Tổng Quan Vấn Đề Nghiên Cứu
Từ xa xưa, người Việt Nam đã nhận thức được giá trị của các loài Bò sát và Ếch nhái không chỉ về mặt ẩm thực mà còn trong y học cổ truyền Các loài này đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung dưỡng chất và chữa bệnh theo truyền thống dân gian Danh y Tuệ Tĩnh (1333 – 1390) đã ghi nhận và ứng dụng nhiều phương pháp sử dụng các loại thuốc từ Bò sát, Ếch nhái trong việc điều trị các bệnh lý, thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về y học cổ truyền của người Việt.
Vào thế kỷ XIV, một danh y hàng đầu của Việt Nam đã thống kê 16 vị thuốc có nguồn gốc từ bò sát và ếch nhái, nhưng các nghiên cứu trong giai đoạn này chỉ dừng lại ở mức độ thống kê Quá trình nghiên cứu về các dược liệu này chính thức bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, chủ yếu do các nhà khoa học phương Tây như Boulenger (1903) và Smith thực hiện.
(1921, 1924, 1932) Đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu Bò sát, Ếch nhái Đông Dương của Bourret từ năm 1942 -1944, trong đó có nước ta Công trình nghiên cứu bao gồm:
Năm 1942: Khu hệ Ếch nhái Đông Dương và các loài Rùa Đông Dương[33]
Năm 1943: Giới thiệu khóa định loại Thằn lằn Đông Dương[34]
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thành phần loài Bò sát và Ếch nhái mới được tăng cường bởi các tác giả Việt Nam, góp phần mở rộng kiến thức về đa dạng sinh học của khu vực.
Trong giai đoạn 1970 – 1990, đã có nhiều công trình nghiên cứu về động vật Việt Nam, điển hình như "Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam" (1981) của Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, đã thống kê được 159 loài bò sát và 69 loài lưỡng cư Ngoài ra, "Tuyển tập báo cáo kết quả điều tra thống kê động vật Việt Nam" (1985) của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật đã nâng tổng số loài bò sát và lưỡng cư được ghi nhận lên lần lượt là 260 và 90 loài, đồng thời phân tích sự phân bố của các loài ở các dạng sinh cảnh khác nhau.
Giai đoạn 1990 – 2002: Đây là giai đoạn nghiên cứu Bò sát, Ếch nhái ở nước ta được tăng cường Đặc biệt nhất là từ năm 1995 trở lại đây có các tác
Các khu vực bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam đa dạng về loài động vật, đặc biệt là các loài ếch, nhái, bò sát Vườn Quốc gia Bạch Mã sở hữu 52 loài ếch nhái thuộc 15 họ và 3 bộ, trong khi Vườn Quốc gia Ba Vì có 62 loài thuộc 16 họ và 3 bộ Núi Ngọc Linh (Kon Tum) ghi nhận 53 loài, phân bố trong 30 họ và 4 bộ, còn khu vực Tây Nam Nghệ An có 56 loài thuộc 17 họ và 3 bộ Khu vực Hữu Liên (Lạng Sơn) có 48 loài, trong đó 15 họ và 4 bộ, còn núi Yên Tử (Quảng Ninh) có 55 loài thuộc 18 họ và 4 bộ Vườn Quốc gia Bến Em (Thanh Hóa) nổi bật với 85 loài, tương ứng 51 họ và 4 bộ; núi Bà Đen (Tây Ninh) có 55 loài, 18 họ và 5 bộ Sơn Trà – Đà Nẵng đã ghi nhận 34 loài trong 19 họ và 5 bộ, trong khi núi Kon Ka Kinh (Gia Lai) chứa 51 loài thuộc 15 họ và 4 bộ Khu vực Chí Linh (Hải Dương) có số lượng loài cao nhất với 87 loài, 20 họ và 4 bộ Pù Mát (Nghệ An) có 71 loài thuộc 21 họ và 4 bộ, còn khu bảo tồn U Minh Thượng (Kiên Giang) cũng đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học của khu vực.
Khu vực đầm Ao Châu (Hạ Hòa – Phú Thọ) ghi nhận có 54 loài thuộc 20 họ và 4 bộ, trong khi khu vực A Lưới (Thừa Thiên Huế) có 76 loài thuộc cùng số họ và bộ, cho thấy sự đa dạng sinh học phong phú của các khu vực này Tổng cộng, có 38 loài thuộc 14 họ và 3 bộ đã được ghi nhận trong các nghiên cứu ban đầu Những dữ liệu này phản ánh mức độ đa dạng sinh học đáng kể của hệ sinh thái ở các khu vực này, góp phần vào công tác bảo tồn và nghiên cứu sinh học địa phương.
Ngoài các công trình nghiên cứu về khu hệ, còn có nhiều nghiên cứu đáng chú ý về đặc điểm sinh học và sinh thái học của các loài Trong đó, các công trình của Trần Kiên và các cộng sự nổi bật với những phát hiện quan trọng giúp hiểu rõ hơn về các đặc điểm sinh thái và sinh học của hệ sinh thái này Các nghiên cứu này góp phần nâng cao kiến thức về sự đa dạng và bảo tồn sinh học trong khu vực.
- 1987 –1989: Hoàng Nguyễn Bình cùng Trần Kiên nghiên cứu về các đặc tính sinh thái học của Rắn cạp nong (Bungarus fasciatus) và Rắn cạp nia
-Trần Kiên (1996): Các loài động vật có xương sống (phần Ếch nhái,
Bò sát) có giá trị kinh tế [7]
Lê Nguyên Ngật đã thực hiện nghiên cứu bổ sung về tập tính của Cá cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali) nuôi trong bể kính Đến năm 2009, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường và Hồ Thu Cúc đã thống kê được 369 loài bò sát và ếch nhái tại Việt Nam, thuộc 3 bộ và 23 họ trong Danh lục Bò sát - Ếch nhái Việt Nam.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của dự án là góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và tài nguyên Bò sát, Ếch nhái tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít nói riêng Việc này nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ sinh thái và bảo vệ các loài động vật quý hiếm trong khu vực Bảo tồn các loài sinh vật trong vùng không chỉ giữ gìn giá trị sinh thái mà còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc giữ gìn đa dạng sinh học.
+ Đánh giá sự đa dạng và lập danh lục về thành phần loài Bò sát, Ếch nhái tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vƣợn Cao Vít
Khi nghiên cứu về Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, việc xác định các nhân tố đe dọa đối với các loài Bò sát và Ếch nhái là cực kỳ quan trọng để bảo vệ sự đa dạng sinh học của khu vực Các yếu tố như mất môi trường sống, săn bắt trái phép và biến đổi khí hậu đang đặt áp lực lớn lên các loài này, gây nguy cơ tuyệt chủng Đề xuất các biện pháp khắc phục bao gồm tăng cường công tác tuyên truyền, bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực sinh sản và phát triển các chương trình phục hồi môi trường Việc thực hiện các khuyến nghị này không chỉ bảo vệ các loài Bò sát và Ếch nhái mà còn góp phần duy trì hệ sinh thái cân bằng trong Vượn Cao Vít.
+ Đề xuất giải pháp bảo tồn Bò sát, Ếch nhái ở Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vƣợn Cao Vít.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Các loài Bò sát, Ếch nhái
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vƣợn Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Nội dung nghiên cứu
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít nổi bật với sự đa dạng phong phú về thành phần loài bò sát và ếch nhái, góp phần duy trì hệ sinh thái bền vững Việc xác định chính xác các loài sinh sống trong khu vực giúp nâng cao hiểu biết về đa dạng sinh học đặc trưng của khu bảo tồn Ngoài ra, việc ghi nhận sự phân bố của các loài theo các dạng sinh cảnh khác nhau cung cấp thông tin quan trọng để đề xuất các phương án bảo tồn hiệu quả và duy trì các dạng habitats tự nhiên của khu vực.
Nghiên cứu tập trung vào việc xác định các nhân tố đe dọa đến các quần thể của các loài Bò sát và Ếch nhái trong khu vực, từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả Việc phân tích các yếu tố như biến đổi môi trường, mất môi trường sống và hoạt động của con người giúp hiểu rõ nguyên nhân suy giảm quần thể Đề xuất các giải pháp bảo tồn dựa trên các kết quả nghiên cứu nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực và bảo vệ đa dạng sinh học của các loài này trong khu vực.
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập tất cả các tài liệu có liên quan đến đề tài, một số nghiên cứu về bò sát, ếch nhái ở Việt Nam
- Chuẩn bị các bản đồ hiện trạng, quy hoạch khu vực nghiên cứu - Tài liệu nhận dạng bò sát
- Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết trang bị phục vụ cho công tác điều tra nhƣ: cồn bảo quản, dụng cụ giải phẫu, máy ảnh, đèn pin, êtiket, …
- Chuẩn bị các biểu đồ, bảng biểu cần thiết cho điều tra
- Kế thừa tài liệu về Bò sát, Ếch nhái tại khu vực nghiên cứu
Trong quá trình đánh giá nhân tố đe dọa chính đối với Khu hệ Bò sát và Ếch nhái, phương pháp được sử dụng bao gồm khảo sát thực địa qua các tuyến đường mòn trong rừng để quan sát địa hình cũng như các yếu tố trực tiếp gây ảnh hưởng Ngoài ra, các nhân viên kiểm lâm và người dân địa phương cũng đã được phỏng vấn để thu thập thông tin, trong đó có bốn nhân sự của khu bảo tồn gồm giám đốc, chuyên viên nghiệp vụ kỹ thuật và thành viên tổ tuần rừng, cùng với ba mươi người dân của các xã Phong Nậm, Ngọc Côn, Ngọc Khê, những người thường xuyên đi rừng và bắt các loài bò sát, ếch nhái, góp phần xác định các nhân tố đe dọa chính đối với hệ sinh thái này.
Mục đích của nghiên cứu là cung cấp thông tin về thành phần loài, sinh cảnh sống và khả năng phát hiện các loài trong khu vực Điều này giúp xác định các tuyến điều tra phù hợp trên bản đồ và đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả cho hệ sinh thái Thông tin về mối đe dọa hiện tại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược bảo vệ khu hệ ở khu vực nghiên cứu.
Mẫu Biểu 02: Điều tra Bò sát, Ếch nhái qua phỏng vấn cán bộ kiểm lâm
Họ & tên người phỏng vấn Tuổi
Họ & tên người được phỏng vấn Tuổi Chức vụ/Nghề nghiệp Thời gian công tác/Làm việc Đơn vị/Địa chỉ Ngày phỏng vấn: / /.201 Phiếu số
Thời gian gặp Địa điểm gặp
Mô tả mẫu vật ghi
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn tại 3 xã Ngọc Khê, Ngọc Côn và Phom Nậm với mặt bằng gồm 10 người là những thợ săn hoặc người thường xuyên đi rừng, thuộc nhiều độ tuổi khác nhau Công tác khảo sát nhằm hiểu rõ hơn về hoạt động săn bắn và thói quen đi rừng của cộng đồng địa phương Các câu hỏi đặt ra nhằm phân tích vai trò của thợ săn trong cộng đồng, tần suất và mục đích đi rừng của các hộ dân, cũng như tác động của hoạt động này đối với môi trường và sinh thái địa phương Đây là bước quan trọng để nghiên cứu và xây dựng các giải pháp bảo tồn bền vững cho khu vực.
- Khu vực này có nhiều ếch nhái, bò sát không?
- Chúng thường cư trú ở đâu?
- Thời gian hoạt động của chúng ra sao?
- Loài ếch nhái, bò sát nào thường gặp?
Mẫu biểu 03: Phiếu điều tra Bò sát, Ếch nhái người dân
Tên thợ săn/người được phỏng vấn: …………Dân tộc: ……… Tuổi: ………Giới tính: ……… Địa chỉ: ………… Số năm săn bắn/đi rừng: ……… Ngày phỏng vấn: ………… Nơi phỏng vấn: ………
Giá trị Địa điểm(bắt gặp)
2.4.2 Khảo sát thực địa a) Điều tra sơ bộ Điều tra sơ bộ nhằm nắm bắt đƣợc sơ bộ tình hình phân bố tài nguyên của khu vực, điều kiện địa hình và các dạng sinh cảnh chính của khu vực nghiên cứu, từ đó xác định các tuyến điều tra hợp lý Chọn địa điểm thu mẫu: Mẫu vật thu ở ven các suối, vũng nước, ao nhỏ hoặc các vùng ẩm ướt ven các đường mòn trong rừng hay cửa hang động b) Điều tra theo tuyến
Sau khi khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu trên bản đồ, các dữ liệu liên quan đến phân bố tài nguyên, địa hình và các dạng sinh cảnh chính được sử dụng làm cơ sở để lập các tuyến điều tra thực địa Các tuyến khảo sát được xác định bằng máy định vị GPS kết hợp với bản đồ địa hình, việc đi điều tra ban ngày nhằm đánh dấu tuyến và khảo sát các loài hoạt động ban ngày Phần lớn các nỗ lực điều tra tập trung vào các hoạt động diễn ra vào ban đêm để thu thập dữ liệu đầy đủ về sinh thái và hành vi của các loài trong khu vực nghiên cứu.
Tuyến điều tra được xây dựng dựa trên phân tích bản đồ địa hình, thảm thực vật và các sinh cảnh sống của các loài Bò sát cùng Ếch nhái trong khu vực nghiên cứu, giúp xác định chính xác vị trí phân bố và môi trường sống của các loài này.
Trong quá trình điều tra, tuyến sẽ đi qua các dạng sinh cảnh đa dạng ở nhiều độ cao khác nhau trong khu vực nghiên cứu Đặc biệt, tuyến tập trung vào các điểm có nguồn nước, vách đá và thung lũng để đảm bảo khảo sát toàn diện và chính xác các yếu tố sinh thái quan trọng.
Phương pháp thu mẫu: Chủ yếu thu thập bằng tay và các dụng cụ chuyên dụng
Thời gian thu mẫu: Một số loài Bò sát, Ếch nhái có thể thu thập mẫu vật và quan sát vào ban ngày
Nhưng nhiều loài Bò sát, Ếch nhái thường hoạt động vào ban đêm, do đó dự kiến tiến hành điều tra vào các thời điểm nhƣ sau:
Ban ngày: Từ 9h sáng đến 16h chiều
Các loài bò sát, Ếch nhái hoạt động vào các thời điểm khác nhau trong ngày, yêu cầu việc đi lại nhiều lần để xác định tần suất gặp gỡ chúng Quá trình này giúp nghiên cứu viên hiểu rõ hơn về sự phân bố và hoạt động của các thành phần loài trong khu vực nghiên cứu, từ đó cung cấp dữ liệu chính xác để phân tích đa dạng sinh học và sinh thái của khu vực.
Khi khảo sát Bò sát, Ếch nhái theo tuyến, nên di chuyển chậm, khoảng 1 km/h hoặc chậm hơn để quan sát kỹ lưỡng hai bên tuyến đường Việc đi chậm giúp bao quát toàn diện, chi tiết hơn và giảm nguy cơ bỏ sót các loài ngụy trang tinh vi, đặc biệt trong điều kiện ánh sáng yếu do thời tiết và khí hậu tại khu vực.
Trong quá trình điều tra ngoài thực địa, tôi đã tập trung vào ba tuyến chính nhưng cũng bổ sung thêm hai tuyến phụ để mở rộng phạm vi khảo sát Điều này xuất phát từ việc tuyến chính có địa hình tương đối khó khăn, gây khó khăn trong quá trình điều tra, quan sát và phát hiện các loài sinh vật Việc mở rộng các tuyến khảo sát giúp nâng cao hiệu quả công tác thu thập dữ liệu và đảm bảo không bỏ sót các loài quan trọng.
Tuyến 1, hay còn gọi là tuyến chính, bắt đầu từ Đà Bè và dài khoảng 4 km đến Lũng Đẩy Tuyến đường này đi qua các dạng sinh cảnh đa dạng như làng bản, đồng ruộng, rừng tự nhiên trên núi đá, cùng các khu vực tràng cỏ và cây gỗ rải rác, tạo nên một hành trình đa dạng về cảnh quan tự nhiên và truyền thống địa phương.
Tuyến 2 (tuyến chính) dài 3,5 km, bắt đầu từ Lũng Rùng đến Lũng Đắc, đi qua các dạng sinh cảnh đa dạng như rừng tự nhiên trên núi đá vôi, trảng cỏ và cây bụi, rừng tre nứa tự nhiên, cùng với các làng bản và đồng ruộng.
Tuyến 3 (tuyến chính) dài 4 km từ Pác Ngà đến Lũng Rai Hô, đi qua các dạng sinh cảnh đa dạng gồm rừng tự nhiên trên núi đá, làng bản, đồng ruộng, tràng cỏ và cây bụi.
Tuyến 4 (tuyến phụ) kéo dài 3 km từ Lũng Qua đến Lũng Toong, đi qua các dạng sinh cảnh chính như rừng tre nứa tự nhiên, rừng tự nhiên trên núi đá, trảng cỏ và cây bụi, mang đến trải nghiệm đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên của khu vực.
- Tuyến 5 ( tuyến phụ): Đi từ Lũng Guông đến Lũng Tâm Đeng dài 3
Km qua các dạng sinh cảnh chính là rừng tự nhiên trên núi đá, tràng cỏ và cây bụi, rừng tre nứa tự nhiên, làng bản và đồng ruộng
Bảng 2.1: Các tuyến điều tra
Tuyến 1 Tuyến 2 Tuyến3 Tuyến 4 Tuyến 5 Thời gian
Hình 2.1: Các tuyến điều tra
Mối quan hệ giữa các loài Bò sát, Ếch nhái và sinh cảnh sống được xác định thông qua các tuyến điều tra, tập trung vào đặc điểm và phân bố của chúng trong các dạng sinh cảnh khác nhau Quá trình khảo sát cho thấy các loài ếch nhái và bò sát phân bố đa dạng tùy theo đặc điểm của từng sinh cảnh, giúp mô tả rõ ràng mối liên hệ giữa chúng và môi trường sống Thông qua mẫu biểu 01, sinh cảnh nơi bắt gặp các loài này được ghi nhận chi tiết, từ đó làm rõ vai trò của từng dạng sinh cảnh trong việc duy trì mật số và sự phân bố của các loài bò sát, ếch nhái.
Mẫu Biểu 01: Phân bố các loài Bò sát, Ếch nhái theo sinh cảnh
Dạng sinh cảnh sống sinh cảnh 1 sinh cảnh 2 … sinh cảnh n
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vƣợn Cao Vít
Khu bảo tồn đƣợc thành lập theo quyết định số 2536/QĐ-UBND ngày
Ngày 15 tháng 11 năm 2006, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng đã phê duyệt khu vực bảo vệ với tổng diện tích là 1.656,8 ha, gồm vùng lõi là 1.656,8 ha trong trạng thái rừng phục hồi sau khai thác kiệt Trong đó, khu vực có Vườn Cao Vít phân bố rộng 881,59 ha và khu vực còn lại là 774,41 ha, trong đó có 21 ha được người dân sử dụng vào mục đích nông nghiệp và vùng đệm là phần diện tích còn lại thuộc địa bàn hai xã Phong Nậm và Ngọc Khê, với tổng diện tích 5.723 ha.
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, nằm tại địa phận của ba xã Phong Nậm, Ngọc Khê và Ngọc Côn, cách thành phố Cao Bằng khoảng 70km và cách Hà Nội khoảng 300km về phía Đông Bắc Khu bảo tồn này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn loài vượn Cao Vít và các hệ sinh thái tự nhiên quý giá của khu vực, đồng thời thúc đẩy phát triển sinh thái và du lịch sinh thái bền vững tại tỉnh Cao Bằng.
Khu bảo tồn nằm ở phía Tây Bắc của dãy núi đã vôi khu vực Đông Bắc Việt Nam, giáp huyện Trịnh Tây, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc Dải rừng trong khu bảo tồn chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, đóng vai trò là khu vực đầu nguồn quan trọng với ranh giới tự nhiên là hai nhánh của sông Quây Sơn Toàn bộ diện tích rừng của khu bảo tồn Vượn Cao Vít tập trung tại khu vực có tọa độ từ [thêm tọa độ cụ thể], góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì hệ sinh thái tự nhiên.
22 0 53 ’ đến 22 o 56,4 ’ Vĩ độ bắc và từ 106 0 30 ’ đến 106 0 33 ’ kinh độ Đông
Hình 3.1 Bản đồ Khu bảo tồn
3.1.2 Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng Địa hình khu bảo tồn gồm một loạt các dãy núi đã vôi xen lẫn các thung lũng Các dãy núi đã vôi bị chia căt mạnh hình thành các dốc đứng và tháp nhọn riêng biệt nằm rải rác ở một số nơi tại các thung lũng bằng và nhỏ Độ cao so với mặt nước biển trung bình của khu vực từ 500 đến 800 m, cao nhất là 921m Địa chất khu bảo tồn gồm các loại đất chính sau :
- Đất phù sa không bồi đắp
- Đất đỏ nâu trên núi đá vôi
- Đất đỏ nâu vàng trên núi đá vôi
- Đất đỏ vàng trên phiến sét
- Đất vàng nhạt trên sa thạch
Vùng có cảnh quan đặc biệt nổi bật với các dãy núi đá vôi cổ, cứng, chủ yếu hình thành từ đá nham thạch bị bào mòn mạnh trong thời kỳ Paleozone muộn và Meozoi sớm Quá trình bào mòn sâu hơn 900m đã phủ lên lớp đất bồi tích, tạo nên một cảnh quan rộng lớn kéo dài của cao nguyên Quý Châu Hiện đại của cảnh quan được hình thành từ nhiều đợt nâng địa chất mạnh mẽ trong kỷ Trung Sinh (Mezoi), nâng các lớp bồi tích biển cổ vượt mực nước biển Các khối đá vôi cứng bị xẻ thành những đỉnh cao và đỉnh núi biệt lập, với nhiều vách dựng đứng và sườn dốc hiểm trở Đỉnh núi đá vôi cao nhất trong vùng thường đạt từ 800-900m, tạo nên những cảnh quan hùng vĩ và đặc trưng.
3.1.3 Khí hậu và thủy văn
Khu vực Trùng Khánh có khí hậu trung bình ẩm nhiệt đới, với nhiệt độ trung bình năm từ 16-20°C và mùa lạnh kéo dài dài hơn 4 tháng Nhiệt độ giảm nhẹ trên các đỉnh cao 800m, nơi mùa lạnh kéo dài từ 5 đến 7 tháng tùy theo độ cao Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1665,5mm, không có tháng khô, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, trong khi các tháng còn lại có lượng mưa ít hơn, nhưng vẫn vượt quá gấp đôi nhiệt độ trung bình Độ ẩm tương đối trung bình thấp, chỉ đạt 62%, phản ánh khí hậu ôn hòa, dễ chịu trong năm.
Sông Quây Sơn có hai nhánh chính xuất phát từ Trung Quốc, chảy theo hai hướng riêng biệt Một nhánh đi qua các xã Ngọc Côn và Ngọc Khê, trong khi nhánh còn lại chảy qua xã Phong Nậm Các nhánh sông này góp phần quan trọng vào hệ sinh thái và phát triển kinh tế của khu vực.
Nhánh thứ nhất (nhánh Ngọc Khê- Ngọc Côn) chảy qua xóm Đông Si -
Nà Giào - Tử Bản - Pác Ngà - Bó Hay của xã có chiều dài 18 km, rộng trung bình 90m, là một nhánh sông quan trọng của khu vực Nhánh thứ hai, nhánh Phong Nậm, chảy qua các xóm Đà Bè, Nà Hâu, Nà Chang, Giộc Rùng của xã Phong Nậm và hướng về xã Ngọc Khê, qua các xóm Giộc Sung, Pác Thay, Đỏng Doạ, có chiều dài 14 km và chiều rộng trung bình 80m Hai nhánh sông này gặp nhau tại khu vực xóm Giàng Nốc, tạo thành một hệ thống thủy lợi quan trọng cho địa phương.
Hệ thống phân loại các thảm thực vật chính của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng gồm ba dạng chính Các loại thảm thực vật này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học của khu bảo tồn Việc hiểu rõ các dạng thảm thực vật giúp xác định các khu vực quan trọng để bảo vệ và duy trì sinh thái học của khu vực Điều này góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát triển bền vững vùng sinh thái Vượn Cao Vít.
+Rừng thứ sinh thường xanh ở thung lũng và chân núi đá vôi (đất dốc tụ) + Rừng thứ sinh thường xanh ở sườn núi đá vôi
+ Rừng thứ sinh thường xanh hỗn giao cây hạt trần, cây lá rộng giông núi đá vôi
- Trảng cây bụi thứ sinh
Dựa trên kết quả điều tra của Vũ Anh Tài và Nguyễn Hữu Tứ (2007) tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vườn Cao Vít đá, đã ghi nhận 543 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 356 chi và 16 họ của 4 ngành thực vật Trong số đó, có 27 loài có giá trị bảo tồn, trong đó 11 loài được ghi nhận trong sách đỏ Việt Nam, 4 loài trong sách đỏ IUCN và 19 loài nằm trong nghị định 32 của Chính phủ.
Kết quả điều tra sơ bộ khu hệ động vật tại khu bảo tồn ghi nhận có 23 loài thú thuộc 14 họ, 61 loài chim và 11 loài lưỡng cư bò sát Khu vực còn là nơi phân bố của nhiều loài thú quý hiếm như Gấu ngựa (Ursus malayanus), Báo lửa (Catopuma temmincki) và Báo gấm (Pardofelis nebulosa), góp phần quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học.
The article highlights several endangered and notable wildlife species, including the Musk Deer (Moschus berezovskii), known for its prized pheromones; the Indochinese Serow (Capricornis sumatraensis), a resilient mountain goat; and the critically endangered Pangolin (Manis pentadactyla), often targeted for illegal wildlife trade It also features various primates such as the Rhesus Monkey (Macaca mulatta), the Red-faced Monkey (Macaca artoides), the Assam Macaque (Macaca assamensis), and notably, the rare Tonkin Snub-nosed Monkey (Nomascus nasutus) Protecting these species is vital for preserving biodiversity and ecological balance.
Điều kiện kinh tế - xã hội
Kết quả điều tra về điều kiện kinh tế - xã hội và sử dụng tài nguyên xã hội tại Phong Nậm, Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng cho thấy không có xóm nào nằm trong khu vực lõi của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít Tuy nhiên, có 28 xóm nằm trong vùng đệm của khu bảo tồn, bao gồm 9 xóm thuộc xã Phong Nậm và 19 xóm thuộc xã Ngọc Khê và Ngọc Côn Hầu hết các xóm đều nằm gần ranh giới phía Đông Bắc và Tây Nam của khu bảo tồn, phản ánh tác động của hoạt động cộng đồng đến khu vực này.
Dân số của khu bảo tồn Vườn Cao Vít gồm 9.785 người, sinh sống trong 1.459 hộ gia đình phân bố tại 28 xóm trong và gần khu bảo tồn Đây là khu vực có mật độ dân cư khá đông đúc, góp phần vào đời sống cộng đồng và phát triển địa phương.
Mật độ dân số cao nhất tập trung tại phía Đông Nam và Tây Nam của khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, nơi cư trú của cộng đồng người Tày và Nùng.
Trong Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn, diện tích đất nông nghiệp rất hạn chế do đặc thù địa hình Các cộng đồng địa phương chủ yếu canh tác lúa, ngô, khoai sọ và chăn nuôi gia súc như lợn, bò, gà, vịt, trâu, bên cạnh đó một số hộ còn nuôi dê hoặc ngựa để tăng thu nhập Tại các xã Ngọc Khê và Phong Nậm, hoạt động nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa và ngô, mỗi loại chỉ có một vụ mỗi năm, bên cạnh đó người dân còn trồng lúa mì, đậu tương, sắn và khoai lang Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại đây bị ảnh hưởng bởi thời tiết khắc nghiệt, địa hình núi đá vôi dốc và trình độ văn hóa thấp, khiến chi phí chăn nuôi gia súc khá cao.
Một số xóm nằm ngoài khu bảo tồn vẫn thường xuyên xâm nhập vào thung lũng bên trong khu bảo tồn để canh tác trồng ngô và chăn thả gia súc như trâu, bò, dê, gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên của khu bảo tồn.
Người dân sinh sống tại các xóm trong hai xã có truyền thống gắn bó mật thiết với rừng và phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng Họ thường khai thác lâm sản như củi, gỗ, thuốc, đồng thời canh tác nông nghiệp và chăn thả gia súc trong khu bảo tồn Sự phụ thuộc này thể hiện rõ nét qua các hoạt động sinh sống hàng ngày, góp phần duy trì đời sống cộng đồng và phát triển kinh tế địa phương.
Giao thông: xã Ngọc Khê- Ngọc Côn có đường tỉnh lộ 217 chạy từ trung tâm huyện Trùng Khánh đến cửa khẩu Pò Peo dài 22km
Xã Phong Nậm có tuyến đường chính chạy dọc từ Bắc vào Nam, kết nối thẳng tới trung tâm huyện, tạo thuận lợi trong việc đi lại và vận chuyển hàng hóa Tuy nhiên, một số khu vực như các xóm Giốc Rùng và Nà Tông gặp nhiều khó khăn về giao thông, khiến việc đi lại trở nên vất vả hơn Hầu hết các xóm trong xã như Ngọc Khê và Phong Nậm đều đã được trang bị điện lưới quốc gia, đảm bảo nguồn điện ổn định phục vụ sinh hoạt hàng ngày của người dân.
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thành phần loài Bò sát - Ếch nhái
Dựa trên quá trình điều tra, quan sát, thu mẫu, kết quả phỏng vấn và tài liệu kế thừa, đã ghi nhận 22 loài Bò sát – Ếch nhái thuộc 2 bộ và 11 họ khác nhau Những số liệu này đã được tổng hợp rõ ràng trong bảng biểu đi kèm, cung cấp cái nhìn toàn diện về đa dạng sinh học của nhóm loài này tại khu vực nghiên cứu.
Bảng 4.1: Danh lục Bò sát - Ếch nhái ở Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vƣợn Cao Vít
Stt Tên Loài Nguồn Thông Tin
Tên Phổ Thông Tên Khoa Học QS MV PV TL
1 Tắc kè hoa Gekko gecko Linnaeus, 1758 + + +
Họ Thằn Lằn bóng Scincidae
2 Thằn lằn phê nô ấn Sphenomorphus indicus Gray, 1853 + +
3 Rắn hoa cỏ vàng Rhabdophis chrysagus Schlegel, 1837 + +
4 Rắn hoa cỏ nhỏ Rhabdophis subminiatus Schlegel, 1837 +
5 Rắn vòi Rhynchophis boulengeri Mocquard, 1897 +
6 Rắn nước Xenochrophis piscator Hallowell, 1861 + +
7 Rắn lục Trùng khánh Protobothrops trungkhanhensis Orlov,
8 Rắn hổ mây Hamton Pareas hamptoni Boie, 1828 +
9 Rắn sọc đốm đỏ Oreocryptophis porphyraceus Cantor, 1834 + +
10 Rắn nhiều đai Cyclophiops multicinctus Roux, 1907 + + +
11 Rắn sọc khoanh Orthriophis moellendorffii Boettger, 1886 + +
12 Cạp nia bắc Bungarus multicinctus Blyth, 1861 + +
13 Rắn hổ mang thường Naja naja Linnaeus, 1758 + +
14 Nhông xám Calotes mystaceus Muller, 1887 + + +
15 Rắn lục xanh Viridovipera stejnegeri Schmidt, 1925 + +
16 Rắn hổ bướm Daboia russelii Shaw & Nodder, 1797 +
17 Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus Schneider, 1799 + + +
18 Nhái bầu vân Microhyla pulchra Hallowell, 1861 + + + +
20 Ếch đồng Hoplobatrachus rugulosus Wiegmann, 1834 + + + +
Họ Ếch nhái chính thức Dicroglossidae
22 Ếch cây mép trắng Polypedates leucomystax Gravenhorst, 1829 + + + +
Ghi chú: QS- quan sát,MV- mẫu vật,PV- phỏng vấn, TL- tư liệu[29]
Theo bảng 4.1 và biểu đồ 4.1, đã quan sát trực tiếp 8 loài, chiếm 27,27%, với mẫu thu được là 5 loài, chiếm 22,73% Quá trình phỏng vấn đã xác định được 17 loài, chiếm 72,27% Số lượng loài quan sát và mẫu thu thập còn hạn chế do điều kiện thời tiết khô hạn, lạnh vào thời điểm thực tập, cùng với địa hình trong khu vực đi lại gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, khu vực vùng trong của Khu bảo tồn gần như không có khe suối, khe nước, gây hạn chế trong việc gặp gỡ và thu mẫu sinh vật.
Biểu đồ 4.1: Số lƣợng ghi nhận của các loài qua các nguồn
-Về đa dạng cấp bậc phân loại học:
Bảng 4.2: Đa dạng Bò sát theo các Họ
Stt Họ Số loài Tỷ lệ %
Mức độ phong phú của mỗi loài trong các Họ, kết quả phân tích đƣợc trình bày trong biểu đồ 4.2:
Biểu đồ 4.2: Đa dạng loài Bò sát theo các Họ
Dựa trên bảng 4.2 và biểu đồ 4.2, họ Rắn nước chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,25% loài, tiếp theo là họ Rắn hổ và Rắn lục với đều 12,25%, mỗi họ có 2 loài Ngoài ra, ba họ Tắc kè, Thằn lằn bóng, và Nhông đều có 1 loài, chiếm tỷ lệ 6,25% mỗi họ.
Tắc kè Thằn lằn bóng Rắn nước Rắn hổ Nhông Rắn lục
Bảng 4.3: Đa dạng Ếch nhái theo các Họ
Stt Họ Số loài Tỷ lệ %
Số loài của các họ Ếch nhái đƣợc thể hiện qua Biểu đồ sau:
Biểu đồ 4.3: Đa dạng các loài Ếch nhái theo Họ
Dựa trên bảng 4.3 và biểu đồ 4.3, số lượng các loài Ếch nhái còn ít nhưng đa dạng về họ Cụ thể, họ Ếch nhái chiếm 33,33% với 2 loài, trong khi các họ Cóc, Nhái bầu, Ếch nhái chính thức và Ếch cây chỉ có 1 loài mỗi họ, đều đạt tỷ lệ 16,67%.
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít có mức độ đa dạng loài Bò sát - Ếch nhái cao hơn so với các khu vực lân cận có cùng điều kiện khí hậu và địa hình Việc so sánh này dựa trên tiêu chí đa dạng loài, qua đó giúp đánh giá khả năng bảo tồn các loài bò sát và ếch nhái trong khu vực Để thực hiện nghiên cứu, khóa luận chọn ba khu bảo tồn trọng điểm gồm Phia Oắc, Phu Cảnh và Thượng Tiến, nhằm xác định mức độ đa dạng sinh học của các loài này trong các khu vực khác nhau Kết quả cho thấy, các khu bảo tồn như Phia Oắc, Phu Cảnh và Thượng Tiến đều đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học của loài Bò sát - Ếch nhái tại vùng núi phía Bắc.
Cóc Nhái bầu Ếch nhái Ếch nhái chính thức Ếch cây
Bảng 4.4: Bảng so sánh đa dạng loài ở khu vực nghiên cứu với các KBT khác
Các Khu bảo tồn Bò sát Ếch nhái Diện tích Tổng
Nguồn: KBT Thiên Nhiên Phia Oắc[28], Thượng Tiến[8], Phu Canh[32]
Bảng 4.4 và biểu đồ 4.4 cho thấy khu vực Phia Oắc có đa dạng bò sát – ếch nhái lớn nhất với 81 loài, phù hợp với tiêu chí nghiên cứu về đa dạng sinh học Tiếp theo là Thượng Tiến với 53 loài, tiếp đó là Phu Canh với 36 loài, trong khi khu vực nghiên cứu có số lượng là 22 loài These results highlight the rich biodiversity of amphibians and reptiles across different regions, with Phia Oắc being the most diverse.
Khu vực Phia Oắc có số lượng loài bò sát lớn nhất với 49 loài, trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu về đa dạng sinh học Tiếp theo là khu vực Phù Cần với 22 loài, thể hiện sự phong phú của hệ sinh thái nơi đây Thượng Tiến có 18 loài bò sát đã được ghi nhận, góp phần làm nổi bật giá trị đa dạng sinh học của khu vực này Khu vực nghiên cứu có tổng cộng 16 loài bò sát, đóng vai trò quan trọng trong các nghiên cứu sinh thái và bảo tồn.
Thể hiện rõ nhất về đa dạng loài ếch nhái, Thượng Tiến là địa phương có số loài nhiều nhất với 35 loài, chiếm ưu thế trong khu vực Tiếp theo là Phia Oắc, nơi có 32 loài ếch nhái đã được ghi nhận, cho thấy sự đa dạng sinh học phong phú Phù Cạn xếp thứ ba với 14 loài, góp phần làm phong phú hệ sinh thái địa phương Trong khu vực nghiên cứu, có 6 loài ếch nhái đã được ghi nhận, phản ánh mức độ đa dạng còn tiềm năng khám phá thêm.
Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vườn Cao Vít có số lượng loài bò sát và ếch nhái thấp hơn so với các khu vực khác, chủ yếu do diện tích của khu bảo tồn nhỏ hơn nhiều và ít các công trình nghiên cứu được thực hiện Thêm vào đó, địa hình phức tạp gây khó khăn trong công tác khảo sát, dẫn đến giới hạn trong việc xác định thành phần loài và số lượng loài sinh vật tại đây.
Biểu đồ 4.4: So sánh đa dạng loài ở khu vực nghiên cứu với các KBT khác
Phân bố Bò sát - Ếch nhái
4.2.1 Phân bố Bò sát - Ếch nhái theo sinh cảnh
Nghiên cứu về bò sát và ếch nhái theo sinh cảnh giúp hiểu rõ dạng sống tự nhiên của từng loài, từ đó hỗ trợ đánh giá và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn hiệu quả Việc mở rộng sinh cảnh tự nhiên cho các loài đang nguy cấp và tuyệt chủng là mục tiêu quan trọng, góp phần duy trì sự đa dạng sinh học và bảo vệ các loài quý hiếm.
Theo thông tƣ số 34/2009/TT – BNNPTNT[30] ngày 10/06/2009 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã quy định các tiêu chí xác định và phân loại rừng theo Thái Văn Trừng (1978), giúp nhận biết rõ các loại rừng khác nhau Quá trình nghiên cứu, điều tra theo tuyến đã được thực hiện để khảo sát đặc điểm các dạng địa hình và thảm thực vật của khu vực Các dạng sinh cảnh trong khu vực được phân chia dựa trên đặc trưng của các dạng địa hình và loại thảm thực vật, góp phần nâng cao hiểu biết về hệ sinh thái tự nhiên.
- Sc1: Rừng tự nhiên núi đá
- Sc2: Rừng tre nứa tự nhiên
- Sc3: Trảng cỏ và cây gỗ rải rác
- Sc4: Làng bản, đồng ruộng
Khu vực nghiên cứu Phia Oắc Thượng Tiến Phu Canh
Mỗi dạng sinh cảnh là môi trường thích nghi của một hoặc nhiều loài Bò sát - Ếch nhái khác nhau Qua quá trình điều tra, quan sát và thu mẫu, có thể xác định dạng sinh cảnh sống của các loài này Các dữ liệu này được tổng hợp trong bảng, giúp hiểu rõ hơn về phân bố và đặc điểm môi trường của từng loài Việc nghiên cứu các dạng sinh cảnh đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và quản lý các loài động vật này một cách hiệu quả.
Bảng 4.5: Phân bố Bò sát - Ếch nhái theo sinh cảnh
Stt Tên phổ thông Tên khoa học Sc1 Sc2 Sc3 Sc4
1 Tắc kè hoa Gekko gecko +
4 Nhái bầu vân Microhyla pulchra + + + +
7 Ếch cây mép trắng Polypedates leucomystax + + +
8 Rắn nhiều đai Cyclophiops multicinctus +
Qua điều tra, quan sát và thu mẫu tại khu vực nghiên cứu, sự phân bố của các loài theo sinh cảnh đƣợc thể hiện qua biểu đồ sau
Dựa trên bảng 4.4 và biểu đồ 4.4, có thể thấy rằng dạng sinh cảnh rừng tự nhiên núi đá có số lượng loài Bò sát - Ếch nhái lớn nhất, do đây là môi trường chính với nhiều nơi cư trú như các hốc đá và tán lá cây lớn, thuận lợi cho hoạt động bắt mồi và ẩn nấp của các loài Các sinh cảnh khác cũng ghi nhận sự xuất hiện của một số loài phổ biến, thể hiện đặc trưng của từng dạng môi trường sinh thái này.
- Rừng tự nhiên núi đá:
Sinh cảnh này đặc trưng bởi tỷ lệ cao của khu vực rừng kín tiêu biểu (KBT), nơi tài nguyên sinh thái phát triển tốt và đa dạng Các loài thực vật phong phú như Mạy puôn (Cephalomappa sinensis), Lát (Chukrasia tabularis), Quếch (Chisocheton sp.), Xoan nhừ (Choerospondias axillaries), Sếu (Celtis spp.), Xoan (Melia azedarach) và Sau sau (Liquidambar formosana) chiếm ưu thế Ngoài ra, còn có các loài cây hạt trần như Thông pà cò (Pinus kwangtungensis), Thiết sam giả (Pseudotsuga sinensis) và Thông đỏ (Taxus chinensis) Trong sinh cảnh này, đã phát hiện 5 loài chiếm tỷ lệ 31,25% tổng số loài quan sát và mẫu thu thập, bao gồm các loài động vật như Tắc kè (Gekko gecko) và Rắn nhiều đai (Cyclophiops multicinctus).
- Rừng tre nứa tự nhiên:
Sinh cảnh này có diện tích nhỏ, phát triển thành các mảnh nhỏ, ít gặp trong khu vực Nó bao gồm các loài thực vật như Sặt (Arundinaria sp), Tre gai rừng (Bambusa bambos), Mai (Dendrocalamus giganteus), Hòa thảo (Poaceae), Cói (Cyperaceae), và một số loài Dương xỉ Tuy nhiên, sinh cảnh này vẫn bị khai thác để làm củi và đan lát, gây tác động đến môi trường Trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã thu thập được mẫu của 4 loài chiếm tỷ lệ 25%, gồm Nhông xám (Calotes mystaceus) và Ếch cây mép trắng (Polypedates leucomystax).
Sinh cảnh trảng cỏ và cây gỗ rải rác là dạng sinh cảnh phổ biến trong khu vực nghiên cứu, với các loại cỏ như Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Chít (Thysanolaena maxima), Chè vè (Miscanthus spp.), Lau (Saccharum spontaneum), Cỏ kê (Panicum sp.) và Cỏ lá tre (Paspalum sp.) Kết hợp với các loài cây gỗ nhỏ, bụi nhƣ Bùm bụp (Mallotus barbatus), Sòi lá tròn (Triadica rotundifolia), Mã rạng (Macranga sp.), Dâu gia xoan (Allospondias lakhoensis), Dướng (Broussonetia papyrifera) và Chân chim (Schefflera sp.), sinh cảnh này hình thành sau nhiều năm canh tác nương rẫy Trong khu vực này, chúng tôi đã phát hiện 3 loài động vật, chiếm tỷ lệ 18.75%, gồm có Ếch cây mép trắng (Polypedates leucomystax) và nhái bầu vân (Microhyla pulchra).
- Sinh cảnh làng bản, ruộng đồng
Sinh cảnh này chiếm diện tích nhỏ trong Khu bảo tồn, chủ yếu xuất hiện tại các khu vực bằng phẳng phù hợp với hoạt động canh tác ruộng nương bậc thang của người dân Vị trí nằm gần ranh giới KBT khiến công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, đồng thời gây tác động tiêu cực đến sinh cảnh sống của động vật hoang dã, đặc biệt là các loài bò sát.
- Ếch nhái nói riêng Chúng tôi đã quan sát và thu mẫu đƣợc 4 loài chiếm tỷ lệ 25%, trong đó có Ếch đồng (Hoplobatruchus rugulosus), Nhái bầu vân (Microhyla pulchra)
4.2.2 Phân bố Bò sát - Ếch nhái theo đai cao
Kết quả phân tích trong bảng 4.5 xác định được 6 cấp độ đai cao từ dưới 200m đến trên 1000m, phản ánh sự phân bố của các loài theo các đai cao khác nhau Các loài thể hiện sự phân bố rõ ràng theo các đai cao, qua đó giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh thái của từng khu vực Việc xác định các đai cao này cung cấp cơ sở cho các chiến lược bảo tồn và nghiên cứu đa dạng sinh học phù hợp với từng mức độ cao.
Bảng 4.6: Phân bố Bò sát - Ếch nhái theo đai cao
Stt Tên phổ thông Tên khoa học Đai cao(m)
1 Tắc kè hoa Gekko gecko + +
4 Nhái bầu vân Microhyla pulchra +
7 Ếch cây mép trắng Polypedates leucomystax + +
8 Rắn nhiều đai Cyclophiops multicinctus +
Dựa trên bảng 4.5 và biểu đồ 4.5, có thể thấy rằng khu vực này có nhiều lũng, đường đi hiểm trở, khiến khả năng phát hiện loài ở đai cao này gặp khó khăn hơn so với các đai cao khác, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả khảo sát và thu mẫu trong vùng.
Biểu đồ 4.6: Phân bố loài Bò sát - Ếch nhái theo đai cao
4.2.3 Giá trị bảo tồn của các loài Bò sát - Ếch nhái trong Khu bảo tồn
Danh sách các loài bò sát và ếch nhái hiện đang đối mặt với nhiều nguy cơ đe dọa trong nước và quốc tế, cần được quan tâm và bảo vệ Những loài này hiện có mặt tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, nơi đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học Các loài bò sát và ếch nhái này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do các tác động của con người và biến đổi môi trường Việc tổng hợp danh sách các loài này qua bảng giúp nâng cao nhận thức về mức độ đe dọa và thúc đẩy các hành động bảo vệ phù hợp Bảo tồn các loài này không chỉ có ý nghĩa sinh thái mà còn góp phần duy trì cân bằng hệ sinh thái của khu vực.
Bảng 4.7: Giá trị bảo tồn của các loài Bò sát - Ếch nhái tại
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vƣợn Cao Vít
STT Tên phổ thông Tên khoa học
1 Tắc kè hoa Gekko gecko VU
2 Thằn lằn phê nô ấn Sphenomorphus indicus LC
3 Rắn hoa cỏ nhỏ Rhabdophis subminiatus LC
4 Rắn vòi Rhynchophis boulengeri LC
5 Rắn lục Trùng khánh Protobothrops trungkhanhensis EN
6 Rắn hổ mây Hamton Pareas hamptoni LC
7 Rắn sọc đốm đỏ Oreocryptophis porphyraceus LC VU
8 Rắn sọc khoanh Orthriophis moellendorffii VU
9 Cạp nia bắc Bungarus multicinctus LC
10 Rắn hổ mang thường Naja naja VU EN II
11 Rắn lục xanh Viridovipera stejnegeri LC
12 Rắn hổ bướm Daboia russelii LC
13 Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus LC
14 Nhái bầu vân Microhyla pulchra LC
16 Ếch cây mép trắng Polypedates leucomystax LC
Ghi chú: IUCN: Danh lục đỏ thế giới, SĐVN 2007: Sách Đỏ Việt Nam
Năm 2007, Công ước CITES được thiết lập nhằm kiểm soát hoạt động buôn bán quốc tế các loại động vật và thực vật hoang dã nguy cấp Các mức độ bảo tồn của các loài được phân loại rõ ràng, trong đó EN phản ánh các loài nguy cấp, VU là các loài gần nguy cấp, còn LC dành cho các loài ít được quan tâm hơn Đặc biệt, IIB quy định các loài động vật rừng hạn chế khai thác và sử dụng nhằm bảo vệ đa dạng sinh học và ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép vì mục đích thương mại.
Qua bảng 4.6 cho thấy có 1 loài chiếm 5,26% nằm trong Phụ Lục II của CITES: Sách Đỏ Việt Nam có 4 loài chiếm 21,05%, trong đó có 1 loài ở mức
Trong danh sách các loài bị đe dọa, chiếm đa số với tỷ lệ 73,68%, có 1 loài ở cấp nguy cấp, 1 loài nguy cấp và 12 loài ít được quan tâm Các loài bò sát chiếm phần lớn trong số các loài có nguy cơ bị đe dọa, cho thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ bò sát trong các hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học Vì vậy, việc bảo vệ các loài bò sát là ưu tiên cấp thiết và cần thiết trong các chương trình bảo tồn sinh vật today.
Đánh giá các mỗi đe dọa đến các loài Bò sát - Ếch nhái tại KBT
Trước đây, săn bắt động vật hoang dã là hoạt động truyền thống của người dân địa phương, nhưng hiện nay hoạt động này đã giảm significantly do việc đi săn không còn hiệu quả và các đợt tuần tra nghiêm ngặt của cơ quan quản lý và kiểm lâm Trong những năm gần đây, nhiều công cụ săn bắn đã bị lực lượng chức năng thu giữ để bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì cân bằng sinh thái khu vực.
Các loài bò sát như tắc kè, hổ mang thường, rắn sọc đốm đỏ có giá trị kinh tế, thực phẩm, thương mại và dược liệu nên là mục tiêu chính của các thợ săn Trong khi đó, các loài ếch nhái ít được quan tâm hơn, chủ yếu được sử dụng làm thực phẩm như ếch đồng, ngóe, chẫu, và làm thuốc với các loài như cóc nhà Điều này cho thấy mức độ khai thác và khai thác dựa trên tiềm năng kinh tế, thực phẩm và dược liệu của từng loài.
Săn bắt là nguyên nhân chính gây suy giảm tài nguyên động vật hoang dã, ảnh hưởng không chỉ đến Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vươn Cao Vít mà còn tác động tiêu cực đến các khu rừng khác trên khắp Việt Nam.
Khai thác gỗ là mối đe dọa nghiêm trọng đối với động vật hoang dã và hệ sinh thái khu vực, chủ yếu diễn ra ở nhiều nơi trong rừng do truyền thống sử dụng gỗ tốt làm nhà và đồ dùng của người dân địa phương Do điều kiện kinh tế khó khăn, người dân chủ yếu dựa vào các loại gỗ này để xây dựng nhà cửa mà chưa có khả năng mua vật liệu mới, khiến các loài gỗ có giá trị cao như Lim và Nghiến ngày càng khan hiếm, thậm chí gần như tuyệt chủng trong tự nhiên Các cây tái sinh của chúng rất hiếm hoặc không còn, đe dọa sự tồn tại lâu dài của các quần thể này Hiện nay, phương thức khai thác trái phép chủ yếu sử dụng cưa máy xăng, mang lại lợi thế khai thác nhanh, giúp các đối tượng trộm gỗ tránh khỏi sự kiểm tra của kiểm lâm và chính quyền Cưa xăng dễ mua với giá từ 2-5 triệu đồng, tùy thuộc vào chất lượng, phần lớn nguồn gốc từ Trung Quốc, góp phần làm trầm trọng thêm vấn đề khai thác trái phép và suy giảm nguồn tài nguyên rừng tự nhiên.
+ Lấn chiếm đất rừng làm đất nông nghiệp
Trong khu bảo tồn, đồng bào dân tộc thiểu số Tày và Nùng sống chủ yếu dựa vào núi rừng, khiến cuộc sống còn nhiều khó khăn do diện tích đất bằng phẳng ít ỏi và phần lớn dùng để xây nhà Việc phá rừng để mở đất trồng trọt là điều không thể tránh khỏi, mặc dù một số nơi đã loại bỏ tập quán du canh, du cư, vẫn còn nhiều hộ lựa chọn canh tác độc canh trên diện tích lớn dẫn đến thoái hóa đất do chăm sóc không tốt Các hoạt động này gây suy thoái môi trường, làm giảm diện tích sống của các loài động vật, đặc biệt là các loài bò sát và ếch nhái, đồng thời làm gián đoạn hệ sinh thái tự nhiên trong khu vực.
+ Khai thác lâm sản ngoài gỗ:
Người dân thường khai thác lâm sản ngoài gỗ như phong lan, cây thuốc, măng, song mây vào những thời điểm nông nhàn để bán hoặc đáp ứng nhu cầu gia đình Việc khai thác này đã làm giảm đáng kể nguồn lâm sản ngoài gỗ trong khu bảo tồn, đồng thời gây nguy cơ cạn kiệt các loại lâm sản quan trọng, ảnh hưởng đến sinh cảnh tự nhiên.
- Sử dụng chất bảo vệ thực vật:
Tại KBT, hoạt động canh tác nông nghiệp trồng ngô và lúa chiếm diện tích lớn, với người dân trồng 2 vụ ngô và 1 vụ lúa mỗi năm Các vụ mùa thường xuyên được phun từ hai đến ba lần chất bảo vệ thực vật để kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của các sinh vật, khi lượng thuốc ngấm vào nguồn nước ngầm và các sinh vật trong khu vực Đặc biệt, bò sát, ếch nhái là những đối tượng chịu tác động nghiêm trọng nhất từ hoạt động này, gây ảnh hưởng đáng kể đến đa dạng sinh học địa phương.
Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn nguồn tài nguyên Bò sát - Ếch nhái tại KBT
Dựa trên kết quả phân tích về các mối đe dọa và giá trị của tài nguyên đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vườn Cao Vít, chúng tôi đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn phù hợp Các phương án này nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực, bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì các hệ sinh thái tự nhiên trong khu vực Việc thực hiện các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ các loài đặc hữu và sinh cảnh quan trọng, đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững cho khu bảo tồn.
4.4.1 Bảo vệ sinh cảnh sống
Để bảo vệ nguồn tài nguyên động thực vật trong khu bảo tồn, cần ngăn chặn các hoạt động khai thác gỗ, lấy củi, lâm sản ngoài gỗ trong khu vực, đặc biệt là trong các khu vực phân bố các loài Bò sát và Ếch nhái Việc hạn chế hoạt động khai thác giúp duy trì đa dạng sinh học và đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái tự nhiên.
Thực hiện các chương trình phục hồi rừng có kiểm soát trên các đối tượng rừng cụ thể, ưu tiên các loài cây bản địa để đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái Đối với rừng tự nhiên trên núi đá vôi bị tác động nhẹ, áp dụng phương thức phục hồi bảo vệ nghiêm ngặt nhằm giữ gìn đa dạng sinh học Khoanh nuôi tái sinh tự nhiên đối với sinh cảnh trảng cỏ và cây bụi được thực hiện để thúc đẩy sự phát triển tự nhiên của hệ sinh thái Việc giám sát, bảo vệ và phòng chống cháy rừng là yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công của các chương trình phục hồi và duy trì sự ổn định của môi trường rừng.
Giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng thôn, bản nhằm thúc đẩy trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ rừng Hướng dẫn nhân dân về kỹ thuật lâm nghiệp giúp đảm bảo chăm sóc và trồng cây hiệu quả trên phần đất được giao Việc đôn đốc và giám sát hoạt động trồng và chăm sóc cây trồng đảm bảo chất lượng công trình Không cho phép làm nương, xây nhà tạm trên đất đã được giao khoán để bảo vệ rừng hiệu quả Hình thức nhận khoán giám sát chất lượng công việc của từng cá nhân, hộ gia đình để nhận tiền giao khoán rừng thúc đẩy trách nhiệm và nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng cộng đồng.
4.4.2 Nâng cao nhận thức cộng đồng
Người dân sống trong vùng đệm của KBT chủ yếu là người dân tộc có truyền thống săn bắt động vật rừng từ lâu, mặc dù đã bị cấm nhưng vẫn còn một số người săn bắt trái phép Để nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học, cần xác định đây là công việc dài hạn, thường xuyên và liên tục, và đó là trách nhiệm chung của toàn xã hội, không chỉ dựa vào lực lượng kiểm lâm Để đạt được mục tiêu này, cần xây dựng chiến lược dài hạn về tư tưởng và lối sống, thúc đẩy hành động trên mọi cấp ngành một cách chủ động Trước hết, các cán bộ đảng viên cần là những tấm gương sáng về ý thức và nhận thức bảo vệ đa dạng sinh học, đồng thời thực hiện các hoạt động tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức cộng đồng một cách hiệu quả.
Ban quản lý khu bảo tồn cần thường xuyên phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Trùng Khánh và Biên phòng để tổ chức các đợt tuần rừng định kỳ trong và ngoài khu vực nghiên cứu như Ngọc Khê, Ngọc Côn, Phong Nậm, nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hiện tượng vi phạm và tác động của người dân lên khu bảo tồn.
4.4.3 Nâng cao đời sống của người dân đia phương
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít đề xuất sự phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các xã trong vùng đệm để đảm bảo quản lý hiệu quả Việc quy hoạch phân vùng sản xuất cây nông nghiệp và công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong giữ gìn đa dạng sinh học Đồng thời, cần thúc đẩy các dự án hỗ trợ trồng rừng trên các diện tích đất trồng và đồi núi trọc để phục hồi và duy trì hệ sinh thái tự nhiên.
Nâng cao hiệu quả đầu tư trợ giúp khu vực phát triển kinh tế xã hội thông qua các dự án đầu tư và dự án lâm nghiệp xã hội Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục cộng đồng về ý thức bảo vệ rừng để thúc đẩy ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ tài nguyên rừng và phát triển bền vững.
Nâng cao đời sống của nhân dân, giảm tỷ lệ các hộ nghèo, phấn đấu không còn các hộ đói bằng các biện pháp cụ thể:
Chính sách tăng cường hỗ trợ vốn và mở rộng thời hạn cho vay từ 5-7 năm sẽ giúp người dân có công cụ tài chính ổn định để lên kế hoạch phát triển kinh tế lâu dài Việc kéo dài thời hạn vay vốn không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, đảm bảo nguồn lực tài chính phù hợp với các dự án dài hạn Đây là chiến lược thúc đẩy khả năng tiếp cận vốn vay, góp phần nâng cao đời sống người dân và phát triển cộng đồng một cách bền vững.
- Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, hố trợ giống, kĩ thuật tới tận người dân để họ sử dụng tiền vố vay có hiệu quả
- Tổ chức chuyển giao kĩ thuật cho người dân trong vùng đệm
Chúng tôi hỗ trợ cây giống cho các xóm sát rừng nhằm giúp người dân trồng cây xung quanh nhà, mục đích chính là lấy củi phục vụ cuộc sống hàng ngày Việc này không chỉ giảm áp lực khai thác rừng tự nhiên mà còn góp phần bảo vệ môi trường, duy trì nguồn sinh thái bền vững Trồng cây xung quanh nhà còn giúp người dân có nguồn nhiên liệu sạch, giảm thiểu tác động tiêu cực đến rừng và thúc đẩy phát triển cộng đồng bền vững.
- Nhà nước và tỉnh cần hỗ trợ để mở mang hệ thống dẫn nước, chữa nước để chủ động tưới tiêu lúa, hoa màu với hệ thông kênh mương
Ban quản lý khu bảo tồn và các xã cần giao khoán diện tích rừng cho nhiều hộ dân nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng và giảm thiểu việc phá rừng cũng như khai thác trộm lâm sản của chính người dân Theo nguyên tắc quản lý đa dạng sinh học, việc khuyến khích trồng, nhân giống và phát tán các loài động thực vật tại chỗ là cần thiết để bảo vệ hệ sinh thái Đồng thời, để hạn chế việc khai thác gỗ củi từ rừng như hiện nay, cần nghiên cứu và đưa ra các vật liệu thay thế gỗ để thay đổi tập quán xây dựng nhà sàn truyền thống.
KẾT LUẬN – TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ
Dưới đây là kết quả thống kê các loài bò sát và ếch nhái trong nghiên cứu, với tổng cộng 22 loài thuộc 2 lớp, 2 bộ và 11 họ Trong đó, lớp bò sát có 16 loài phân bổ trong 6 họ, 1 bộ và 1 lớp, còn lớp ếch nhái gồm 6 loài thuộc 5 họ, 1 bộ và 1 họ Các phương pháp khảo sát gồm quan sát trực tiếp với 8 loài, thu mẫu 5 loài, phỏng vấn và thu thập tài liệu với lần lượt 17 và 22 loài, giúp tổng hợp chúng tôi có dữ liệu đầy đủ về các loài này.
Sinh cảnh rừng tự nhiên trên núi đá có tính đa dạng sinh học cao nhất, đặc biệt ở độ cao từ 400m đến 600m và từ 600m đến 800m, nơi quan sát và thu mẫu được nhiều loài sinh vật phong phú hơn Trong khi đó, ở độ cao từ 800m đến 1000m, số lượng loài quan sát và thu mẫu giảm đáng kể, thể hiện rõ sự ảnh hưởng của độ cao đến đa dạng sinh thái trong khu vực.
Chúng ta cần xác định năm mối đe dọa chính đối với hệ sinh thái là săn bắt động vật, lấn chiếm đất rừng để làm đất nông nghiệp, khai thác gỗ và các loại lâm sản ngoài gỗ, cùng với việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Để bảo tồn và phát triển bền vững, cần đề xuất các giải pháp như bảo vệ sinh cảnh sống, nâng cao nhận thức cộng đồng và cải thiện đời sống người dân địa phương.
Trong quá trình nghiên cứu và điều tra thực địa, dù đã có nhiều cố gắng, Khóa luận vẫn gặp phải một số sai sót và tồn tại cần khắc phục, điều này thể hiện ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nghiên cứu và phần nào phản ánh hạn chế trong quá trình thực hiện.