1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bảo tồn và phát triển một số loài cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông, tỉnh thanh hóa

111 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu bảo tồn và phát triển một số loài cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Hà Văn Lĩnh
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Văn Sâm
Trường học Trường đại học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Lƣợc sử nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc trên thế giới (10)
    • 1.2. Lƣợc sử nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam (14)
      • 1.2.1. Tình hình điều tra, nghiên cứu tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam (14)
      • 1.2.2. Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam (18)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu cây thuốc tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, tỉnh (20)
  • CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1. Mục tiêu (22)
      • 2.1.1. Mục tiêu chung (22)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (22)
    • 2.2. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (22)
      • 2.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (22)
    • 2.3. Nội dung (22)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (23)
      • 2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu (23)
      • 2.4.3. Phương pháp xử lí nội nghiệp (25)
  • CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ (27)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (27)
      • 3.1.1. Vị trí địa lí và ranh giới (27)
      • 3.1.2. Địa hình- địa thế (27)
      • 3.1.3. Địa chất - đất đai (27)
      • 3.1.4. Đặc điểm khí hậu thủy văn (28)
      • 3.1.5. Tài nguyên thực vật (29)
    • 3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu (36)
      • 3.2.1. Dân số và lao động (36)
      • 3.2.2. Đặc điểm phân bố và tình hình phát triển kinh tế chung (37)
      • 3.2.3. Văn hóa- xã hội (38)
      • 3.2.4. Tập quán sinh hoạt và sản xuất ở các tiểu khu rừng đặc dụng (39)
      • 3.2.5. Thực trạng cơ sở hạ tầng (40)
      • 3.2.6. Nguồn lực nhân văn khác (42)
  • CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (43)
    • 4.1. Tính đa dạng và hiện trạng bảo tồn các loài cây thuốc quý tại khu BTTN Pù Luông (43)
      • 4.1.1. Tổng số loài cây thuốc quý tại khu BTTN Pù Luông (43)
      • 4.1.2. Hiện trạng bảo tồn các loài cây thuốc quý tại khu BTTN Pù Luông (44)
      • 4.1.3. Một số phát hiện mới ở khu Bảo tồn (49)
    • 4.2. Thực trạng khai thác và thị trường cây thuốc trong khu bảo tồn (50)
      • 4.2.1. Thực trạng khai thác ở khu bảo tồn (50)
    • 4.3. Đặc điểm lâm học, kĩ thuật trồng, sơ chế của một số cây thuốc quý đƣợc nghiên cứu trong khu vực (51)
      • 4.3.1. Cây Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum Thunb.) (51)
      • 4.3.2. Cây Khôi tía (Ardisia sylvestris Pitard) (55)
    • 4.4. Đánh giá các mối tác động đến các loài cây thuốc quý trong KBT (58)
      • 4.5.1. Đối với tài nguyên thực vật làm thuốc tại khu vực (60)
      • 4.5.2. Đối với các loài cây thuốc quý hiếm tại khu vực nghiên cứu (63)
    • 5.1. Kết luận (64)
    • 5.2. Tồn tại (64)
    • 5.3. Kiến nghị (64)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Lƣợc sử nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc trên thế giới

Trong tất cả các nền văn hóa trên thế giới từ thời thượng cổ đến nay, cây thuốc luôn được coi trọng như một nguồn dược liệu chủ yếu để chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe Cây thuốc không những là tài nguyên thực vật quý giá của cộng đồng, đặc biệt là những người sống dựa vào rừng, mà còn phản ánh sự gắn bó mật thiết giữa con người với thiên nhiên trong quá trình phát triển xã hội Ngay từ khi xuất hiện trên trái đất, con người đã sử dụng các loại thực vật để duy trì sự sống và phát hiện ra những loài có khả năng phòng và chữa bệnh, hình thành nên nền tảng kiến thức y học truyền thống Nhờ sự tích lũy kinh nghiệm qua thời gian, tri thức về cây thuốc ngày càng được phát triển, đặc biệt khi khoa học tiến bộ giúp mở rộng việc ứng dụng trong y học hiện đại Sử dụng cây thuốc mang lại hiệu quả cao và ít tác dụng phụ so với các loại thuốc tây hiện nay, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển nơi mà tỷ lệ lớn dân cư lựa chọn phương pháp điều trị tự nhiên này.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đến năm 1985, có hơn 20.000 loài thực vật bậc cao và thấp đã được biết đến và sử dụng làm thuốc hoặc làm nguyên liệu để sản xuất các hoạt chất tự nhiên dùng trong dược phẩm Hiện nay, số loài cây thuốc được sử dụng trên toàn thế giới ước tính từ 30.000 đến 70.000 loài, trong đó vùng nhiệt đới châu Á chiếm khoảng 6.500 loài thực vật có hoa dùng làm thuốc Cụ thể, Ấn Độ có khoảng 6.000 loài cây thuốc được sử dụng, còn Trung Quốc có hơn 5.136 loài, thể hiện vai trò quan trọng của cây cỏ trong y học cổ truyền và điều trị bệnh trên toàn cầu.

Các quốc gia đều đã biên soạn các chuyên khảo về cây thuốc ở quy mô toàn quốc hoặc vùng lãnh thổ, nhằm mục đích nghiên cứu và đánh giá nguồn tài nguyên thiên nhiên này Nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc của các nước không chỉ được sử dụng rộng rãi mà còn mang lại giá trị khoa học thực tiễn lớn Đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc đóng vai trò là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần bảo tồn và khai thác bền vững nguồn dược liệu quý giá này.

Trong cuốn “Lịch sử niên đại cây cỏ” xuất bản năm 1878, Charles Pickring đã xác nhận rằng từ năm 4271 trước Công nguyên (TCN), người dân Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây như sung, vả, và cau dừa để làm lương thực và chữa bệnh Các bằng chứng khảo cổ học cũng cho thấy sự đa dạng và phát triển của các cây trồng trong khu vực này từ hàng nghìn năm trước.

Borisova B (1960) cho biết, khoảng 5000 năm TCN, cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi và trở thành mục tiêu tranh đoạt trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc Vì vậy, tầm quan trọng của các loài cây thuốc đã được con người nhận thức từ rất sớm Việc thu thập và nhập nội các giống cây thuốc quý đã bắt đầu từ thời kỳ Cổ đại và được thực hiện bởi các chiến binh, phản ánh giá trị và vai trò quan trọng của cây thuốc trong lịch sử nhân loại.

Hiện nay, khoảng 80% dân số thế giới sử dụng dược phẩm truyền thống từ các loài động vật và thực vật để sơ cứu ban đầu khi mắc bệnh (Fansworth, 1988) Nhiều tài liệu quý lưu giữ kinh nghiệm sử dụng cây cỏ của người xưa vẫn còn được truyền lại, đặc biệt tại Trung Quốc - quốc gia có truyền thống lâu đời trong việc ứng dụng cây cỏ để chữa bệnh Các nguồn dữ liệu này phản ánh giá trị và sự phổ biến của y học cổ truyền trong cộng đồng toàn cầu.

Thần nông bản thảo cho biết cách đây khoảng 5000 năm, người Trung Quốc cổ đại đã sử dụng 365 vị thuốc và cây thuốc để phòng và chữa bệnh, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong y học cổ truyền.

Hán (năm 168 trước CN) trong cuốn sách “Thủ Hậu cấp phương” đã ghi nhận 52 đơn thuốc trị bệnh từ các loài cây cỏ, thể hiện sự hiểu biết sâu rộng về y học cổ truyền Tới giữa thế kỷ XVI, Lý phát triển các bài thuốc này, góp phần vào nền y học dân gian Việt Nam Những chữa bệnh bằng thảo dược này vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học cổ truyền hiện nay Việc ghi nhận các bài thuốc cổ đại giúp bảo tồn và phát huy giá trị y học dân tộc Việt Nam.

Thời Trân thống kê 1.200 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục”

Các tài liệu cổ đại ghi chép về sử dụng cây thuốc của người Ai Cập cổ đại đã tồn tại khoảng 3600 năm trước, ghi nhận hơn 800 loại cây thuốc và hơn 700 bài thuốc dân gian Ngoài ra, người Ấn Độ cổ đại cách đây khoảng 2000 năm cũng để lại nhiều tài liệu ghi lại công dụng của các loại cây cỏ trong y học của người Hindu, thể hiện truyền thống sử dụng cây thuốc lâu đời và phong phú của các nền văn minh cổ.

Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, nhận thức rõ giá trị tiềm năng của các cánh rừng nhiệt đới Vào đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vật Đông Dương, Perry đã công bố hơn 1.000 loài cây và dược liệu đã được kiểm chứng tại khu vực này Gần đây, vào năm 1985, ông đã tổng hợp những phát hiện này thành cuốn sách “Medicinal Plants of East and Southeast Asia”.

Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới, có nền y học cổ truyền phát triển vượt bật Trong đó, khoảng 80% các loài cây thuốc đã biết, tương đương khoảng 4.200 loài, được sử dụng dựa trên kinh nghiệm dân gian của các dân tộc thiểu số.

Ngoài các phương pháp điều trị cổ truyền như sắc thuốc, thuốc cao, thuốc ngâm rượu, thuốc bột, thuốc chườm – bó và xoa bóp, ngành y học hiện đại đã phát triển hàng trăm loại thuốc có hiệu quả cao, nguồn gốc từ các hợp chất tự nhiên được chiết xuất từ cây cỏ.

Người Bulgaria sử dụng cả hoa, lá và rễ của hoa hồng để điều chế thuốc giúp tan huyết ứ và điều trị bệnh phù thũng Hiện nay, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong cánh hoa hồng chứa các thành phần như tamin, glycosyd và tinh dầu có tác dụng tích cực trong y học.

Người Ấn Độ sử dụng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare) sao vàng, sắc đặc để điều trị kiết lỵ, tiêu chảy, mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc hỗ trợ tiêu hóa Trong khi đó, cây Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa) nổi bật với nhiều công dụng trong chữa bệnh, như người Philippines dùng vỏ cây để sắc uống cầm máu hoặc tán bột rắc lên các vết thương, mụn nhọt, vết lở loét giúp giảm viêm và nhanh lành.

Ở Malaysia, cây Húng chanh (Coleus amboinicus) được sử dụng để sắc lấy nước, giúp điều trị các chứng ho gà, đau cổ họng và sổ mũi ở trẻ nhỏ Trong khi đó, nghiên cứu tại Mỹ cho thấy 25% đơn thuốc chứa chế phẩm có dược tính mạnh từ Hoa hồng Madagascar (Cathanthus roseus), được sử dụng hiệu quả trong điều trị bệnh máu trắng và các loại ung thư khác Các công trình khoa học gần đây đã chứng minh rằng việc sử dụng chế phẩm này để điều trị bệnh máu trắng ở trẻ em giúp tăng tỷ lệ sống sót từ 10% lên đến 90%.

Lƣợc sử nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình điều tra, nghiên cứu tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Việt Nam nằm dọc trên bán đảo Đông Dương, dài hơn 1.600 km từ mũi Cà Mau đến Lũng Cú, với tổng diện tích đất liền là 325.360 km² cùng nhiều đảo lớn như Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc, Hoàng Sa và Trường Sa Hình dạng địa lý của Việt Nam hẹp về chiều ngang, rộng nhất khoảng 600 km và hẹp nhất chỉ hơn 40 km, với 75% lãnh thổ là đồi núi, gồm nhiều dãy núi cao và lớn Đặc biệt, Việt Nam có hệ thống sông suối chằng chịt, xen kẽ giữa các vùng núi, tạo nên đặc điểm địa hình đa dạng và phong phú.

Sự chia cắt mạnh và phức tạp của bề mặt địa hình đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự đa dạng cao trong bản đồ sinh khí hậu của Việt Nam Nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, với đặc trưng rõ ràng ở các vùng núi thấp phía Nam nơi khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa điển hình Trong khi đó, khí hậu dần chuyển sang nhiệt đới gió mùa vùng núi hoặc gần như nhiệt đới ở các vùng núi cao phía Bắc, thể hiện sự biến đổi đa dạng của khí hậu theo độ cao và địa hình.

Việt Nam có nguồn tài nguyên động – thực vật phong phú và đa dạng nhờ vào các yếu tố địa lý, địa hình và khí hậu đặc trưng Theo các nhà khoa học, đất nước sở hữu khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, cùng với 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo, phản ánh sự đa dạng sinh học phong phú Nhiều loài trong số này đang có triển vọng được sử dụng làm thuốc, góp phần phát triển các ngành dược phẩm và y học cổ truyền của Việt Nam.

Việt Nam có 54 dân tộc, trong quá trình tồn tại và phát triển, các cộng đồng dân tộc đã tích lũy kinh nghiệm sử dụng nhiều loài cây cỏ tự nhiên để chữa bệnh và tăng cường sức khỏe Những kiến thức quý báu này, có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền y học cổ truyền của Việt Nam.

Ngay từ thời Hùng Vương dựng nước (năm 2900 TCN), tổ tiên ta đã biết sử dụng các loại gia vị như Riềng, Gừng để làm thức ăn thêm phần ấm và ngon miệng, đồng thời sử dụng nước vối, chè vằng để giúp sản phụ "thông máu, ngon cơm" Theo ghi nhận của Long Úy, đầu thế kỷ thứ II TCN, dân tộc ta đã phát hiện và sử dụng hàng trăm vị thuốc như quả Giun (Sử quân tử), Sắn dây (Cát căn) để chữa bệnh và nâng cao sức khỏe.

Trong thời nhà Trần (1225-1399), tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng và thu thập một vườn thuốc lớn trên núi để chữa bệnh cho quân sĩ theo lệnh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, góp phần quan trọng vào y học cổ truyền Việt Nam Vào năm 1429, cuốn sách thuốc đầu tiên của nước ta mang tên “Bản thảo cương mục toàn yếu” do Chu Tiên biên soạn ra đời, thể hiện sự phát triển của y học cổ truyền thời kỳ này Đến thế kỷ XVI, Tuệ Tĩnh được xem là thầy thuốc Việt Nam đầu tiên dương cao ngọn cờ “Thuốc Việt Nam chữa người Việt Nam”, với tác phẩm nổi bật là bộ sách “Nam dược thần hiệu” góp phần khẳng định vị thế của y thuật Việt Nam.

Trong các tác phẩm y học cổ truyền Việt Nam, có 11 quyển sách mô tả công dụng của 496 vị thuốc Nam, trong đó có 241 vị thuốc là thực vật, cùng 3.873 bài thuốc chữa trị 182 chứng bệnh khác nhau Tiếp theo là tác phẩm “Hồng Nghĩa Giác Tư Y” với 2 bài viết Hán-Nôm tóm tắt 130 loài cây thuốc và hướng dẫn cách trị 37 chứng sốt khác nhau, theo phương pháp Thương Hàn tam thấp trùng pháp Đến thế kỷ XVIII, đại danh y Lê Hữu Trác đã sưu tầm và bổ sung 305 vị thuốc Nam, tổng cộng hơn 2.854 phương thuốc, đồng thời để lại bộ “Hải Thượng Y Tông Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển, đề cập lý luận cơ bản, phương pháp chuẩn đoán, điều trị bệnh bằng y học Đông - Tây và các phương thuốc dân tộc Ông còn thành lập trường dạy nghề y và truyền bá tư tưởng y học của mình, được xem như người sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngành Y tế đã phát huy vai trò to lớn của thuốc nam bằng cách xây dựng “Toa căn bản” với phương pháp chữa bệnh bằng 10 vị thuốc thông thường, phù hợp với chính sách tự lực tự cường của Đảng Các nhà dược học Việt Nam đã sáng tạo nghiên cứu và sử dụng nhiều cây thuốc như củ Bình vôi để sản xuất thuốc an thần, cây Ráy lá rách để điều trị nhiễm trùng, góp phần quan trọng vào công tác chữa bệnh trong thời kỳ kháng chiến.

gồm 3 tập, do Đỗ Tất Lợi biên soạn năm 1957 và tái bản năm 1961 thành 2 tập, mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam, góp phần quan trọng vào kho tàng y học cổ truyền Việt Nam Trong giai đoạn 1962–1965, Đỗ Tất Lợi tiếp tục công bố bộ sách **“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”**, mở rộng kiến thức về các loại cây thuốc và vị thuốc đặc trưng của đất nước.

6 tập Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc của Ông nghiên cứu đã lên tới

Bộ sách gồm 792 loài và đã trải qua lần tái bản thứ 13 vào năm 2005, thể hiện giá trị lớn về mặt khoa học và thực tiễn Đây là nguồn tài liệu quý giá, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại, cung cấp kiến thức sâu sắc và đa dạng về các loài sinh vật.

Năm 1980, Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện, được ghi nhận trong “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” Viện Dược liệu (Bộ Y tế) phối hợp với hệ thống trạm nghiên cứu dược liệu đã điều tra tại 2.795 xã, phường thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trên cả nước, góp phần quan trọng vào việc sưu tầm nguồn tài nguyên cây thuốc và ghi nhận kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học cổ truyền dân gian Kết quả nghiên cứu này được tổng hợp trong các ấn phẩm như “Danh lục cây thuốc miền Bắc Việt Nam”, “Danh lục cây thuốc Việt Nam” và tập “Atlas (bản đồ) cây thuốc”, góp phần thúc đẩy phát triển dược liệu Việt Nam.

Võ Văn Chi đã thống kê 1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc vào năm 1976 Đến năm 1991, ông giới thiệu danh sách 2.280 loài cây thuốc Việt Nam có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành tại Hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II Năm 1997, ông xuất bản "Từ điển cây thuốc Việt Nam", một trong những tài liệu giới thiệu số lượng loài cây thuốc lớn nhất và đầy đủ nhất của đất nước Ngoài ra, các công trình nghiên cứu phân loại cây thuốc theo vùng cũng đã được thực hiện, và hiện nay số lượng các loài thực vật làm thuốc ở Việt Nam đã lên tới 3.948 loài.

Triển vọng sử dụng các cây thuốc ở Việt Nam để điều chế thuốc mới điều trị các bệnh hiểm nghèo như HIV/AIDS, ung thư, tiểu đường đang được nghiên cứu ngày càng phát triển Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung tại Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam và một số cơ quan y tế như Viện Dược liệu, Đại học Y Hà Nội, nhằm tận dụng nguồn dược liệu phong phú của đất nước để cải thiện hiệu quả điều trị Việc khai thác và phát triển các cây thuốc truyền thống góp phần vào cuộc cách mạng y dược, đưa các sản phẩm thuốc tự nhiên vào hệ thống y tế, đồng thời mở ra nhiều cơ hội mới trong nghiên cứu và sản xuất thuốc chữa bệnh hiểm nghèo tại Việt Nam.

Các nhà khoa học Hà Nội đã thành công trong việc chiết xuất các hoạt chất quan trọng từ các plant-based nguồn tự nhiên, góp phần phát triển thuốc điều trị Cụ thể, từ hạt cây Chay (Artocarpus tonkinensis), họ đã điều chế thành công chất Auronon Glycozit, một loại thuốc ức chế miễn dịch used để điều trị các bệnh liên quan đến hệ miễn dịch như bệnh lý tự miễn, lupus ban đỏ, và hỗ trợ thải ghép tạng Ngoài ra, từ lá cây Bùm bụp (Mallotus apelta), các nghiên cứu đã chiết xuất thành công chất Maloapelta và phát triển dạng thuốc tiêm nhằm kiểm soát sự phát triển của một số loại ung thư.

Trong những năm gần đây, nhờ sự hỗ trợ và khuyến khích của Nhà nước, nhiều đề tài nghiên cứu về cây thuốc và bài thuốc dân tộc đã ra đời, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị y học cổ truyền của các cộng đồng dân tộc trong cả nước Các bài thuốc dân tộc có hiệu quả cao đã được thu thập và nghiên cứu thực nghiệm, giúp nâng cao chất lượng và độ tin cậy của y học cổ truyền Việt Nam Nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu lớn, góp phần khẳng định vị thế của ngành y học cổ truyền trong khu vực và thế giới Nhờ đó, Việt Nam đã từng bước tiếp cận xu thế và trình độ nghiên cứu hiện đại của thế giới trong lĩnh vực này.

1.2.2 Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Tình hình nghiên cứu cây thuốc tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, tỉnh

Trước đây, khu BTTN Pù Luông và nhiều vùng núi khác gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho người dân Người dân đã tự tìm hiểu và lưu giữ các loại cây rừng có tác dụng chữa bệnh qua nhiều đời Một phần nhỏ người dân như ông lang, thầy lang, thầy cúng và một số người khác đã bắt đầu trồng cây thuốc trong vườn nhà, nhưng vẫn phải khai thác cây thuốc từ rừng do số lượng hạn chế và khó trồng một số loài Những giá trị của các sản phẩm cây thuốc được người dân truyền lại qua nhiều thế hệ, giữ gìn nguồn dược liệu tự nhiên quý giá.

Năm 2011, Đậu Bá Thìn cùng cộng sự đã thực hiện đề tài nghiên cứu về các loại thực vật có giá trị làm thuốc của dân tộc Thái trong khu bảo tồn thiên nhiên Mục tiêu của nghiên cứu là khám phá, bảo tồn và phát huy các vị thuốc truyền thống của người Thái, góp phần bổ sung kiến thức y học cổ truyền và thúc đẩy phát triển y học xanh Kết quả từ đề tài này giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo tồn các loài thực vật quý hiếm trong khu bảo tồn, đồng thời mở ra cơ hội phát triển các sản phẩm dược liệu từ các cây thuốc bản địa.

Pù Luông – Thanh Hóa là nơi có giá trị văn hóa đặc biệt, nơi đồng bào người Thái sở hữu tri thức bản địa phong phú về cây thuốc Nghiên cứu đã khám phá cách người Thái tại khu vực này sử dụng và truyền lại kinh nghiệm trị bệnh từ các loại cây thuốc truyền thống Những kiến thức này không chỉ phản ánh đời sống tâm linh và y học cổ truyền của cộng đồng mà còn góp phần bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Thái.

Năm 2012, nhóm tác giả Đậu Bá Thìn, Nguyễn Nghĩa Thìn và Phạm Hồng Ban đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực vật có giá trị làm thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông – Thanh Hóa”, trong đó đã điều tra và phát hiện một số loài thực vật được cộng đồng dân cư địa phương sử dụng làm thuốc chữa bệnh.

Năm 2013, các nhà nghiên cứu Đậu Bá Thìn, Phạm Hồng Ban và Hoàng Triệu Chánh đã thực hiện đề tài về nguồn lâm sản ngoài gỗ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa Nghiên cứu này nhằm khảo sát và đánh giá các nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững khu vực Kết quả của đề tài đã cung cấp thông tin quan trọng để xây dựng các giải pháp quản lý hiệu quả nguồn lợi rừng ngoài gỗ tại Pù Luông.

Hiện tại, chưa có nghiên cứu cụ thể nào về giá trị sử dụng của các loài cây thuốc trong khu vực này để chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cộng đồng Ngoài ra, chưa có dự án nào tập trung vào việc bảo tồn các loài cây thuốc trong nguồn gen thực vật của khu Bảo tồn Thiên nhiên này.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu

Cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển cây thuốc tại khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa

- Đánh giá đƣợc tính đa dạng thành phần loài loài cây thuốc trong khu BTTN Pù Luông

- Xác định được thực trạng khai thác và thị trường cây thuốc trong khu vực

- Đề xuất đƣợc các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc có giá trị tại khu vực nghiên cứu.

Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Các loài cây thuốc quý tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông.

Nội dung

- Nghiên cứu tính đa dạng thành loài và thực trạng bảo tồn các cây thuốc quý tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù luông

- Thực trạng khai thác và thị trường cây thuốc trong khu bảo tồn

- Đánh giá các mối tác động đến các loài cây thuốc quý trong khu bảo tồn

- Nghiên cứu hiện trạng và đặc điểm một số loài cây thuốc quý tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bên vững nguồn tài nguyên cây thuốc.

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Tài liệu liên quan đến các loài thực vật nguy cấp quý hiếm nhƣ: Sách đỏ Việt Nam (2007), Nghị định 32/2006/NĐ-CP

- Tài liệu có liên quan đến khu bảo tồn: điều kiện tự nhiên, khí tƣợng thủy văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng

Thông tin tài liệu về điều kiện kinh tế - xã hội tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông bao gồm dữ liệu về dân số, lao động, thành phần dân tộc, tập quán canh tác và các đặc điểm liên quan đến cộng đồng dân cư Đồng thời, nghiên cứu cũng tập trung vào các loài cây thuốc quý, có giá trị y học và truyền thống được phân bố trong khu vực Những nội dung này giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa cộng đồng dân cư Pù Luông.

Các kết quả nghiên cứu khoa học, các công trình nghiên cứu, báo cáo, tạp chí khoa học và các thông tin liên quan đến một số loài cây thuốc tại khu bảo tồn đã được tổng hợp để đề xuất các giải pháp bảo tồn cây thuốc quý hiếm Quá trình điều tra sơ bộ bao gồm khảo sát địa hình, hệ thống giao thông trong khu vực nhằm xác định hướng tuyến điều tra phù hợp Ngoài ra, điều tra phỏng vấn cộng đồng là phương pháp nhanh nhằm thu thập thông tin về thị trường dược liệu, đặc biệt là các loài cây thuốc có nhu cầu sử dụng lớn và khối lượng sử dụng hàng năm Các cuộc phỏng vấn trực tiếp với cán bộ, người dân địa phương, các cơ sở thu mua, chế biến dược liệu giúp nắm bắt tình hình khai thác, sử dụng các cây thuốc có giá trị trong cộng đồng Những người được phỏng vấn đều là những người có kiến thức về việc sử dụng cây thuốc trong điều trị bệnh hoặc kinh doanh dược liệu.

Nội dung phỏng vấn cần đầy đủ các yếu tố như tên địa phương, bộ phận thu hái, phương pháp sơ chế và bảo quản, công dụng chữa bệnh của cây thuốc, cũng như tình hình khai thác và sử dụng cây thuốc của cộng đồng địa phương Kết quả phỏng vấn sau đó được ghi chép chính xác vào mẫu biểu để đảm bảo hồ sơ đầy đủ và rõ ràng cho công tác nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc.

Mẫu biểu 01:Điều tra tình hình cây thuốc đƣợc sử dụng trong nhân dân

Họ tên chủ hộ……… Nghề nghiệp:……… Tuổi……… Địa chỉ:……….…………

Số người trong gia đình………

Trong gia đình, việc sử dụng cây thuốc thường xuyên giúp bảo vệ sức khỏe và hỗ trợ điều trị các bệnh thông thường Các thành viên trong nhà thường nhận biết và phân biệt các loại thuốc cây dễ dàng, dựa trên kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ hoặc qua quá trình học hỏi Đặc biệt, truyền thống sử dụng cây thuốc được gìn giữ và truyền lại từ cha ông, góp phần duy trì nét văn hóa độc đáo của gia đình Nhà còn trồng cây thuốc với diện tích phù hợp để đảm bảo nguồn nguyên liệu sạch, an toàn Các bước sơ chế và cách sử dụng cây thuốc đúng quy trình giúp tối ưu hiệu quả và an toàn cho người dùng Mức độ sử dụng cây thuốc trong gia đình thường linh hoạt, tùy thuộc vào nhu cầu và tình hình sức khỏe, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phòng tránh các bệnh tật một cách tự nhiên.

Biểu 02: Một số thông tin đƣợc cung cấp từ phỏng vấn

Trong quá trình phỏng vấn, được thực hiện nhiều phương pháp để kiểm tra chéo, nhằm nâng cao độ tin cậy của thông tin thu thập Điều tra theo tuyến thực địa phải đi qua tất cả các kiểu địa hình và thảm thực vật khác nhau để quan sát, nhận dạng và ghi chép các cây dựa trên đặc điểm hình thái Kết quả của cuộc điều tra được trình bày trong các mẫu biểu cụ thể để tổng hợp dữ liệu một cách rõ ràng và chính xác.

Biểu 03: Mẫu biểu điều tra theo tuyến

Tuyến điều tra …Ngày điều tra:…… Người điều tra Địa điểm: Điểm bắt đầu Điểm kết thúc

2.4.2 Phương pháp bảo tồn cây thuốc, Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái,vật hậu, kĩ thuật nhân giống, kĩ thuật gây trồng một số cây thuốc quý

Bảo tồn nguồn gen cây thuốc đƣợc thực hiện theo quy định của IUCN a Phương pháp bảo tồn nguyên vị (in-situ)

Bảo tồn nguyên vẹn quần thể và tiểu quần thể các loài cây thuốc hiện có trong toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên của chúng là mục tiêu hàng đầu trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học Phương pháp bảo tồn chuyển vị (ex-situ) đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn nguồn gen quý báu của các loài cây thuốc, giúp đảm bảo sự sống còn của chúng trước các mối đe dọa từ môi trường và hoạt động con người.

Trồng các loài cây thuốc trong các vườn thực vật và vườn cây thuốc giúp bảo tồn nguồn gen quý giá Việc thu thập cá thể hoặc hạt giống từ các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) hoặc tự nhiên để đem trồng tại các khu vườn này góp phần duy trì và phát triển các loài cây thuốc có giá trị y học Đây là hoạt động cần thiết để thúc đẩy nghiên cứu, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên trong y học cổ truyền.

Bảo quản hạt giống cây thuốc là một phần quan trọng song song với việc trồng cây trong vườn, nhằm duy trì nguồn gen đa dạng và bảo tồn các loại cây quý hiếm Người ta thu thập và lưu giữ một số hạt giống từ các loài cây thuốc trong tự nhiên, sau đó bảo quản trong các kho lưu trữ làm lạnh để giữ gìn chất lượng và khả năng nảy mầm của hạt giống Phương pháp này giúp đảm bảo nguồn cung cây thuốc tự nhiên luôn sẵn có cho các hoạt động nghiên cứu, phát triển và bảo tồn đa dạng sinh học.

- Áp dụng quy trình “Kĩ thuật trồng cây thuốc” của Viện Dƣợc liệu, năm 2013

- Xử lý số liệu theo chương trình IRRISTAT 4.1

2.4.3 Phương pháp xử lí nội nghiệp

Xử lý kết quả điều tra và xử lý tài liệu kế thừa là bước quan trọng để xác định các tài liệu liên quan, đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin Việc lọc chọn các tài liệu phù hợp giúp lập danh mục cây thuốc tại khu bảo tồn một cách chính xác và hệ thống Quản lý danh lục cây thuốc trong khu bảo tồn đóng vai trò then chốt trong việc bảo tồn và khai thác bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Các tài liệu được chọn lọc kỹ lưỡng sẽ tạo nền tảng cho việc nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các loại cây thuốc truyền thống trong khu vực.

Biểu 04: Biểu tổng hợp kết quả điều tra cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông

STT Tên khoa học Tên phổ thông Tên địa phương

Dựa trên bảng tổng hợp kết quả điều tra và quan sát thực địa, các loài cây thuốc được sắp xếp theo công dụng, dạng sống và bộ phận sử dụng, giúp đánh giá rõ hơn về vai trò của từng loại cây trong y học cổ truyền Đồng thời, quá trình lập danh mục các loài cây thuốc đã điều tra cũng cung cấp cái nhìn toàn diện về hiện trạng bảo tồn của các loài này, từ đó đề xuất các biện pháp bảo vệ hiệu quả hơn Đây là bước quan trọng nhằm duy trì nguồn dược liệu tự nhiên và phát triển bền vững các nguồn cây thuốc truyền thống.

Phân tích, xây dựng danh lục các loài cây thuốc trong diện bảo tồn Kết quả đƣợc trình bày theo mẫu biểu 05:

Mẫu biểu 05: Biểu hiện trạng các loài cây thuốc trong diện bảo tồn

Tên khoa học và học

Mức độ đe dọa Nghị định

Ghi chú: sử dụng thang phân loại của Sách đỏ Việt Nam 2007 và IUCN

* Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cho tài nguyên cây thuốc quý trong khu vực

Dựa trên kết quả điều tra, phỏng vấn và phân tích sâu sắc, bài viết đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc tại cộng đồng nhằm thúc đẩy sự bền vững của nguồn dược liệu tự nhiên Các phương án này đã được tham khảo ý kiến chuyên gia và người dân địa phương nhằm đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn cộng đồng Việc phối hợp giữa các bên liên quan giúp nâng cao hiệu quả trong việc gìn giữ và phát triển cây thuốc, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ

Điều kiện tự nhiên của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông

3.1.1 Vị trí địa lí và ranh giới

Khu BTTN Pù Luông nằm ở tọa độ 20021’–20034’ vĩ độ Bắc, 105 0 02’–105 0 20’ kinh độ Đông, thuộc hai huyện Quan Hóa và Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa Vùng đất này bao gồm các phần đất thuộc 5 xã của huyện Quan Hóa, gồm Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân và Phú Nghiêm, cùng với 5 xã của huyện Bá Thước là Thành Sơn, Thành Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao và xã Lâm Xa Pù Luông nổi tiếng với hệ sinh thái đa dạng, cảnh quan núi non hoang sơ và nền văn hóa đặc trưng của các cộng đồng dân cư địa phương.

- Phía Đông giáp huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình;

- Phía Bắc giáp huyện Mai Châu, Tân Lạc; tỉnh Hoà Bình;

- Phía Tây giáp với phần đất còn lại của các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân;

- Phía Nam giáp với phần đất còn lại của các xã Thành Lâm, Phú Nghiêm

3.1.2 Địa hình- địa thế Địa hình của Khu BTTN bao gồm 2 dãy núi chạy song song theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, được “ngăn cách” với nhau bởi một thung lũng ở giữa Địa hình của KBT cao dốc, mức độ chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 1000m, cao nhất là đỉnh Pù Luông có độ cao 1.700m Thấp nhất là khu vực xã Cổ Lũng có độ cao 60 m Địa thế khu vực nghiêng dần từ Tây Bắc sang Đông Nam Độ dốc bình quân 300, nhiều nơi độ dốc trên 450 Với đặc điểm địa hình nhƣ vậy rất khó khăn cho công tác PCCCR nếu xảy ra

Khu BTTN Pù Luông có lớp đất phủ đa dạng do đặc điểm địa chất và địa mạo phong phú, được phân loại theo các hệ thống như FAO, UNESCO, WRB và của Việt Nam Các loại đất chính trong vùng bao gồm đất Renzit màu nâu vàng và đen phát triển trên đá vôi, đất Luvisol màu vàng xám cũng trên đá vôi, đất Leptosol màu vàng xám trên sườn đá vôi, đất Cabisol màu xám đen và vàng xám trên đá macma, đất Acrisol màu xám nâu và vàng xám trên đá macma, cùng các loại đất Fluvisol và Gleysol có màu vàng xẫm đến nâu xẫm phát triển trong các thung lũng.

3.1.4 Đặc điểm khí hậu thủy văn

Khu BTTN Pù Luông có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của khí hậu vùng Tây Bắc và gió Lào, tạo nên đặc điểm khí hậu đặc trưng cho khu vực.

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 230C; nhiệt độ trung bình cao nhất 380C; nhiệt độ tối thấp trung bình: 00C

Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.500 mm đến 1.600 mm, phản ánh khí hậu khá ổn định của khu vực Gió mùa đóng vai trò quan trọng trong đặc điểm khí hậu, với gió mùa Đông Nam từ tháng 5 đến tháng 10 mang lại gió mùa mùa hè, còn gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 tạo nên khí hậu mùa đông khô ráo Ngoài ra, gió Lào cũng xuất hiện trong năm, gây ra các đợt gió khô nóng và ảnh hưởng lớn đến môi trường Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4, lượng mưa rất thấp cùng với lượng bốc hơi cao, dẫn đến hiện tượng khô hạn, nóng kéo dài và dễ cháy rừng Thời kỳ này, thiếu nước ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của các loài thú lớn trong khu vực.

Hệ thống thủy văn khu vực gồm đường phân thủy giữa hai phụ lưu Pung, chảy theo hướng Tây Bắc, và Cham, chảy theo hướng Đông Nam, trước khi hợp dòng vào sông Mã Sông Mã bao quanh vùng đệm của Khu BTTN Pù Luông về phía Tây, phía Nam và Đông Nam, đóng vai trò quan trọng trong cân bằng hệ sinh thái và nguồn nước của khu vực.

Các suối nhỏ có đặc điểm tự nhiên và khả năng giữ nước kém, thường cạn kiệt vào mùa khô Việc xây dựng hồ chứa và đập tràn quy mô vừa và nhỏ trên các suối này đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy mùa lũ, duy trì dòng chảy mùa kiệt, phòng chống cháy rừng, cung cấp nước cho động vật hoang dã vào mùa khô, đồng thời góp phần cải thiện môi trường sinh thái và thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái.

3.1.5.1 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng

Dựa trên kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng hàng năm từ bản đồ rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, ảnh vệ tinh Spot5 và kết quả kiểm tra thực địa tháng 10-11/2012, cho thấy hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng tại Khu BTTN Pù Luông đang có nhiều biến động Các số liệu này phản ánh rõ ràng xu hướng thay đổi tài nguyên rừng, từ đó giúp đưa ra các chiến lược quản lý và bảo vệ hiệu quả hơn cho khu vực Việc kết hợp dữ liệu từ ảnh vệ tinh và kiểm tra thực địa là cần thiết để xác định đúng tình trạng rừng hiện tại và hướng phát triển bền vững của khu bảo tồn.

Bảng 3.1: Diện tích các loại đất loại rừng ĐVT: ha

TT Hạng mục Tổng cộng Bá Thước Quan Hóa Tổng cộng 17.171,03 12.398,01 4.773,02

II Rừng hỗn giao gỗ nứa

1 Đất trống trảng cỏ (IA) 143,68 143,68

2 Đất trống cây bụi (IB) 1,50 1,50

3 Đất trống có cây gỗ rải rác (IC) 41,48 41,48

Dưới đây là nội dung chính xác và rõ ràng dựa trên các quyết định đã được phê duyệt, bao gồm Quyết định 2755/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng và Quyết định 3001/QĐ-UB về việc cấp GCN quyền sử dụng đất cho Khu BTTN Các quyết định này đảm bảo tính pháp lý và minh bạch trong quản lý rừng và đất đai, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Việc rà soát quy hoạch 3 loại rừng đã được xác nhận phù hợp, giúp định hướng phát triển rừng hiệu quả và bền vững, đồng thời việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Khu BTTN đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Từ số liệu trên về hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng của Khu BTTN Luông, cho thấy: a, Đất có rừng

Khu BTTN Pù Luông có diện tích đất có rừng lên đến 16.675,34 ha với độ che phủ lên đến 97,11%, chủ yếu là rừng tự nhiên Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá cho công tác bảo tồn, vì nơi đây chứa các hệ sinh thái rừng phong phú, đồng thời là nơi phân bố, cư trú và môi trường sống của nhiều loài động vật hoang dã Khu bảo tồn này đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn các sinh cảnh tự nhiên, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học của vùng.

- Rừng trung bình: 1.536,96 ha (chiếm 9,05%)

- Rừng phục hồi: 573,34 ha (chiếm 3,37%)

- Rừng tre nứa: 17,58 ha (chiếm 0,1%)

- Rừng núi đá: 9.920,03ha (chiếm 58,04%)

Tổng trữ lượng các loại rừng trong khu vực đạt 637.772,9 m³, trong đó rừng giầu chiếm 163.627 m³ với bình quân 180 m³/ha, rừng trung bình là 199.804 m³, trung bình 130 m³/ha, và rừng nghèo chiếm 236.019 m³, bình quân 70 m³/ha Rừng phục hồi có trữ lượng 37.267 m³, trung bình 65 m³/ha Ngoài ra, rừng tre nứa với tổng số cây lên tới 160.113 ngàn cây, có mật độ trung bình 50-60 m³/ha, đạt khoảng 3.000 cây/ha.

Dựa trên các số liệu đã trình bày, hệ sinh thái rừng trong khu vực có chất lượng khá tốt, với tỷ lệ rừng giầu và rừng trung bình chiếm đến 80% diện tích khu BTTN Tuy nhiên, vẫn còn các khu đất chưa có rừng, cần được quan tâm để đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái rừng trong tương lai.

Diện tích đất chưa có rừng là 186,66 ha, chiếm 1,09% tổng diện tích, gồm đất trảng cỏ (IA) và đất trống có cây gỗ mọc rải rác (IB, IC) Mặc dù không có rừng, nhưng nhóm đất này đóng vai trò quan trọng trong sinh thái, là nơi kiếm ăn của các loài thú ăn cỏ, thú móng guốc như lợn rừng, nai và một số loài thú nhỏ khác.

Diện tích đất khác tổng cộng 309,03 ha, trong đó có 215,53 ha đất dành cho phân khu hành chính dịch vụ, 80,3 ha đất sông suối, và 13,2 ha đã được UBND tỉnh Thanh Hóa thu hồi để chuyển đổi mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch phát triển.

3.1.5.2 Hiện trạng tài nguyên rừng a, Các kiểu thảm thực vật rừng đặc trƣng

Kết quả điều tra sơ bộ cho thấy quần xã thực vật nguyên sinh điển hình tại Khu BTTN Pù Luông là kiểu rừng kín luôn xanh quanh năm, phù hợp với môi trường rừng mưa nhiệt đới Các kiểu rừng nguyên sinh chính được ghi nhận gồm rừng kín thường xanh, đặc trưng bởi đa dạng hệ sinh thái phong phú Rừng nguyên sinh ở đây đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì cân bằng sinh thái khu vực.

Đặc điểm kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu

3.2.1 Dân số và lao động

Căn cứ Quyết định số 3114/QĐ-UBND ngày 06/9/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá, phạm vi quy hoạch Khu BTTN Pù Luông nằm trong

Dân số toàn khu vực đạt 18.309 người trong tổng số 4.201 hộ gia đình, với mật độ trung bình là 69,33 người trên mỗi km² Xã Thành Lâm, huyện Bá Thước, có mật độ dân số cao nhất với 120 người/km², trong khi xã Thanh Xuân, huyện Quan Hóa, có mật độ thấp nhất với 42 người/km² Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của khu vực đạt 0,98%, phản ánh sự thay đổi dân số hàng năm.

Bảng 3.4: Diện tích, dân số và mật độ dân số của 9 xã vùng đệm

STT Huyện/Xã Diện tích

(Nguồn: Niên giám thống kê và số liệu từ các báo cáo năm 2012 của 9 xã vùng đệm)

Cộng đồng dân cư trong vùng đệm Khu BTTN chủ yếu là người dân tộc Thái, chiếm tỷ lệ 90,5%, tiếp theo là người dân tộc Mường với 8%, và dân tộc kinh chiếm 1,5% Tổng số lao động trong khu vực là 10.067 người, chiếm 54,2% tổng dân số, trung bình mỗi hộ có khoảng 2,5 lao động Đa số lao động chủ yếu làm nông nghiệp, trong khi một phần làm các ngành nghề khác như thương mại, dịch vụ, giáo viên, y tế và cán bộ viên chức tại các xã trong vùng.

3.2.2 Đặc điểm phân bố và tình hình phát triển kinh tế chung

Dân cư thuộc khu BTTN Pù Luông chủ yếu sinh sống tập trung tại các thôn, bản phân bố trên địa bàn Trong tổng số 9 xã, điều tra cho thấy có 48 thôn, bản trong vùng đệm tiếp giáp với khu BTTN, với tổng cộng 4.201 hộ và 18.309 khẩu, trong đó có 10.067 người trong độ tuổi lao động Huyện Bá có số dân trong độ tuổi lao động chiếm phần lớn, còn huyện Quan Hóa có 10 thôn, bản, 816 hộ, 3.659 khẩu, và 2.057 người trong độ tuổi lao động.

Trong bản thuộc vùng đệm cho thấy tỷ lệ nam là 48%, nữ là 52%, số người đang trong độ tuổi lao động chiếm 40%

Kết quả điều tra cho thấy nguồn thu chủ yếu của các hộ dân trong Khu BTTN là từ chăn nuôi và trồng trọt, tuy nhiên hiệu quả sản xuất còn hạn chế, giá trị sản phẩm thấp và thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 500.000 đồng/tháng, dưới mức nghèo đói theo tiêu chuẩn mới Để duy trì cuộc sống, người dân địa phương thường xuyên vào rừng để phát nương làm rẫy, khai thác lâm sản và săn bắt động vật rừng trái phép, gây tác động tiêu cực đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại khu BTTN Pù Luông.

Bảng 3.5: Hiện trạng dân số, lao động tại các thôn bản của các xã vùng đệm

Thành phần dân tộc (hộ)

(Nguồn: Số liệu thu thập tổng hợp của các xã vùng đệm tháng 12/2012) 3.2.3 Văn hóa- xã hội

Khu BTTN Pù Luông thuộc vùng miền núi tỉnh Thanh Hóa, nơi sinh sống của các dân tộc với nền văn hóa đặc trưng gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Những thiết chế văn hóa truyền thống như Bản Mường của người Thái dựa trên lãnh thổ công cùng với thiết chế lang đạo của người Mường thể hiện rõ nét đặc trưng của từng cộng đồng Các phong tục tập quán trong sản xuất, sinh hoạt, tín ngưỡng và lễ hội cùng các món ăn đặc sản mang đậm nét văn hóa độc đáo là những tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn, đặc biệt thu hút khách du lịch quốc tế Thêm vào đó, tinh thần hiếu khách và lòng nhiệt thành của người dân là nền tảng vững chắc thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch tại khu vực này.

Trình độ dân trí của người dân nơi đây còn thấp, với tỷ lệ không biết chữ cao, đời sống văn hóa tinh thần còn đơn điệu Các hủ tục mê tín dị đoan và nạn tảo hôn diễn ra phổ biến, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển cộng đồng.

3.2.4 Tập quán sinh hoạt và sản xuất ở các tiểu khu rừng đặc dụng

3.2.4.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp

Ngành nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế vùng, đóng góp lớn vào giá trị sản xuất và đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho cư dân địa phương Đây là nguồn thu nhập chính của người dân, chủ yếu từ hoạt động trồng trọt và chăn nuôi, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững của khu vực.

3.2.4.2 Tình hình sản xuất lâm nghiệp

Theo Nghị định số 02/CP của Chính phủ, phần lớn đất lâm nghiệp trong các xã vùng đệm khu bảo tồn đã được giao cho các hộ gia đình quản lý, góp phần nâng cao trách nhiệm bảo vệ rừng Nhiều hộ dân đã thực hiện tốt việc khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng theo quy hoạch, hạn chế tình trạng chặt phá rừng bừa bãi cũng như khai thác gỗ trái phép, đồng thời chấm dứt việc phát nương làm rẫy trái phép Hiện nay, diện tích rừng trồng chủ yếu là rừng luồng, với khoảng 100.000 cây luồng được khai thác hàng năm, tập trung chủ yếu tại các xã thuộc huyện Quan Hóa.

3.2.4.3 Về sản xuất công nghiệp, xây dựng và dịch vụ

Trong phạm vi khu BTTN Pù Luông, chính quyền địa phương đã khuyến khích phát triển các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại, chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Hiện có hai cơ sở sản xuất đũa (Phú Lệ, Hồi Xuân) cùng nhiều tổ mộc gia đình sản xuất gỗ xẻ, ván sàn, cốp Pha và đồ mộc gia dụng, song hoạt động còn nhỏ bé, dẫn đến dư thừa lao động trong vùng Nhờ sự hỗ trợ của khu BTTN, đã có 22 hộ gia đình tham gia vào mô hình du lịch sinh thái, mang lại thu nhập trung bình hàng năm khoảng 7-10 triệu đồng mỗi hộ qua thu phí nhà nghỉ của du khách, góp phần giải quyết việc làm và phân bổ lại lao động tại địa phương.

3.2.5 Thực trạng cơ sở hạ tầng

Khu BTTN hiện đang xây dựng hơn 30 km Quốc lộ 15 C, nhưng do thiếu vốn nên dự án tạm dừng Trong khi đó, 7,3 km đường từ Làng Cao xã Lũng Cao đi các thôn Son, Bá, Mười đang trong quá trình thi công Khu BTTN cũng đã đầu tư xây dựng tuyến đường từ Trung tâm xã Lũng Cao đến bản Kịt dài 7,5 km Tuy nhiên, hệ thống tuyến đường liên xã và liên thôn dài hàng trăm km có chất lượng kém, với đường hẹp và dốc lớn, gây khó khăn trong đi lại nhất là vào mùa mưa Hơn nữa, nhiều đoạn đường liên xã, liên thôn vẫn còn là đường đất, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và sản xuất của cộng đồng địa phương.

Hệ thống thủy lợi các xã trong vùng đệm hiện nay gồm 22 đập thủy lợi nhỏ và 28 kênh mương dài hơn 60 km, phục vụ tưới tiêu cho 220 ha lúa nước Các bản là nơi có khe, suối chảy qua, người dân sử dụng nguồn nước này để dẫn vào các kênh thủy lợi phục vụ tưới tiêu và sinh hoạt hàng ngày Hệ thống thủy lợi không chỉ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp mà còn đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng dân cư trong khu vực.

Nguồn nước sinh hoạt chính cho các thôn khu vực là nước suối và nước giếng Trong những năm gần đây, các chương trình như 135 và chương trình nước sạch của UNICEF đã hỗ trợ xây dựng công trình cấp nước cho các thôn, nhưng mới chỉ đáp ứng được 25 trên tổng số 49 thôn, đạt khoảng 60% nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của nhân dân Hiện tại, các công trình này đã xuống cấp nghiêm trọng, hiệu quả sử dụng thấp và trong mùa khô, nhiều thôn thường xuyên thiếu nước sinh hoạt.

Các xã vùng đệm có hệ thống 31 trạm biến áp và hơn 40 km đường dây điện hạ thế, cao thế được lắp đặt đi qua các thôn trong khu vực, đảm bảo nguồn điện sáng đến các hộ gia đình theo quy hoạch dự án Tuy nhiên, còn 10 thôn bản chưa có điện lưới và một số hộ dân sống rải rác ở các vùng sâu, xa trong xã vẫn chưa được tiếp cận nguồn điện quốc gia.

3.2.5.5 Hệ thống thông tin liên lạc

Hệ thống thông tin liên lạc của các xã vùng đệm Khu BTTN hiện có 9 trạm bưu điện xã và 15 cột thu phát sóng viễn thông đã được lắp đặt tại một số thôn trong vùng đệm Tuy nhiên, phạm vi phủ sóng còn hạn chế do chia cắt địa hình bởi núi cao, nhưng đây là nền tảng để Khu BTTN kết nối và phát triển hệ thống thông tin liên lạc hiệu quả hơn trong tương lai.

Trong khu vực 9 xã thuộc vùng đệm của Khu BTTN, hệ thống giáo dục phổ thông đã phát triển đến ba cấp học chính là mầm non, tiểu học và trung học cơ sở Cấp tiểu học hiện có 157 lớp với tổng số 2.518 học sinh, trong khi cấp trung học cơ sở có 53 lớp và 1.478 học sinh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 14/08/2023, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Mộng Chân - Lê Thị Huyên , 2000, "Thực vật rừng" nhà xuất bản lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật rừng
Tác giả: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên
Nhà XB: nhà xuất bản lâm nghiệp
Năm: 2000
2. Võ Văn Chi - Trần Hợp, 1999,"Cây cỏ có ích ở Việt Nam - tập 1" nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ có ích ở Việt Nam - tập 1
Tác giả: Võ Văn Chi, Trần Hợp
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1999
3. Võ Văn Chi, 1997, "Từ điển cây thuốc Việt Nam" nhà xuất bản y học hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: nhà xuất bản y học hà nội
Năm: 1997
4. Dự án hỗ trợ Chuyên ngành lâm sản ngoài sỗ tại Việt Nam – Phần II, 2007,"Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam" nhà xuất bản bản đồ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản bản đồ
Năm: 2007
5. Đỗ Tất Lợi, 1999, "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Hà nội
Năm: 1999
7. Nguyễn Tập (2007), Cẩm nang cây thuốc cần đƣợc bảo vệ ở Việt Nam. 233 trang. Mạng lưới lâm sản ngoài gỗ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang cây thuốc cần đƣợc bảo vệ ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tập
Nhà XB: Mạng lưới lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
Năm: 2007
8. Viện Dƣợc liệu (2006). Nghiên cứu phát triển dƣợc liệu và đông dƣợc - Kết quả nguồn điều tra dƣợc liệu ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005.NXB. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển dƣợc liệu và đông dƣợc - Kết quả nguồn điều tra dƣợc liệu ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005
Tác giả: Viện Dƣợc liệu
Nhà XB: NXB. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 2006
9. Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập. Bùi Xuân Chương, Mai Nghị, 1978; Hướng dẫn Khoanh vùng bảo vệ tái sinh và Khai thác dược liệu – NXB. Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Khoanh vùng bảo vệ tái sinh và Khai thác dược liệu
Tác giả: Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Bùi Xuân Chương, Mai Nghị
Nhà XB: NXB. Y học
Năm: 1978
10. Đỗ Huy Bích và một số đồng tác giả khác, 2004 và 2013; Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam; NXB. KH & KT, Hà Nội; T.I & T.II (2004), T.III (2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích, một số đồng tác giả khác
Nhà XB: NXB. KH & KT, Hà Nội
Năm: 2004, 2013
11. Ban Quản lý khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, 2014. Các báo cáo về Khu Bảo tồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các báo cáo về Khu Bảo tồn
Tác giả: Ban Quản lý khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
Năm: 2014
12. Nguyễn Hữu Cường (2014) Chuyên đề, “Điều tra, đánh giá các mối đe dọa đối với một số loài cây thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa”.Một số website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá các mối đe dọa đối với một số loài cây thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Hữu Cường
Nhà XB: Một số website
Năm: 2014
6. Sách đỏ Việt Nam, Phần II, Phần Thực Vật. Bộ khoa học và công nghệ - Viện khoa học Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm