Microsoft Word 6 NgưỚi lái Ăò sông ĒÀ NGuyá»–n Tuân ♥ Tài liệu khóa học nhóm “2K3 – ÔN THI HỌC SINH GIỎI” (cô Trần Thùy Dương) ♥ —————————————————————————————————————————————— Tài liệu lưu h[.]
Trang 1——————————————————————————————————————————————
A Nhà văn Nguyễn Tuân (1910 – 1987)
1 Cuộc đời
Tiểu sử
- Nguyễn Tuân (1910 – 1987), quê ở làng Nhân Mục (nay là làng Mọc, thuộc phường Nhân Chính), quận Thanh Xuân, Hà Nội
- Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước nhưng lại vào giai đoạn Hán học suy tàn Cha ông là Cụ Nguyễn An Lan (hay còn gọi là Tú Hải Văn) - là người nổi tiếng với những thú vui tao nhã của những bậc Nho sĩ “khinh quan, bạc lợi” Có lẽ cũng chính vì vậy, mà trong nhưng trang văn của Nguyễn Tuân luôn có dấu ấn của một thời vang bóng, có nét cổ kính của một thời vàng son và hiển hiện lên phong vị của mảnh đất nghìn năm văn hiến
- Nguyễn Tuân bắt đầu sự nghiệp và bước vào làng văn khá muộn so với các nhà thơ cùng thời Tuy nhiên ông vẫn để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ và trở thành một trong 5 tác gia có tầm ảnh hưởng lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại
Cuộc đời
- Nguyễn Tuân là một người phóng túng, thích đi ngao du Chính nhờ đi nhiều, nên Nguyễn Tuân đã “tích” cho mình vốn kiến thức sâu rộng không chỉ và tài về câu chữ, mà
ở đó còn là sự trải nghiệm thực từ chính những bước chân đặt lê mỗi vùng đất mới của ông Điều này cũng lý giải tại sao trong mỗi trong văn của mình, Nguyễn Tuân luôn “phô” những liên tưởng mà nếu ngồi “thụ động” đọc, sẽ không hiểu ông đang viết gì
- Nguyễn Tuân chỉ học hết bậc thành trung (tương đương cấp THCS) Ông bị đuổi học, vì tham gia vào việc bãi khóa để phản đối giáo viên người Pháp nói xấu người Việt
- Cuộc đời Nguyễn Tuân trải qua 2 lần lao tù Lần 1: Do vượt biên giới Đông Dương sang Thái Lan không có giấy phép Lần 2 Do giao du với những người hoạt động cách mạng
- Nhưng sau đó, ông lại là người gắn bó sâu sắc với Cách mạng Ông đi theo Cách mạng,
Cô Trần Thùy Dương
Tài liệu miễn phí
Tùy bút “Người lái đò sông Đà” - Nguyễn Tuân
Trang 2——————————————————————————————————————————————
những người cầm súng và người lao động, mà “Người lái đò sông Đà: là một trong những tác phẩm thể hiện sự gắn bó với Cách mạng, với cuộc sống mới một cách rõ nét nhất
- Suốt cuộc đời mình, Nguyễn Tuân phong lưu nay đây mai đó, xê dịch khắp chốn, lãng
du giang hồ Thế những, mấy ai nghĩ rằng, một người có tính cách “ngông” như ông lại dính với nghiệp cầm bút – một trong những nghề đời hỏi sự cần mẫn, chuyên tâm, sáng tạo Vậy mà, Nguyễn Tuân lại hoạt động nghệ thuật, ham mê sáng tạo một cách say sưa Ông là một tấm gương sáng về lao động nghệ thuật, là một trong những nhà văn được đánh giá là hàng đầu của nền văn học Việt Nam hiện đại
2 Con người: Nguyễn Tuân là một định nghĩa chuẩn về người nghệ sĩ
cá tính, phóng túng, thậm chí có phần ngang ngược Nhưng đó lại là một người có tấm lòng tha thiết với quê hương, đất nước và luôn ý thức về tinh thần dân tộc
thực dân nửa phong kiến, đi nhiều để thỏa lấp cảm giác “thiếu quê hương”, hướng về vẻ đẹp “Vang bóng một thời” để xa rời thực tại Nhưng tình yêu trong Nguyễn Tuân được thể hiện ở một cách rất riêng, nó gắn bó với những giá trị văn hóa cổ truyền
+ Ông yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ, những làn điệu dân ca, những phong cảnh đẹp, hay thú chơi tao nhã, những món ăn truyền thống của người Việt
+ Ông am hiểu nhiều ngành nghệ thuật, am hiểu một cách sâu sắc, am hiểu tường tận về hội họa, âm nhạc, đặc biệt rất yêu thích điện ảnh
