê Cảnh Nhuệ, Nguyễn Bá Chất ) đã tiến hành thí nghiệm làm giàu rừng với nhóm loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao: Chò nâu,

Các loại cây như dẻ cau, vạng trứng, giổi xanh, lim xanh, xoan đào đã được nghiên cứu, tuy nhiên các kết quả mới chỉ dừng lại ở giai đoạn đầu và chưa xác nhận thành công của đề tài nghiên cứu Nhà nghiên cứu Đoàn Sỹ Hiền cùng các cộng sự trong sách “Cây rừng Việt Nam – Tập 1” mô tả hình thái và xác định vùng phân bố của cây giổi xanh, chủ yếu nằm ở Nghệ An, Thanh Hóa, là cây ưa sáng thường gặp trong rừng thưa.

Cuốn “Cây gỗ rừng Việt Nam – Tập 2” của Viện Điều tra quy hoạch rừng, Nhà xuất bản Nông Nghiệp (1978), đã xác định vùng phân bố và mô tả đặc điểm hình thái của loài Giổi xanh Loài Giổi xanh thường phân bố ở các khu rừng rậm thường xanh mưa nhiệt đới tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung như Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Hoàng Liên Sơn.

Năm 1976 – 1977 tác giả Nguyễn Vi – Phạm Đình Tam đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thăm dò kỹ thuật làm giàu rừng tại khu vực sông Hiếu

(Nghệ An) bằng các loài Gội, Giổi xanh, Lát hoa, Mỡ, Ràng ràng”

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) là loài cây đặc trưng tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, với đặc điểm vật hậu nổi bật giúp nhận diện dễ dàng Phân bố từ khu vực rừng tự nhiên đến các cánh rừng hạn chế, loài này đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái địa phương Tình trạng gây trồng của Giổi xanh còn hạn chế do ảnh hưởng của hoạt động khai thác và mất rừng, đòi hỏi các giải pháp bảo tồn hiệu quả Việc xác định đặc điểm vật hậu, phân bố và các nguy cơ gây hại là cơ sở quan trọng để đề xuất các biện pháp bảo tồn loài này tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, góp phần duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ tài nguyên rừng khu vực.

Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu

- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là loài Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy);

- Phạm vi nghiên cứu: Vùng lõi thuộc VQG Xuân Sơn;

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài thực hiện từ ngày 07 tháng 02 năm 2015 đến ngày 30 tháng 04 năm 2015.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Giổi xanh

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm vật hậu của loài Giổi xanh

2.3.3 Đánh giá tình hình gây trồng loài Giổi xanh tại VQG Xuân Sơn

2.3.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn loài Giổi xanh một cách hiệu quả và bền vững cho VQG Xuân Sơn.

Phương pháp nghiên cứu

- Chuẩn bị dụng cụ cần thiết cho công tác điều tra nhƣ: Máy GPS định vị, bản đồ giấy, máy ảnh, mẫu biểu…

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu

- Đọc cụ thể những tài liệu nói về mùa ra hoa, quả, rụng lá,…của loài Giổi xanh

Thu thập và tham khảo các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm bản đồ hiện trạng rừng, điều kiện tự nhiên cũng như các đặc điểm về kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu để đảm bảo tính chính xác và toàn diện cho nghiên cứu.

- Tham khảo các tài liệu đã công bố có liên quan tới loài

2.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu ngoài thực địa a) Điều tra đặc điểm phân bố loài

Lập 3 tuyến điều tra đi qua các trạng thái rừng, đại diện trong khu vực Trên tuyến điều tra tiến hành quan sát trực tiếp trong phạm vi 10 m về hai phía ghi nhận tọa độ, đai cao, trạng thái rừng xuất hiện của loài Giổi xanh và xác định các vị trí điển hình lập OTC Lập 3 tuyến điều tra, trong đó:

STT Tên tuyến Địa điểm

Các kiếu hệ sinh thái Điểm đầu (độ) Điểm cuối(độ) Độ dài tuyến (km)

- Hệ sinh thái nương rẫy, đồng ruộng và dân cư, vườn rừng

- Rừng kín thường xanh mƣa ẩm á nhiệt đới núi trung bình

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

- Hệ sinh thái nương rẫy, đồng ruộng và dân cƣ

- Rừng kín thường xanh mƣa ẩm nhiệt đới

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình

STT Tên tuyến Địa điểm

Các kiếu hệ sinh thái Điểm đầu (độ) Điểm cuối(độ) Độ dài tuyến (km)

- Rừng kín thường xanh nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu

- Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy

- Rừng thứ sinh Tre nứa

- Hệ sinh thái nương rẫy, đồng ruộng và dân cƣ

Thông tin điều ta tuyến ghi theo mẫu biểu 01

Mẫu biểu 01: Điều tra phân bố loài Giổi xanh theo tuyến

Tuyến số:……… Địa điểm:……… Ngày điều tra:……… Người điều tra:………… Tọa độ điểm đầu tuyến: Tọa độ điểm cuối tuyến:

(cây) Độ cao bắt gặp Tọa độ Trạng thái rừng Sinh trưởng Ghi chú

- Phân chia trạng thái rừng[15]:

+ IIa: Rừng phục hồi sau nương rẫy, đặc trưng bởi lớp cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh đều tuổi, 1 tầng

Rừng phục hồi sau khai thác kiệt chủ yếu gồm các quần thụ non với các loài cây ưa sáng, thành phần loài phức tạp và không đều về tuổi, do tổ thành loài cây ưu thế không rõ ràng Xa hơn khỏi tán rừng này, vẫn có thể còn sót lại một số cây của quần thụ cũ, nhưng với số lượng không đáng kể Các quần thụ này chỉ được xếp vào loại IIb nếu đường kính phổ biến của cây không vượt quá 20cm, phản ánh mức độ phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt.

Rừng đã bị khai thác kiệt quệ và tán rừng bị phá vỡ thành từng mảng lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái Dù phía trên còn sót lại một số cây cao, to nhưng chất lượng kém, cùng với sự xâm lấn của dây leo, bụi rậm, tre nứa khiến hiệu quả phục hồi của rừng gặp nhiều khó khăn.

Rừng kiểu IIIa2 đã trải qua tình trạng khai thác quá mức nhưng hiện đang hồi phục tốt Đặc trưng của kiểu rừng này là sự xuất hiện của tầng giữa phát triển mạnh mẽ, chiếm ưu thế sinh thái, với lớp cây địa bộ có đường kính từ 20 đến 30cm Rừng có cấu trúc từ hai tầng trở lên, trong đó tầng trên tán không liên tục chủ yếu hình thành từ các cây của tầng giữa trước đây Ngoài ra, còn xuất hiện một số cây to, khỏe, vượt tán của tầng rừng cũ, phản ánh quá trình phục hồi và phát triển tự nhiên.

Rừng kiểu IIIa3 đã trải qua khai thác vừa phải hoặc phát triển từ cấp độ IIIa2, với quần thể thưa tương đối khép kín gồm hai hoặc nhiều tầng cây Điểm nổi bật của kiểu rừng này so với IIIa2 là số lượng cây nhiều hơn, trong đó đã xuất hiện một số cây có đường kính lớn trên 35 cm, có thể được khai thác để lấy gỗ lớn.

* Lập 10 OTC ở rừng trồng, rừng tự nhiên tuyến 1 lập 4 OTC, tuyến 2 lập 4 OTC tuyến 3 Lập 2 OTC

Trong các khu vực Giổi xanh có tập trung thành quần thể hoặc có số lượng lớn, được coi là đại diện cho khu vực Việc điều tra được tiến hành trong OTC với diện tích mỗi ô là 500m² (25m × 20m) OTC có hình chữ nhật, các cạnh góc vuông được xác định dựa trên phương pháp Pitago, với chiều dài song song với đường đồng mức và chiều rộng vuông góc với đường đồng mức Vị trí lập OTC được chọn cách xa đường mòn, không vượt qua các dông hoặc khe nguy hiểm, đảm bảo an toàn và chính xác trong quá trình khảo sát.

Trong mỗi OTC tiến hành đo đếm các chỉ tiêu toàn bộ những cây có đường kính D 1.3 ≥ 6cm

+ Đo đường kính D1.3 dùng thước kẹp kính đo hai chiêu Đông Tây – Nam Bắc, với chiều cao từ gốc cây đến vị trí cần đo là 1,3m;

+ Đo đường kính tán lá (D t ) bằng thước dây theo hình chiều cao của tán cây, đo theo hai chiều Đông Tây – Nam Bắc lấy giá trị trung bình;

Chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới tán (Hdc) được đo bằng thước sào có khắc vạch đếm cm (hoặc bằng mục trắc), đơn vị tính là mét (m) Ngoài ra, còn có thể sử dụng thước Blumleiss để đo các chỉ tiêu này, đảm bảo độ chính xác cao trong đo đạc chiều cao cây cối.

+ Đánh giá chất lượng sinh trưởng :

Cây sinh trưởng tốt (A): là những cây sinh trưởng khỏe mạnh, thân thẳng, không bị cụt ngọn, có chiều cao vƣợt trội hơn so với những cây khác

Cây sinh trưởng trung bình (B): là những cây có chiều cao và đường kính trung bình so với những cây khác trong khu vực

Cây sinh trưởng xấu (C): là những cây thấp, cong queo, sâu bệnh và cụt ngọn Kết quả điều tra ghi vào bảng biểu:

Mẫu biểu 03: Điều tra tầng cây cao

Trạng thái rừng:……… Ngày điều tra:……… Địa điểm điều tra:……… Người điều tra:………

Số hiệu OTC:……… Tọa độ:……… Độ dốc:……… Độ cao:………

STT Tên cây D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m) Sinh trưởng

- Điều tra cây tái sinh:

Trong mỗi OTC tiến hành lập 5 ODB với diện tích mỗi ô là 25m 2 (5×5m) và đƣợc bố trí theo sơ đồ sau:

(Sơ đồ bố trí các Ô dạng bản)

Trong các ODB tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sau: Nguồn gốc tái sinh (chồi, hạt), chiều cao, chất lƣợng cây tái sinh

+ Xác định chất lƣợng cây tái sinh thông qua phân cấp chất lƣợng:

Chất lƣợng tốt (T): Là những cây khỏe mạnh, không sâu bệnh, không cụt ngọn

Chất lượng trung bình (TB): là những cây có sinh trưởng trung bình, hình thái trung gian

Chất lượng xấu (X): là những cây sinh trưởng yếu, sâu bệnh, cụt ngọn Kết quả điều tra đƣợc ghi vào biểu sau:

Mẫu biểu 04: Điều tra cây tái sinh

Trạng thái rừng:……… Ngày điều tra:……… Địa điểm điều tra:……… Người điều tra:………

Số hiệu OTC:……… Tọa độ:……… Độ dốc:……… Độ cao:………

Chất lƣợng Nguồn gốc Tốt TB Xấu Chồi Hạt

- Điều tra cây bụi thảm tươi:

Tiến hành điều tra cây bụi thảm tươi trên các ô dạng bản đã lập để xác định tên loài, loại thảm tươi chủ yếu và nguồn gốc Kết quả điều tra được hệ thống hóa vào biểu mẫu số 05: Điều tra cây bụi thảm tươi, giúp tổng hợp và phân tích dữ liệu một cách chính xác và rõ ràng Quá trình này nhằm cung cấp thông tin đầy đủ về đặc điểm và phân bố của cây bụi thảm tươi trong khu vực nghiên cứu, hỗ trợ các hoạt động quản lý và bảo tồn thực vật.

Trạng thái rừng:……… Ngày điều tra:……… Địa điểm điều tra:……… Người điều tra:………

Số hiệu OTC:……… Tọa độ:……… Độ dốc:……… Độ cao:………

ODB Tên cây Số lƣợng Nguồn gốc Chất lƣợng b) Điều tra đặc điểm vật hậu của loài Giổi xanh

Quan sát và mô tả trực tiếp tại hiện trường theo các tiêu chí quan trọng giúp nhận biết sự phát triển của chồi trương Khi chồi trương có vảy bao bọc rạn nứt và phần mới lộ ra có màu hơi nhạt, đây là dấu hiệu rõ ràng của sự phát triển mới Trong trường hợp chồi không có vảy, chồi sẽ to rõ rệt hơn với sự thay đổi về màu sắc, thể hiện sự trưởng thành rõ ràng hơn Nếu chồi ẩn, lúc đó chồi mới sẽ dần hiện ra ngoài, cho thấy quá trình phát triển đang diễn ra một cách rõ nét Các chỉ tiêu này giúp theo dõi chính xác sự thay đổi của chồi theo thời gian.

+ Chồi nở: Vảy chồi xòe rộng lá non lộ ra rõ rệt

+ Hoa nở: Bao hoa xòe rộng, lộ rõ các bộ phận khác của hoa

+ Hoa tàn: Bao hoa héo rụng, bao phấn biến mầu

Quả non của cây có hoa tàn và bầu phát triển nhanh, màu xanh và đôi khi phủ đầy lông, cho thấy giai đoạn phát triển đầu của quả Khi quả và hạt chín, màu sắc quả trở nên rõ rệt hơn, vỏ quả mềm nhũn hoặc chuyển sang dạng gỗ cứng, đôi khi tự nứt văng hạt ra ngoài, đánh dấu quá trình hoàn thiện của quả và sự chín muồi của hạt.

Dựa trên kết quả phỏng vấn để xác định thời điểm thích hợp cho thực hiện các hoạt động nông nghiệp, cần chú ý theo dõi hiện trạng của cây trồng Quan sát sự thay đổi của loài như chuyển màu lá, rụng lá do thời tiết, ảnh hưởng của sâu bệnh hoặc tác động của cơ giới Đặc biệt, nên tập trung mô tả và đánh giá 10 cây trưởng thành có sự sinh trưởng nổi trội, không bị sâu bệnh và đã ra hoa trong các năm trước để có dữ liệu chính xác và phù hợp cho quá trình xử lý.

Mẫu biểu 06: Điều tra vật hậu loài Giổi xanh Đặc điểm

Nở hoa Kết quả Quả chín

- Dùng phương pháp PRA (sử dụng bộ công cụ phỏng vấn) để tìm hiểu về đặc điểm vật hậu của loài Giổi xanh tại khu vực nghiên cứu

+ Đối tượng phỏng vấn: Cán bộ và người dân địa phương

+ Số lượng người phỏng vấn: trên 30 hộ dân

+ Nội dung phỏng vấn theo bộ câu hỏi phỏng vấn sau:

Bộ câu hỏi phỏng vấn:

Tên Chủ hộ/ Cán bộ kiểm lâm/ người buôn bán:

Dân tộc: Số nhân khẩu: Nam/nữ: Độ tuổi:

1: Ông (bà) có biết cây Giổi xanh không?

2: Ông bà có thể cho biết Giổi xanh thường ra chồi vào thời gian nào không?

3: Khi nào Giổi xanh bắt đầu ra lá non?

4: Loài Giổi xanh có nụ vào thời gian nào?

5: Hoa nở vào thời gian nào?

6: Kết quả vào thời gian nào?

7: Quả khi chín vào thời gian nào?

Kết quả đƣợc ghi vào biểu sau:

Mẫu biểu 07: Kết quả phỏng vấn đặc điểm vật hậu của loài Giổi xanh

Tên chủ hộ (cán bộ kiểm lâm)

Tuổi Địa điểm phỏng vấn

Thời gian ra chồi (tháng)

Thời gian ra lá non (tháng)

Thời gian ra nụ hoa (tháng)

Thời gian nở hoa (tháng)

Thời gian kết quả (tháng)

Thời gian quả chín (tháng) c) Đánh giá tình hình gây trồng loài Giổi xanh

Phương pháp PRA (Phân tích Chương trình cộng đồng) được sử dụng để thu thập thông tin về tình hình gây trồng loài Giổi xanh tại Vườn Quốc gia, thông qua việc phỏng vấn cán bộ kiểm lâm và người dân địa phương.

+ Đối tượng phỏng vấn: Cán bộ và người dân địa phương;

+ Số lượng người phỏng vấn: trên 30 hộ dân;

+ Nội dung phỏng vấn theo bộ câu hỏi phỏng vấn dưới đây:

Bộ câu hỏi phỏng vấn:

Tên Chủ hộ/ Cán bộ kiểm lâm/ người buôn bán:

Dân tộc: Số nhân khẩu: Nam/nữ: Độ tuổi:

- Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm:

1: Anh (chị) có thể cho biết trong khu vực VQG Xuân Sơn có số lƣợng loài Giổi xanh nhiều hay ít?

2: Tại VQG Xuân Sơn có trồng loài Giổi xanh hay không? Nếu có thì diện tích trồng là bao nhiêu?

3: Trong khu vực VQG loài Giổi xanh đƣợc trồng chủ yếu ở khu vực nào? 4: Hiện nay VQG có dự án trồng hoặc bảo tồn loài Giổi xanh hay không? Nếu có thì kết quả mà dự án đã đạt đƣợc?

5: Người dân ở đây trồng loài Giổi xanh là do tự phát hay có sự hướng dẫn của cán bộ?

6: Tình trạng tiêu thụ và buôn bán loài cây này ở đây nhƣ thế nào?

7: Anh (chị) có thể cho biết ý thức của người dân trong việc trồng và phát triển loài cây này nhƣ thế nào?

- Phỏng vấn người dân địa phương:

1: Anh chị có biết loài Giổi xanh không?

2: Nhà anh chị có trồng loài này không? Nếu có diện tích trồng là bao nhiêu?

3: Nhà anh (chị) trồng loài này theo dự án nào không hay tự trồng?

4: Anh (chị) trồng loài này có được cán bộ hướng dẫn không?

5: Những gia đình trồng loài này có được hỗ trợ gì từ nhà nước không? 6: Gia đình anh (chị) trồng loài này để dung hay để bán? Nếu bán thì giá bao nhiêu nghìn đồng/kg hạt hoặc bao nhiêu nghìn đồng/khối gỗ?

7: Anh (chị) trồng loài này thì lấy giống ở đâu? Có gặp khó khăn gì trong công tác nhân giống và gây trồng hay không?

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm về phía Tây của huyện Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hoà Bình và Sơn La

- Từ 21 0 03’ đến 21 0 12’ vĩ độ Bắc;

- Từ 104 0 51’ đến 105 0 01’ kinh độ Đông

* Ranh giới Vườn quốc gia:

- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;

- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình;

- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;

- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Vườn quốc gia Xuân Sơn có địa hình đa dạng và đồi núi dốc với nhiều chỗ dốc hiểm trở Khu vực này gồm các núi đất xen kẽ với núi đá vôi, mang lại vẻ đẹp hoang sơ và hùng vĩ Địa hình cao dần từ phía Đông sang Tây và từ Nam lên Bắc, tạo nên cảnh quan đặc trưng thu hút du khách yêu thiên nhiên.

- Kiểu địa hình núi trung bình, độ cao ≥700m, chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, cao nhất là đỉnh núi Voi 1.386 m, núi Ten 1.244m, núi Cẩn 1.144m;

Vườn bao phủ chủ yếu các kiểu địa hình núi thấp và đồi, với độ cao dưới 700 mét, chiếm approximately 65% tổng diện tích tự nhiên Phần lớn là các dãy núi đất xen lẫn địa hình caster, phân bố chủ yếu phía Đông và Đông Nam của khu vực Địa hình có độ dốc trung bình từ 25-30 độ, với độ cao trung bình khoảng 400 mét, tạo nên cảnh quan đa dạng và phù hợp với các hoạt động sinh thái và phòng hộ.

Thung lũng, lòng chảo và dốc tụ chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình Phần lớn diện tích này đang được sử dụng cho hoạt động canh tác nông nghiệp, góp phần duy trì kinh tế địa phương và đa dạng sinh thái của khu vực.

Khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn có quá trình phát triển địa chất phức tạp theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 Vùng này được các nhà địa chất gọi là khu đồi núi thấp sông Mua, với cấu trúc dạng phức tạp, gồm các nếp lồi xen kẽ nhau Nham thạch trong khu vực gồm nhiều loại khác nhau và có tuổi địa chất khác nhau, phân bố thành các dải nhỏ hẹp, thể hiện tính đa dạng về thành phần địa chất của khu vực.

Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH) phân bố từ độ cao 700-1386m, tập trung chủ yếu ở phía Tây của Vườn, giáp ranh với huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình) và huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La), thể hiện sự phân bố đặc trưng trên khu vực núi cao.

- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (Fe): Phân bố dưới

700m, thành phần cơ giới nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn, đất khá mầu mỡ, thích hợp cho các loài cây lâm nghiệp phát triển

Đất Rangin, hay còn gọi là đất hình thành trong vùng núi đá vôi, đặc trưng bởi nền địa chất chủ yếu là đá vôi cứng Do đá vôi có khả năng chống phong hóa khá thấp, quá trình phong hóa thường bị rửa trôi nhanh chóng do địa hình dốc đứng Chính vì vậy, đất chủ yếu phát triển trong các hang hốc hoặc chân núi đá vôi, tạo thành những vùng đất đặc trưng của khu vực này.

- Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng (DL):

Đất là loại đất phì nhiêu, tầng dày, màu nâu đẹp mắt, chứa thành phần cơ giới chủ yếu là limon (L) Nhờ khả năng bồi đắp hàng năm, đất luôn được bổ sung thêm lớp phù sa mới khá màu mỡ, giúp duy trì độ màu mỡ và sản xuất hiệu quả trong nông nghiệp.

Khí hậu tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, theo tài liệu quan trắc khí tượng thủy văn từ trạm Minh Đài và Thanh Sơn Mỗi năm, khu vực này có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và hệ sinh thái trong khu vực.

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm tới 90% tổng lượng mưa hàng năm, với tháng cao nhất là tháng 8 và tháng 9 Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.826 mm, trong khi lượng mưa cực đại có thể lên đến 2.453 mm (năm 1971), thể hiện sự biến đổi rõ rệt của lượng mưa theo từng năm.

Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc với nhiệt độ giảm thấp Trong thời gian này, lượng mưa ít đi và xuất hiện nhiều sương mù, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động ngoài trời nhưng cũng gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày.

Nhiệt độ trung bình hàng năm tại khu vực này đạt 22,5°C, với nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối trong các tháng 6 và 7 hàng năm, có thể lên tới 40,7°C Ngược lại, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối thường diễn ra từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, khi có lúc giảm xuống còn 0,5°C.

- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8 (trên 87%), thấp nhất vào tháng 12 (65%)

Vườn quốc gia Xuân Sơn nổi bật với hệ thống suối tự nhiên như Suối Thân, Suối Thang và Suối Chiềng, các suối này góp phần tạo nên hệ thống thủy lưu đa dạng trong khu vực Những con suối này chảy vào hệ thống Sông Vèo và Sông Dày, góp phần hình thành hai dòng sông chính Hai sông này hợp lưu tại Minh Đài và tiếp tục đổ vào sông Hồng tại Phong Vực, với tổng chiều dài khoảng 120km và chiều rộng trung bình 150m, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận chuyển đường thủy từ thượng nguồn về sông Hồng.

3.1.5 Hiện trạng rừng và sử dụng đất

3.1.5.1 Diện tích các loại đất, loại rừng

Theo kết quả điều tra hiện trạng rừng và sử dụng đất của Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Đông Bắc Bộ năm 2013, diện tích tự nhiên của vùng là 15.048 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm đa số với diện tích 14.617,5 ha, đất sản xuất nông nghiệp là 312,4 ha, và đất phi nông nghiệp đạt 118,1 ha.

Bảng 3.1: Hiện trạng rừng và các loại đất đai Vườn quốc gia Xuân Sơn

Loại đất loại rừng Diện tích

Phân theo xã Đồng Sơn

Xuân Sơn Tổng diện tích tự nhiên 15.048,0 1.128,8 455,4 26,4 2.817,4 4.060,0 6.560,0

1 Đất có rừng 12.715,3 892,4 450,6 26,4 2.598,0 3.228,0 5.519,9 a Rừng tự nhiên 10.498,8 871,4 430,1 26,4 1.192,3 2.512,6 5.466,0 b Rừng trồng 2.216,5 21,0 20,5 - 1.405,7 715,4 53,9

- Không có cây gỗ tái sinh 596,5 39,4 - - 62,6 211,5 283,0

- Có cây gỗ tái sinh 1.305,7 162,3 4,8 - 83,9 535,6 519,1

Từ kết quả điều tra cho thấy:

Đất có rừng chiếm 87% diện tích đất lâm nghiệp, trong đó rừng tự nhiên chiếm 82,6%, bao gồm các loại rừng giầu, trung bình, nghèo, phục hồi, núi đá và hỗn giao, với rừng núi đá chiếm tỷ lệ lớn nhất là 39,7% Rừng tự nhiên gồm rừng giầu (8,2%), rừng trung bình (14%), rừng nghèo (12,5%) và rừng phục hồi (22,6%), phản ánh đa dạng sinh thái phong phú của khu vực Ngoài ra, rừng trồng chiếm 17,4% tổng diện tích đất có rừng, chủ yếu gồm các loài cây như Keo và Bồ đề, góp phần nâng cao độ che phủ rừng và bảo vệ môi trường.

Đất chưa có rừng chiếm 13% diện tích đất lâm nghiệp trong Vườn quốc gia, phân bố rải rác khắp nơi Loại đất này có tỷ lệ che phủ cao của lớp thảm cỏ, dây leo, bụi dậm và cây gỗ tái sinh Nếu được khoanh nuôi bảo vệ tốt, điều kiện của đất rừng sẽ cải thiện, giúp hệ thực vật phục hồi và phát triển mạnh mẽ.

3.1.5.2 Trữ lƣợng các loại rừng

Trữ lượng các loại rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn được tổng hợp như sau:

Bảng 3.2: Hiện trạng trữ lượng các loại rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn Đơn vị tính: gỗ-m3; tre nứa- 1000 cây

Xuân Sơn Tổng trữ lƣợng rừng

Tre nứa 1.025 - 51 - 603 224 147 a Rừng tự nhiên

+ Rừng trung bình 163.459 - - 1.299 4.540 96.037 61.583 + Rừng nghèo 60.324 3.082 1.044 152 19.136 11.914 24.996 + Rừng phục hồi 76.749 8.798 5.935 319 17.855 28.599 15.243

- Rừng núi đá 191.581 24.619 9.223 - - - 157.739 b Rừng trồng Gỗ 33.715 669 - - 21.597 10.942 508

- Rừng gỗ có trữ lƣợng 33.715 669 - - 21.597 10.942 508

Đặc điểm kinh tế xã hội

3.2.1 Dân số, lao động và dân tộc

Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm gồm có 29 thôn thuộc địa giới 6 xã: Xuân Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Đồng Sơn, Kim Thượng và Xuân Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Các xóm chủ yếu phân bố dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, nằm ở độ cao từ 200 đến 400 mét so với mực nước biển Khu vực này tập trung chủ yếu ở phía Đông, một phần phía Bắc và phía Nam của Vườn quốc gia Xuân Sơn.

Dân số toàn vùng Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm năm 2012 đạt tổng cộng 12.559 người với hơn 2.900 hộ dân sinh sống tại 29 thôn/xóm Trong đó, vùng lõi của Vườn quốc gia có dân số khoảng 2.984 người, thuộc hơn 790 hộ dân.

Trong Vườn quốc gia và khu vực vùng đệm có tổng cộng 7.391 lao động, chiếm tỷ lệ 58,8% tổng dân số của khu vực, trong đó lao động làm việc trong vùng lõi là 1.647 người, chiếm 22,3%.

% tổng số lao động; số lao động khu vực vùng đệm là 5.744 người, chiếm 77,7% tổng số lao động

Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm là nơi sinh sống của ba dân tộc chính, trong đó dân tộc Mường chiếm đa số với 2.324 hộ, tương đương 79,9% Dân tộc Dao có 546 hộ, chiếm 18,7%, còn dân tộc Kinh chỉ có 38 hộ, chiếm 1,4%.

Người Mường sống thành từng xóm riêng biệt tại các khu vực như Lấp, Lạng, Nước Thang và một số ít cư dân tại Dù Trong sản xuất nông nghiệp, họ giữ vững tinh thần cộng đồng, thường xuyên hỗ trợ nhau trong các công việc như làm ruộng, nương rẫy và hái lượm Truyền thống làm ruộng nước của người Mường đã tồn tại lâu đời, đảm bảo cho các vùng đất của họ luôn ổn định và bền vững.

Người Dao phân bố tại các xóm Dù, Cỏi, Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng và xóm Thân, giữ gìn nhiều phong tục tập quán truyền thống đặc trưng của người Dao ở Việt Nam Những nét văn hóa độc đáo này không những phản ánh bản sắc đặc trưng của cộng đồng người Dao mà còn là nguồn tài nguyên nhân văn quý giá, góp phần bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Việt Nam.

3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội

Sản phẩm nông nghiệp chính gồm lúa nước, khoai, sắn và các loại cây trồng phục vụ chăn nuôi Do thời gian chiếu sáng ngắn trong ngày, thời gian sinh trưởng của cây trồng kéo dài hơn bình thường Phần lớn nguồn nước tưới phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dẫn đến tình trạng thiếu nước trong các tháng mùa khô Vì vậy, diện tích canh tác lúa nước giảm và chủ yếu chỉ canh tác một vụ trong năm.

Diện tích trồng khoai, sắn tại các sườn đồi thường nằm ở những khu vực đất ít dốc và phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên Do đó, năng suất và sản lượng của cây trồng này còn chưa đạt mức cao, cần có các giải pháp nâng cao hiệu quả canh tác.

- Các loại cây trồng khác: ngô, đậu, lạc đƣợc trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng không đủ điều kiện để làm ruộng nước

Trong mỗi gia đình, hoạt động chăn nuôi luôn được chú trọng bên cạnh lĩnh vực trồng trọt Hiện nay, hình thức chăn nuôi chủ yếu diễn ra nhỏ lẻ theo hộ gia đình để phục vụ nhu cầu tại chỗ, tuy nhiên chưa hướng tới sản xuất hàng hóa tập trung Một số hộ dân đã chuyển sang mô hình chăn nuôi gia trại, trang trại để nâng cao hiệu quả Bên cạnh đó, phong tục chăn thả tự do vào rừng vẫn được duy trì ở một số địa phương, gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chăm sóc và bảo vệ rừng, đặc biệt là các rừng non mới trồng.

3.2.2.3 Các hoạt động dịch vụ thương mại

Du lịch sinh thái là thế mạnh của Vườn quốc gia Xuân Sơn, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho cộng đồng địa phương Các hình thức du lịch chính tại đây bao gồm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và du lịch tham quan nghỉ dưỡng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo tồn giá trị văn hóa địa phương.

Các hoạt động du lịch không chỉ tạo thu nhập cho người dân địa phương mà còn nâng cao ý thức về bảo vệ rừng, môi trường, hệ sinh thái và cảnh quan Tuy nhiên, các hoạt động du lịch tập trung chủ yếu ở trung tâm xã Xuân Sơn, chủ yếu là bán lẻ hàng hóa tiêu dùng thiết yếu và nhà nghỉ tạm cho khách tham quan, khiến số lượng khách đến Vườn còn hạn chế Mặc dù tiềm năng du lịch lớn, nhưng lượng khách tham quan chưa xứng đáng do nhiều nguyên nhân, trong đó có hạn chế về hạ tầng dịch vụ và chưa khai thác hiệu quả cảnh quan sinh thái.

+ Chưa có hệ thống tổ chức quản lý, hướng dẫn và dịch vụ phù trợ như: Nhà hàng, nhà nghỉ, khu vui chơi giải trí

+ Các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu vực còn nhỏ lẻ, tự phát và chƣa phát triển

+ Sản phẩm du lịch chƣa đa dạng, lực lƣợng tham gia làm dịch vụ du lịch còn mỏng, chƣa khai thác hết tiềm năng sẵn có

3.2.2.4 Đời sống và thu nhập của người dân

Thu nhập bình quân đầu người tại Vườn quốc gia ước tính khoảng 7,9 triệu đồng mỗi năm Nguồn thu nhập chính của người dân trong khu vực chủ yếu đến từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương trong khu vực.

Tỷ lệ hộ nghèo tại 6 xã thuộc Vườn quốc gia Xuân Sơn là 35,9%, thấp hơn mức trung bình của huyện Tân Sơn, cho thấy mức độ nghèo tại vùng này đang được cải thiện Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo ở vùng lõi cao hơn so với vùng đệm, đặt ra những thách thức lớn cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững của Vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2013-2020 Việc giảm nghèo phát huy vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển đa dạng sinh học và đảm bảo các hoạt động bảo tồn hiệu quả tại khu vực này.

Hệ thống đường giao thông vào vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia luôn được chú trọng đầu tư nhằm nâng cao khả năng tiếp cận và bảo vệ khu vực Tính đến năm 2012, đã xây dựng 94 km đường nhựa và đường bê tông dẫn đến trung tâm các xã trong khu vực, đảm bảo giao thông thuận lợi cho cư dân và du khách Ngoài ra, còn có 67,7 km đường bê tông được trải đến các thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao đời sống cộng đồng trong vùng.

Trong khu vực Vườn quốc gia có 1 trạm y tế được xây kiên cố tại trung tâm xã Xuân Sơn (xóm Dù) với 10 giường bệnh, 1 bác sỹ, 2 điều dưỡng, 1 y sỹ,

Mỗi xóm có một y tá chuyên trách, đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại địa phương Trạm y tế cấp xã được trang bị dụng cụ y tế đơn giản để khám chữa các bệnh thông thường, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cơ sở Công tác y tế tại các xóm đã phát huy hiệu quả qua việc phát thuốc điều trị sốt rét, sốt xuất huyết, tiêm phòng dịch, và tuyên truyền các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, góp phần giảm thiểu các dịch bệnh trong cộng đồng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm phân bố của loài giổi xanh

Trong quá trình phỏng vấn cán bộ Vườn Quốc gia Xuân Sơn và người dân sinh sống trong vùng, đã ghi nhận rằng số lượng cây Giổi xanh trong rừng tự nhiên hiện nay rất ít, cho thấy sự giảm sút đáng kể do tác động của hoạt động con người và biến đổi khí hậu.

Từ năm 1997 đến 2002, ban quản lý Vườn đã tiến hành trồng thử nghiệm Giổi xanh tại hai xóm Dù và Lạng, làm việc này để mở rộng phân bố của loài cây này chủ yếu trong các rừng trồng và một số hộ dân Để xác định đặc điểm phân bố của Giổi xanh, tác giả đã thiết lập 3 tuyến điều tra và 20 ô tiêu chuẩn đi qua các trạng thái rừng khác nhau nằm trong vùng lõi của Vườn quốc gia Xuân Sơn Kết quả phân bố của cây Giổi xanh đã được thể hiện rõ nét qua bản đồ và bảng 4.1, phản ánh chính xác các vị trí phân bố của loài cây này trong khu vực nghiên cứu.

Bảng 4.1: Phân bố của cây Giổi xanh theo 3 tuyến điều tra tại VQG

(cây) Tọa độ Độ cao (m)

1 Không gặp cây giổi xanh nào 3,1

(cây) Tọa độ Độ cao (m)

Kết quả điều tra cho thấy Giổi xanh phân bố không đồng đều trên các tuyến khảo sát, chủ yếu xuất hiện ở tuyến 2 núi đất và tuyến 3 núi đất xen đá, trong khi tuyến 1 núi đá không có cây Giổi xanh Phân bố của loài trong khu vực nghiên cứu hoàn toàn phù hợp với các tài liệu trước đây, xác nhận rằng Giổi xanh chỉ phân bố ở các khu vực núi đất và núi đất xen đá, không xuất hiện ở núi đá.

4.1.1 Phân bố theo đai cao Độ cao phân bố là một trong những đặc điểm sinh thái quan trọng của thực vật Vườn quốc gia Xuân Sơn là nơi có địa hình phức tạp Chính vì vậy khi lập tuyến điều tra đề tài đã chọn các tuyến có đi qua nhiều đai cao của Vườn quốc gia Sự phân bố của cây Giổi xanh theo đai cao nhƣ sau:

Bảng 4.2: Sự phân bố của Giổi xanh theo đai cao

STT Độ cao (m) OTC số Số cây trên

Kết quả từ bảng 4.2 cho thấy khu vực nghiên cứu có sự phân bố của loài Giổi xanh không đồng đều, với OTC 12 có độ cao 379m là thấp nhất và OTC 2 có độ cao 552m là cao nhất Một số OTC như 7, 9, 19, 15, 17, 18, 19, 20 không có cây Giổi xanh phân bố, chủ yếu do các khu vực này là rừng trồng đã giao khoán hoặc rừng phục hồi, nơi cây trồng tùy theo mục đích sử dụng và đã bị tác động mạnh trong quá trình phục hồi Trong đó, OTC 7, 9, 10 không có Giổi xanh do là rừng đã giao khoán, còn OTC 15, nằm ở độ cao 448m là khu vực núi đất nhưng không có Giổi xanh do đây là rừng IIb (rừng non tái sinh phục hồi) đã chịu nhiều tác động Mặc dù OTC 17, 18, theo tài liệu trước đây, có độ cao phù hợp để Giổi xanh phân bố, thực tế khảo sát tại chỗ lại không ghi nhận sự hiện diện của loài này do khu vực này là núi đá OTC 19, 20 không có Giổi xanh do được lập ở độ cao vượt quá phạm vi phân bố tự nhiên của loài này.

>800m và đồng thời là khu vực núi đá Từ kết quả trên nhận thấy kết quả phân bố giổi xanh này là hoàn toàn phù hợp

4.1.2 Phân bố theo trạng thái rừng

Dựa trên kết quả điều tra ngoài thực địa và bảng phân tích, có thể thấy rằng Giổi xanh phân bố ở các trạng thái rừng khác nhau bao gồm rừng trồng, rừng loại IIb và IIIa1 Các số liệu tổng hợp về phân bố cây Giổi xanh từ 20 ô tiêu chuẩn đã được trình bày rõ ràng trong bảng 4.3, thể hiện sự đa dạng và phân bổ của loài này trong các loại rừng khác nhau.

Bảng 4.3: Sự phân bố giổi xanh theo trạng thái rừng

STT Trạng thái rừng OTC số Số cây trên

Mật độ giổi xanh(cây/ha)

Dựa trên số liệu tổng hợp từ bảng 4.3, loài Giổi xanh chủ yếu phân bố ở rừng trồng và rừng thứ sinh loại IIIa1, với một số ít cá thể còn xuất hiện trong rừng loại IIb Các khu vực OTC 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8 có mật độ phân bố Giổi xanh cao hơn so với các OTC còn lại Ngược lại, OTC 7, 9, 10 không có sự hiện diện của loài Giổi xanh do các khu vực này là rừng trồng được tác động mạnh bởi con người, dẫn đến mật độ cây phụ thuộc vào quá trình trồng and chủng loại chủ yếu là thuần loài hoặc hỗn giao từ 2-3 loài Tại OTC 11, 12, 13, 14, 16, sự phân bố của Giổi xanh thấp do hoạt động khai thác trái phép trong quá khứ đã làm giảm số lượng cây trưởng thành OTC 15 không có Giổi xanh do đây là rừng loại IIb (rừng non tái sinh phục hồi), nơi đã trải qua tác động mạnh từ con người và trong quá trình phục hồi, sự phân bố của loài chỉ mang tính chất tương đối Tại OTC 17, các yếu tố này cũng ảnh hưởng đến sự phân bố của loài Giổi xanh.

18, 19, 20 không có Giổi xanh phân bố do đây là kiểu rừng trên núi đá

Qua kết quả nghiên cứu về phân bố của loài Giổi xanh trên địa bàn VQG Xuân Sơn cho ta thấy:

Loài Giổi xanh phân bố chủ yếu ở vùng núi đất, núi đất xen kẽ núi đá với độ cao dưới 800m, tập trung nhiều tại hệ sinh thái nương rẫy, đồng ruộng và khu vực dân cư Trong rừng tự nhiên, Giổi xanh chủ yếu xuất hiện ở sinh cảnh rừng thứ sinh IIIa1, còn ít gặp ở sinh cảnh rừng IIb do tác động của con người trong quá khứ gây ra sự phân bố rải rác, không đồng đều Để bảo tồn loài Giổi xanh hiệu quả, cần tăng cường bảo vệ rừng, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên và hạn chế các hoạt động của con người như chăn thả gia súc để giảm thiểu tác động tiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển của loài.

4.1.3 Công thức tổ thành rừng nơi có loài Giổi xanh phân bố

Tổ thành rừng đóng vai trò quyết định đến các yếu tố sinh thái và hình thái của rừng, là tiêu chí quan trọng để đánh giá tính bền vững, ổn định và đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng Sự đa dạng loài trong tổ thành phản ánh khả năng chống chịu và duy trì sự cân bằng môi trường, qua đó thể hiện mức độ bền vững của rừng Tổ thành rừng còn là chỉ tiêu minh họa thành phần, số lượng và mức độ tham gia của các loài cây trong lâm phần, phản ánh tình hình nội tại và mối quan hệ giữa các loài Các đặc trưng về tổ thành biến đổi theo các trạng thái rừng, độ cao và vị trí khác nhau, thể hiện đặc điểm riêng của quần xã thực vật tại các khu vực khác nhau Đặc biệt, nghiên cứu về quần thể Giổi xanh tại VQG Xuân Sơn đã xác định các đại lượng đặc trưng, được trình bày rõ trong bảng 4.4, nhằm làm rõ đặc điểm và thành phần của quần xã thực vật tại đây.

Bảng 4.4: Kết quả điều tra OTC tại khu vực nghiên cứu

Mật độ Giổi xanh (cây/ha)

Mật độ Giổi xanh (cây/ha)

Bảng 4.4 cho thấy, tại các vị trí có sự phân bố của loài Giổi xanh, số lượng tầng cây cao tương đối lớn, góp phần tạo nên độ đa dạng sinh học của khu vực Trong đó, vị trí OTC11c có mật độ cây cao nhất, đạt 960 cây/ha, thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của loài này ở vùng nghiên cứu Sự phân bố rộng rãi của Giổi xanh cùng với tầng cây cao đa dạng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cấu trúc rừng và quá trình sinh trưởng của hệ sinh thái.

4.1.3.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ Để phân tích tổ thành tầng cây cao luận văn đã thống kê số cá thể của từng loài và một số chỉ tiêu cần thiết để tính tổ thành theo công thức đã giới thiệu ở phần phương pháp nghiên cứu

Bảng 4.5: Công thức tổ thành theo từng trạng thái rừng của tầng cây gỗ

OTC số Công thức tổ thành tầng cây gỗ

Mật độ Giổi xanh (cây/ha)

18 IIIa3 18 1,74Sa + 1,52Va + 1,09Deb + 0,65Tl +

19 IIIa2 19 1,11Tl +1,11Hq + 0,83Ngt + 0,56Lvn +

Gx: Giổi xanh Db: Dẻ bộp Dg: Dung giấy

K: Keo Mcn: Máu chó lá nhỏ Trt: Trám trắng

R: Re N: Nóng Vm: Vỏ mản

Lx: Lim xẹt Ln: Lá nến Tr: Trẩu

Va: Vàng anh Clk: Côm lá kèm Tt: Thanh thất

Lvn: Lộc vừng nếp S: Sung Bb: Ba bét

Dga: Dẻ gai G: Gội Kv: Kháo vàng

Bd: Bã đậu Deb: De bầu Bdt: Bồ đề trắng

Ck: Cò ke Tl: Thau lĩnh

Trv: Trâm vối Dn: Dạ nâu

Thr: Thị rừng Hq: Hoắc quang Q: Quyếch

Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy, ở rừng trồng nơi có sự phân bố của loài giổi xanh, loài giổi xanh chiếm ưu thế trong công thức tổ thành, trong đó một số cây có tổ thành ít như keo, re, mỡ, trám trắng, lim xẹt Trong khi đó, ở rừng tự nhiên tại VQG Xuân Sơn, số loài cây phong phú và đa dạng hơn, tạo thành các tổ thành phức tạp do tác động của con người, dẫn đến cấu trúc rừng không có loài nào chiếm ưu thế rõ ràng trong quần xã.

Trong công thức tổ thành các loài cây chủ yếu gồm Sung, De bầu, Dung giấy, còn Giổi xanh chiếm tỷ lệ thấp trong khu vực điều tra Theo phỏng vấn từ cán bộ vườn quốc gia và người dân địa phương, Giổi xanh trước đây phân bố rộng rãi và có đường kính lớn, nhưng do hoạt động khai thác của con người, hiện nay trong tự nhiên chỉ còn những cây có đường kính khoảng 20cm Tác động của con người đã làm giảm số lượng và chất lượng của loài Giổi xanh trong môi trường tự nhiên.

Công thức tổ thành của quần xã thường không phân bố đều theo tự nhiên do bị tác động bởi hoạt động của con người Việc khai thác quá mức của người dân gây ảnh hưởng tiêu cực, phá vỡ cấu trúc tổ thành của các loài cây trong hệ sinh thái.

Trong công tác quản lý bảo vệ rừng, việc bảo vệ các loài cây bạn và các cây đi kèm là cực kỳ quan trọng để duy trì sự cân bằng hệ sinh thái Mỗi loài cây là một mắt xích quan trọng trong chuỗi sinh thái, và thiếu một loài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của các loài khác Đối với loài Giổi xanh, việc bảo vệ quần thể cây bạn là yếu tố then chốt để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của loài này trong rừng.

4.1.3.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành cây tái sinh

Từ số liệu điều tra 100 ô dạng bản tại 20 ô tiêu chuẩn đề tài đã xây dựng đƣợc công thức tổ thành cây tái sinh của từng OTC nhƣ sau:

Bảng 4.6: Công thức tổ thành cây tái sinh

OTC Công thức tổ thành

14 IIIa1 14 1,67Vm + 1,67Ln + 1,67S + 0,83Mcn + 0,83Gv +

18 IIIa3 18 1,25Dg + 1,25Ngb + 1,25Db + 1,25Kv

Mcn: Máu chó lá nhỏ

Bb: Ba bét Ddr: Đu đủ rừng Mt: Màng tang N: Nóng

S: Sảng Db: Dẻ bộp Ngb: Ngũ gia bì

Bg: Ba gạc Ln: Lá nến B: Bứa X: Xoan Dg: Dung giấy Gv: Gáo vàng Lb: Lọng bàng

Đặc điểm vật hậu của loài Giổi xanh

Nghiên cứu đặc điểm vật hậu của loài Giổi xanh có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo tồn, giúp phản ánh khả năng duy trì nòi giống trong tự nhiên và dự đoán sự tồn tại của loài trong tương lai Thông tin này là nền tảng để đánh giá mức độ nguy cấp của loài và đề xuất các biện pháp bảo tồn tại chỗ phù hợp Bên cạnh đó, việc nắm rõ đặc điểm sinh trưởng và thời gian ra chồi, ra hoa, kết quả, quả chín sẽ hỗ trợ chủ động trong công tác thu thập vật liệu nhân giống Điều tra theo dõi đặc điểm vật hậu của 10 cây Giổi xanh, trong đó có những cây sinh trưởng nổi trội, không bị sâu bệnh và đã ra hoa kết quả trong các năm trước, đã được thực hiện tại khu vực nghiên cứu Kết quả quan sát, thể hiện qua bảng 4.7, cho thấy sự khác biệt giữa 5 cây trong rừng trồng và 5 cây trong rừng tự nhiên.

Bảng 4.7: Đặc điểm vật hậu của loài Giổi xanh Đặc điểm

X Kết quả phỏng vấn người dân tại khu vực VQG Xuân Sơn về đặc điểm vật hậu loài Giổi xanh đƣợc thể hiện ở bảng 4.8 nhƣ sau:

Bảng 4.8: Kết quả phỏng vấn đặc điểm vật hậu của loài Giổi xanh STT

Tuổi Địa điểm phỏng vấn

Thời gian ra chồi (tháng)

Thời gian ra lá non (tháng)

Thời gian ra nụ hoa (tháng)

Thời gian nở hoa (tháng)

Thời gian kết quả (tháng)

Thời gian quả chín (tháng)

1 Lý Văn Nhầu 51 Xóm Dù 1 2 4 4 5 9-10

2 Lý Xuân Hiền 58 Xóm Dù 1-2 2 4 4 5 9-10

3 Bàn Văn Hải 27 Xóm Dù 1 2 4 4 5-6 9-10

5 Bàn Văn Sơn 28 Xóm Dù 1 2-3 4 5 5 8-10

6 Hà Anh Tuấn 27 Xóm Dù 1 2 4 4 5 9-10

8 Bàn Văn Tố 40 Xóm Dù 1 2 4 4 6-7 9-10

9 Lý Văn Lai 25 Xóm Dù 1 2 3 4 6 9-10

10 Hà Bửu Vấn 42 Xóm Dù 1 2-3 4 4 5 9-10

12 Lý Thị Nga 29 Xóm Dù 1 2 4 4 5 9-10

Tuổi Địa điểm phỏng vấn

Thời gian ra chồi (tháng)

Thời gian ra lá non (tháng)

Thời gian ra nụ hoa (tháng)

Thời gian nở hoa (tháng)

Thời gian kết quả (tháng)

Thời gian quả chín (tháng)

13 Triệu Thị Lan 36 Xóm Dù 1-2 2-3 4 4 5 9-10

15 Hà Thị Dung 46 Xóm Dù 1-2 3 4 5 5-6 8-10

16 Hà Thị Tuyết 34 Xóm Lạng 1 2-3 4 4 5 9-10

18 Bàn Văn Ấm 45 Xóm Lạng 1 2 4-5 5 6 9-10

19 Hà Văn Hà 30 Xóm Lạng 1 2 4 4 5 8-10

20 Đinh Thị Cải 42 Xóm Lạng 1 2 4 4 5 9-10

23 Xa Thị Niệm 42 Xóm Lạng 1 2 4 4 5 9-10

24 Hà Văn Mơ 28 Xóm Lạng 1 2-3 4 4-5 6 9-11

25 Hà Cường Vũ 27 Xóm Lạng 1-2 2 4-5 5 6 9-10

26 Hà Văn Điền 48 Xóm Lạng 1 2 4 4 5 9-10

Tuổi Địa điểm phỏng vấn

Thời gian ra chồi (tháng)

Thời gian ra lá non (tháng)

Thời gian ra nụ hoa (tháng)

Thời gian nở hoa (tháng)

Thời gian kết quả (tháng)

Thời gian quả chín (tháng)

27 Hà Văn Cao 50 Xóm Lạng 1 2 4 4 5 9-10

29 Đinh Văn Lập 31 Xóm Lạng 1 2-3 4 4 5 9-10

30 Hà Thị An 27 Xóm Lạng 1 2 4 4 5 9-10

Ban Quản lý VQG Xuân Sơn

Ban Quản lý VQG Xuân Sơn

Kết quả phỏng vấn người dân trong Bảng 4.8 cho thấy có sự khác biệt về thời gian ra chồi, ra lá, ra hoa, nở hoa, kết quả, và quả chín do nhiều người không nhớ chính xác hoặc chưa theo dõi, quan sát, ghi chép lại Thay vào đó, họ chỉ ước lượng khoảng thời gian của các giai đoạn này trên cây Điều này dẫn đến sự không thống nhất trong ghi nhận về lịch trình sinh trưởng của cây Việc thiếu ghi chép chính xác ảnh hưởng đến độ tin cậy của dữ liệu về thời gian sinh trưởng của cây trồng trong nghiên cứu.

Giổi xanh là cây thường xanh, không có mùa rụng lá rõ rệt, với lá rụng chủ yếu vào tháng 11-12 Chồi cây phát triển mạnh vào mùa Xuân, bắt đầu nhú vào cuối tháng 1 và ra lá non vào tháng 2 Lá kèm của Giổi xanh thường sớm rụng để lại sẹo trên cành non Cây bắt đầu có nụ vào tháng 4, hoa mọc ở nách lá với bao hoa màu trắng đục, mở đầu mùa hoa vào tháng 4 và kết quả vào tháng 5 Quả chín vào mùa Thu, từ tháng 9-10, khi vỏ quả chuyển từ màu xanh sang nâu nhạt và nứt khi chín Sau khi tách hạt, phần vỏ quả vẫn còn tồn tại trên cây đến cuối tháng 11 mới rụng xuống, làm đặc trưng cho chu kỳ phát triển của Giổi xanh.

Từ kết quả nghiên cứu, chúng ta có thể xác định chính xác thời gian rụng lá, nảy chồi, và chu kỳ ra hoa, kết quả, quả chín của cây trồng Thông tin này giúp lập kế hoạch chăm sóc cây đúng thời điểm để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Việc hiểu rõ chu kỳ sinh trưởng của cây còn hỗ trợ trong việc thu hái đúng lúc, tối ưu hóa hiệu quả thu hoạch Áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp theo từng giai đoạn sẽ giúp cây phát triển khỏe mạnh, tăng khả năng cho trái tốt hơn.

Đánh giá tình hình gây trồng loài Giổi xanh tại VQG Xuân Sơn

Để xác định đối tượng, diện tích và kỹ thuật trồng loài Giổi xanh, luận văn đã thực hiện phỏng vấn 30 hộ dân tại xóm Dù và xóm Lạng cùng với 3 cán bộ quản lý vườn Kết quả phỏng vấn, được trình bày trong bảng 4.9, giúp làm rõ thông tin về quy mô rừng, phương pháp trồng và các kỹ thuật chăm sóc cây Giổi xanh Các dữ liệu này cung cấp cơ sở để đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trồng và bảo vệ loài cây này.

Bảng 4.9: Kết quả phỏng vấn tình hình gây trồng Giổi xanh tại VQG

Tuổi Nhân khẩu Dân tộc Nghề nghiệp Địa điểm phỏng vấn

1 Lý Văn Nhầu 51 6 Dao Làm ruộng Xóm Dù 0 Trồng

2 Lý Xuân Hiền 58 7 Dao Làm ruộng Xóm Dù 0,05

3 Bàn Văn Hải 27 7 Dao Cán bộ Xóm Dù 0

Tuổi Nhân khẩu Dân tộc Nghề nghiệp Địa điểm phỏng vấn

4 Triệu Thị Lâm 42 4 Dao Cán bộ xã Xóm Dù 0,5

5 Bàn Văn Sơn 28 3 Mường Làm ruộng Xóm Dù 0

6 Hà Anh Tuấn 27 4 Mường Làm ruộng Xóm Dù 0

7 Triệu Văn Kim 36 5 Dao Làm ruộng Xóm Dù 0 Trồng

8 Bàn Văn Tố 40 4 Dao Làm ruộng Xóm Dù 0,1

9 Lý Văn Lai 25 3 Dao Làm ruộng Xóm Dù 0 Trồng

11 Bàn Văn Hùng 45 5 Mường Làm ruộng Xóm Dù 0,1

12 Lý Thị Nga 29 3 Dao Làm ruộng Xóm Dù 0

13 Triệu Thị Lan 36 4 Dao Làm ruộng Xóm Dù 0

14 Phùng Văn Quy 38 5 Dao Làm ruộng Xóm Dù 0,1

15 Hà Thị Dung 46 7 Dao Làm ruộng Xóm Dù 0

16 Hà Thị Tuyết 34 4 Mường Tổ trưởng

Tuổi Nhân khẩu Dân tộc Nghề nghiệp Địa điểm phỏng vấn

18 Bàn Văn Ấm 45 5 Mường Làm ruộng

19 Hà Văn Hà 30 4 Mường Làm ruộng

20 Đinh Thị Cải 42 4 Mường Làm ruộng

22 Hà Thị Cương 38 5 Mường Làm ruộng

23 Xa Thị Niệm 42 6 Mường Làm ruộng

24 Hà Văn Mơ 28 3 Mường Làm ruộng

25 Hà Cường Vũ 27 3 Mường Làm ruộng

26 Hà Văn Điền 48 6 Mường Làm ruộng

27 Hà Văn Cao 50 8 Mường Làm ruộng

28 Phùng Thị Yên 43 4 Mường Làm ruộng

29 Đinh Văn Lập 31 4 Mường Làm ruộng

30 Hà Thị An 27 3 Mường Làm Xóm 0

Tuổi Nhân khẩu Dân tộc Nghề nghiệp Địa điểm phỏng vấn

Phó phòng hành chính tổng hợp

Ban quản lý VQG Xuân Sơn

Trưởng phòng Nghên cứu khoa học và hợp tác quốc tế

Ban quản lý VQG Xuân Sơn

Kết quả phỏng vấn cho thấy, đối tượng gây trồng chủ yếu là các hộ gia đình dân tộc Mường và Dao, phần lớn trong số này làm nghề nông nghiệp.

Hiện nay, nhiều hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu đã trồng cây Giổi xanh do nhận thức rõ giá trị kinh tế của loài cây này Đặc biệt, hai xóm Dù và Lạng thuộc xã Xuân Sơn có diện tích trồng Giổi xanh lớn nhất, đạt khoảng 1,5ha Theo kết quả phỏng vấn người dân địa phương và cán bộ kiểm lâm Trạm QLBVR Xuân Sơn, việc trồng Giổi xanh đã trở thành hoạt động kinh tế quan trọng và góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng.

Dựa trên kết quả phỏng vấn và đo đếm diện tích ngoài thực địa, hộ gia đình bà Triệu Thị Lâm ở xóm Dù trồng nhiều Giổi xanh nhất với diện tích 0,5ha Từ năm 2005, gia đình đã có 8 cây Giổi bắt đầu cho thu hoạch quả, và nhiều cây khác sắp đến kỳ ra hoa Thu nhập từ vườn Giổi của gia đình bà Lâm ước đạt khoảng 50 triệu đồng mỗi năm, góp phần tăng thu nhập ổn định cho gia đình.

Diện tích trồng Giổi xanh còn chưa khai thác hết tiềm năng kinh tế của loại cây này, do phần lớn các hộ trồng cây có quy mô nhỏ, diện tích trồng ít, thậm chí nhiều hộ chỉ trồng từ 2-5 cây Để thúc đẩy phát triển rừng Giổi xanh bền vững, cần tăng cường các hoạt động nhân giống và mở rộng mô hình trồng xen hiệu quả, tận dụng tối đa diện tích đất hiện có nhằm nâng cao năng suất và giá trị kinh tế của cây trồng này.

Trong cuộc phỏng vấn người dân xã Xuân Sơn, đa số đều cho biết cây Giổi xanh được trồng dựa trên nguồn giống do chính quyền hỗ trợ theo dự án, với sự hướng dẫn cụ thể từ cán bộ kỹ thuật Không có hộ gia đình nào tự ý trồng hoặc trồng theo cách tự phát, ngoài việc lấy cây con từ rừng về trồng lại Tuy nhiên, những cây đào từ rừng mang về thường không sống sót, cho thấy sự cần thiết của việc trồng theo hướng dẫn kỹ thuật để đảm bảo thành công.

Người dân địa phương đã có ý thức trồng loài cây Giổi xanh, thể hiện qua việc triển khai trồng rải rác tại các hộ gia đình Tuy nhiên, diện tích trồng còn nhỏ lẻ và chưa phát triển mạnh mẽ, chủ yếu tập trung tại các hộ gia đình với số lượng cây trồng và thu hoạch quả còn hạn chế.

Qua khảo sát địa bàn khu vực nghiên cứu, nhận thấy người dân trong vùng còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, chủ yếu sinh sống bằng nghề nông và lâm nghiệp Hầu hết các hộ gia đình trồng trọt trong vườn hộ, nhưng mô hình tận dụng đất dưới tán rừng như trồng xen cây ngắn ngày hoặc cây lương thực vẫn còn hạn chế, với phần lớn diện tích đất trong khu vực bỏ trống Một số ít hộ, như gia đình bà Triệu Thị Lâm ở xóm Dù, đã thử trồng xen cây chè dưới tán rừng, tuy nhiên hiệu quả của các mô hình này vẫn chưa cao và cần được phát triển hơn nữa.

Đề xuất các giải pháp bảo tồn loài Giổi xanh một cách hiệu quả và bền vững cho VQG Xuân Sơn

4.4.1 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn loài Giổi xanh tại VQG Xuân Sơn

Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984, khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn có quá trình phát triển địa chất phức tạp với loại hình đất đa dạng Trong đó, đất feralit đỏ vàng phát triển chủ yếu ở vùng đồi núi thấp dưới 700m, có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, ít đá lẫn, mang màu mỡ thích hợp cho các loài cây lâm nghiệp phát triển.

Vườn có kiểu địa hình chủ yếu là núi thấp và đồi với độ cao dưới 700m, chiếm khoảng 65% Tổng diện tích tự nhiên Các dãy núi đất xen lẫn địa hình caster phân bố chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam của Vườn, với độ dốc trung bình từ 25-30 độ và độ cao trung bình khoảng 400m.

Dựa trên dữ liệu quan trắc khí tượng thủy văn của các trạm Minh Đài và Thanh Sơn, khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt với hai mùa chính là mùa mưa và mùa khô Mức lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.826 mm, trong đó lượng mưa cực đại có thể lên tới 2.453 mm, góp phần hình thành khí hậu đặc trưng của vùng này Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 22,5°C, cùng với độ ẩm không khí trung bình rất cao đạt 86%, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ sinh thái đa dạng của khu vực.

Giổi xanh phổ biến tại các vùng rừng núi đất ẩm và trên đất bazan của Tây Nguyên, thích hợp ở nơi có nhiệt độ trung bình từ 20-30°C và lượng mưa từ 2.000-2.500mm hàng năm Cây phát triển tốt ở độ cao dưới 700m so với mực nước biển, ưa đất ẩm, sâu, thoát nước tốt, đặc biệt thích hợp trồng trên đất đỏ, đất đổ vàng hoặc đất tầng dày.

Theo một số tài liệu đã công bố Giổi xanh thường gặp trong các rừng rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới và á nhiệt đới ở độ cao 800m trở xuống.[4]

Với đặc điểm về đất đai, địa hình và khí hậu phù hợp của Vườn Quốc gia Xuân Sơn, điều kiện tự nhiên tại đây rất thuận lợi để cây Giổi xanh sinh trưởng và phát triển tốt.

Hạt Giổi xanh đƣợc sử dụng nhiều và dễ bán, giá thành cao Vì vậy loài này mang lại nguồn thu nhập lớn cho người dân

Hệ thống đường giao thông vào vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia luôn được quan tâm đầu tư, giúp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại và trao đổi hàng hóa Việc xây dựng các tuyến đường phù hợp không những nâng cao khả năng tiếp cận khu vực mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Đây là yếu tố quan trọng góp phần bảo vệ môi trường, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của vườn quốc gia.

Người dân sinh sống trong khu vực nghiên cứu đã nhận thức rõ về giá trị kinh tế của loài Giổi xanh, từ đó nâng cao ý thức trồng và bảo vệ loài cây này để thúc đẩy phát triển bền vững khu vực.

Người dân có ý thức bảo vệ tài nguyên, đặc biệt là các loài cây quý giá như Giổi xanh, góp phần bảo vệ hệ sinh thái rừng Nhận thức rõ tầm quan trọng của rừng, họ luôn duy trì ý thức bảo vệ, giúp hạn chế khai thác trái phép trong vùng lõi của Vườn quốc gia Xuân Sơn Trong những năm gần đây, hoạt động khai thác gỗ trái phép đã giảm rõ rệt và gần như không còn, do chính quyền quản lý chặt chẽ và xử lý nghiêm các vụ vi phạm Công tác phòng cháy chữa cháy rừng cũng luôn được chú trọng nhằm đảm bảo an toàn cho khu vực rừng quốc gia.

Bên cạnh những thuận lợi thì còn những khó khăn trong việc gây trồng loài Giổi xanh

Biểu 1: Tổng hợp nguyên nhân, khó khăn trong công tác bảo tồn

Lĩnh vực Khó khăn Nguyên nhân Điều kiện tự nhiên

Quá trình sinh trưởng và phát triển của loài nhƣ: sự nảy mầm, nảy chồi, tái sinh…bị ảnh hưởng do thiếu nước

Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Trong thời kỳ này, nhiệt độ giảm thấp, lượng mưa ít và thường xuyên xuất hiện sương mù dày đặc, ảnh hưởng đến điều kiện khí hậu và ảnh hưởng đến đời sống của người dân.

Hiện tượng chăn thả gia súc tràn lan không theo quy định vẫn diễn ra thường xuyên, gây phá vỡ rừng tự nhiên và làm chết cây con cùng hạt nảy mầm, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tái sinh tự nhiên của khu vực Đây là phong tục tập quán chăn nuôi lâu đời của người dân địa phương, cần có các giải pháp quản lý bền vững để bảo vệ môi trường.

Hiện người dân trong khu vực chƣa đầu tƣ mua cây giống

Chƣa biết cách gieo ƣơm loài

Người dân chưa có kỹ thuật gieo ƣơm cây con

Vốn đầu tư làm vườn ươm cao

Lĩnh vực Khó khăn Nguyên nhân này Trong vùng chua có vườn ƣơm Giổi xanh nào

Người dân chưa có kỹ thuật chăm sóc sau khi trồng dẫn đến nhiều cây con sau trồng đã chết hoặc phát triển kém

Các cán bộ kỹ thuật chỉ mới hướng dẫn trồng chưa hướng dẫn chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại

Hiện tại địa phương đang thiếu lao động sản xuất

Thiếu kỹ thuật nghề rừng, mô hình sản xuất nông lâm kết hợp

Những người đến tuổi lao động thường đi làm thuê

Lao động có trình độ học vấn còn thấp nên còn thiếu kỹ thuật

Thị trường Thị trường tiêu thụ còn hạn hẹp

Người dân bán sản phẩm một cách thụ động Chƣa chủ động chủ động mở rộng thị trường tới vùng khác

Nguồn hỗ trợ và vốn

Người dân chỉ mới được hỗ trợ cây giống

Nguồn vốn đầu tƣ cho vay của các cơ qua nhà nước để phát triển loài Giổi xanh còn hạn chế, người dân không đầu tư vào gây trồng

Người dân chưa mạnh dạn đầu tƣ vào sản xuất

4.4.2 Giải pháp bảo tồn và phát triển loài Giổi xanh tại VQG Xuân Sơn

Sau khi phân tích các thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân gây ra các vấn đề phát triển của loài Giổi, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của loài cây này Những giải pháp này bao gồm việc nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của Giổi, cải thiện các kỹ thuật trồng và chăm sóc, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu và bảo tồn loài Việc áp dụng các giải pháp này sẽ giúp khắc phục khó khăn, khai thác hiệu quả tiềm năng của loài Giổi và góp phần bảo vệ đa dạng sinh học khu vực.

+ Tập huấn kỹ thuật gieo ươm cho người dân

+ Đầu tư vốn để làm vườn ươm cây giống tại chỗ

Cần xây dựng vườn giống và phát triển nguồn giống chất lượng cao để phục vụ công tác bảo tồn và trồng rừng Đẩy mạnh nhân rộng các giống cây phù hợp nhằm tăng cường khả năng phục hồi hệ sinh thái Đồng thời, cần tập huấn chuyển giao công nghệ giống cây mới cho các cán bộ, cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả trồng rừng Nghiên cứu về cải thiện giống cây trồng cần được tiến hành khẩn trương nhằm đáp ứng các yêu cầu bảo tồn và phát triển bền vững rừng tự nhiên.

Cần thực hiện nghiên cứu sâu hơn về các đặc tính sinh thái và sinh học của loài Giổi xanh trong khu vực để xác định các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm tác động hiệu quả lên cây trồng Việc này giúp lựa chọn các phương pháp bảo tồn tối ưu nhất, đảm bảo duy trì và phát triển bền vững loài cây quý giá này trong môi trường tự nhiên.

+ Tìm hiểu kỹ thuật gây trồng, khai thác nhằm đảm bảo tỷ lệ sống cao và khai thác một cách bền vững nhất

+ Cải tiến kỹ thuật khai thác, chế biến các sản phẩm thu đƣợc đạt đƣợc năng suất cao, chất lƣợng tốt dễ tiêu thụ

Chương trình tập huấn kỹ thuật tận nơi giúp người dân nắm vững quy trình từ việc gây trồng, chăm sóc đến thu hoạch cây trồng Hoạt động này còn bao gồm hướng dẫn gieo trồng cây giống và thực hành thực tế tại chỗ để nâng cao kỹ năng và hiệu quả sản xuất Việc tổ chức tập huấn trực tiếp tại địa phương là yếu tố quan trọng giúp các hộ dân áp dụng hiệu quả những kiến thức mới vào thực tiễn.

+Thường xuyên tập huấn các kỹ thuật trồng, chăm sóc, xúc tiến tái sinh tự nhiên, đẩy nhanh quá trình phục hồi rừng

Bảo tồn và phát triển các loài thực vật quý hiếm thông qua phương pháp nhân giống vô tính là một chiến lược quan trọng nhằm duy trì nguồn gene quý giá Đồng thời, xây dựng hướng dẫn và quy trình kỹ thuật gây trồng loài Giổi xanh góp phần thúc đẩy sự phát triển của loại cây này ở các vùng sinh thái khác nhau Việc áp dụng các kỹ thuật nhân giống vô tính giúp nhân nhanh và bảo toàn các đặc tính di truyền của loài, từ đó nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát triển bền vững.

+ Nên trồng Giổi xanh ở những khu vực có độ cao từ 300-800m

Ngày đăng: 14/08/2023, 21:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm