Tên khóa luận: Khả năng xử lý nước mặt nhiễm chì của cây rau Muống và cây cải Xoong tại làng nghề Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên 2.. - Đánh giá được khả năng hấp thu
Trang 1Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Lâm Nghiệp, Trung tâm thí nghiệm thực hành, các thầy giáo, cô giáo khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường là các cá nhân, đơn vị đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thu thập số liệu, đặc biệt là bạn bè đã cùng tôi trực tiếp điều tra ngoại nghiệp để tôi có thể hoàn thành bài báo cáo này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Mai, ngày tháng năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Quang Nghị
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
1 Tên khóa luận: Khả năng xử lý nước mặt nhiễm chì của cây rau Muống và
cây cải Xoong tại làng nghề Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
2 Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quang Nghị
3 Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Bích Hảo
4 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài thực hiện với các mục tiêu cụ thể như sau:
- Đánh giá được thực trạng ô nhiễm nước mặt tại thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
- Đánh giá được khả năng hấp thu Chì của hai cây rau Muống và Cải xoong
- Đề xuất được một số giải pháp cải thiện chất lượng nước mặt tại thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
5 Nội dung nghiên cứu:
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài tiến hành thực hiện các nội dung sau:
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt tại thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên;
- Nghiên cứu khả năng xử lý chì của cây rau Muống và cây cải Xoong;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện chất lượng nước mặt tại thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Trang 36 Kết quả đạt được:
Sau thời gian thực hiện, đề tài đã đạt được những kết quả sau:
- Đánh giá được nguồn nước thải do hoạt động tái chế chì tại KVNC chưa được xử lý đưa qua các cống, các mương chảy ra sông, các ao hồ có chỉ tiêu Pb vượt quá QCVN 08:2008/BTNMT, ngoài ra còn một số chỉ tiêu khác như COD, BOD5… đều vựơt quá
- Khả năng xử lý nước mặt nhiễm chì bằng hai loài thực vật thủy sinh là rau Muống và cải Xoong bước đầu đã cho thấy hiệu quả bằng việc, mẫu nước sau khi được trồng hai loài thực vật thủy sinh này có hàm lượng Chì thấp hơn ban đầu rất nhiều và thuộc tiêu chuẩn cho phép
- Đề tài cũng đã đưa ra một số giải pháp nằm nhằm giúp nâng cao hiệu quả xử lý nước mặt nhiễm chì của cây rau Muống và cải Xoong, các biện pháp về quản lý cũng như truyền thông nâng cao nhận thức của người dân nhằm đảm bảo chất lượng sống của người dân, đồng thời giúp cải thiện môi trường ở tại thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Hà Nội, ngày tháng năm Sinh viên thực hiện
Nguyễn Quang Nghị
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan về làng nghề ở Việt Nam 3
1.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển và vai trò của làng nghề ở Việt Nam 3
1.1.2 Một số vấn đề môi trường làng nghề 4
1.2 Tình hình ô nhiễm chì trên Thế giới và ở Việt Nam 8
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Ở Việt Nam 10
1.3 Tác động của chì đến sức khỏe con người tại khu vực nghiên cứu 11
1.4 Giới thiệu về cây rau Muống và cây Cải xoong 12
1.4.1 Cây rau Muống 12
1.4.2 Cây Cải xoong 12
1.4.3 Ứng dụng của cây rau Muống và cây cải Xoong trong xử lý chất ô nhiễm 12
CHƯƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 14
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 14
2.1.1 Mục tiêu chung 14
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 14
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
Trang 52.2.2 Phạm vi nghiên cứu 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
2.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 15
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 15
2.4.3 Phương pháp lấy mẫu hiện trường 15
2.4.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 17
2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 17
2.4.6 Phương pháp so sánh và đánh giá số liệu kết quả phân tích 21
CHƯƠNG III ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 22
3.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.1 Vị trí địa lý 22
3.1.2 Địa hình địa mạo 23
3.1.3 Khí hậu – thủy văn 23
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 24
3.2.1 Tình hình kinh tế 24
3.2.2 Tình hình dân số, văn hóa, y tế, giáo dục 25
3.2.3 Kết cấu hạ tầng – kỹ thuật 26
3.2.4 Môi trường 26
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.1 Chất lượng nước mặt tại thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên 28
4.1.1 Đánh giá trực quan chất lượng nước 28
4.1.2 Đánh giá chất lượng nước dựa trên kết quả phân tích mẫu nước 28
4.2 Khả năng xử lý nước nhiễm chì của cây rau Muống và cây cải Xoong 33
4.2.1 Khả năng xử lí chì (Pb) của cây rau Muống 33
4.2.2 Khả năng xử lí chì (Pb) của cây cải Xoong 35
Trang 64.2.3 So sánh khả năng xử lý của 2 loài cây rau Muống và cải Xoong so với
cây Bèo Lục bình và cây rau Ngổ 37
4.2.4 Giải pháp xử lý rau Muống và cải Xoong sau quá trình hấp thu Chì 40
4.4 Đề xuất giải pháp cải thiện chất lượng nước mặt tại khu vực nghiên cứu 42
4.4.1 Giải pháp về mặt công nghệ 42
4.4.2 Các giải pháp về quản lý 43
4.4.3 Giải pháp về mặt chính sách tuyên truyền, truyền thông 45
CHƯƠNG V KẾT LUẬN – TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các loại hình nghề chủ yếu ở Việt Nam 4
Bảng 1.2 Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải của một số làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm 5
Bảng 1.3 Thải lượng ô nhiễm do đốt than tại các làng nghề tái chế 6
Bảng 4.1 Kết quả phân tích mẫu nước mặt tại KVNC 28
Bảng 4.2 Giá trị nồng độ Chì có trong mẫu nước trồng rau Muống 33
Bảng 4.3 Giá trị nồng độ Chì có trong mẫu nước trồng cải Xoong 35
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Bản đồ vị trí lấy mẫu nước tại thôn Đông Mai 16
Biểu 4.1 Biểu đồ biểu diễn pH trong mẫu nước 29
Biểu 4.2 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng BOD5 trong mẫu nước 29
Biểu 4.3 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng COD trong mẫu nước 30
Biểu 4.4 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng TSS trong mẫu nước 31
Biểu 4.5 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng chì (Pb) trong mẫu nước 32
Biểu 4.6 Biểu đồ thể hiện hàm lượng chì trong nước trồng cây rau Muống theo thời gian 34
Biểu 4.7 Biểu đồ thể hiện hàm lượng chì trong nước trồng cây cải Xoong theo thời gian 36
Biểu 4.8 Biểu đồ hiệu suất xử lý của các loài thực vật thủy sinh 38
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là đất nước được nhiều quốc gia trên thế giới chọn là điểm trung chuyển phế liệu công nghiệp Nghành công nghiệp tái chế đang mang lại nguồn thu nhập chính cho một bộ phận không nhỏ người dân, góp phần ổn định cuộc sống và xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, ngành công nghiệp này còn thủ công, các hoạt động thu gom và xử lý nước thải tại các cơ sở chưa được chú trọng Do đó các hoạt động này có thể gây ra ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cuộc sống của con người
Hoạt động tái chế chì ở làng nghề Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã diễn ra khoảng từ năm 1970 Sự phát triển của nghề tái chế chì đã đóng góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của địa phương Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, môi trường làng nghề Đông Mai đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm môi trường đất và nước, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân làng nghề, đặc biệt là trẻ em ( Báo Pháp Luật Thành Phố Hồ Chí Minh, 2015) Trong quá trình tái chế, lượng axit dư thừa được đổ thẳng xuống cống, lò nấu chì không qua bất cứ công đoạn xử lý khói bụi nào được thải trực tiếp ra môi trường
Để đối phó với tình trạng ô nhiễm môi trường đang trở nên nghiêm trọng hơn, tỉnh Hưng Yên đã có biện pháp khắc phục và xử lý ô nhiễm chì ở làng nghề Đông Mai như xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung Tuy nhiên, những giải pháp trên chưa thực sự hiệu quả, mức độ ô nhiễm chưa giảm, hoặc một số biện pháp kỹ thuật đòi hỏi chi phí cao và không hiệu quả
Do đó, việc tìm kiếm giải pháp hiệu quả về mặt sinh thái và xã hội là điều cần thiết Trong đó, tiếp cận sử dụng các quá trình sinh học trong xử lý ô nhiễm môi trường là một lựa chọn phổ biến và đã được chứng minh mang lại hiệu quả cao
Xử lý nước thải bằng thực vật thủy sinh là một trong những giải pháp của tiếp cận sinh học Phương pháp này thể hiện được những ưu điểm nổi bật
Trang 11như chi phí thấp, dễ áp dụng, và đạt hiệu quả xử lý tương đối cao, phù hợp
với khu vực nông thôn Xuất phát từ lý do trên, đề tài: “Khả năng xử lý nước mặt nhiễm chì của cây rau Muống và cây cải Xoong tại làng nghề Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên” đã được thực hiện nhằm
đánh giá khả năng hấp thụ Chì của hai loại cây và tìm ra giải pháp hiệu quả, phù hợp với điều kiện khu vực nghiên cứu
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về làng nghề ở Việt Nam
1.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển và vai trò của làng nghề ở Việt Nam
Kinh tế của người Việt cổ chủ yếu dựa vào việc trồng lúa nước, các hoạt động làng nghề diễn ra không thường xuyên Trong một năm, chỉ những ngày đầu vụ hoặc cuối vụ thì người dân mới có việc làm, những ngày còn lại thường nhàn rỗi Vì vậy, nhiều nông dân thường tìm công việc phụ để làm thêm với mục đích cải thiện cuộc sống của gia đình Từ những lợi ích đó, làng nghề thủ công ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu và điều kiện sẵn có của con người Sự phân hóa ngành nghề cũng dần xuất hiện Những nghề đem lại lợi ích lớn sẽ phát triển, ngược lại những nghề đem lại hiệu quả kinh tế không cao, không hợp với nhu cầu thị trường thì sẽ dần mai một Từ đây, hình thành các làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất như làng gốm, làng chiếu, làng tái chế
Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội, là một cụm hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để SXKD độc lập và tồn tại trong một không gian địa lý nhất định Thu nhập từ các nghề chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng (Đinh Xuân Nghiêm, 2010)
Làng nghề Việt Nam gắn liền với bản sắc và đặc thù của từng vùng Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam năm 2015, cả nước có 1.450 làng nghề, phân bố trong cả nước Riêng địa bàn đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng nghề, trong đó: Thái Bình: 187 làng, Bắc Ninh: 59 làng, Hải Dương: 65 làng, Hưng Yên: 62 làng… Rất nhiều làng nghề có hàng trăm năm tuổi và trở thành biểu tượng của địa phương làm làng nghề đó Các ngành
nghề chủ yếu được tóm tắt trong bảng 1.1
Trang 13Bảng 1.1 Các loại hình nghề chủ yếu ở Việt Nam
TT Vùng miền
Các loại hình làng nghề Ươm
tơ, dệt nhuộm
Chế biến nông sản, thực phẩm
Tái chế phế liệu
Thủ công
mỹ nghệ
Vật liệu xây dựng, gốm sứ
Nghề khác
(Nguồn: Viện KH&CNMT, Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2005)
Sự phát triển của làng nghề đang góp phần đáng kể trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng các ngành công nghiệp đạt từ 60% - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40% Kết quả tính toán cho thấy, trong vòng 10 năm (2003 - 2013), làng nghề nông thôn Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh, trung bình khoảng 8%/năm tính theo
giá trị đầu ra
Quá trình công nghiệp hóa cùng với sự áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển khiến cho các cụm làng nghề ngày nay càng được áp dụng phổ biến Mở của hội nhập các làng nghề có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với khách nước ngoài, đó là những mặt hành xuất khẩu mạnh của nước
ta trong nhiều năm qua Trong đó, phần nhiều xuất xứ từ các làng nghề truyền thống trong cả nước như thủ công mỹ nghệ, gốm sứ… Làng nghề đóng vai trò thực sự quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, giải quyết vệc làm cho người lao động, góp phần tăng thu nhập nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Việt Nam
1.1.2 Một số vấn đề môi trường làng nghề
Hiện nay, hầu hết các làng nghề tại Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liệu không gây ô
Trang 14nhiễm như thêu,may,…) Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây thiệt hại về sức khỏe
Mỗi làng nghề thường mang một nét đặc trưng riêng cho hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm Chính vì vậy, bản chất và mức
độ gây ô nhiễm không giống nhau.Mức độ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí ở các làng nghề khác nhau là khác mhau, nó phụ thuộc vào đặc
điểm sản xuất, tính chất sản phẩm và thành phần chất thải ra môi trường
1.1.2.1 Ô nhiễm môi trường nước
Hầu hết nước mặt ở các sông hồ hiện nay tại làng nghề trong khu vực sông Nhuệ - Đáy, lưu vực sông Cầu ở phía Bắc và hệ thống sông Đồng Nai ở phía Nam đều bị ô nhiễm nghiêm trọng do chịu tác động trực tiếp của nước thải sản xuất tại các làng nghề, nhiều nơi đã đến mức báo động Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước thải sinh hoạt của người dân, làm ngày càng gia tăng các loại bệnh đặc biệt là các loại bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về mắt, các bệnh ngoài da Nguyên nhân chủ yếu là nước thải của các làng nghề chưa qua hệ thống xử lý đã được đổ trực tiếp ra ngoài môi trường Nghiên cứu chỉ ra rằng, 100% mẫu nước thải tại các làng nghề được khảo sát có thông
số vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nước mặt và nước ngầm đều có dấu hiệu bị
ô nhiễm (Nguyễn Thanh Lâm, 2012)
Bảng 1.2 Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải của một số
làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm
(mg/l)
SS (mg/l)
4 Tinh bột Dương Liễu 13.050 934,4 2.133
(Viện KH&CNMT, Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2005)
Trang 15Kết quả trình bày trên bảng 1.2 cho thấy, hàm lượng BOD5 và COD trong nước thải cao Hàm lượng chất hữu cơ cao là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm hàm lượng oxy hòa tan trong nước, cản trở khả năng tự phân hủy và khả năng đồng hóa của môi trường, tác động tiêu cực đến các loài động vật thủy sinh trong ao, hồ
1.1.2.2 Ô nhiễm môi trường không khí
Đối với các làng nghề, ô nhiễm không khí bao gồm các dạng ô nhiễm
do bụi, khí độc hại, ô nhiễm mùi,và tiếng ồn Gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng hàng đầu pải kể đến các nghề tái, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại chúng không phát sinh bụi, khí độc như : SO2, NO2, CO, mà còn phát sinh hơi kim loại như PbO, CuO, hơi axit, kiềm trong quá trình tái chế và gia công bề mặt kim loại
Theo kết quả phân tích của sở Tài nguyên và Môi trường Nam Định năm 1997, tại làng nghề chì Đông Mai (Hưng Yên), hàm lượng chì trong không khí lên tới 46,411 mg/m3 Nguyên nhân chủ yếu là do việc sử dụng nhiên liệu đốt là than và thường là than kém chất lượng Đây là loại nhiên liệu phát sinh hàm lượng bụi lớn Đồng thời, do bản chất của một số kim loại khi nóng chảy dễ dàng chuyển thành thể hơi, phân tán vào không khí
Bảng 1.3 Thải lượng ô nhiễm do đốt than tại các làng nghề tái chế
Trang 16Kết quả ở bảng 1.3 cho thấy hầu hết các làng nghề sử dụng nguồn nhiên liệu là than, vì thế hàm lượng bụi và khí độc hại phát sinh trong quá trình cháy rất lớn, điển hình là làng nghề Đa Hội-Bắc Ninh Xếp phía sau các làng nghề tái chế về mức độ ô nhiễm là các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá, đặc điểm ô nhiễm là do bụi đá phát sinh từ quá trình khai thác và tái chế đá
1.1.2.3 Ảnh hưởng đến môi trường đất
Đất là nguồn tài nguyên không tái tạo nhưng để phục vụ cho sản xuất thì con người vẫn ra sức khai thác và sử dụng nó vào mực đích của mình Do vậy, sản xuất có phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao nhưng nguồn tài nguyên đang bị cạn kiệt Tại An Giang, theo thống kê của Sở Công Thương, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 607 cơ sở sản xuất gạch, với 1.695 miệng lò sản xuất theo phương pháp thủ công Trong quá trình đốt cháy nhiên liệu trong lò
đã làm tăng lượng phát thải bụi và các khí ô nhiễm môi trường xung quanh.Cùng với công nghệ sản xuất lạc hậu, các cơ sở sản xuất gạch này lại nằm xen kẽ với nhà dân đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Mỗi năm có khoảng 1.400ha đất nông nghiệp bị thoái hóa, bạc màu do khai thác lớp đất để làm nguyên liệu sản xuất gạch Nếu tình trạng này kéo dài, không có các biện
pháp quy hoạch cụ thể thì ngay cả đất canh tác cũng bị thu hẹp đáng kể
1.1.2.4 Tình hình sức khỏe người dân tại các làng nghề
Hầu hết dân cư làng nghề Việt Nam đều tham gia vào quá trình sản xuất nên nguy cơ ảnh hưởng của điều kiện lao động và chất thải sản xuất đến sức khỏe người dân là rất lớn Do môi trường không khí, nước và đất đều bị ô nhiễm nên một số người dân tại các làng nghề bị mắc các bệnh đường hô hấp, đau mắt, bệnh ngoài da, tiêu hóa, phụ khoa là rất cao Đặc biệt là một số bệnh mang tính nghề nghiệp như bụi phổi, ung thư, thần kinh Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu về làng nghề mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu đánh giá hiện trạng và tình hình bệnh tật mà chưa có những nghiên cứu đánh giá mối liên quan của bệnh tật với các yếu tố môi trường
Trang 17Theo các nghiên cứu của Viện bảo hộ lao động, sức khỏe dân cư tại các làng nghề tái chế kim loại là có vấn đề nhiều nhất Kết quả điều tra sức khỏe người dân tại làng nghề tái chế chì Đông Maị cho thấy: triệu chứng chủ quan
về hô hấp như tức ngực khó thở chiếm, suy nhược thần kinh chiếm 71,8%; da khớp chiếm 46,9%; tỷ lệ hồng cầu giảm 19,4% Còn làng nghề Vân Mai (Bắc Ninh): bệnh đường hô hấp chiếm 44,4%; bệnh da liễu chiến 68,5%; bệnh đường ruột chiếm 58,8%
Trong nghiên cứu của Viện bảo hộ lao động (2005), điều tra tình hình mắc bệnh trong vòng 2 tháng tại một số làng nghề cho thấy 17,33% đối tượng trả lời mình có bị ốm trong thời gian đó, mắc bệnh nhiều nhất là các bệnh đường hô hấp (như viêm họng 30,56%; viêm phế quản 25%), sau đó là các bệnh về cơ, xương, khớp, thấp hơn là các bệnh về mắt 11,11%; bệnh về đường tiêu hóa, da Theo những người bị bệnh; 50,8% cho rằng bệnh mà mình mắc có liên quan đến công việc; 33,3% khác cho rằng không liên quan đến công việc; 15,9% không biết là mình mắc có liên quan đến công việc hay không
Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở các làng nghề tái chế cao hơn các làng nghề sản xuất khác từ 15 - 25%; tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em và phụ nữ từ 30 - 45%; chủ yếu là mắc bệnh về đường hô hấp, viêm phế quản, viêm phổi Tuổi thọ trung bình ở các làng nghề thấp, chỉ đạt 55 - 65 tuổi Các bệnh dịch như tiêu chay, đau mắt đỏ, ngộ độc ngày càng gia tăng, nhất là các làng nghề tái chế kim loại
1.2 Tình hình ô nhiễm chì trên Thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Viện Blacksmith - Hoa Kỳ, một tổ chức nghiên cứu môi trường quốc tế
có trụ sở tại NewYork đã công bố danh sách 10 thành phố thuộc 8 nước được coi là ô nhiễm nhất thế giới năm 2006, trong đó thành phố Haina, Dominica (Châu Phi), nơi chuyên tái chế chì Năm 2000, Bộ trưởng bộ tài nguyên và Môi trường nước này đã xác định Haina là một điểm nóng quốc gia về ô
Trang 18nhiễm chì trong đất lớn hơn 1000 lần so với tiêu chuẩn cho phép của Mỹ Hơn 90% dân số của Haina có hàm lượng chì trong máu cao, nồng độ trung bình của chì trong máu của cư dân ở đây là 60 microgam/dL ( trong khi đó tiêu chuẩn nồng độ chì trong máu của người Mỹ là 10 microgam/dL ) Ước tính có khoảng 300,000 người bị ảnh hưởng trực tiếp từ khu vực ô nhiễm chì
Đồng thời, Viện Blacksmith và một tổ chức phi chính phủ của Indonesia
đã tiến hành điều tra, xác định hàm lượng chì trong đất tại các khu vực của làng nghề Cinangka, phía Tây Java, Indonesia là nơi chuyên tái chế và nấu luyện chì từ các bình ác quy chì axit Kết quả cho thấy nhiều địa điểm có hàm lượng chì trong đất lớn hơn 200.000ppm, cao hơn gấp 500 lần so với tiêu chuẩn cho phép của Mỹ Ở khu vực luyện kim khác thì hàm lượng chì trong đất đạt mức 1500 microgam/gam, cao gấp 15 lần so với mức độ bình thường Hàm lượng chì trong bùn, cống rãnh ở một số thành phố công nghiệp ở Anh dao động từ 120 microgam/gam - 3000 microgam/gam ( Berrow và Webber,
1993 ) trong khi tiêu chuẩn cho phép tại đây là không quá 1000 microgam/gam
Ở Kabwe ( Zambia ) các mỏ than khai thác và lò nấu chì đã ngừng hoạt động lâu, nhưng nồng độ chì ở đây vẫn ở mức khủng khiếp Tính trung bình thì trẻ em ở Kabwe có nồng độ chì cao gấp 10 lần mức cho phép của cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ và có thể gây tử vong Khi các chuyên gia Mỹ lấy máu của trẻ em tại Kabwe để phân tích, các thiết bị của trục trặc liên tục vì mội chỉ
sô đều đạt ngưỡng tối đa
Ở Châu Á là một trong những nơi có tình trạng ô hiễm kim loại năng cao trên thế giới, trong đó đặc biệt là Trung Quốc với hơn 10% đất bị ô nhiễm chì.Tại Thái Lan theo Viện Quốc tế quản lý nước thì 154 ruộng lúa thuộc tỉnh Tak đã nhiễm chì cao gấp 94 lần so với tiêu chuẩn cho phép Tuy vậy, tại các nước phát triển vẫn phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm mà các ngành công nghiệp khác gây ra
Trang 191.2.2 Ở Việt Nam
Từ những năm 1990 của thế kỷ XX, quá trình công nghiệp hóa và cơ giới hóa nhanh cùng với sự phát triển của các làng nghề, nền kinh tế của Việt Nam đã có bước nhảy vọt đáng kể Đi kèm với sự phát triển kinh tế đó là nguy cơ ô nhiễm môi trường, đặc biệt tại các thành phố lớn và các làng nghề tái chế kim loại Hoạt động tái chế kim loại đã làm tăng đáng kể hàm lượng chì trong đất, thậm chí có nơi, nồng độ chì vượt quá tiêu chuẩn cho phép Theo nghiên cứu của Phạm Văn Khang và cộng sự (2004), hàm lượng chì trong đất nông nghiệp tại khu vực tái chế chì ở thôn Đông Mai, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên như sau: 14,29% số mẫu nghiên cứu có hàm lượng chì là
100 - 200 mg/kg; 9,25% số mẫu đất có hàm lượng chì từ 200 - 300 mg/kg; 18,5% số mẫu đất có hàm lượng Pb từ 300 - 400 mg/kg; 9,25% số mẫu có hàm lượng Pb từ 400 - 500 mg/kg; 9,25% số mẫu có hàm lượng Pb từ 500 -
600 mg/kg; 18,05% số mẫu có hàm lượng Pb từ 600 - 700 mg/kg; 4,76% có hàm lượng chì từ 900 - 1000 mg/kg và 4,76% số mẫu có hàm lượng Pb lớn hơn 1000 mg/kg (trong tổng số 21 mẫu phân tích) Như vậy, 100% số mẫu phân tích có hàm lượng Pb vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Nghiên cứu của Hồ Thị Lam Trà (2005) cho thấy: hàm lượng Pb tổng số trong đất phục vụ nông nghiệp chịu ảnh hưởng của các làng nghề đúc đồng và tái chế kẽm tại xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên rất cao, dao động từ 51,2 - 313,0 mg/kg, trong đó có nhiều mẫu >200 mg/kg Theo tác giả Nguyễn Thị Lan Hương (2006) khi nghiên cứu về hàm lượng kim loại nặng ở các khu công nghiệp ngoại thành Hà Nội với 15 mẫu đất nghiên cứu có hàm lượng chì trong đất dao động từ 8,36 đến 93,39 mg/kg Trong đó có 6 mẫu bị
ô nhiễm Pb với hàm lượng Pb trong đất là 75,39; 75,73; 78,03; 79,74; 88,02; 93,39, đó là 3 mẫu đất lấy gần đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài và đường cao tốc số 5; 2 mẫu lấy tại bãi rác Kiêu Kị - Gia Lâm và bãi rác Nam Sơn - Sóc Sơn; 1 mẫu lấy tại Tiên Dương - Đông Anh nơi có nhà máy sản xuất pin
và phân sinh học Nguyên nhân dẫn đến tích tụ Pb trong đất tại các điểm trên
Trang 20chính là do hoạt động giao thông, do quá trình chôn lấp rác lâu dài và do trong chất thải có hàm lượng Pb lớn nên đã dẫn đến tích đọng hàm lượng chì trong đất
Kết quả nghiên cứu của Lê Đức và cộng sự (2003) về môi trường đất vùng đồng bằng sông Hồng, ở khu vực nhà máy Pin Văn Điển hàm lượng Pb trong các nguồn nước thải là 0,012 mg/lít, trong đất là 30,737 mg/kg so với đối chứng là 18,240 mg/kg ; khu vực Hanel, Pb trong nước thải là 0,560 mg/lít, trong đất là 23,070 mg/kg so với đối chứng là 13,650 mg/kg; khu vực nhà máy Phả Lại, Pb trong nước thải là 0,013 mg/lít, trong đất là 2,320 mg/kg
và đối chứng là 2 mg/kg Đặc biệt tại làng nghề thì hàm lượng chì trong nước thải và đất tăng cao và mức ô nhiễm (TCVN, 2002): ở làng nghề Phùng Xá,
Pb trong nước thải là 5,2 mg/lít, trong đất là 304,59 mg/kg còn đối chứng là 30,76 mg/kg; ở làng nghề xã Chỉ Đạo, Pb trong nước là 3,278 mg/lít, trong đất là 273,63 mg/kg so với đối chứng là 35,11 mg/kg
1.3 Tác động của chì đến sức khỏe con người tại khu vực nghiên cứu
Theo nghiên cứu của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường Bộ Y
tế (2012), trong 100 trẻ tại thôn Đông Mai được xét nghiệm hàm lượng chì trong máu, 100% các em đều có hàm lượng chì trong máu vượt quá ngưỡng cho phép Trong đó, có 39 em hàm lượng chì trong máu ở mức cao 45- 70 µg/d ở mức báo động
Vào ngày 28/5/2015, Bộ Y tế đã tổ chức đoàn đi kiểm tra sức khỏe cho trẻ bị nhiễm chì tại thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Trong số 317 trẻ được xét nghiệm thì có đến 207 cháu bị nhiễm chì chiếm 65% Điều này cho thấy nước nhiễm chì đang là mối đe dọa vô cùng to lớn đối với “thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước” tại đây
Theo kết quả lấy mẫu kiểm tra giám sát của Viện Sức khỏe nghề nghiệp
và Môi trường (Bộ Y tế) vào tháng 12/2014, trong khu vực thôn Đông Mai, nước tại các kênh và rãnh thoát nước có hàm lượng chì cao hơn giới hạn cho phép 1.000 lần, đất tại hộ gia đình và vườn trong thôn có hàm lượng chì cao
Trang 21hơn giới hạn cho phép 10-16 lần, rau có hàm lượng chì cao hơn giá trị giới hạn cho phép 1,3 lần Kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân sống tại khu vực này đang hàng ngày phải sống chung với mối đe dọa lớn đến từ chì Ngoài ra, thông qua một số ý kiến của người dân cho biết, nguồn nước nhiễm chì còn làm chết lúa cũng như hoa màu của bà con nông dân tại đây (chưa có
số liệu thiệt hại cụ thể), khiến cho việc sản xuất và sinh hoạt của bà con nông dân bị ảnh hưởng rất lớn
1.4 Giới thiệu về cây rau Muống và cây Cải xoong
1.4.1 Cây rau Muống
Tên khoa học: Ipomoea aquatica
Họ: Bìm bìm -Convolvulaceae
Cây mọc bò, ở mặt nước hoặc trên cạn Thân rỗng, dày, có rễ mắt, thường không có lông vào mùa nóng, và có lông vào mùa lạnh Lá hình ba cạnh, đầu nhọn, đôi khi hẹp và dài Hoa to, có màu trắng hay hồng tím, ống hoa tím nhạt, mọc từng 1-2 hoa trên một cuống Quả nang tròn, đường kính 7–9 mm, chứa 4 hạt có lông màu hung, đường kính mỗi hạt khoảng 4 mm
1.4.2 Cây Cải xoong
Tên khoa học: Nasturtium microphyllum
Họ: Cải -Brassicaceae
Cây mọc ở dưới nước Lá không có cuống, mọc thành cụm dày, phiến
là hình tam giác, chiều rộng lớn hơn chiều dài, gốc hình nêm hay hình tim, đầu cụt, cuộn lá dọc theo sống là, như tổ ong, mặt dưới có lông, mặt trên có những nhú xếp sít nhau …
1.4.3 Ứng dụng của cây rau Muống và cây cải Xoong trong xử lý chất ô nhiễm
1.4.3.1 Cây rau Muống
Sử dụng thực vật thủy sinh để xử lý nước thải là biện pháp được áp dụng nhiều bởi hiệu quả của nó cũng như tính sinh học cao Rau Muống cũng
là một loài thực vật thủy sinh được lựa chọn khá nhiều vì khả năng xử lý nước
Trang 22của nó cũng như tính chất của cây là tương đối dễ sống Theo đó, tác giả
Hoàng Thị Huệ, Đại học Nông lâm Thái Nguyên, 2014 có đề tài :“Nghiên cứu ứng dụng sử dụng thủy vật thủy sinh xử lý nước thải sinh hoạt tại khu ký túc xá K trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.” Đề tài có sử dụng một số
loài sinh vật thủy sinh để xử lý nước thải sinh hoạt tại khu vực ký túc xá của trường trong đó có sử dụng cả cây rau Muống
Không chỉ được biết đến là một loại thực phẩm ăn hằng ngày Rau
Muống còn được biết tới với khả năng có thể hấp thu một số các kim loại
nặng có trong đất và trong nước Tác giả Nguyễn Ngọc Hùng với đề tài“ Nghiên cứu ảnh hưởng của kim loại nặng nên cây rau Muống.” đã chỉ ra rằng
cây rau Muống có thể hấp thu được một số kim loại nặng Có thể ứng dụng trong việc xử lý chất ô nhiễm bảo vệ môi trường
1.4.3.2 Cây cải Xoong
Tác giả Bùi Thị Hồng Nhung vói đề tài: “Nghiên cứu khả năng xử lý nước phú dưỡng của cải Xoong ( Rorippa nasturtium aquaticum (L.)) ở các
giai đoạn sinh trưởng” nghiên cứu vào năm 2014 đã cho thấy Cây cải Xoong
là một loài thực vật thủy sinh rất có lợi trong việc xử lý các chất ô nhiễm môi
trường, đặc biệt là trong môi trường nước
Cải Xoong được biết tới như một loại rau sống lâu năm Cho sản lượng cao và trồng quanh năm Không chỉ vậy, nó còn có khả năng hấp thu tốt các kim loại nặng Tác giả Nông Quang Tuấn Anh đã nghiên cứu và xây dựng đề
tài: “Nghiên cứu hàm lượng Đồng trong rau cải Xoong tại tỉnh Thái Nguyên”
vào năm 2012 Từ nghiên cứu trên có thể thấy được, cây cải Xoong có thể hấp thu được Đồng Ngoài ra cũng có thể hấp thu một vài các kim loại khác
Trang 23CHƯƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Đề tài thực hiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường và bảo vệ sức khỏe người dân tại thôn Đông Mai, xã Chí Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng ô nhiễm nước mặt tại khu vực nghiên cứu;
- Đánh giá được khả năng hấp thu Chì của hai cây rau Muống và Cải xoong;
- Đề xuất được một số giải pháp cải thiện chất lượng nước mặt tại khu vực nghiên cứu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Khả năng xử lý Chì của 2 loài cây rau Muống và cải Xoong
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Làng nghề tái chế Chì thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài tiến hành những nội dung sau:
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt tại thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên;
- Nghiên cứu khả năng xử lý chì của cây rau Muống và cây cải Xoong;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện chất lượng nước mặt tại khu vực nghiên cứu
Trang 242.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Phương pháp kế thừa tài liệu về nghiên cứu khoa học, văn bản mang tính pháp lý, các số liệu về tình hình sản xuất, về sức khỏe nhân dân, những kết quả nghiên cứu khoa học đã được công bố, những tài liệu điều tra cơ bản liên quan đến khu vực nghiên cứu:
+ Tài liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tại thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên;
+ Tài liệu về các kết quả nghiên cứu khoa học liên quan đến cây rau Muống và cây cải Xoong
+ Tài liệu về các kết quả nghiên cứu khoa học về đánh giá sự ô nhiễm chì tại khu vực nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Việc điều tra khảo sát thực địa giúp cho việc tiến hành lấy mẫu diễn ra thuận lợi, nhanh chóng và chính xác hơn
Khảo sát thực địa được lập theo các tuyến chính của trục đường trong thôn Đông Mai, tuyến khảo sát này sẽ đi qua địa phận của cả 4 xóm trong thôn Giúp cho việc chọn địa điểm lấy mẫu được chính xác và mẫu được chọn
là đặc trưng cho cả khu vực
2.4.3 Phương pháp lấy mẫu hiện trường
a Lấy mẫu nước mặt
- Mẫu nước được theo hướng dẫn tiêu chuẩn quốc gia: TCVN 5994:1995
(ISO 5667-4:1987): Hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo;
- Nước được lấy tại rãnh nước thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn
Lâm, tỉnh Hưng Yên;
- Dụng cụ lấy mẫu và dụng cụ để làm thí nghiệm:
+ Can nhựa 20 lít (chống mất mát do bay hơi, hấp thụ và ô nhiễm từ các chất lạ, bình tối màu tránh ánh sáng) và chai nhựa (đã được làm sạch);
Trang 25+ Thùng xốp làm thí nghiệm 5 thùng Yêu cầu: cần được rửa sạch, tránh
sự có mặt của chất gây ô nhiễm;
- Trình tự lấy mẫu:
+ Dùng dây buộc chặt chai nhựa vào đầu sào sao cho chai nhựa cân bằng rồi dùng sợi dây nilon buộc vào nút chai lại, thả chai vào vị trí cần lấy mẫu thì giật nút chai bật chai, khi đó nước tràn vào chai, khi chai đã đầy thì từ từ kéo chai lên, đổ vào can cho đến khi đầy đậy nút can lại
+ Đối với mẫu trồng cây rau Muống và cải Xoong có thể dùng gáo múc nước để múc, một lưu ý là khi múc cần thao tác nhanh, múc đầy tràn vật chứa sau đó mới đóng nắp vật chứa
- Bảo quản và xử lý mẫu theo tiêu chuẩn kỹ thuật: TCVN 6663-2008 (ISO 5667-2003): Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu
- Phương pháp vận chuyển và bảo quản mẫu
+ Sau khi lấy mẫu cho thêm 3ml dung dịch HNO3 loãng để axit hóa mẫu + Vận chuyển mẫu trong thời gian ngắn nhất, giữ mẫu ở chỗ tối, tránh ánh sáng và bảo quản lạnh ở nhiệt độ từ 2 – 50C
Hình 2.1 Bản đồ vị trí lấy mẫu nước tại thôn Đông Mai
Trang 26b Lấy mẫu cây
Mẫu cây rau Muống và cải Xoong được lấy tại thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Mẫu rau Muống được lấy từ ao trồng rau của thôn, môi trường sống tương đối sạch
Mẫu rau cải Xoong được lấy bằng cách tách từ các mớ rau bán ngoài chợ
Cả hai loại mẫu này sau khi lấy về được trồng vào trong bể nước sạch
để có thể hồi và sinh trưởng lại như bình thường trước khi tiến hành trồng vào mẫu nước nhiễm Chì
2.4.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Chuẩn bị dụng cụ, 03 thùng xốp (60x40x40, thùng xốp không đục lỗ), rau Muống và cải Xoong, mẫu nước phân tích
- Nước được đổ vào trong thùng có chiều cao là 2.5 cm (tương đương 6 lít)
- Độ che phủ ở thùng xốp 2 (trồng 6 dây rau Ngổ, mỗi dây 60cm): 50%
- Độ che phủ ở thùng xốp 3 (trồng 10 cây bèo Lục Bình): 90%
- Tiến hành bố trí các hộp thí nghiệm
+ Thùng 1: Nước cần phân tích (mẫu để đối chứng);
+ Thùng 2: Nước thải trồng cây rau Muống
+ Thùng 3: Nước thải trồng cây cải Xoong
- Các hộp thí nghiệm đặt ở nơi khô ráo, đảm bảo không bị nhiễm bẩn từ môi trường ngoài vào Theo dõi sự phát triển của cây trong 20 và 50 ngày
2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
2.4.5.1.Phương pháp phân tích
a Xác định pH
Giá trị pH được xác định bằng phép đo trên máy đo pH (pH meter)
b Xác định hàm lượng DO
Trang 27Sử dụng phương pháp pha loãng được hướng dẫn trong tiêu chuẩn chất lượng 6001-1 : 2008 ( ISO 5815-1:2003): Phương pháp pha loãng và cấy có
- Pha loãng mẫu: sử dụng 10ml dung dịch lấy mẫu tại hiện trường cho vào bình đo BOD5 có thể tích là 300ml (pha loãng 30 lần) Cho đầy đến cổ bình cắm đầu điện cực đo DO vào cổ bình sao cho không có bọt khí trong bình, bật công tắc và đo lại giá trị DO Rút điện cực cho thêm nước pha loãng cho đầy bình để giữ kín hoàn toàn
- Tiến hành cho mẫu nước vào bình BOD5 khác để tiến hành đo DO của mẫu trắng phục vụ cho đo BOD5
c Xác định nhu cầu sinh hóa BOD 5
Mang mẫu nước phân tích và mẫu trắng đi ủ ở nhiệt độ 250C trong 5 ngày trong hộp tối, tránh ánh sáng mặt trời Rồi tiến hành đo giá trị DO của 2 mẫu đó
- BOD5 được xác định theo công thức
BOD5 = (DO0 – DO5) x F
Trong đó:
DO0: là hàm lượng oxi hòa tan trong mẫu trước khi ủ (mg/l)
DO5: là hàm lượng oxi hòa tan trong mẫu nước sau khi ủ (mg/l)
d Xác định nhu cầu oxy hóa học COD
Trang 28Xác định COD theo tiêu chuẩn TCVN 6491 – 1999 (ISO 6060 - 1989): Chất lượng nước – Xác định nhu cầu Oxy hóa học
Để xác định COD người ta thường sử dụng một chất oxi hóa mạnh trong môi trường Axit, chất được sử dụng là K2CrO7 Khi đó xảy ra phản ứng:
Chất hữu cơ + K2CrO7 + H+ = CO2 + H2O + 2Cr3+ + 2K+
Lượng dư Cr2O72- được chuẩn độ bằng dung dịch muối Mohr hoặc dung dịch muối Fe2+ với chỉ thị Feroin:
Cr2O7
+ Fe2+ + H+ = Cr3+ + Fe3+ + H2O Chỉ thị chuyển từ màu xanh lam sang đỏ nâu
Phản ứng diễn ra với sự có mặt của Ag2SO4 và đun hồi lưu kín trong 2h Điểm tương đương được xác định bằng chỉ thị Redox
Tính kết quả theo công thức:
COD =
Vmau
3 b).N.8.10^
(aTrong đó:
-a: số ml Fe(NH4)2(SO4)2.6H2O dùng để chuẩn độ mẫu trắng
b: số ml Fe(NH4)2(SO4)2.6H2O dùng để chuẩn mẫu
Vmau: Số ml mẫu được lấy để phân tích
N: Nồng độ đương lượng của dung dịch muối Mohr
e Phân tích chất rắn tổng cộng, hòa tan, lơ lửng
* Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
TSS (Total Suspended Solids): Là tổng lượng vật chất hữu cơ và vô cơ
lơ lửng (phù sa, mùn bã hữu cơ, tảo) lơ lửng trong nước Hàm lượng chất rắn
lơ lửng tổng hoặc hàm lượng chất rắn có khả năng lắng tụ là chỉ tiêu đánh giá mức độ ô nhiễm của nước
Phương pháp xác định: TSS được xác định theo phương pháp khối lượng
Tiến hành định lượng:
1 Sấy giấy lọc ở nhiệt độ 105oC trong 2 giờ
2 Cân giấy lọc vừa sấy xong (m1 )
Trang 293 Lọc V mẫu nước qua giấy lọc đã xác định khối lượng
+ Khi mẫu đã đun cạn (đến khối lượng không đổi) thì mang mẫu cho vào
tủ sấy để hút ẩm tới nhiệt độ phòng;
+ Dùng cân điện tử cân mẫu đã hút ẩm ta xác định được khối lượng m1
- Công thức tính TS
TS (mg/l)= (m1-m0)*1000/V
Trong đó
m0: Khối lượng cốc đong ban đầu
m1: Khối lượng cốc đong sau
V: Thể tích mẫu
* Chất rắn hòa tan (TDS)
Trang 30- Khái niêm: là tổng số các số các ion mang điện tích bao gồm khoáng chất, muối và kim loại tồn tại trong khối lượng nước nhất định, thường được biểu thị bằng hàm số m/L hoặc ppm (phần triệu)
2.4.6 Phương pháp so sánh và đánh giá số liệu kết quả phân tích
Kết quả sau khi tính sẽ được so sánh giữa các lần phân tích với nhau và
so sánh với quy chuẩn kỹ thuật: QCVN 08:2008 của bộ TNMT về chất lượng
nước mặt
Trang 31CHƯƠNG III ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Chỉ Đạo nằm ở phía tây huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, với vị trí địa lý như sau:
- Phía Đông giáp xã Đại Đồng
- Phía Bắc giáp Thuận Thành - Bắc Ninh
- Phía Tây giáp xã Lạc Đạo
- Phía Nam giáp xã Minh Hải
Với địa hình bằng phằng, có quốc lộ 5 và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chay qua Chí Đạo có những tiềm năng, thế mạnh cho phát triển kinh tế, giao lưu hoàng hóa và văn hóa với các vùng khác
Hình 3.1 Bản đồ xã Chỉ Đạo
Trang 323.1.2 Địa hình địa mạo
Xã Chí Đạo là một vùng đất tường đối bằng phẳng, với diện tích tự nhiên là 597,17 ha Với địa hình bằng phẳng như vậy, xã Chí Đạo có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, đồng thời có tiềm năng lớn cho đầu tư và phát triển sản xuất nông nghiệp Đất được sử dụng với rất nhiều mục đích khác nhau: sản xuất nông nghiệp, đất ở, đất phục vụ cho quá trình tái chế của nhân dân trong khi vực
3.1.3 Khí hậu – thủy văn
Xã Chí Đạo nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có đặc điểm phân mùa rõ rệt:
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa cả năm
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong thời gian này lượng mưa nhỉ hơn lượng bốc hơi cả năm
- Nhiệt độ trung bình năm là 23.50C Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất
là 290C ( vào tháng 6 và tháng 7) Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 170C (tháng 12 và tháng 1)
Vào mùa hè nhiệt độ không khí dao động từ 25 - 390C kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 Mùa lạnh có nhiệt độ trung bình 15 - 210
C, kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Các tháng còn lại nhiệt độ trung bình từ 20 - 250
Độ ẩm không khí tương đối cao và khá đồng đều, trung bình là 80%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 4, trung bình là 86,5% và tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 12, trung bình là 80%
Trang 33Điều kiện khí hậu thủy văn của khu vực thuận lợi cho phát triển nông nghiệp có điều kiện thâm canh gối vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Tình hình kinh tế
a Ngành nông nghiệp
Xã Chỉ Đạo tập trung, chỉ đạo Hợp Tác Xã Nông nghiệp và nông dân đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo bước chuyển biến đáng kể, từng
bước nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị canh tác
Xã có 350 ha diện tích đất canh tác, trước kia đồng đất của xã manh mùn, chỗ cao, chỗ trũng điểu kiện canh tác gặp nhiều khó khăn Những năm gần đây với chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó tập trung vào chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã khuyến khích được người dân tham
gia và đạt được nhiều kết quả tốt
Diện tích đất nông nghiệp của xã Chí Đạo bị thu hẹp trong những năm gần đây, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy và Chính quyền xã, nhân dân cần cù, chịu khố lao động vào tích cực áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, đưa năng suất lúa bình quân đạt trên 200 kg/sào, giá trị sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi cũng có những bước tăng trưởng
ổn định về số lượng và chất lượng
b Sản xuất tiểu thu công nghiệp
Trong những năm gần đây ngoài sản xuất nông nghiệp thì sản xuất tiểu thủ công nghiệp đang là một trong những hướng đem lại hiệu quả kinh tế
cũng như hiệu quả xã hội lớn cho người dân thị trấn
Tái chế chì: đây là một trong những nghề chính của phát triểu tiểu thủ công nghiệp xã, trên toàn thôn Đông Mai có 37 hộ gia đình làm nghề thu mua
và tái chết chì, với khoảng 200 công nhân Đặc biệt, trên địa bàn xã có Công
ty TNHH Ngọc Thiên là công ty đi đầu trong việc đầu tư hệ hống xử lý chất thải trong sản xuất chì Mặc dù ắc quy chì axit thải là một chất thải nguy hại nhưng khi tái chế chì vừa tận dụng được nguồn nguyên liệu là ắc quy thải,