để khẳng định cá tính độc đáo của mình Ông ham mê du lịch, thích đi đây đi đó, tự gán cho mình chứng bệnh gọi là “chủ nghĩa xê dịch” Và trước cách mạng, ông có nguyên một mảng đề tài cho sở thích này Sau cách mạng, ông ý thức hơn về trách nhiệm của mình và gắn bố sâu sắc với cách mạng, nhưng trong những áng văn của ông, vẫn thấp thoáng dấu
ấn của sự “xê dịch” để tìm kiếm vẻ đẹp của thiên nhiên và con người
đàn dân tộc, Nguyễn Tuân đã ý thức điều này rất rõ Nguyễn Tuân sợ mình của ngày hôm nay, giống với mình của ngày hôm qua, sợ sự lặp lại, nhạt nhẽo, hời hợt tầm thường Ông quan niệm nghê văn là một cái gì đó đối lập với tính vụ lợi kiểu con buôn, và ở đau có đồng tiền phàm tục thì ở đấy không thể có cái đẹp Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao
Trang 3——————————————————————————————————————————————
động nghiệm túc, thậm chí “khổ hạnh” và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế
kỉ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy
3 Sự nghiệp sáng tác
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân chia làm hai giai đoạn: Trước và sau Cách mạng Qua hai thời kì, ngòi bút của Nguyễn Tuân có nhiều chuyển biến về cả đề tài, tư tưởng chính trị, thẩm mĩ Tuy nhiên không có sự đứt đoạn giữa hai thời kì, nhiều nét phong cách cơ bản vẫn được phát huy tạo nên nét thống nhất Cơ sở của sự thống nhất này là tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc thể hiện trước cách mạng ở thái độ bất hòa, bất mãn với chế
độ thực dân, ở sự gắn bó thiết tha và đầy lòng tự hào đối với những giá trị văn hóa nghệ thuật, đối với truyền thống mĩ học của dân tộc
a Trước Cách mạng: Chủ yếu hướng đến 3 đề tài chính
không có mục đích, chỉ cốt tìm cảm giác mới lạ, thoát ki mọi trách nhiệm với gia đình, xã hội Nguyễn Tuân đã tìm đến chủ nghĩa này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc Nhưng không phải vì thế, mà Nguyễn Tuân mải mê đi, mà ông đi để bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và hương vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa
quá khứ, những dư âm một thời còn vang vọng lại, như những thú vui tiêu dao hưởng lạc lành manh và tao nhã, cách ứng xử giữa người với người hay những phong tục đẹp… Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp nahf nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thất thế, thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân
hoang mang bế tắc, tìm cách thoát li trong đàn hát, trong rượu và thuốc phiện Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục, niềm khát khao một thế giới tinh khiết, thanh cao được nâng đỡ trên đôi cánh của nghệ thuật
b Sau Cách mạng: Nguyễn Tuân sớm bắt kịp với cuộc sống mới của dân tộc và đề tại văn học cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ
Trang 4——————————————————————————————————————————————
ý thức phục vụ trên cương vị là một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình
đêm bảo vệ tổ quốc và hăng say làm giàu cho quê hương đất nước Ông coi họ là vất vàng mười của đất nước Dưới ngòi bút của ông, những nhân vật ấy không phải chỉ là những công dân dũng cảm mà còn là những con người tài hoa nghệ sĩ được mô tả trong khung cảnh cũng phù hợp với tính cách tài hoa nghệ sĩ Nó mang đên cho người đọc niềm tự hào của một dân tộc không chỉ có chính nghĩa và khí phách anh hùng, mà còn có tư thế sang trọng và đẹp của những con người sinh ra trên một đất nước có hàng nghìn năm văn hiến
4 Phong cách nghệ thuật
Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc, tất thảy đều được gói gọn trong một chữ “ngông”, chữ “ngông” ấy đã in hằn lên con người ông như một dấu
