Phân loại chất thải y tế Theo chương II của quy chế quản lý chất thải y tế Ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của bộ trưởng bộ y tế thì căn cứ vào
Trang 1nghiệp đã hoàn thành và đạt được các mục tiêu đề ra
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành gửi tới TS Vũ Huy Định
đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè
đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên
đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Chất thải 2
1.2 Chất thải y tế 2
1.2.1 Định nghĩa 2
1.2.2 Thành phần chất thải y tế 3
1.2.3 Phân loại chất thải y tế 3
1.3 Tác hại của chất thải y tế 5
1.3.1 Đối với môi trường 5
1.3.2 Đối với sức khỏe cộng đồng 6
1.4 Một số nghiên cứu về quản lý chất thải y tế 8
1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới 8
1.4.2 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam 13
1.5 Các văn bản liên quan đến quản lý, xử lý chất thải y tế: 19
1.6 Giới thiệu về bệnh viện Y Học Cổ Truyền Tỉnh Điện Biên 19
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 21
2.2 Đối tượng nghiên cứu 21
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.4 Nội dung nghiên cứu 22
2.5 Phương pháp nghiên cứu 22
2.5.1.Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 22
2.5.2 Phương pháp xử lý số liệu 23
Trang 3CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Mô tả các nguồn chất thải, đánh giá tác động của chất thải 27
3.1.1.Chất thải rắn 27
3.1.2.Chất thải lỏng 30
3.1.3 Chất thải khí 41
3.2 Biện pháp và công nghệ quản lý, xử lý chất thải y tế 46
3.2.1 Biện pháp và công nghệ quản lý, xử lý chất thải rắn 46
3.2.2.Hệ thống xử lý nước thải 49
3.3.Đánh giá công tác quản lí môi trường của bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên 52
3.3.1 Công tác quản lý chất thải rắn 53
3.3.2 Đánh giá công tác quản lý nước thải 57
3.3.3 Đánh giá công tác quản lý khí thải 58
3.4 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải tại bệnh viện Y Học Cổ Truyền tỉnh Điện Biên 58
3.4.1 Giải pháp về công tác quản lý hành chính tại bệnh viện 58
3.4.2 Giải pháp về mặt kỹ thuật 59
KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới 9
Bảng 1.2 Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam 15
Bảng 2.1 : Bảng giá trị quy định qi và BPi 24
Bảng 2.2: Bảng quy định các giá trị Bpi và qi đối với DO% bão hòa 24
Bảng 2.3: bảng quy định các giá trị Bpi và qi đối với thông số pH 25
Bảng 2.4: Đánh giá chất lượng không khí dựa trên giá trị AQI 26
Bảng 3.1: Lượng rác thải trung bình 1 ngày của bệnh viện (kg/ ngày) 27
Bảng 3.2: Kết quả phân tích mẫu đất 28
Bảng 3.3: Thống kê lượng rác thải y tế 30
Bảng 3.4: Thống kê khối lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện YHCT 30 Bảng 3.5: Kết quả phân tích mẫu nước thải 32
Bảng 3.6: Kết quả phân tích mẫu nước mặt 34
Bảng 3.7 : Kết quả tính WQI đối với từng thông số của từng mẫu nước mặt36 Bảng 3.8: Đánh giá chất lượng nước theo WQI 37
Bảng 3.9: Kết quả phân tích mẫu nước ngầm 39
Bảng 3.10 : Kết quả phân tích mẫu khí 42
Bảng 3.11 kết quả tính toán giá trị AQI theo giờ 44
Bảng 3.12: Kết quả phân tích các chỉ tiêu môi trường khí thải khu vực bệnh viện YHCY tỉnh Điện Biên 45
Bảng 3.13: Quy định về màu sắc của các loại túi, hộp, thùng đựng CTYT 47
Bảng 3.14 : Thực trạng thu gom và phân loại chất thải rắn: 54
Bảng 3.15: Thực trạng vận chyển và lưu trữ chất thải rắn y tế 55
Bảng 3.16: Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế 56
Bảng 3.17: Thực trạng hệ thống thu gom và xử lý nước thải 57
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 : Giá trị As, Pb trong đất 29
Hình 3.2 : Giá trị BOD5 , COD và TSS trong nước thải với giới hạn cho phép 33
Hình 3.3: Giá trị BOD5, COD, TSS trong nước mặt với giới hạn cho phép 35 Hình 3.4: Giá trị SO2 và NOx trong không khí 43
Hình 3.5 : Biểu đồ so sánh Bụi, SO2, NO2, CO với giới hạn cho phép 46
Hình 3.6: Sơ đồ dây truyền hệ thống xử lý 50
Hình 3.7: Phương án quản lý chất thải rắn y tế 60
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế Nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân, hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn chất thải nguy hại Theo tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần của chất thải bệnh viện
có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sịnh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị Đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới cộng đồng dân cư sống trong cùng tiếp giáp
Điện Biên còn là 1 tỉnh nghèo, chúng ta sẽ khảo sát xem tình hình quản
lí chất thải rắn y tế tại 1 bệnh viện tiêu biểu nằm ở thành phố Điện Biên Phủ
đó là bệnh viện Y Học Cổ Truyền Tỉnh Điện Biên để xem việc quản lí chất thải ở đây đã đảm bảo được vệ sinh môi trường hay chưa? Từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá, kiến nghị cho công tác xử lí rác thải của bệnh viện được tốt hơn
Đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng môi trường tại bệnh viện
Y học Cổ Truyền Tỉnh Điện Biên “ Được thực hiện nhằm bước đầu đánh
giá hiện trạng chất thải y tế, kết hợp quá trình khảo sát thực tế giúp tìm về thực trạng môi trường của bệnh viện, những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý môi trường tại bệnh viện, hỗ trợ cho hệ thống quản lý chất thải hiện nay của thành phố Điện Biên Phủ
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Chất thải
Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử
dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác, chất thải còn được
gọi là rác Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không
còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng
Người ta chia chất thải ra làm 3 loại dựa theo tính chất vật lí đó là :
Chất thải rắn (CTR), chất thải lỏng (nước), chất thải khí
- Chất thải rắn
Chất thải rắn bao gồm bất kì dạng vật chất nào bị loại bỏ, những vật chất có chủ định tái sử dụng, tái sinh, tái chế, cặn bùn và các chất thải nguy hại nhưng không tính đến chất thải phóng xạ và các chất thải phát sinh trong việc khai thác quặng mỏ Chất được phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau
có thể từ hoạt động sinh hoạt, thương mại, dịch vụ, xây dựng, vận tải hàng ngày, khai thác tài nguyên thiên nhiên… với những thành phần đa dạng khác nhau trong đó có những thành phần đặc trưng là vô cơ, hữu cơ, dễ chấy, khó cháy, dễ phân huỷ sinh học, khó phân huỷ sinh học…
(Theo cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA))
Theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ y tế ban hành tại quyết định
sô 43/QĐ-BYT ngày 30//11/2007
Trang 9Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ
sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường
Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm bệnh, gây ngộ độc, phóng
xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn
1.2.2 Thành phần chất thải y tế
- Thành phần vật lý:
+ Bông vải sợi: băng gạc,quần áo, khăn lau…
+ Giấy: hộp đựng dụng cụ,giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…
+ Thủy tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm…
+ Kim loại: Dao kéo, kim tiêm…
1.2.3 Phân loại chất thải y tế
Theo chương II của quy chế quản lý chất thải y tế ( Ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của bộ trưởng bộ y tế) thì căn cứ vào các đặc điểm lý, hóa, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân loại 5 nhóm sau: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất, chất thải thông thường
Các nhóm trên thì gồm những loại chất thải y tế sau:
- Chất thải lây nhiễm:
+ Chất thải sắc nhọn (loại A): chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc
Trang 10dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế
+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): chất thải bị thấm máu,
thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách
ly
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): chất thải phát sinh
trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
+ Chất thải giải phẫu (loại D): bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ
thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
- Chất thải hóa học nguy hại:
+ Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng + Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế (Phụ lục 1 ban hành kèm theo Quy chế này)
+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu (Phụ lục 2 ban hành kèm theo Quy chế này)
+ Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ
từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
- Chất thải phóng xạ:
Chất thải phóng xạ: gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế
- Bình chứa áp suất:
Trang 11Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này
dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai
lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
+ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
1.3 Tác hại của chất thải y tế
1.3.1 Đối với môi trường [ ][ ][ ]
a Đối với môi trường nước
Khi chất thải y tế được xử lý không đảm bảo quy định sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước khu vực xung quanh bệnh viện do nhiều nguyên nhân như: nước thải sinh hoạt, nước thải y tế từ bệnh viện không xử lý đạt yêu cầu đã xả thải ra môi trường hay nước rỉ rác, nước mưa chảy tràn từ các bãi chôn lấp ngấm vào nguồn nước ngầm Trong chất thải bệnh viện chúng có thể chứa nhiều kim loại nặng như thủy ngân từ nhiệt kế bị
vỡ hay bạc từ quá trình tráng phim rửa X quang Chất thải rắn y tế không được thu gom đúng quy định khi phân hủy sẽ ngấm vào nguồn nước gây ảnh hưởng chất lượng nước
b Đối với môi trường đất
Khi chất thải y tế không được xử lý đúng quy định trước thải bỏ vào
Trang 12ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật đất kém phát triển, các mầm bệnh ủ trong đất …làm cho việc khắc phục hậu quả về sau gặp khó khăn
c Đối với môi trường không khí
- Môi trường không khí bị ô nhiễm phần lớn do chất thải nguy hại bị thiêu đốt trong điều kiện không hợp lý Quá trình thiêu đốt được thực hiện trong điều kiện không đảm bảo nhiệt độ cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường không khí Khi đốt chất thải rắn y tế có thể sẽ tạo ra một số chất độc hại như dioxin, furan hay những chất thải được đựng trong các túi nhựa PVC khi đốt cũng tạo ra axit thường là HCl và SO2 những chất khí này không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ gây ảnh hưởng rất xấu đến môi trường không khí
- Trong quá trình đốt rác các dẫn xuất Halogen (F,Cl, Br…) ở nhiệt
độ thấp thường tạo ra axit như HCl điều này dẫn đến nguy cơ tạo thành dioxin, một loại hóa chất vô cùng độc hại ngay cả với nồng độ thấp Các kim loại nặng như thủy ngân có thể phát thải ra ngoài lò đốt
1.3.2 Đối với sức khỏe cộng đồng [ ][ ]
a Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chất thải rắn y tế
- Tất cả các đối tượng trực tiếp từ chất thải rắn y tế là những người
có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý các chất thải y tế Và với những người ngoài cộng đồng khi phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích Tất cả các đối tượng phơi nhiễm với chất thải nguy hại đều co nguy cơ tiềm
ẩn những nhóm có nguy cơ bao gồm:
+ Nhân viên y tế: bác sỹ, điều dưỡng, y tá, hộ sinh
+ Bệnh nhân điều trị
+ Người nhà, thân nhân thăm nuôi bệnh nhân
+ Công nhân làm việc trong khối hỗ trợ thu gom, vận chuyển rác
Trang 13+ Công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải rắn
b Tác động từ chất thải y tế
- Vật sắc nhọn:
Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho cơ thể do các vật sắc nhọn (như kim tiêm) Các vật sắc nhọn này không chỉ gây nên những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu vật sắc nhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh Như vậy những vật sắc nhọn
ở đây được coi là loại chất thải rất nguy hiểm bởi nó gây tổn thưởng kép (vừa gây tổn thường, vừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV ) Hơn nữa, trong chất thải y tế lại chứa đựng các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan b Các tác nhân này có thể thâm nhập vào cơ thể qua các vết trầy xước, vết đâm xuyên, qua niêm mạc, qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải)
- Nước thải bệnh viện
Nước thải bệnh viện là nơi "cung cấp" các vi khuẩn gây bệnh, nhất là nước thải từ những bệnh viện chuyên về các bệnh truyền nhiễm cũng như trong các khoa lây nhiễm của các bệnh viện Những nguồn nước thải này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng làm lây lan các bệnh truyền nhiễm thông qua đường tiêu hóa Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước khi sử dụng nguồn nước này vào mục đích tưới tiêu, ăn uống
- Các chất khử trùng
Các chất khử trùng là thành phần vô cùng quan trọng chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là các chất ăn mòn trong quá trình vẫn chuyển và lưu trữ dễ bị rò thoát và đổ tràn Cần lưu ý rằng các chất gây phản ứng có thể hình thành nên các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao
- Từ chất thải hóa chất và dược phẩm
Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong các cơ sở y tế là chất
Trang 14khối lượng thấp Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính với hóa chất qua da, niêm mạc, qua đường hô hấp, tiêu hóa có thể gây tổn thương đến cơ thể, đặc biệt là khi tiếp xúc với hóa chất gây cháy, gây ăn mòn, gay phản ứng (ví dụ formaldehyde và các chất dể bay hơi khác) Tổn thương thường gặp nhất là bỏng
- Từ chất thải gây độc tế bào
Nhiều thuốc điều trị ung thư là thuốc gây độc tế bào Chúng có thể gây kích thích hay tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn hay đau đầu Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung thư qua da, qua đường tiêu hóa do thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào
- Từ các chất thải phóng xạ
Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề đột biến gen trong thời gian lâu dài
- Khí thải từ lò đốt rác
Khi quá trình đốt cháy không hoàn toàn có thể dẫn dến nguy cơ tạo thành dioxin, một loại hóa chất vô cùng nguy hại ngay cả khi ở nồng độ thấp Các kim loại nặng như thủy ngân (Hg) có thể phát thải theo khí lò đốt Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý kịp thời sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của bệnh nhân , cán bộ nhân viên và cộng đồng dân cư xung quanh
1.4 Một số nghiên cứu về quản lý chất thải y tế
1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế (CTYT) đã được tiến hành nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải…);
Trang 15Tác hại của CTYT đến với môi trường, sức khỏe; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đến môi trường và sức khỏe cộng đồng….[ ]
a Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu cực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của các nhân viên y tế trong việc khám chữa bệnh , chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng [ ]
Bảng 1.1 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới [ ]
Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải y
tế kg/giường/ngày)
Chất thải y tế nguy hại(kg/giường/ngày) Bệnh viện trung ương 4,1 – 8,7 0,4 – 1,6
b Phân loại chất thải y tế
Theo khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau:
+ Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt bao gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại)
+ Chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm)
+ Chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn) + Chất thải hóa học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào)
+ Chất thải nguy hiểm khác (Chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao)
Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải
có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân
Trang 16động vật, các phần cơ thể…); Các vật sắc nhọn không sử dụng; các chất thải gây độc tế bào; Chất phóng xạ [ ][ ][ ]
c Quản lý chất thải y tế
Theo tổ chức y tế thế giới, có 18-64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử
lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế, 12.5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim tiêm và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vẫn chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [ ]
Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức y tế thế giới về sức khỏe có nói trong hội nghị WHO (1997) môi trường khu vực Châu Á, phần lớn các nước đang phát triển không quản lý tốt CTYT, chưa có biện pháp phân loại CTYT
mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải [ ]
Ở các nước phát triển đã có biện pháp xử lýCTYT đáng tin cậy như công nghệ đốt rác bằng lò vi song, tuy nhiên đây không phải biện pháp hữu hiệu đối với các nước đang phát triển.Vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số biện pháp xử lý CTYT để thay thế như Philippin đã
áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải thoát ra từ các thùng rác có nắp đậy kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận hức trước hết cho các bệnh nhân về mối nguy hại của CTYT gây ta để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp.[ ]
d Quá trình quản lý chất thải rắn y tế trước khi xử lý
* Thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế
Tại các nước phát triển, có 2 mô hình thu gom và vận chuyển CTRYT:
+ Hệ thống hút chân không tự động:
Trang 17+ Thu gom và vận chuyển bằng các thiết bị chuyên dụng với các phương tiện và dụng cụ thích hợp
- Nguyên tắc làm việc của hệ thống này như sau: sau khi phân loại tại nguồn, CTRYT được chuyển tới xe tải chuyên dụng thông qua hệ thống chân không tự động được thiết kế ngay trên xe hoặc ở một trạm nào đó Tất cả CTRYT được chuyển theo đường ống ở gầm xe tải Khí ô nhiễm do chất thải tạo ra sẽ được làm sạch trước khi thải ra môi trường
Ưu điểm của hệ thống: hệ thống hút chân không tự động cho phép hạn chế một cách tối đa lượng xe ra vào lấy rác ở các khu trung tâm thành phố và các bệnh viện là nơi tập trung đông người, điều kiện đất đai chật hẹp, dể gây bụi, tiếng ồn… Nhờ đó, có thể làm giảm ô nhiễm môi trường, ách tắc giao thông và hạn chế một cách tối đa sự tiếp xúc của con người với chất thải y tế Cho tới nay, trên thế giới đã có 500 hệ thống tương tự như Washington (Mỹ, 1997), Tokyo (Nhật Bản, 1973)…
- Nhược điểm của hệ thống: đòi hỏi phải đầu tư kinh phí lớn, công tác vận hành và duy trì đòi hỏi có công nhân trình độ cao Do đó, hệ thống này thường được áp dụng ở những nước phát triển có tiềm lực kinh tế mạnh
Trang 18nơi chất thải phát sinh sau đó cho vào túi nilon màu vàng rồi vận chuyển tiêu hủy
-Khử trùng bằng hóa chất: clo, hyoclorite… là phương pháp rẻ tiền, đơn giản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêu diệt hết vi khuẩn trong rác
- Khử trùng bằng nhiệt độ ở áp suất cao: là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưởng cao nhưng có nhược điểm là gây mùi khó chịu
- Khử trùng bằng siêu cao tầng: khử trùng tốt, năng suất cao Tuy nhiên, đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêu cầu có chuyên môn, là phương pháp chưa phổ biến
+ Phương pháp trơ hóa (cố định và đóng rắn) Đây là phương pháp được sử dụng phổ bến rộng rãi để xử lý chất thải nguy hại trong đó có cả CTRYT Đó là quá trình xử lý chất thải nguy hại được trộn với phụ gia hoặc bê tông để đóng rắn chất thải nhằm không cho các thành phần ô nhiễm lan truyền ra ngoài,
Công nghệ này đang được áp dụng để:
- Cải tạo khu vực chứa chất thải nguy hại ;
- Xử lý các sản phẩm nguy hại của các qúa trình xử lý khác;
- Xử lý và tồn trữ các chất thải nguy hại an toàn hơn, giảm thiểu khả năng phát tán ra ngoài môi trường xung quanh
+ Phương pháp chôn lấp là phương pháp lưu giữ chất thải trong một bãi và có phủ đất lên trên Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh là phương pháp kiểm soát sự phân hủy của chất thải khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt
Ưu điểm:
+ Vốn đầu tư thấp
+ Quản lý dễ
Nhược điểm:
Trang 19+ Phương pháp đốt là phương pháp oxy hóa nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó rác sẽ được chuyển hóa thành khí và các chất trơ không cháy Đây là phương pháp phổ biến, nhiều nơi áp dụng
Ưu điểm: xử lý triệt để rác, tiêu diệt vi sinh gây bệnh và các chất ô
nhiễm khác, diện tích xây dựng nhỏ, vận hành đơn giản và có thể xử lý rác có chu kỳ phân hủy dài
Nhược điểm: chi phí đầu tư vận hành cao, thiêu đốt một số chất thải
chứa clo, kim loại nặng phát sinh ra bụi, chất ô nhiễm độc hại như dioxin…
1.4.2 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
a Tình hình chung
Tại Việt Nam hiện nay có 13.149 cơ sở y tế, trong đó có 30 cơ sở trực thuộc Bộ Y tế, 12.259 cơ sở trực thuộc Sở Y tế cấp tỉnh và 860 các cơ sở khác Đây chính là nguồn gây ra chất thải y tế chủ yếu
Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế về thực trạng quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế trên cả nước: tổng lượng chất thải rắn phát sinh
từ các cơ sở y tế vào khoảng 350 tấn/ngày, trong đó có 40,5 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại năm 2010, số lượng chất thải y tế là hơn 380 tấn/ngày (trong đó có khoảng 45 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại), đến năm 2015
là 600 tấn/ngày và năm 2020 là khoảng trên 800 tấn/ngày
Trang 20Hiện nay, chỉ có khoảng 50% các bệnh viện thực hiện phân loại, thu gom CTRYT đạt yêu cầu theo Quy chế quản lý chất thải y tế Vấn đề quản lý, xử
lý CTYT tại tuyến xã chưa được quan tâm và thực hiện, hầu hết các trạm y
tế xã chưa thực hiện xử lý CTYT trước khi xả ra môi trường Thực hiện luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và nhằm hạn chế các tác hại do chất thải y tế gây ra, ngày 30 tháng 11 năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành Quy chế Quản lý chất thải y tế kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT áp dụng cho tất cả các cơ sở y tế và các tổ chức, cá nhân tham gia vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế
Với tính chất là cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu, nhưng các chất thải
từ trạm y tế cũng mang đầy đủ tính chất nguy hại như chất thải từ các bệnh viện, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu trên quy mô toàn quốc về tình hình quản lý chất thải tại các trạm y tế
b Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Lượng chất thải y tế phát sinh là cơ sở quan trọng để xác định khối lượng thu gom, công suất lò đốt Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu trong nước về tổng lượng CTYT phát sinh tại địa bản trên cả nước có sự sai lệch: Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Khiển là 50-
70 tấn/ngày; Nguyễn Huy Nga (Bộ y tế) là 16,5 tấn/ngày; Lê Doãn Diên 37,5 tấn/ngày; theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004 là 57,5 tấn/ngày; của Bộ xây Dựng là 34 tấn/ngày Sở dĩ có sự chênh lệch như vậy vì một số đề tài khi nghiên cứu về lượng CTYT phát sinh có xét đến cả chất thải xây dựng, bùn bể phốt… Một số đề tài chỉ xét đến lượng CTYT phát sinh khi cần thiêu đốt Theo kết quả khảo sát của Bộ y tế (2001) tại 280 bệnh viện lượng CTYT phát sinh mỗi ngày khoảng 429 tấn/ngày, trong đố ượng CTYT nguy hại khoảng 34 tấn/ngày, ước tính tổng lượng khoảng 15 triệu tấn/năm CTYT, trong đố có khoảng 21.000 tấn/năm CTYT nguy hại khoảng 34 tấn/ngày, ước tính tổng lượng khoảng 15 triệu tấn/năm CTYT, trong đố có khoảng 21.000 tấn/năm CTYT nguy hại
Trang 21Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị- Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm
1998, cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ
sở y tế rất khác nhau Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lượng CTYT phát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khóa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoa ngoại có lượng CTYT phát sinh lớn nhất
Bảng 1.2 Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam
Tuyến bệnh viện Đơn vị Tổng lượng
CTYT
CTYT nguy hại
Bệnh viện trung ương (kg/giường bệnh) 0.97 0.16
* Về quản lý rác thải:
Kết quả đều tra 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cả nước cho thấy 94,2% bệnh viện phân loại CTYT tại nguồn phát sinh, chỉ có 5,8% bệnh viện chưa thực hiện các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh, bệnh viện tư nhân thực hiện phân loại CTYT ngay tại nguồn tốt hơn các bệnh viện tuyến huyện, nghành Có 93,9% bệnh viện thực hiện tách riêng vật sắc nhọn ra khỏi CTYT, hầu hết các bệnh viện sử dụng chai lọ nhựa, lọ truyền dùng để đựng kim tiêm Nhưng qua kiểm tra thực tế, việc phân loại CTYT ở 1 số bệnh viện
Trang 22chưa chính xác 85% bệnh viện sử dụng mã màu trong việc phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải
* Về nước thải:
Kết quả kiểm tra của Bộ y tế (2004) tại 175 bệnh viện ở 14 tỉnh, thành phố thì có đến 31,5% bệnh viện không có hệ thống thoát nước thải, chủ yếu các bệnh viện tuyến huyện Trong số bệnh viện có hệ thống thoát nước thì có tới 47,4% bệnh viện sử dụng hệ thống thoát nước chung cả nước mưa, nước thải sinh hoạt, nước thải y tế; chỉ có 21,1% bệnh viện có hệ thống thoát nước riêng biệt; 26,3% bệnh viện có hệ thống thoát nước kín; 31,4% hở và 42,3% vừa kín vừa hở
Theo báo cáo Bộ y tế (2009) năm 2006 tỷ tệ bệnh viện có hệ thống xử
lý nước thải tuyến trung ương là 71% tuyến tỉnh là 46% tuyến huyện là 30%
và bệnh viện tư nhân là 85% Tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải là 37% và chỉ có khoảng 30% trong số này đạt tiêu chuẩn cho phép Hiện cả nước có gần 640 bệnh viện cần được trang bị hệ thống xử lý nước thải, số bệnh viện cần cải tạo lại hệ thống xử lý nước thải khoảng 220 bệnh viện.[ ]
* Về xử lý khí thải bệnh viện:
Chỉ có một số bệnh viện lớn có hệ thống xử lý khí thải hoặc có hotte hút hơi khí động tại các khoa/phòng xét nghiệm., Xquang, còn đa số các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý khí thải
Trang 23sử dụng hết công suất, khi so sánh với tổng công suất của các lò đốt với lượng CTYT phát sinh, đã cho thấy, các lò đốt được lắp đặt đã đáp ứng đủ khối lượng phát sinh tại thời điểm Qua đó chứng tỏ rằng vẫn còn 1 khối lượng lớn CTYT chưa được thu gom và xử lý đúng cách [ ]
* Xử lý nước thải bệnh viện:
Một số bệnh viện như Bệnh viện đa khoa và Bệnh viện Lao Tuyên Quang; Bệnh viện C và bệnh viên lao phổi Thái Nguyên; Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La… đã và đang áp dụng công nghệ xử lý nước thải bệnh viện theo phương pháp lọc sinh học ngập nước cải tiến hoặc phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt [ ]
e Tác hại và nguy cơ của chất thải y tế đến môi trường và sức khỏe cộng
đồng tại Việt Nam
* Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường:
Một số nghiên cứu đã cho thấy ô nhiễm môi trường chủ yếu là môi trường nước và không khí
Theo tài liệu thu thập của Trần Thị Minh Tâm (2006): Kết quả điều tra quản lý CTYT tại một số bệnh viện ngoại thành Hà Nội cho thấy: các chỉ tiêu trong nước thải như COD, BOD5, NH4, coliform và Fecal coliform ở mức độ
ô nhiễm nặng so với tiêu chuẩn cho phép 100% mẫu nước sinh hoạt tại các khoa không đạt tiêu chuẩn vi sinh vật, các chỉ số Coliform và fecal coliform, BOD, COD đều cao so với tiêu chuẩn cho phép.Các vi khuẩn có khả năng gây bệnh phân lập từ nước sinh hoạt, nước thải, không khí và dụng cụ chuyên khoa tại các bệnh viện chủ yếu là vi khuẩn đường ruột.[ ]
* Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng:
Các nghiên cứu ở Việt Nam đã có những đánh giá về tình hình thương tích của cán bộ nhân viên bệnh viện do các vật sắc nhọn gây ra qua phỏng vấn trực tiếp Một số nghiên cứu đã đề cập đến những ảnh hưởng của chất thải y
tế đối với cộng đồng xung quanh bệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu nào đi
Trang 24sâu đánh giá thực trạng tác động của chất thải y tế đối với sức khỏe ở những người tiếp xúc với CTYT
Các loại chất thải từ các cơ sở y tế thải ra gồm chất thải thông thường, chất thải y tế, chất thải hóa học, chất thải phóng xạ và các vật chứa có áp suất Chất thải y tế có các nhóm khác nhau phải được phân loại càng gần nơi thải ra càng tốt để có biện pháp xử lý phù hợp Chất thải y tế có 5 nhóm, hiện nay mỗi nhóm có một phương pháp xử lý tùy theo điều kiện của mỗi cơ sở y tế
Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niêm mạc; đường hô hấp; đường tiêu hóa Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng sinh
và kháng hóa chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải
y tế không an toàn Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị nhiễm bẩn Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp nhất trong cơ sở y tế
Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại (ví dụ chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng thường ở khối lượng thấp Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất qua đường da niêm mạc, qua đường hô hấp, tiêu hóa
Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào Chúng có thể gây kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da
Đối với nguy cơ của chất thải phóng xạ, cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề đột biến gen trong dài hạn.[ ][ ]
Trang 251.5 Các văn bản liên quan đến quản lý, xử lý chất thải y tế:
- QCVN 02: 20012/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải
- Quyết định số 43/2007/QĐ – BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng
Bộ y tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế
- Quyết định số 155/1999/QĐ – TTg ngày 16/7/1999 của thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại
- Quyết định số 1895/QĐ – BYT ngày 19/09/1997 ban hành quy chế bệnh viện trong đó có quy chế công tác xử lý chất thải, khoa chống nhiễm khuẩn bệnh viện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và giám sát việc xử lý chất thải trong toàn bệnh viện
1.6 Giới thiệu về bệnh viện Y Học Cổ Truyền Tỉnh Điện Biên
Bệnh viện Y học cổ truyền (YHCT) tỉnh Điện Biên là đơn vị sự nghiệp
y tế, trực thuộc Sở y tế là tuyến khám bệnh bằng y học cổ truyền cao nhất của tỉnh Điện Biên Đồng thời cũng là nơi tuyên truyền giáo dục sửa khỏe cộng đồng, nghiên cứu khoa học kết hợp với khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền góp phần phong phú và phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam
Bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên nằm ở phường Mường Thanh, thành
Trang 26- Phía Bắc giáp với khu dân cư và đường Tôn Thất Tùng kéo dài đi về hướng trung tâm thành phố
- Phía Tây giáp khu đất của Trung học Y tế cũ và khu dân cư
- Phía Nam giáp với khu đất truyền thống
- Phía Đông giáp với khu dân cư và khu đất trường trung học y tế cũ Bệnh Viện Y học cổ truyền tỉnh Điện Biên nằm trên địa bàn phố 25 và
26 Trong phạm vi 2km so với ranh rới của bệnh viện thì có những đối tượng sau:
- Đối tượng tự nhiên: Có suối Hông Líu, nằm ngay phía sau bệnh viện
là nơi tiếp nhận chất thải của bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên và nước thải sinh hoạt của người dân tổ dân phố 25 và 26
- Đối tượng Kinh tế- Xã hội: từ cổng bệnh viện đi theo đường Tôn Thất Tùng về phía trung tâm thành phố có nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên Phủ, bảo tàng chiến thắng ĐBP, khu di tích lịch sử đồi A1; dọc theo đường Hoàng Văn Thái có sân vận động tỉnh, trường chuyên Lê Quý Đôn
- Phạm vi nghiên cứu : khu vực bệnh viện YHCT và khu vực lân cận Quy mô của bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên:
Bệnh viện gồm 100 giường bệnh gồm những khoa phòng sau:
Bảng 1.3 Các đơn vị chức năng của bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên
Trang 27CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý môi trường bệnh viện và bảo vệ sức khỏe người dân khu vực thành phố Điện Biên Phủ
- Mục tiêu cụ thể:
+ Nghiên cứu hiện trạng về chất thải y tế ảnh hưởng đến môi trường tại bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên nhằm giảm thiểu các yếu tố nguy hại đến sức khỏe con người và môi trường của chất thải y tế phát sinh từ các hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện để bảo vệ sức khỏe của nhân viên y tế, người bệnh và cộng đồng xung quanh
+ Tìm hiểu về công tác quản lý, xử lý chất thải y tế tại bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên để thấy được ban lãnh đạo bệnh viện đã quan tâm và hiểu được tầm quan trọng của việc quản lý môi trường ở bệnh viện hay chưa
+ Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế phù hợp cho bệnh viện
Y Học Cổ Truyền tỉnh Điện Biên để nâng cao chất lượng môi trường tại bệnh viện
2.2 Đối tượng nghiên cứu
*Chất thải y tế
- Chất thải rắn y tế: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải thông thường
- Nước thải bệnh viện: nước thải từ các hoạt động của bệnh viện
- Hồ sơ, sổ sách quản lý chất thải y tế của bệnh viện
* Nhân viên y tế, vệ sinh viên và bệnh nhân là những người phơi
Trang 28* Cơ sở vật chất, trang thiết bị và quản lý chất thải:
- Dụng cụ thu gom, vận chuyển, lưu trữ chất thải y tế
- Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ 13/2/2017 đến 12/5/2017
- Địa điểm: Bệnh viện Y Học Cổ Truyền tỉnh Điện Biên
2.4 Nội dung nghiên cứu
+ Thực trạng và ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường tại bệnh viện Y Học Cổ Truyền tỉnh Điện Biên
+ Thực trạng công tác quản lý, xử lý môi trường tại bệnh viện Y Học
Cổ Truyền tỉnh Điện Biên
+ Đề xuất các giải pháp quản lý môi trường tại bệnh Y Học Cổ Truyền tỉnh Điện Biên
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1.Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
- Thu thập số liệu trực tiếp:
Dựa vào phiếu điều tra: tiến hành phỏng vấn cán bộ, bệnh nhân và người dân xung quanh khu vực Đề tài đã phát ra 50 phiếu phỏng vấn (10 phiếu cho cán bộ y tế bệnh viện, 20 phiếu phỏng vấn cho bệnh nhân và 20 phiếu phỏng vấn cho người dân xung quanh), nội dung phỏng vấn gồm: khối lượng CTR một giường bệnh thải ra trong một ngày đêm, công tác vệ sinh môi trường tại bệnh viện…
Quan sát trực tiếp quá trình quản lý, xử lý chất thải y tế tại bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên từ đó đưa ra những nhận xét khách quan ban đầu và chấm điểm theo thang điểm 10 cho từng mục yêu cầu để đánh giá công tác quản lý, xử lý chất thải y tế tại bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên
- Thu thập số liệu gián tiếp:
Sử dụng những kết quả đã xin được từ bệnh viện thu thập số liệu về thành phần và khối lượng CTYT trong năm gần đây của bệnh viện
Trang 29- Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp:
Tổng hợp số liệu đã phân tích và các số liệu thu thập được, đánh giá kết quả thu thập được để tìm ra giải pháp thích hợp cho công tác quản lý chất thải rắn ở bệnh viện Y Học Cổ Truyền Tỉnh Điện Biên
Dùng cho đánh giá điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội và các hoạt động trao đổi buôn bán sản xuất của người dân xung quanh khu vực bệnh viện có ảnh hưởng đến hoạt động của bệnh viện nói chung và hoạt động quản lý chất thải rắn nói chung
Đánh giá sự biến động về số lượng và khối lượng chất thải trong suốt thời gian hoạt động bệnh viện vừa qua
Đánh giá tốc độ phát sinh và tốc độ thu gom chất thải của bệnh viện
Chỉ số chất lượng nước (WQI) là một chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng nguồn nước đó
WQI thông số (WQISI) được tính toán cho các thông số BOD5, COD, NH4, P-PO4, TSS, độ đục, tổng coliform theo công thức sau:
( )
Trang 30BPi : Nồng độ giới hạn dưới của giá trị thông số quan trắc tương ứng i
BPi+1 : Nồng độ giới hạn trên của giá trị thông số quan trắc tương ứng với
mức i+1
qi : Giá trị WQI ở mức i đã cho trong bảng tương ứng với giá trị BPi
qi+1 : Giá trị WQI ở mức i+1 cho trong bảng tương ứng với giá trị BPi+1
Cp : Giá trị của thông số quan trắc được đưa vào tính toán
Bảng 2.1 : Bảng giá trị quy định qi và BPi
i q i Giá trị BPi quy định đối với từng thông số
BOD 5
(mg/l)
COD (mg/l)
TSS (mg/l)
Coliform (MPN/100ml)
Tính WQI đối với thông số DO ( , tính toán thông qua giá trị
DO% bão hòa:
( )
Trong đó:
Cp: giá trị DO % bão hòa
BPi, BPi+1, qi, qi+1 là các giá trị tương ứng với mức i, i+1 trong bảng 2.2
Bảng 2.2: Bảng quy định các giá trị Bpi và qi đối với DO % bão hòa
BPi ≤ 20 20 50 75 88 112 125 150 200 ≥ 200
qi 1 25 50 75 100 100 75 50 25 1
Trang 31- DObão hòa = 14,652 – 0,41022T + 0,0079910T2 – 0,000077774T3
T: nhiệt độ đo được khi quan trắc chất lượng nước mặt
- DO%bão hòa =
DOhòa tan : giá trị DO quan trắc được (mg/l)
3 Tính WQI với thông số pH
Bảng 2.3: bảng quy định các giá trị Bpi và qi đối với thông số pH
+WQIb : Giá trị WQI đã tính toán đối với 02 thông số: TSS, độ đục
+WQIc : Giá trị WQI đã tính toán đối với thông số Tổng Coliform
+ : Giá trị WQI đã tính toán đối với thông số pH
- Để đánh giá chất lượng không khí một cách tổng quát và dễ hình dung nhất tôi sử dụng chỉ số chất lượng không khí ( AQI ) được tính toán theo sổ tay hướng dẫn ban hành kèm quyết định số 878/QĐ- TCMT ngày 01/7/2011 của tổng cục môi trườn Theo hướng dẫ này chỉ số AQI là chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc các chất ô nhiễm trong không khí, nhằm cho biết tình trạng chất lượng không khí và mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe con
Trang 32Cách tính giá trị AQI theo giờ
- Giá trị AQI theo giờ từng thông số ( )
TSx : Giá trị quan trắc trung bình 1h của thông số X
QCx : Giá trị chuẩn trung bình 1 giờ của thông số X
: Giá trị AQI theo giờ của thông số X ( được làm tròn thành số nguyên)
- Giá trị AQI theo giờ
Sau khi đã có giá trị AQIxh
theo giờ của mỗi thông số, chọn giá trị AQI lớn nhất của 05 thông số trong cùng một thời gian (1h) để lấy làm giá trị AQI theo giờ :
AQIh = max(AQIxh)
* So sánh chỉ số chất lượng không khí đx được tính toán với bảng Sau khi tính toán được chỉ số chất lượng không khí, sử dụng bảng xác định giá trị AQI tương ứng với mức cảnh cáo chất lượng không khí và mức
độ ảnh hưởng tới sức khỏe con người để so sánh đánh giá cụ thể như sau :
Bảng 2.4: Đánh giá chất lượng không khí dựa trên giá trị AQI
Khoảng giá
trị AQI
Chất lượng không khí Ảnh hưởng sức khỏe Màu 0-50 Tốt Không ảnh hưởng đến sức khỏe Xanh
51-100 Trung bình Nhóm nhạy cảm nên hạn chế thời
gian ở bên ngoài Vàng 101-200 Kém Nhóm nhạy cảm cần hạn chế thời
gian ở bên ngoài Da cam
Trên 300 Nguy hại Mọi người nên ở trogn nhà Nâu
Nhóm nhạy cảm bao gồm : trẻ em, người già và những người mắc bệnh hô hấp
Trang 33CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Mô tả các nguồn chất thải, đánh giá tác động của chất thải
Lượng cán bộ công tác tại bệnh viện là 100 người, làm việc chuyên môn theo giờ hành chính và ca trực Lượng bệnh nhân điều rị nội trú trung bình khoảng 11 người/ ngày Số lượng này không lớn so với quy mô bệnh viện nên các hoạt động sinh hoạt cá nhân tại đây tương đối ít
Theo như điều tra và ước lượng thì ta có số liệu rác thải trung bình 1 ngày của bệnh viện cụ thể như sau:
Bảng 3.1: Lượng rác thải trung bình 1 ngày của bệnh viện (kg/ ngày)
( trung bình 1 ngày
Khối lượng rác (trung bình 1 ngày)
Tổng khối lượng rác
Trang 34b Đánh giá tác động
Để đánh giá tác động của chất thải rắn thông thường đến môi trường khu vực xung quanh bệnh viện YHCT đã phân tích mẫu đất và có kết quả như sau: Địa điểm lấy mẫu:
- Mẫu đất 1(MĐ1) Tại vườn thuốc Nam của bệnh viện
- Mẫu đất 2 (MĐ2) Tại khuôn viên bệnh viện
Kết quả phân tích mẫu đất thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.2: Kết quả phân tích mẫu đất
- (-) không quy định, không phát hiện được
- QCVN 03:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất, đối với đất dân sinh
Nhận xét:
Qua bảng trên ta thấy, các thông số phân tích đều nằm trong giới hạn
cho phép, chứng tỏ chất lượng môi trường đất trong vùng dự án là khá tốt
Trang 35Hình 3.1 : Giá trị As, Pb trong đất
Hàm lượng các kim loại nặng trong đất rất thấp nằm dưới quy chuẩn cho phép nhiều lần Đánh giá chung hoạt động của bệnh viện chưa tác động quá xấu đến môi trường xung quanh khu bệnh viện
3.1.1.2 Chất thải rắn nguy hại
a Nguồn phát sinh
Đặc trưng của chất thải rắn bệnh viện có chứa một lượng nhất định các vật
tư y tế tiêu hao, vật phẩm y tế như bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm và các vật sắc nhọn; chất thải rắn trong quá trình giải phẫu như các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người, rau thai, bào thai, xác động vật thí nghiệm, cùng với các chất thải khác Nhiều lọi vật phẩm y tế thường mang các vi khuẩn, vi trùng gây bệnh hoặc là môi trường rất thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển do vậy nếu không được thu gom và xử lý thích hợp sẽ là nguồn lây lan bệnh tật ra môi trường xung quanh
- Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị- Bộ y tế tại 24 bệnh viện năm
1998 thì lượng chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam là như
Trang 36( Nguồn: kết quả khảo sát Vụ Điều trị - Bộ y tế năm 1998)
Dựa theo bảng thông kê trên ta xác định được tương đối khối lượng chất thải rắn nguy hại của bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên là 0,14kg/giường bệnh Với lượng bệnh nhân điều trị nội trú trung bình 11 người/ ngày thì lượng CTYT nguy hại tại bệnh viện YHCT là 1,54 kg/ngày
- Đối với chất thải lây nhiễm:
Bảng 3.4: Thống kê khối lượng chất thải rắn phát sinh
tại bệnh viện YHCT
Thời gian Chất thải lây nhiễm (kg)
* Nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt phát sinh từ các khu khám chữa bệnh, các nhà vệ sinh, nhà ăn, nhà hành chính…
Theo như điều tra thì lượng nước cấp trung bình trong 1 ngày đêm tại bệnh viện là 40 m3
Lượng nước thải phát sinh ước tính bằng 80% tổng lượng cấp
(theo WHO) Do đó lượng nước thải sinh hoạt phát sinh trung bình trong 1
ngày tại bệnh viện là: (40*80)/100% = 32 m3/ ngày đêm
*
Trang 37Nước thải y tế
Nước thải y tế phát sinh chủ yếu từ các phòng xét nghiệm Năm 2016 tổng
số lần xét nghiệm là 22.738 lượt, trung bình 62 lượt/ ngày Theo thống kê thu thập được từ bệnh viện YHCT, lượng hóa chất sử dụng cho xét nghiệm là:
- Hóa chất xét nghiệm sinh hóa là 8,8 lít/năm
- Hóa chất xét nghiệm huyết học là 56 lít/năm
- Hóa chất khử khuẩn Cidex là 15 lít/năm và Naphacept là 440 viên/ năm Lượng nước sử dụng cho các phòng thí nghiệm khoảng 8 m3/ ngày Lượng
nước thải ra có ước tính bằng 80% lượng nước sử dụng (theo WHO) vào
khoảng 6,4 m3/ ngày Có thể thấy, lượng nước và hóa chất sử dụng cho các xét nghiệm không nhiều, nước thải ra đều được xử lí bằng hệ thống xử lí nước thải của bệnh viện trước khi thải ra môi trường nên mức độ gây ảnh hưởng đến môi trường của nước thải y tế tại bệnh viện YHCT là không đáng kể
3.1.2.2 Đánh giá tác động
a Nước thải
Địa điểm lấy mẫu:
- Mẫu nước thải 1 (NT1): Nước lấy tại cống sau hệ thống xử lý nước thải bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên
- Mẫu nước thải 2 (NT2): Tại cống thải sau khu nhà sắc thuốc
Kết quả phân tích mẫu nước thải
Trang 38Bảng 3.5: Kết quả phân tích mẫu nước thải
Nhận xét:
Trang 39Hình 3.2 : Giá trị BOD 5 , COD và TSS trong nước thải
với giới hạn cho phép
Nhận xét
Qua bảng và hình cho thấy:
Mẫu nước thải NT1- nước thải lấy tại khu vực cống thải sau hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện thấp hơn mức giới hạn chp phép của QCVN 28:2010/BTNMT, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế, cột B quy định giá trị C của các thông số và các chất gât ô nhiễm làm cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép trong nước thải y tế khi thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt
Nước thải tại vị trí NT2- nước thải lấy tại khu vực nhà sắc thuốc có kết quả cao hơn ngưỡng cho phép tại thông số TSS là 133 mg/l, thống số COD là 289,5 cao gần gấp 3 lần so với GHCP của QCVN 08:2010/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải Tại vị trí này nước thải chưa qua hệ thống xử lý