ấn khó phai mờ Thái độ “ngông” của Nguyễn Tuân không phải là ngông nghênh, ngạo nghễ mà là “ngông” của Nguyễn Tuân là ý thức rất rõ về tài năng, quan điểm, phẩm chất cũng như cốt cách của mình Điều đó ông được kế thừa từ các nhà nho tài tử và nền tảng gia đình cũng đóng góp một phần lớn trong đó
nghiên cứu đến tường tận, và luôn nhìn ở góc độ văn hóa thẩm mĩ, tức là khai thác ở phương diện cái đẹp Nhưng cái đẹp trong văn Nguyễn Tuân không phải là cái đẹp hời hợt
mà thấy, cái đẹp ấy là cái đẹp phi thường được tìm thấy ở những điều bình thường
hình tượng, ngôn từ, trí liên tưởng để làm rõ đối tượng miêu tả, nhưng lời câu, câu chữ cũng vẫn có yếu tố cổ kính, trang nghiên Nếu trước Cách mạng, ông tìm về vẻ đẹp “vang bóng” để tô đậm hình ảnh con người với vẻ đẹp một thời, còn sau cách mạng, dù đã bắt nhịp với cuộc sống mới nhưng văn ông không hề đối lập xưa và nay, cổ với kin mà tìm thấy
sự gắn bó giữa quá khứ, hiện tại và tương lai
chối những cái nhợt nhạt, tầm thường, bằng phẳng, quen thuộc… Ông phát hiện ra chất tài hoa nghệ sĩ không chỉ có ở những nhân vật phi thường, mà ở cả những người dân bình thường nhất cũng làm nên điều phi thường Nguyễn Tuân thích khám phá những điều chưa ai khơi, khợi gợi những điều chưa ai làm Chính vì vậy, ông hết vượt núi băng sông
Trang 5——————————————————————————————————————————————
để viết về đèo cao, vực thẳm, khám phá thác ghềnh, suối lũ… Và ông trở thành nhà văn
“đóng đinh” cho thể tùy bút cũng như một điều hiển nhiên
Tóm lại, chính cái tên Nguyễn Tuân đã đưa thể tùy bút lên một tầm cao mới, và văn đàn dân tộc khẳng định được tiếng vang khi có sự góp mặt của cái tên Nguyễn Tuân Bên cạnh đó, qua những trang văn bậc thầy về ngôn ngữ, Nguyễn Tuân đã có đóng góp không
hề nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam
B Tác phẩm
1 Thể loại
Tùy bút là một dạng có tính chất trung gian giữa tự sự với trữ tình, giữa thơ với văn xuôi, giữa yếu tố chủ quan và khách quan,… vừa có tính chất ghi chép (kí), vừa có chất thơ (trữ tình) vừa mang màu sắc triết học trong tư duy Trong tuỳ bút cũng có kể chuyện, thuật sự Nhưng cái mạch chính, ưu trội lên, luôn là trữ tình Đó là thể văn tự do, tương đối phóng túng, nhưng vẫn có nguyên tắc của nó Một trong những nguyên tắc mà người
ta hay nói đến là nguyên tắc kết cấu: vừa tán, vừa tụ Bề mặt có vẻ tản mạn, nhưng bề sâu lại nhất quán về ý nghĩa, tư tưởng, chủ đề, tạo trục xuyên suốt như khối vuông ru bích Tùy bút Nguyễn Tuân là đỉnh cao tùy bút Việt Nam mà qua đó, ta thấy một cái tôi tài hoa, uyên bác Nếu như trước cách mạng tháng Tám, ông viết về những con người đặc chủng, đặc tuyển thì giờ đây, những con người bé nhỏ, bình thường mà vĩ đại lại là nhân vật chính trong sáng tác Nguyễn Tuân
2 Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác
Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” rút từ tập “Sông Đà” gồm 15 tùy bút và một bài thơ phác thảo, ra đời năm 1960 trong khí thế phấn khởi hào hùng của những năm tháng miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội Khắp đất nước dậy vang Tiếng hát con tàu, sục sôi tiếng gọi vọng về từ Đoàn thuyền đánh cá Chính những âm thanh ấy đã thổi bùng lên nhiệt tình cách mạng, giục giã bước chân phiêu lãng của Nguyễn Tuân tìm về với mảnh đất miền Tây của
Tổ Quốc, khám phá chất vàng mười đã qua thử lửa của thiên nhiên và tâm hồn dân tộc để đúc lại trong những trang thiên tùy bút của mình… Viết về dòng sông địa đầu tổ quốc, dồn nét trong tâm khảm Nguyễn Tuân là cảm hứng ngợi ca, khẳng định sự thay đổi của thiên nhiên đất nước trong thời kì đổi mới
Trang 6——————————————————————————————————————————————
TÌM HIỂU TÁC PHẨM
Mảnh đất Tây Bắc vốn là mảnh đất biên viễn của tổ quốc và cũng là mảnh đất mang đến vô vàn hấp dẫn, thú vị đến lôi cuốn đối với nhiều văn nghệ sĩ Và với một người mang
cá tính độc đáo, luôn đi tìm hạt ngọc giữa đất trời như Nguyễn Tuân cũng phải lòng mảnh đất này Ông đến đây để cảm nhận thứ thiên nhiên hùng vĩ nơi đầu non của Tổ quốc, và cũng là thể hiện tình yêu tha thiết của mình Bởi ông có thể đi dọc từ Bắc chí Nam, từ Đông sang Tây, nên cũng không có lý do gì để bỏ sót miền đất mà người ta đang nô nức trên
“chuyến tàu tốc hành” đi về đó cả! Qua những trang tùy bút viết về Tây Bắc, chúng ta thấy được vẻ đẹp thiên nhiên vô tận – một vẻ đẹp kì vĩ đến lạ lùng của mảnh đất Tây Bắc Nhưng trên tất cả, Nguyễn Tuân đã thể hiện niềm tự hào sâu sắc đối với con người Việt Nam – những con người đã làm nên vẻ đẹp thuộc về bề sâu của mảnh đất linh thiêng này
Như vậy, tùy bút Người lái đò sông ĐÀ viết về thiên nhiên Tây Bắc – một vẻ đẹp hết sức
kì vĩ, dữ dội lại vừa thơ mộng, trữ tình Qua đó làm nổi bật hình ảnh con người lao động Tây Bắc Một trong những nét đặc trưng trong chuyển hướng đề tài sau Cách mạng của nhà văn tài hoa họ Nguyễn
I HÌNH TƯỢNG CON SÔNG ĐÀ
1 Giới thiệu về dòng sông Đà
- Hình tượng trung tâm của bài tùy bút là người lái đò, nhưng những trang văn hay nhất, đặc sắc nhất Nguyễn Tuân lại dành cho con sông mà ở đó, hình như cái “ngông” của ngòi bút Nguyễn Tuân đã gặp gỡ với cá tính đặc biệt của dòng sông như một cuộc hẹn hò
từ lâu với đứa con bướng bỉnh của bà mẹ Tây Bắc Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân
đã trân trọng viết hoa ca hai chữ “Sông Đà” Sông nước xư mình đã chảy lên biết bao trang văn của Nguyễn Tuân, nhưng chưa ở đâu, hình ảnh dòng sông lại hiện lên sống động như một sinh thể sống, có tâm trạng, có tính cách, có tên trong khai sinh, có lai lịch và có tính cách phức tạp, phong phú như sông Đà
- Nguồn gốc của sông Đà: bắt đầu từ Vân Nam (Trung Quốc), đi qua một vùng núi ác, đến nga ba Trung Hà Sông Đà dài 500 km, lượn rồng rắn qua nhiều núi non hiểm trở, qua miền Tây Bắc, Việt Nam Sông Đà xưa có tên là Ly Tiên
- Tính cách của sông Đà được tập trung thể hiện qua hai nét: Hung bao, dữ dằn và thơ mộng, trữ tình Qua đó, làm nổi bật hình ảnh người lái đò
Trang 7—————————————————————————————————————————————— SÔNG ĐÀ HUNG BẠO, DỮ DẰN
Ý chính 1: Hung bạo ở ngay Lời đề từ: “Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu”, nghĩa là “Mọi dòng sông điều chảy về hướng đông, riêng sông Đà chảy ngược lên hướng bắc” Điều đó cho thấy sông Đà là một dòng sông “ngông”, cá tính, độc đáo như tính cách của Nguyễn Tuân vậy
+ Nó chảy một mình một hướng, không giống ai, không lặp lại ai, không phụ thuộc vào ai, nó nhất nhất thể hiện cá tính riêng của mình
+ Nguyễn Tuân say mê sông Đà, kì công nghiên cứu về sông Đà cũng bởi lẽ, khi đến với dòng sông này, ông như tìm được một người bạn tri kỉ, họ gặp gỡ nhau ở cái chất ngông của mình Và Nguyễn Tuân viết về sông Đà, đến với sông Đà cũng là cái cớ để thể hiện cái chất riêng của mình
Ý chính 2: Hung bạo ở những khối đá dựng vách thành hiểm trở
- Những khối đá ở đây lớn, cao, dựng đứng áp sát nhau Khoảng cách giữa các khối đá rất hẹp, tạo nên sự hùng vĩ, hiểm trở
- Sự hiểm trở ấy được Nguyễn Tuân đặc tả bằng hàng loạt các hình ảnh so sánh, liên tưởng cụ thể, mà rất độc đáo
+ “Đá bờ sông dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ đúng ngọ mới thấy mặt trời” + “Vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu”
+ Vách đá hẹp đến nỗi “đứng bên này nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách”
+ “Có quãng con nai con hổ vọt nhẹ từ bờ này sang bờ kia”
+ “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè cũng cảm thấy lạnh”
+ “Cảm thấy như mình đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”
- Nhận xét về hình ảnh so sánh:
+ Chỉ tả về những khối đá hẹp đứng sát nhau, mà Nguyễn Tuân đã đưa ra hẳn 6 hình ảnh so sánh để tả liên tưởng, so sánh Điều đó cho thấy, sự phong phú trong trí tưởng tượng, trong khối quan sát của nhà văn Nguyễn Tuân
+ Mặt khác, những hình ảnh so sánh mà Nguyễn Tuân đưa ra có sự tăng dần về độ liên tưởng, có sự chuyển dịch từ hình ảnh đến cảm giác: “đúng ngọ mới thấy mặt trời”, “cái yết hầu”, “đứng bên này nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách”, “con nai con hổ vụt nhẹ từ bờ
Trang 8——————————————————————————————————————————————
này sang bờ kia” là so sánh về hình ảnh; “đang mùa hè cũng cảm thấy ớn lạnh”, “cảm thấy như đứng ở một cái ngõ mà ngóng vọng lên” là liên tưởng về cảm giác
=> Chỉ với một đoạn văn ngắn viết về những khối đá hiểm trở sông Đà, đã cho chúng ta thấy sự độc đáo trong phong cách hành văn, vốn tri thức liên tưởng, cũng như cá tính của nhà văn Nguyễn Tuân, ông luôn hướng tới những vẻ đpẹ kì vĩ, và một khi đã cầm bút viết
là viết cho ra, viết cho nổi nét đặc biệt của đối tượng
Ý chính 3: Hung bạo ở mặt ghềnh Hát Lóong dữ dội
+ Mặt ghềnh “dài hàng mấy cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt”
+ Thủ pháp nghệ thuật: tăng tiến như mô phỏng hình ảnh những con sóng dữ dội, cuồn cuộn đè lên nhau Câu văn được ngăn cách bằng “dấu phẩy” giữa các hình ảnh, điệp động từ “xô” tạo sự dồn dập, nhanh, gấp như sự chuyển động mạnh của gió, xô thành từng đợt sóng lớn
+ Tiếng nước “gùn ghè”, gầm gừ, cứ cuồn cuộn sôi lên như muốn nuốt trọn con thuyền, tạo nên một mối đe dọa luôn rình rập nếu “khinh suất” (không thận trọng) sẽ bị lật ngửa bụng thuyền ra
Ý chính 4: Hung bạo ở những cái hút nước nguy hiểm
Tả về những cái hút nước, Nguyễn Tuân đã huy động kiến thức của nhiều lĩnh vực, cùng với đó là những hình ảnh so sánh cụ thể, nhưng không kém phần hấp dẫn, tạo cảm giác hồi hộp, sống động:
- Kiến thức về giao thông cầu đường, công trình thủy lợi
+ Như “cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”: kiến thức về công trình cầu đường
+ “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”, “những cái giếng sâu nước ặc
ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”: tiếng của một con quỷ quái ghê tợn, kiến thức về thủy lợi + “Thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô snag số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực”: giao thông
- Kiến thức điện ảnh, loại hình nghệ thuật mà Nguyễn Tuân vô cùng yêu cũng và am hiểu chúng một cách tường tận
+ “Trên mặt cái hút xoay tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn”: hình ảnh
so sánh mang tính biểu tượng gợi sự nguy hiểm đe dọa đến tính mạng người chèo đò
Trang 9——————————————————————————————————————————————
+ Góc quay trực tiếp: “Nhiều bè gỗ từng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút
ấy nó lôi tuột xuống Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”: tạo cảm giác dữ dội, ghê rợn không nề hà, không thương xót, rất nguy hiểm đến tính mạng của người chèo đò
+ Góc quay tưởng tượng: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm dám ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà – từ đáy cái
hú nhìn ngược kên cách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải…” => Để miêu tả những cái hút nước sao cho chân thật nhất, Nguyễn Tuân đã sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh chồng so sánh, hình ảnh chồng hình ảnh, âm thanh chồng âm thanh, để chúng ta tưởng tượng một cách trọn vẹn nhất cái hùng vĩ, dữ dội của sông Đà Khám phá đến tường tận sự bí ẩn của những cái hút nước
Ý mở rộng để lí luận: Đọc văn Nguyễn Tuân nếu chúng ta thụ động, đứng yên, chỉ cảm mặt chữ trên trang văn thì không thể hiểu được những điều ông truyền tải Nguyễn Tuân khi viết văn, luôn kết hợp vốn tri thức từ nhiều lĩnh vực, đưa ra những hình ảnh so sánh liên tưởng thú vị, mặc dù rất chân thật Bởi vậy, đọc văn Nguyễn Tuân chúng ta phải bắt theo để tưởng tượng, mở rộng tầm nhìn, cuốn theo những cung bậc cảm xúc ông đưa ra
Ý chính 5: Hung bạo ở thác nước cuồng nộ
+ Từ xa đã nghe thấy tiếng nước “còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên”: gợi ra dòng thác rất mãnh liệt, dữ dội, đổ từ trên cao đổ xuống, đập mạnh vào những khối đá lớn dưới chân thác
+ “Tiếng nước nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”: nước thác thay đổi nhiều giọng, gợi ra tâm địa hiểm độc, khó lường, khó nắm bắt
+ “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gần thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”: để miêu tả sức nước, miêu tả sức công phá hoang tàn của nước, miêu tả sự hỗn loạn của thác nước, Nguyễn Tuân đã so sánh với tiếng của “hàng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng” Đây là một sự tưởng tượng thực sự bất ngờ
Trang 10——————————————————————————————————————————————
+ Ông miêu tả nước bằng sức lửa (lấy lửa tả nước), miêu tả sông bằng sức rừng (lấy rừng tả sông), những hình ảnh vốn dĩ đối ngược nhau, tương khắc nhau giờ lại tương sinh trong một phép so sánh để làm nổi bật thác nước sông Đà “Nhất thủy nhì hòa” là hai đối tượng có sức hủy diệt lớn mạnh nhất đã được Nguyễn Tuân đưa vào câu văn miêu tả của mình, như để nhấn mạnh sức công phá mãnh liệt của sông Đà
=> Qua đó, chúng ta một lần nữa thấy được nghệ thuật chơi chữ, dùng ngôn từ đến bậc thượng thặng của nhà văn Nguyễn Tuân Văn Nguyễn Tuân đã phá toang giới hạn về suy nghĩ, phá toang giới hạn của sự liên tưởng
Ý chính 6: Hung bạo ở trùng vi thạch trận nham hiểm
+ Đá mai phục hết trong lòng sông “mặt hòn nào trông cũng ngỗ ngược”, nhăn nhúm”,
“méo mó”
+ Hòn nào cũng được giao một nhiệm vụ riêng: “đứng, nằm, ngồi tùy thích”
Thạch trận trên sông Đà gồm 3 trùng vây:
- Trùng vây thứ nhất: đá chia thành 3 tuyến, gồm năm cửa trận, bốn cửa tử và một cửa sinh lập lờ ở tả ngạn (trái)
+ Tuyến 1: đá “chia làm ba hàng” như đòi ăn chết con thuyền không cho lùi
+ Tuyến 2: hàng tiền vệ canh cửa dụ cái thuyền vào sâu “nước sóng luồng mới đánh khuýt quật vu hồi”
+ Tuyến 3: “pháo đài đá”, với nhiệm vụ “phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác”
- Trùng vây thứ 2: tăng nhiều cửa tử, cửa sinh bố trí lệch ở phía bờ hữu ngạn (bên phải) + “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc mạnh (lao) trên sông đá”
+ Bọn tướng đứng khiêu khích ngay giữa cửa vào, dựng đứng thành cửa ải
- Trùng vây thứ 3: ít cửa hơn, bên trái, bên phải đều là cửa chết, cửa sinh ở giữa
+ Cửa sinh đá hậu vệ bao quanh: “cửa ngoài, trong, lại cửa trong cùng”
+ Đá đứng xếp thành cổng, cánh mở cánh khép
SÔNG ĐÀ THƠ MỘNG, TRỮ TÌNH
Sông Đà đối với Nguyễn Tuân:
+ Trước tiên là sự hấp dẫn, quyến rũ như người thiếu nữ đương thời xuân sắc “con sông đà gợi cảm Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách”