CHƯƠNG I: GIÁO DỤC HỌC LÀ KHOA HỌC VỀ GIÁO DỤC CON NGƯỜI I. GIÁO DỤC LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI ĐẶC BIỆT 1. Sự nảy sinh và phát triển của giáo dục là nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội loài người Trong quá trình sống, con người đã không ngừng đấu tranh trong xã hội, đấu tranh với thiên nhiên, không ngừng lao động để tạo ra của cải vật chất và tinh thần. Trong quá trình đó con người đã tích lũy được những kinh nghiệm đấu tranh xã hội, kinh nghiệm đấu tranh với tự nhiên, kinh nghiệm lao động sản xuất. Để xã hội loài người có thể tồn tại và phát triển, người ta phải truyền thụ cho nhau những kinh nghiệm đó. Hiện tượng truyền thụ kinh nghiệm xã hội chính là hiện tượng giáo dục. Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội có đặc trưng cơ bản là: Thế hệ đi trước truyền lại cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm về lao động sản xuất và sinh hoạt cộng đồng… Thế hệ đi sau tiếp thu những kinh nghiệm đó để tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất và các hoạt động xã hội khác. Hay nói cách khác truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài người là nét đặc trưng cơ bản của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội . Nhờ có giáo dục mà con người lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, nhờ lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội mà cá thể trở thành nhân cách và nhân cách của mỗi người được phát triển đầy đủ hơn, những nhu cầu và năng lực của họ phong phú đa dạng hơn, những sức mạnh tinh thần và sức mạnh thể chất của họ tăng thêm. Vì thế: Đi học là một nhu cầu cơ bản của con người, một quyền mà mỗi con người phải được hưởng Đi học là một con đường tăng thu nhập của mỗi cá nhân Giáo dục là phương thức để tái sản xuất sức lao động xã hội, tái sản xuất những nhân cách cần thiết, phù hợp với yêu cầu của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định . Với ý nghĩa đó, giáo dục là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển đời sống của con người, của xã hội loài người . Đó là một loại hoạt động có ý thức, có mục đích của con người là chức năng đặc trưng của xã hội loài người, là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người và tồn tại vĩnh hằng cùng với xã hội loài người. Chính vì vậy giáo dục là một trong những hiện tượng xã hội, nhưng đó là hiện tượng xã hội đặc biệt .
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐỒNG THÁP
GIÁO DỤC HỌC TIỂU HỌC
GIẢNG VIÊN : NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ
KHOA: TÂM LÝ - GIÁO DỤC ĐH ĐỒNG THÁP
ĐỀ CƯƠNG BÀI
GIẢNG
Trang 2CHƯƠNG I: GIÁO DỤC HỌC LÀ KHOA HỌC VỀ GIÁO DỤC CON NGƯỜI
I GIÁO DỤC LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI ĐẶC BIỆT
1 Sự nảy sinh và phát triển của giáo dục là nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội loài người
- Trong quá trình sống, con người đã không ngừng đấu tranh trong xã hội, đấu tranhvới thiên nhiên, không ngừng lao động để tạo ra của cải vật chất và tinh thần Trong quátrình đó con người đã tích lũy được những kinh nghiệm đấu tranh xã hội, kinh nghiệmđấu tranh với tự nhiên, kinh nghiệm lao động sản xuất Để xã hội loài người có thể tồn tại
và phát triển, người ta phải truyền thụ cho nhau những kinh nghiệm đó Hiện tượngtruyền thụ kinh nghiệm xã hội chính là hiện tượng giáo dục
Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội có đặc trưng cơ bản là:
- Thế hệ đi trước truyền lại cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm về lao động sảnxuất và sinh hoạt cộng đồng…
- Thế hệ đi sau tiếp thu những kinh nghiệm đó để tham gia đời sống xã hội, thamgia lao động sản xuất và các hoạt động xã hội khác
Hay nói cách khác truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm đã được tích lũy
trong quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài người là nét đặc trưng cơ bản của giáodục với tư cách là một hiện tượng xã hội
Nhờ có giáo dục mà con người lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, nhờ lĩnhhội được những kinh nghiệm xã hội mà cá thể trở thành nhân cách và nhân cách của mỗingười được phát triển đầy đủ hơn, những nhu cầu và năng lực của họ phong phú đa dạnghơn, những sức mạnh tinh thần và sức mạnh thể chất của họ tăng thêm Vì thế:
- Đi học là một nhu cầu cơ bản của con người, một quyền mà mỗi con ngườiphải được hưởng
- Đi học là một con đường tăng thu nhập của mỗi cá nhân
Giáo dục là phương thức để tái sản xuất sức lao động xã hội, tái sản xuất nhữngnhân cách cần thiết, phù hợp với yêu cầu của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhấtđịnh Với ý nghĩa đó, giáo dục là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triểnđời sống của con người, của xã hội loài người Đó là một loại hoạt động có ý thức, cómục đích của con người là chức năng đặc trưng của xã hội loài người, là một hiện tượngphổ biến của xã hội loài người và tồn tại vĩnh hằng cùng với xã hội loài người
Trang 3Chính vì vậy giáo dục là một trong những hiện tượng xã hội, nhưng đó là hiệntượng xã hội đặc biệt
2 Các tính chất của giáo dục
a Tính chất lịch sử của giáo dục
là một hiện tượng xã hội, giáo dục chịu sự chi phối của các quá trình xã hội khácnhư: kinh tế, chính trị, xã hội Giáo dục phát triển và biến đổi không ngừng, giáo dụcmang tính lịch sử cụ thể Tính lịch sử của giáo dục được diễn đạt như sau: Ở mỗi nướctrong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, có một nền giáo dục riêng biệt, mà những đặctrưng của nó về tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện đều
do những điều kiện của giai đoạn đó qui định
Từ tính lịch sử của giáo dục, chúng ta rút ra một số kết luận quan trọng trong việcxây dựng và phát triển giáo dục:
- Sao chép nguyên bản mô hình giáo dục của nước khác trong việc xây dựng nềngiáo dục của nước mình là việc làm phản khoa học
- Giữ nguyên mô hình giáo dục đã được hình thành ở một giai đoạn trước đây, khi
mà điều kiện của giai đoạn mới có sự thay đổi căn bản cũng là hành động trái quiluật
- Những điều chỉnh, cải tiến, cải cách, đổi mới giáo dục trong từng thời kỳ phát triển
là một tất yếu khách quan Song những biến động đó cần được dự báo chính xác,chuẩn bị cẩn thận và tiến hành tốt
b Tính chất giai cấp của giáo dục
Xã hội có phân chia giai cấp thì giáo dục là một phương thức đấu tranh giai cấp, nhàtrường là công cụ đấu tranh giai cấp, hoạt động của giáo dục, của nhà trường là hoạt độngđấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và giáo dục đào tạo con người mới, thế
hệ mới, phục vụ tích cực cho công cuộc đấu tranh giai cấp, xây dựng xã hội mới theođường lối của giai cấp nắm chính quyền
Tính chất giai cấp của giáo dục và nhà trường thể hiện tập trung ở mục đích,nhiệm vụ giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục
và đào tạo
c Tính chất kế thừa của giáo dục
Trang 4Giáo dục vừa mang tính chất lịch sử, vừa mang tính chất giai cấp, vừa mang tínhchất kế thừa vì đó là những kinh nghiệm, những thành tựu của nhân loại được đúc kếtqua quá trình xây dựng và phát triển giáo dục theo lịch sử phát triển của xã hội
Tính kế thừa của giáo dục đòi hỏi : một mặt phải nghiên cứu, tiếp thu phát triểnnhững yếu tố tiến bộ, những kinh nghiệm quý báu trong các nền giáo dục trước, các nềngiáo dục thuộc các nước, các chế độ chính trị khác nhau Mặt khác phải phê phán loại bỏnhững yếu tố lạc hậu, không phù hợp với sự phát triển mới của nền giáo dục, của xã hội
3 Những chức năng xã hôi của giáo dục
Do giáo dục tác động đến con người cho nên nó cũng có khả năng tác động đến các
lĩnh vực của đời sống xã hội, đến các quá trình xã hội mà con người là chủ thể Nhữngtác dụng của giáo dục đối với các quá trình xã hội xét về mặt xã hội học được gọi lànhững chức năng xã hội của giáo dục Có 3 loại chức năng xã hội của giáo dục : Chứcnăng kinh tế - sản xuất, chức năng - chính trị xã hội và chức năng tư tưởng - văn hoá.Những chức năng này thể hiện vai trò của giáo dục đối với sự tồn tại và phát triển của xãhội về tất cả các mặt
a Chức năng kinh tế - sản xuất
Lao động dù đơn giản đến đâu cũng cần có sự huấn luyện để con người biết lao động, cókinh nghiệm lao động Lao động càng phức tạp, càng hiện đại càng đòi hỏi sự đầu tư vào huấn luyện nhiều hơn
Mối liên hệ giữa giáo dục và sản xuất đươc hình thành trên sức lao động Sức lao động xãhội chỉ tồn tại trên nhân cách con người Giáo dục tái tạo nên sức mạnh bản chất của con người, vì vậy giáo dục được coi là phương thức tái sản xuất ra sức lao động xã hội Giáo dục góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Giáo dục tạo ra nguồn nhân lực có tri thức, có
kỹ thuật, có kỹ năng nghề nghiệp, phát triển kinh tế sản xuất
Giáo dục đào tạo lại nguồn nhân lực đã bị lỗi thời, tạo nên sức lao động mới, đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực thiếu hụt do nhiều nguyên nhân Bằng con đường truyền thông, giáo dục phát triển ở con người những năng lực chung và năng lực riêng biệt, giúp con người nâng cao năng lực làm việc, thay đổi nghề nghiệp, thay đổi việc làm, góp phần phát triển kinh tế sản xuất Giáo dục góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống cộng đồng.Giáo dục tham gia vào chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Bằng con đường truyền thông, giáo dục giúp mọi người nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, phát triển kinh tế gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo Như vậy,
Trang 5giáo dục góp phần phát triển kinh tế sản xuất.
Giáo dục thông qua con đường truyền thông, tham gia vào chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình Giáo dục giúp cho mọi người nhận thức đúng đắn về dân số, sức khỏe sinh sản, giảm tỷ lệ tăng dân số, nâng Cao chất lượng cuộc sống, chất lượng giống nòi, góp phần phát triển sản xuất
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, chất lượng giáo dục gắn liền với chất lượng sản phẩm, hàng hóa Muốn nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa thì giáo dục phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong thời đại phát triển như bão táp của khoa học và công nghệ, nhân loại đang chuyển sang nền văn minh tin học, điện tử, sinh học Khoa học-công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Sự phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền với sự phân công lao động và hợp tác quốc tế Giáo dục không phải là yếu tố phi sản xuất, giáo dục là yếu tố bên trong, yếu
tố cấu thành của sản xuất xã hội Không thể phát triển lực lượng sản xuất nếu như không đầu tư thỏa đáng cho nhân tố con người, nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất Khôngthể xây dựng được quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa nếu như không nâng cao trình
độ dân trí, doanh trí, trình độ tổ chức và quản lý của cán bộ và nhân dân Thực tiễn đã chỉ
ra rằng, không một quốc gia nào muốn phát triển lại đầu tư ít cho giáo dục Cuộc chạy đua phát triển kinh tế hiện nay là cuộc chạy đua về khoa học công nghệ, chạy đua về giáodục đào tạo, chạy đua về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Hội nghị lần thứ hai ban chấp hành trung ương khóa 8 đã nhấn mạnh: “ Thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách,nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển.” Để làm tốt chức năng này giáo dục đào tạo phải xây dựng được một xã hội học tập tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập thường xuyên, học tập suốt đời Chính vì vậy, giáo dụcphải thực sự đi trước đón đầu thúc đẩy phát triển kinh tế sản xuất
b Chức năng chính trị - xã hội
Giáo dục trực tiếp tác động đến cấu trúc xã hội, làm phân hóa các tầng lớp xã hội(giáo dục cũ ) hoặc giảm thiểu, xóa bỏ phân chia tầng lớp xã hội, phân chia giai cấp( giáo dục XHCH ) , nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghề nghiệp làmthay đổi vị trí xã hội của mỗi người
c Chức năng tư tưởng - văn hóa
Trang 6Giáo dục truyền bá và xây dựng hệ tư tưởng xã hội cho người học, xây dựng lốisống mới, nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật cho toàn xã hội ( nâng cao dântrí ), phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, của xã hội, xây dựng nền văn hóamới, tư tưởng mới theo yêu cầu phát triển xã hội, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho xãhội
Thực hiện những chức năng cơ bản đó, giáo dục phải bám sát yêu cầu phát triểnkinh tế - sản xuất, chính trị - xã hội, tư tưởng - văn hóa để đáp ứng đầy đủ và kịp thời Đồng thời giáo dục phải được phát triển mạnh mẽ để tạo tiền đề cho sự phát triển mới vềkinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng
II ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA GIÁO DỤC HỌC
1 Đối tượng của giáo dục học
Với chức năng hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục cần được nghiên cứutheo trạng thái động, tức là theo quan điểm quá trình : quá trình giáo dục Quá trình giáodục diễn ra trong thời gian , không gian nhất định , có nhiều nhân tố tham gia và có liên
hệ với nhau, có vận động và phát triển không ngừng Quá trình giáo dục nói trên còn gọi
là quá trình dạy học và giáo dục hoặc là quá trình giáo dục - học tập, hoặc là quá trình sưphạm tổng thể hay quá trình giáo dục học - đó chính là đối tượng của giáo dục học
a Các đặc trưng cơ bản của quá trình sư phạm tổng thể
- Quá trình giáo dục là một quá trình xã hội được tổ chức một cách có ý thức, cómục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt, lĩnh hội và phát triển những kinh nghiệm xã hội
để xây dựng và phát triển những kinh nghiệm xã hội, để xây dựng và phát triển nhữngnhân cách đáp ứng những yêu cầu của giai đoạn lịch sử xã hội mới
- Quá trình giáo dục là một quá trình tác động lẫn nhau giữa người giáo dục vàngười đưọc giáo dục, giữa cá nhân và tập thể tạo thành những quan hệ đặc biệt, gọi làquan hệ sư phạm
- Quá trình giáo dục là quá trình người giáo dục tổ chức hướng dẫn các loại hìnhhoạt động và giao lưu và người được giáo dục thì tích cực, tự giác tham gia vào các loạihình hoạt động, giao lưu đó để chiếm lĩnh và biến những kinh nghiệm xã hội, những giátrị văn hóa xã hội thành vốn sống của mình
- Quá trình giáo dục là một bộ phận chủ yếu của hoạt động sống của con ngườiđược giáo dục, cho nên hoạt động sống càng phong phú đa dạng càng có ý nghĩa giáo dục
Trang 7Từ những đặc trưng trên, chúng ta có thể rút ra định nghĩa : Quá trình sư phạmtổng thể là một quá trình có tính chất xã hội hình thành con người được tổ chức có mụcđích, có kế hoạch nhằm đáp ứng yêu cầu lịch sử xã hội, được thực hiện thông qua cáchoạt động giáo dục, học tập và các hoạt động đa dạng khác của cuộc sống được tiến hànhtrong các mối quan hệ xã hội giữa người được giáo dục và người được giáo dục nhằmlàm cho người được giáo dục chiếm lĩnh, phát triển kinh nghiệm xã hội loài người vàphát triển toàn diện nhân cách của mình
b Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể
- Quá trình sư phạm tổng thể là sự thống nhất của hai quá trình bộ phận : quá trìnhdạy học và quá trình giáo dục Cả hai quá trình đó đều thực hiện chức năng chung củaquá trình sư phạm tổng thể trong việc hình thành nhân cách toàn diện Song mỗi quátrình bộ phận đều có chức năng trội của mình và dựa vào chức năng đó để thực hiện chứcnăng khác
Chức năng trội của quá trình dạy học là trau dồi học vấn, là chuyển giao và lĩnhhội hệ thống tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo nhận thức và hoạt động
Chức năng trội của quá trình giáo dục là xây dựng hệ thống niềm tin, lý tưởng, động
cơ, thái độ, tính cách, thói quen Là hình thành và phát triển những phẩm chất về thế giớiquan khoa học, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ của cá nhân người học
- Quá trình giáo dục tổng thể cũng như quá trình giáo dục bộ phận đều được tạothành bởi nhiều yếu tố :
Mục đích giáo dục: Là mẫu nhân cách mà xã hội đòi hỏi được thể hiện thành
hệ thống các mục tiêu giáo dục và nhiệm vụ giáo dục
Nội dung giáo dục: Là nội dung các hoạt động và các hình thái giao lưu màngười học tham gia, làmột bộ phận được lựa chọn của kinh nghiệm xã hội và củanền văn hóa của loài người
Phương pháp giáo dục:Là các con đường, các cách thức, các biện pháp hoạtđộng gắn bó lẫn nhau giữa thầy và trò để truyền đạt và chiếm lĩnh nội dung giáodục, đạt tới mục đích giáo dục
Hình thức tổ chức giáo dục : Là biểu hiện bên ngoài, là các hình thức tổ chứchoạt động giữa thầy và trò
Phương tiện giáo dục : Là những vật mang nội dung và phương pháp giáodục, là những phương tiện hoạt động giáo dục của thầy và hoạt động học tập của trò
Trang 8Kết quả giáo dục: Là trình độ phát triển nhân cách theo phương hướng mụcđích giáo dục, là tác nhân kích thích và điều chỉnh quá trình giáo dục.
Chủ thể giáo dục: Là thầy giáo và những người làm công tác giáo dục họcsinh
Khách thể giáo dục : Là cá nhân học sinh và tập thể học sinh
Tham gia quá trình giáo dục còn có các điều kiện giáo dục bên trong và bên ngoài
Đó là không khí tâm lý chung của nhà trường, điều kiện cơ sở vật chất, điều kiệnkinh tế - chính trị xã hội Toàn bộ các yếu tố trên vận động, phát triển và quan hệbiện chứng với nhau, thúc đẩy lẫn nhau trong cùng một hệ thống
2 Nhiệm vụ của giáo dục học
Quá trình sư phạm tổng thể theo quan niệm như trên chính là đối tượng nghiêncứu của giáo dục học Giáo dục học nghiên cứu quá trình giáo dục trong tính tổngthể, tính toàn vẹn của nó, cũng như các bộ phận, các yếu tố của quá trình đó để nhậnthức bản chất, cấu trúc và những tính qui luật của quá trình đó, nhận thức những đặcđiểm của quá trình đó diễn ra với các khách thể giáo dục khác nhau và trên cơ sởxác định nhiệm vụ, nội dung, phương tiện và hình thức tổ chức để thiết kế quá trìnhgiáo dục đó xác định các lực lượng và các điều kiện để quá trình đó được vận hànhtối ưu
Lịch sử giáo dục học cung cấp cho giáo dục học các tư tưởng giáo dục tiên tiến,kiệt xuất, dựa trên sự kế thừa có chọn lọc, có phê phán các thành tựu và lý luận giáodục có giá trị ở trong nước và quốc tế giúp cho giáo dục học luôn phát triển, luônđổi mới, theo kịp xu thế thời đại
- Giáo dục học nằm trong khoa học giáo dục, bản thân nó là một hệ thống nhỏgồm nhiều phân môn khác nhau như : giáp dục học vưòn trẻ, giáo dục học mẫu giáo
Trang 9( trước tuổi học, tiền học đường ), giáo dục học lứa tuổi đi học (giáo dục phổ thông,giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề, giáo dục học đại học, giáo dục học người lớn )
- Giáo dục học còn được nghiên cứu ở từng chuyên môn - nghề nghiệp
Tuy đối tượng phục vụ khác nhau nhưng các phân môn giáo dục kể trên đều có cơ
sở chung là lý luận giáo dục học đại cương Từ những kiến thức và kỹ năng này màvận dụng, đáp ứng cho việc giáo dục ở các lĩnh vực khác nhau
- Giáo dục học chuyên biệt ( đặc biệt ) có nhiệm vụ chuyên nghiên cứunhững vấn đề dạy học và giáo dục những trẻ có tật về thị giác, thính giác, những trẻkhuyết tật hoặc chậm phát triển trí tuệ, ngôn ngữ
Đối với mỗi loại trẻ có tật này có những qui tắc, phương pháp dạy học và giáo dụcriêng rất phức tạp
- Lý luận dạy học bộ môn : nghiên cứu phương pháp dạy học các bộ môn khácnhau, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học các bộ môn
III KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC HỌC
Trong giáo dục học cũng giống như trong các khoa học khác, để có thể bắt đầu tưduy và hoạt động khoa học, nhà khoa học cần nắm vững hệ thống các khái niệm và
phạm trù khoa học, xem như là “ bộ máy công cụ “ để giúp hoạt động khoa học có
hiệu quả, đạt tới sự sáng tạo Dưới đây ta sẽ nghiên cứu :
a Giáo dục ( nghĩa rộng )
Là sự hình thành có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thầncủa con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ chocon người ; với hàm nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạyhọc và tất cả những yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của conngười, đáp ứng các yêu cầu của kinh tế xã hội
b Giáo dục ( nghĩa hẹp )
Bao gồm các quá trình hoạt động nhằm tạo ra cơ sở khoa học của thế giới quan, lýtưởng đạo đức, thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực của con người, kể cả việc pháttriển nâng cao thể lực Quá trình này được xem là một bộ phận của quá trình giáodục tổng thể , kết quả không chỉ được xem xét về ý thức mà căn cứ trên các hành vi,
thói quen biểu hiện trình độ phát triển ( cao hay thấp ) của trình độ “ có giáo dục “
của mỗi người
c Dạy học
Trang 10Là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học, hai hoạt động nàysong song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất Quá trình này
là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó: - Vai trò củanhà sư phạm là định hướng tổ chức, thực hiện việc truyền thụ tri thức, kỹ năng và
kỹ xảo đến người học một cách hợp lý, khoa học, do đó luôn luôn có vai trò và tácdụng chủ đạo
- Người học tiếp thu một cách có ý thức độc lập và sáng tạo hệ thống kiến thức, kỹnăng và kỹ xảo, hình thành năng lực và thái độ đúng đắn Người học là chủ thểsáng tạo của việc học, của việc hình thành nhân cách của bản thân
Theo quan điểm tiếp cận hệ thống, thì vai trò chủ đạo của giáo viên luôn luôn có ýnghĩa đặc biệt đối với việc bảo đảm chất lượng của học sinh trong học tập
Vai trò chủ động, tích cực, năng động của học sinh trong quá trình học tập có ýnghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tuệ, lĩnh hội kiến thức và hoàn thiện nhâncách của bản thân - vói ý nghĩa là chủ thể sáng tạo không thể thay thế Vì thế, giảngdạy và học tập nếu hiểu cho đúng là hai mặt của một quá trình bổ sung cho nhau,cái này chế ước và là tác động quan trọng của cái kia, kích thích động lực bên trongcủa mỗi chủ thể phát triển
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC HỌC
a Trong học phần “ Giáo dục học đại cương “, chúng ta chỉ nghiên cứu, xem xétcác phương pháp nghiên cứu giáo dục học ở mức tổng quan, định hướng, không đềcập đến các vấn đề cụ thể, về phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của giáo dục học là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử Khi áp dụng các quan điểm này vào nghiên cứu các quá trìnhgiáo dục, nhà nghiên cứu phải đặt các hiện tượng và quá trình này trong không gian
và thời gian xác định ( cụ thể ) với những điều kiện cụ thể tương quan, trong mốitương tác lẫn nhau giữa hoạt động giáo dục với các hiện tượng khác của đời sống xãhội Hoạt động giáo dục luôn luôn vận động và phát triển, vì vậy phải nghiên cứu
nó trong sự vận động và phát triển Thông qua đó, cái mới phát triển, cái bản chấtđược khẳng định
Với việc quán triệt các quan điểm trên, nhà nghiên cứu có thể thực hiện nghiêncứu theo các các phương hướng xác định :
Trang 11- Nghiên cứu thông qua các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu trước đây,các sách báo, thông báo khoa học
- Nghiên cứu dưới dạng thí nghiệm, thực nghiệm trong thực tế ; giải thích khoahọc hoặc mô tả quá trình thực tế của việc dạy học và giáo dục - từ đó mà rút ra cáckết luận khoa học
b Khi nghiên cứu phải nắm vững và vận dụng có kết quả những phương phápnghiên cứu cụ thể như quan sát, đàm thoại, nghiên cứu sản phẩm do học sinh làm
ra, qua đó đánh giá, nhận xét trình độ tư duy, óc sáng tạo và khả năng thực hành vềmột lĩnh vực nào đó
Việc áp dụng phương pháp thăm dò ý kiến ( ankét ) trong nghiên cứu cũng có khảnăng tìm ra được những vấn đề trong giáo dục, đặc biệt các vấn đề tâm lý và giáodục có liên quan đến đời sống xã hội bên ngoài ( dư luận xã hội )
Ngày nay người ta thiên về sử dụng phương pháp thực nghiệm Đây là phương
pháp có tính chất “ tổng hợp “, vì muốn thực nghiệm phải chuẩn bị công phu : lập
giả định, kế hoạch hoặc phương pháp thực nghiệm, bộ công cụ để đánh giá, nghĩa
là được dự kiến và tính toán chính xác để từ thực nghiệm vạch ra được quy luật bên
trong của các hiện tượng giáo dục, phát hiện được trật tự chi phối “các bước “ diễn
biến của quá trình sư phạm nào đó
Ngoài ra trong nghiên cứu giáo dục học, người ta còn sử dụng phương pháp trắcnghiệm ( test ), phương pháp mô hình hóa các quá trình sư phạm, phương phápthống kê để hỗ trợ cho việc nghiên cứu giáo dục
CÂU HỎI TỰ HỌC
1 Đặc trưng của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội Theo ý nghĩa nào
có thể nói giáo dục là một phạm trù phổ biến, vĩnh viễn ?
2 Thế nào là tính lịch sử của xã hội đối với giáo dục ? Tính giai cấp của giáo dục thể hiện như thế nào ? Vì sao tính giai cấp là quy luật cơ bản của việc xây dựng và phát triển giáo dục trong xã hội có giai cấp.
3 Đặc trưng của quá trình sư phạm với tư cách là một quá trình xã hội ? Hãy phân tích các yếu tố hợp thành của quá trình sư phạm
4 Phân tích các chức năng xã hội của giáo dục và những xu hướng phát triển của giáo dục học ở Việt Nam hiện nay
Trang 12CHƯƠNG II GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
I SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CỦA CON NGƯỜI
1 Khái niệm con người, nhân cách trong giáo dục học
a Khái niệm con người
- Từ trước đến nay, có rât nhiều ngành khoa học nghiên cứu con người và người ta
đã gọi con người bằng những từ ngữ chứa đựng những nội dung khác nhau dựa trên mụcđích và phương diện nghiên cứu của mình:
Theo quan điểm khoa học, con người vẫn là một bộ phận, là khâu tiến hóa caonhất của tự nhiên nói chung và của quá trình sinh học nói riêng, là một thực thể mang bảnchất tự nhiên - sinh học, mang trong mình sức sống của tự nhiên và chịu sự chi phối của
tự nhiên Song điều quan trọng hơn, con người còn là một sản phẩm của lịch sử xã hội, làmột thực thể mang bản chất xã hội, bao gồm những thuộc tính, những phẩm chất có ýnghĩa xã hội, được hình thành trong quá trình hoạt động và do kết quả của sự tác độngqua lại giữa người với người trong xã hội
b Khái niệm nhân cách
Như trên đã trình bày, trong mỗi con người đã tồn tại rất nhiều mối quan hệ mà conngười cụ thể có khi được nhìn nhận như một chủ thể và có khi là một nhân cách
- Khi chúng ta nhìn nhận con người như một đại diện của loài, thì đó là cá nhân
Ví dụ : mỗi học sinh, mỗi cán bộ công nhân viên
- Khi cá nhân tiến hành các hoạt động một cách có mục đích, có ý thức thì cá nhân
đó được xem như là một chủ thể
- Khi xem xét, nhìn nhận con người với tư cách là một thành viên của xã hội, mộtchủ thể của các mối quan hệ và hoạt động thì ta nói đến nhân cách của họ
Như vậy, xét dưới góc độ giáo dục học, khái niệm nhân cách bao gồm tất cả cácnét, các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con người Những thuộc tínhnày được hình thành trong quá trình tác động qua lại giữa người đó và những người kháctrong xã hội Nhân cách được hình thành và phát triển là nhờ những quan hệ xã hội màtrong đó cá nhân đang lớn lên và đang biến đổi ấy bắt đầu quá trình hoạt động sống củamình
Trang 13Cũng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người, hàng loạtđặc điểm, thuộc tính, thái độ của họ được biến đổi và trở thành những đặc điểm,thuộc tính mang tính người đích thực - tính xã hội - đạo đức
2 Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách
Sự phát triển nhân cách gồm các mặt phát triển sau đây :
- Sự phát triển về thể chất : biểu hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, cơ bắp và sựhoàn thiện của các giác quan
- Sự phát triển về mặt tâm lý : biểu hiện ở những biến đổi cơ bản trong các quátrình nhận thức, tình cảm, ý chí, nhu cầu, nếp sống, thói quen, nhất là ở sự hìnhthành các thuộc tính tâm lý mới của nhân cách
- Sự phát triển về mặt xã hội biểu hiện ở việc tích cực, tự giác tham gia vào cácmặt khác nhau của đời sống xã hội, cũng như những thay đổi trong việc cư xử vớimọi người xung quanh
Sự hình thành và phát triển nhân cách con người chịu sự tác động của nhiều nhân
tố, trong đó có nhân tố sinh học và nhân tố xã hội Vì vậy cần phải xem xét mộtcách đúng đắn, khách quan và khoa học các tác động của di truyền và của môitrường trong công tác giáo dục
II VAI TRÒ CỦA DI TRUYỀN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
NHÂN CÁCH
1 Vai trò của di truyền
a Khái niệm di truyền : Di truyền là sự tái tạo ở trẻ em những thuộc tính sinh học
có ở cha mẹ, là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm, những phẩm chấtnhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen
Một số thuộc tính sinh học có ngay từ khi đứa trẻ mới sinh gọi là những thuộctính bẩm sinh
b Vai trò của di truyền trong sự phát triển nhân cách
- Vấn đề di truyền những tư chất và nhất là những năng lực, phẩm chất về một lĩnhvực hoạt động nào đó ở trẻ em là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vựcgiáo dục
Di truyền tạo ra sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả năng chongười đó hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định
Trang 14Chính vì vậy, nhà giáo dục cần quan tâm đúng mức để phát huy hết bản chất tựnhiên đó của con người Cần khai thác những tư chất, những năng lực vốn có,những say mê, hứng thú của trẻ em bằng cách sớm phát hiện, xác định rõ tính chất
và phương hướng cho những sức sống đó, để có kế hoạch chăm sóc, bồi dưỡng kịpthời nhằm phát triển tài năng của trẻ Điều đó cũng có nghĩa là không được hạ thấpvai trò của các nhân tố học sinh trong hoạt động sống của con người
- Tuy nhiên, di truyền không thể quyết định sự phát triển nhân cách : những tưchất bẩm sinh là điều kiện cho những lĩnh vực rộng rãi và bao quát chứ không quiđịnh vào một lĩnh vực cụ thể nào, việc qui định đó là do điều kiện xã hội Nhữngthuộc tính tâm lý bậc cao ở con người không có một chương trình di truyền nào cả,chúng được truyền lại cho thế hệ sau theo cơ chế di sản
Từ vai trò của di truyền đối với sự phát triển nhân cách chúng ta rút ra những kếtluận sư phạm:
- cần quan tâm đến 2 vấn đề quan trọng trong giáo dục:
+ Đối xử cá biệt với học sinh
+ Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu
2 Vai trò của môi trường trong sự phát triển nhân cách
a Khái niệm môi trường
Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và
xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người Môitrường bao gồm: Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội khi nói về vai trò củamôi trường đối với sự phát triển nhân cách giáo dục học chủ yếu nói về vai trò củamôi trường xã hội
b Môi trường và sự phát triển nhân cách
- Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một môi trườngnhất định Môi trường góp phần tạo nên động cơ, mục đích, phương tiện và điềukiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân mà nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh được cáckinh nghiệm xã hội loài người để hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình
- Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách tùy thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhânđối với các ảnh hưởng đó, tùy thuộc vào xu hướng, năng lực và mức độ của cá nhântham gia cải biến môi trường
Trang 15- Như vậy, cần chú ý đến hai mặt trong tác động qua lại giữa nhân cách và môitrường
+ Tính chất tác động của hoàn cảnh đã phản ảnh vào nhân cách
+ Sự tham gia của nhân cách tác động đến hoàn cảnh nhằm làm cho hoàncảnh đó phục vụ lợi ích của mình
Trong quá trình giáo dục cần gắn chặt từng bước việc giáo dục và học tập với thựctiễn cải tạo xã hội, phải hướng vào việc hình thành ở học sinh những định hướng giátrị đúng đắn, xây dựng cho các em bản lĩnh vững vàng để chiếm lĩnh những ảnhhưởng tích cực của môi trường xung quanh, tạo điều kiện để các em tích cực thamgia vào việc cải tạo và xây dựng môi trường Đó chính là một con đường để pháttriển nhân cách học sinh
III GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
1 Giáo dục là một quá trình có mục đích được tổ chức một cách có kế hoạch, cóphương pháp nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người phù hợp vớinhững yêu cầu của xã hội trong giai đoạn phát triển của nó Như vậy, có thể nóirằng, những tác động của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cáchkhông phải là mang tính tự phát , trái lại, mang tính tự giác rõ rệt
Giáo dục định hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục diễn
ra theo một quá trình được tổ chức nghiêm ngặt với một mục đích xác định theonhưng yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn phát triển lịch sử của nó.Mục đíchnày - mục đích giáo dục - phản ánh mô hình nhân cách mà xã hội đòi hỏi, mongmuốn
Giáo dục tổ chức, hướng dẫn sự hình thành và phát triển nhân cách theo mô hình
đã được định hướng
Như trên đã nói, giáo dục đưa ra mô hình nhân cách mong muốn phù hợp với nhucầu của xã hội nhằm định hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách củangười được giáo dục Điều này là hết sức cần thiết, là quan trọng, song không phảichỉ có như vậy
Giáo dục các hoạt động như dạy học, lao động, hoạt động xã hội, hoạt động tậpthể, vui chơi , giải trí , trong đó, dưới sự tổ chức, điều khiển của nhà giáo dục,người được giáo dục tích cực tham gia và qua đó, nhân cách được hình thành vàphát triển theo định hướng xác định
Trang 16Trong quá trình hoạt động, diễn ra sự điều chỉnh của nhà giáo dục và sự tự điềuchỉnh của người được giáo dục nhằm giúp cho quá trình hình thành và phát triểnnhân cách của người được giáo dục không bị chệch hướng Kết quả của quá trìnhnày, cuối cùng sẽ nhận được nhờ giáo dục đánh giá và người được giáo dục đánhgiá.
+ Giáo dục phát hiện, khai thác và tận dụng được những yếu tố thuận lợi, đồngthời phát hiện , hạn chế và góp phần khắc phục những yếu tố không thuận lợi của ditruyền , môi trường , nhằm phục vụ cho sự hình thành và phát triển nhân cách củangười được giáo dục
Thật vậy, di truyền không những tạo ra những tiến bộ sinh học thuận lợi mà đôikhi còn mang lại những yếu tố không thuận lợi Do đó, giáo dục cần và có thể :Phát hiện kịp thời và đầy đủ những tiền đề sinh học thuận lợi, không để chúng bịlãng quên, bị thui chột
Khai thác và tận dụng những tiền đề sinh học này phục vụ cho giáo dục và qua
đó , giúp cho chúng phát triển và trên cơ sở này, nhằm hình thành và phát triểnnhững thuộc tính hoặc phẩm chất tương ứng của nhân cách người được giáo dục Đồng thời, hạn chế hoặc cải tạo được những yếu tố không thuận lợi do bẩm sinh ditruyền mang lại
Thực tiễn giáo dục sinh động đã và đang chứng tỏ những điều đó
Thật vậy, giáo dục đã phát hiện khá sớm một số em có mầm mống toán học.Những mầm mống này được khai thác phục vụ cho việc dạy toán cho các em; qua
đó chúng được phát triển và ở các em này, óc toán học dần dần hình thành thực sự.Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy giáo dục phát hiện được những em điếc , câm,những em thiếu khả năng trí tuệ do những nguyên nhân sinh học gây ra Từ đó,giáo dục đã có những phương pháp hữu hiệu để giúp các em hạn chế được nhữngnhược điểm đó
Tương tự như vậy, môi trường không những tạo ra những yếu tố thuận lợi mà cònmang lại những yếu tố không thuận lợi cho sự hình thành và phát triển nhân cáchcon người được giáo dục Do đó, giáo dục cần và có thể :
- Phát hiện những yếu tố thuận lợi, không để chúng bị lãng quên, sử dụng chúngphục vụ cho mục đích giáo dục con người
Trang 17- Hạn chế và có thể khắc phục những ảnh hưởng của nhữg yếu tố không thuận lợicủa môi trường.
Và đặc biệt là có thể cải tạo ở chừng mực nhất định những yếu tố không thuận lợibiến chúng thành nhữgn yếu tố thuận lợi
Không những vậy, còn có thể tạo ra được những yếu tố thuận lợi, góp phần làmcho môi trường trong sạch, giúp ích cho sư hình thành và phát triển nhân cách Theo định hướng đã xác định
Thực tiễn giáo dục sinh động đã chứng tỏ rằng giáo dục đã phát hiện và sr dụngđược những yếu tố thuận lợicủa môi trường nhà trường, môi trường gia đình, môitrường xã hội để tạo ra được sức mạnh tổng hợp trong quá trình giáo dục nhân cáchthế hệ trẻ
Hiện nay, khi mà trong xã hội tồn tại nhiều hiện tượng tiêu cực với nhiều tệ nạn xãhội ( cờ bạc, rượu chè, nghiện ma túy ) với nạn lan tràn văn hóa phẩm đồi trụy, bạolực một mặt giáo dục còn giúp cho người được giáo dục , trước hết là thế hệ trẻ cósức đề kháng để tự bảo vệ chống lại ảnh hưởng xấu xa đó Song mặt khác, giáo dụcnhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội phối hợp với nhau thực hiện cuộc vậnđộng nhằm ngăn chặn, hạn chế và khắc phục những tình trạng làm mất vệ sinh, viphạm lụật lệ giao thông, chiếu các băng Video đen
Kinh nghiệm thực tiễn cũng cho thấy, bằng những biện pháp thích hợp, nhiều nhàtrường đã đẩy công cuộc xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh Trong đó, cácmối quan hệ thầy - thầy, thầy - trò, trò - trò là những mối quan hệ tốt đẹp; các hoạtđộng có nề nếp, kỷ cương; môi tường tự nhiên đã được thầy trò cải tạo sạch vàđẹp Chính môi trường sư phạm lành mạnh được giáo dục tạo ra cũng chính nó đã
hỗ trợ trở lại giáo dục, góp phần quan trọng vào quá trình hình thành và phát triểnnhân cách thế hệ trẻ theo định hướng đã xác định
Đến đây, có một vấn đề được đặt ra là, giáo dục muốn phát huy được đầy dủ vaitrò chủ đạo của mình thì cần có những điều kiện nhất định:
Một là, giáo dục phải diễn ra theo một qui trình, trong đó có sự vận động và pháttriển đồng bộ của các thành tố của nó ( mục đích và nhiệm vụ giáo dục, nội dunggiáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục,kết quả giáo dục)
Trang 18- Hai là, giáo dục phải đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển của ngườiđược giáo dục, nghĩa là giáo dục phải đưa ra được các yêu cầu cao, vừa sức đối vớingười được giáo dục mà họ có thể hoàn thành được với sự nỗ lực cao nhất.
- Ba là, giáo dục và sự phát triển nhân cách có tác động qua lại mật thiết với nhau:giáo dục định hướng và kích thích sự phát triển nhân cách; kết quả phát triển nhâncách lại tạo tiền đề và điều kiện cho giáo dục được tiến hành ở trình độ cao hơn.Bốn là, giáo dục một mặt quan tâm đến trình độ, đặc điểm tâm sinh lý chung củangười được giáo dục, một mặt khác, cũng phải quan tâm đúng đến trình độ, đặcđiểm tâm sinh lý của từng cá nhân người được giáo dục
Từ những điều đã trình bày trên, chúng ta nhận thấy giáo dục đóng vai trò chủ đạotrong sự hình thành và phát triển nhân cách ; giáo dục và sự phát triển nhân cách có
sự tác động qua lại tích cực đối với nhau; giáo dục muốn phát huy được đầy đue vaitrò của mình thì cần phải có những điều kiện nhất định
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là giáo dục là vạn năng, là quyết định sựhình thành và phát triển nhân cách như một số người lầm tưởng Đó là vì sự hìnhthành và phát triển nhân cách phụ thuộc vào nhiều nhân tố mà giáo dục chỉ là mộttrong những nhân tố đó, mặc dù đó là nhân tố chủ đạo
3 Trình bày vai trò của giáo dục nói chung và hoạt động tự giáo dục của cá nhân nói riêng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Từ đó chỉ rõ những điều kiện cơ bản để giáo dục phát huy được vai trò chủ đạo.
Trang 19CHƯƠNG III: MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC VÀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
Với tư cách là mô hình giáo dục học về nhân cách của con người cần đượcđào tạo, mục đích giáo dục có những đặc trưng sau :
- Mục đích là kết quả dự kiến của một quá trình hoạt động dài lâu, với thời gianngắn, nó không cho kết quả rõ ràng
- Biểu thị những yêu cầu, những quan điểm chung nhất của xã hội đối với việcgiáo dục con người
- Tính chất quan trọng nhất của mục đích giáo dục là định hướng, nhưng khôngphải là một điểm có thể xác định được
3 Ý nghĩa của việc xác định mục đích giáo dục
- Mục đích giáo dục là tụ điểm của những đòi hỏi về kinh tế, chính trị, văn hóa,khoa học kỹ thuật trong một thời kỳ lịch sử nhất định của xã hội Vì vậy mục đíchgiáo dục có quan hệ trực tiếp đến việc phát huy sức mạnh của con người Nếu mụcđích giáo dục được xác định đúng đắn thì sức mạnh của con người được đào tạo sẽđược phát huy mạnh mẽ và đầy đủ và sức mạnh đó sẽ được hiện thực hóa trong sứcmạnh kinh tế, sức mạnh chính trị, sức mạnh văn hóa của đất nước Do đó vấn đềmục đích giáo dục là vấn đề cơ bản của chiến lược con người, là thuộc vào hệ thốngnhững vấn đề then chốt trong chiến lược kinh tê - xã hội của đất nước
- Đối với thực tiễn giáo dục, mục đích giáo dục như kim chỉ nam cho mọi hoạtđộng giáo dục của người giáo viên Việc xác định chuẩn xác mục đích giáo dục sẽ
hỗ trợ cho các nhà giáo rất nhiều, nhờ vậy họ ý thức đầy đủ về nội dung, yêu cầu,cách thức tổ chức hoạt động nhằm đạt tới hiệu quả, chất lượng, phù hợp, đáp ứngđòi hỏi của mục đích giáo dục Trong thực tế người ta thấy rằng hiệu quả của hoạtđộng giáo dục cao hay thấp tùy thuộc vào việc người giáo viên có hình dung được
rõ nét mục đích của hoạt động dạy và học, có ý thức được đầy đủ về ý nghĩa xã hội
Trang 20có tầm chiến lược của vấn đề mục đích giáo dục hay không Vì vậy đối với mỗingười giáo viên, việc xác định đúng đắn, rõ ràng va cụ thể mục đích giáo dục, quántriệt mục đích giáo dục trong toàn bộ công tác giáo dục, làm cho mục đích giáo dụctrở thành hệ thống mục tiêu phấn đấu trong suốt quá trình hoạt động dạy học là mộtđòi hỏi bức thiết của thực tiễn dạy học và giáo dục hiện nay
II MỤC ĐÍCH CỦA NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM
1 Cơ sở để xác định mục đích giáo dục:
2 Mục tiêu phát triển tổng quát: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài
3 Mục tiêu phát triển nhân cách:
“ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạođức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lậpdân tộc và Chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất vànăng lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” ( Luật giáodục 2005)
III HỆTHỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN NƯỚC TA HIỆN NAY
1 Hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta
a Khái niệm chung về hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân của một nước là toàn bộ cơ quan chuyên trách việcgiáo dục và học tập cho thanh thiếu nhi và công dân nước đó Các cơ quan này liênkết chặt chẽ tạo thành một hệ thống
Hệ thống giáo dục quốc dân một nước phản ánh trình độ, khả năng về giáo dụccủa một quốc gia - phản ánh chế độ chính trị xã hội, trình độ phát triển kinh tế, khoahọc, kỹ thuật, chính sách văn hóa giáo dục của nước đó Cho nên khi trong nước cónhững biến đổi về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội thì hệ thống giáo dục quốc dâncũng thay đổi theo và khi hệ thống giáo dục quốc dân được cải cách, đổi mới thìcũng góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển mọi mặt của đất nước
b Những nguyên tắc cơ bản xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân
Khi xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân chúng ta cần quán triệt các nguyên tắc
cơ bản sau :
- Phải đảm bảo quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động về giáo dục Tạo điều kiện để mọi người được hưởng và được góp phần xây dựng giáo dục
Trang 21- Thực hiện từng bước phổ cập giáo dục bắt buộc, làm cho mọi người thấy rõquyền lợi và nghĩa vụ học tập
- Đảm bảo bình đẳng cho mọi người về học tập cho mọi dân tộc trong quốcgia, quyền dùng chữ viết, tiếng nói
- Sự nghiệp giáo dục do nhà nước thống nhất quản lý, gia đình, các đoàn thể,các tổ chức xã hội có trách nhiệm phối hợp giáo dục con người mới
- Sự nghiệp giáo dục phải gắn liền với sự nghiệp cách mạng xã hội chủnghĩa, góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng chung
- Đảm bảo đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, Hiến phápnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động giáo dục
- Đảm bảo tính cân đối, liên tục, hoàn chỉnh trong hệ thống giáo dục quốcdân
Các nguyên tắc trên quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một hệ thống, chỉ đạo quátrình, xây dựng và nghiên cứu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
c Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam hiện nay
Về cơ cấu hệ thống giáo dục Luật giáo dục 2005 quy định tại Điều 4
- “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”.Như vậy, giáo dục thường xuyên vừa có thể hiểu như một phương thức giáo dục, vừa cóthể xem là một tiểu hệ thống/ phân hệ của hệ thống giáo dục quốc dân
- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
a) Giáo dục mầm non, có nhà trẻ và mẫu giáo;
b) Giáo dục phổ thông, có 3 cấp học: tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5), trung học cơ sở(từ lớp 6 đến lớp 9), trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12);
c) Giáo dục nghề nghiệp, gồm 3 trình độ đào tạo: sơ cấp, trung cấp (trung cấpchuyên nghiệp và trung cấp nghề), cao đẳng;
d) Giáo dục đại học, gồm 4 trình độ đào tạo: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ
* Về mạng lưới trường/ lớp, theo nguyên tắc phân bố trường gần dân, đến nay trên
các địa bàn dân cư đều có các cơ sở giáo dục Cụ thể là:
- Mỗi xã, phường hoặc thị trấn đều có ít nhất một cơ sở giáo dục mầm non, một
trường tiểu học, một trường trung học cơ sở hoặc một trường liên cấp tiểu học và trung
Trang 22học cơ sở (hình thức này chỉ có ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn); phần lớn các
xã có trung tâm học tập cộng đồng
- Mỗi quận, huyện, thị xã hoặc thành phố thuộc tỉnh đã có một hoặc một số trường
trung học phổ thông, có một trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện Các thị xã, cácquận và nhiều huyện đã có trung tâm kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp Các huyện miềnnúi, hải đảo đều có một trường trung học cơ sở nội trú dành cho học sinh dân tộc thiểu số
và trường phổ thông có nhiều cấp học
- Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có một trường trung học phổ thông
chuyên dành cho học sinh xuất sắc trong việc học tập một trong các các môn học, cótrường trung cấp hoặc/và một trường cao đẳng (junior college), một trung tâm giáo dụcthường xuyên của tỉnh Các tỉnh miền núi và các tỉnh có nhiều huyện miền núi đều cótrường trung học phổ thông nội trú dành cho học sinh dân tộc thiểu số Một số tỉnh vàthành phố trực thuộc trung ương còn có trường năng khiếu nghệ thuật, trường năng khiếuthể dục-thể thao và trường dành cho người khuyết tật, tàn tật
- Các trường đại học tập trung ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thànhphố như Hải Phòng, Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ Ngoài ra, hầu như mỗi tỉnhđều có trường cao đẳng hoặc trường đại học
IV NHIỆM VỤ GIÁO DỤC
1 Giáo dục đạo đức và công dân ( đức dục )
Giáo dục đạo đức và công dân là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong quá trìnhgiáo dục ở nhà trường các cấp
* Đức dục có nhiệm vụ làm cho người học:
- Thấm nhuần các chuẩn mực và qui tắc đạo đức XHCN trong nhận thức, tình cảm
và thói quen hành vi; hình thành lối sống mới tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc
- Tham gia tích cực, tự giác và có hiệu quả vào các hoạt động chính trị - xã hộinhằm phục vụ lợi ích của nhân dân lao động
- Có bản lĩnh để đấu tranh không khoan nhượng chống những tư tưởng thù địch,phản động, lối sống buông thả; bài trừ hủ tục, mê tín, dị đoan
* Đức dục được tiến hành thông qua việc dạy các môn học, trong đó môn đạo đức, giáodục công dân có vị trí đặc biệt và trong các hoạt động và giao lưu của học sinh
2 Giáo dục trí tuệ ( trí dục )
Trang 23* Trí dục có nhiệm vụ chủ yếu sau:
-Trang bị cho học sinh vốn tri thức có hệ thống, hiện đại, phù hợp với những tiến
bộ của khoa học và công nghệ, phản ánh thực tiễn đất nước
- Phát triển ở học sinh năng lực hoạt động trí tuệ, nhất là các phẩm chất của tưduy
- Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức và thói quen thực hành tri thức đãhọc để giải quyết những nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn
- Phát triển nhu cầu về học vấn, nhu cầu thường xuyên bổ sung, mở rộng kiếnthức, nhu cầu tự học
* Việc giáo dục trí tuệ và sự phát triển trí tuệ không chỉ diễn ra qua các môn họctrong lớp học, trong nhà trường mà diễn ra trong toàn bộ các quan hệ, các hoạt độngcủa con người trong cuộc sống
3.Giáo dục thể chất và quốc phòng ( thể dục)
* Thể dục có nhiệm vụ làm cho người học có được:
- Cơ thể phát triển bình thường, có sức khỏe và năng lực làm việc tốt
- Những kỹ năng, kỹ xảo vận động hợp lý, thói quen vệ sinh cá nhân và xã hội
- Các phẩm chất vận động cơ bản ( nhanh, mạnh, bền, khéo )
- Những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen và hứng thú luyện tập thân thể vàluyện tập thể dục, thể thao
- Những hiểu biết phổ thông về quốc phòng; những kỹ năng quân sự thường thức;
ý thức cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc
* Thể dục được tiến hành thông qua hoạt động TDTT trên lớp, ngoài lớp,trong trường, ngoài trường cũng như toàn bộ sinh hoạt của học sinh
4 Giáo dục thẩm my (mỹ dục)
* Mỹ dục có nhiệm vụ làm cho người học:
- Hình thành, phát triển cảm xúc thẩm mỹ, năng lực cảm nhận cái đẹp
- Hình thành thị hiếu thẩm mỹ, năng lực đánh giá cái đẹp
- Có thái độ thẩm mỹ tích cực đối với hiện thực, có nhu cầu, năng lực biểu hiện vàsáng tạo cái đẹp trong nghệ thuật và trong cuộc sống
* Mỹ dục được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học, và trong quá trình
tổ chức đời sống của học sinh
5 Giáo dục lao động
Trang 24* Nhiệm vụ tổng quát của giáo dục lao động kỹ thuật là :
- Giáo dục thái độ và niềm tin đúng đắn đối với mọi loại hình lao động ( lao độngtrí óc, lao động chân tay, lao động nghề nghiệp ) xem đó là con đường chân chính
để mưu cầu hạnh phúc cho chính bản thân và làm tròn nghĩa vụ cơ bản đối với giađình và toàn xã hội
- Thông qua giáo dục lao động và kỹ thuật cụ thể, hình thành ở học sinh nhu cầulành mạnh, gắn bó với cuộc sống, với hạnh phúc, phù hợp với nhu cầu của xã hộivăn minh
- Hình thành tâm lý ( và được chuẩn bị sẵn sàng ) tham gia vào mọi hình thức laođộng trong suốt cuộc sống của mình ( liên tục, suốt đời ) một cách sáng tạo, chủđộng
- Trong điều kiện thực tế của nhà trường phổ thông Việt Nam, các nhiệm vụ giáodục lao động kỹ thuật cho học sinh được cụ thể hóa như sau :
+ Đưa hoạt động dạy học lao động kỹ thuật của học sinh phổ thông vào nền nếp + Lựa chọn nội dung và hình thức lao động sản xuất vừa sức, phù hợp với cơ chếthị trường và điều kiện thực tế của nhà trường ở từng vùng kinh tế
+ Phát triển các Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề ở cácquận, huyện
+ Tăng cường chỉ đạo hoạt động lao động hướng nghiệp của học sinh các dân tộcmiền núi, đặc biệt là các trường phổ thông dân tộc nội trú
Việc phân định nhiệm vụ kể trên tuy còn rất sơ lược, mới nêu lên được những nộidung tổng quát ở từng nhiệm vụ, chỉ có ý nghĩa và tác dụng định hướng chung
Trong thực tiễn hoạt động giáo dục, các nhiệm vụ kể trên được đan xen vàonhau, tạo thành nội dung giáo dục, được thiết kế thành các quá trình giáo dục cụ thể,trong đó các yêu cầu của từng nhiệm vụ vừa là tiên đề, vừa là điều kiện cho sự vậnđộng và phát triển của các nhiệm vụ khác
Trang 253 Nêu cơ cấu của hệ thống giáo dục quốc dân Việt nam hiện nay và cho biết quan điểm của mình về hệ thống đó.
4 Phân tích các nhiệm vụ giáo dục và con đường thực hiện các nhiệm vụ đó.
CHƯƠNG IV: PHỔ CẬP GIÁO DỤC
1 Khái niệm phổ cập giáo dục:
Phổ cập giáo dục là tổ chức việc dạy và việc học nhằm làm cho đoàn thể thànhviên trong xã hội, đến một độ tuổi nào đó (ở nước ta quy định đối với phổ cập giáo dụctiểu học là 15 tuổi) có một trình độ đào tạo nhất định (theo số năm hoặc theo bậc học)
Cần lưu ý rằng : phổ cập giáo dục không chỉ là làm cho tất cả các thanh thiếu niêntrong độ tuổi quy định đều được đến trường (có chỗ học – được học tập chu đáo) mà cònđòi hỏi làm cho tất cả thanh thiếu niên đến một độ tuổi nhất định đều có được một chấtlượng và một trình độ giáo dục nhất định
2 Ý nghĩa, mục tiêu phổ cập giáo dục ở Việt Nam :
2.1 Ý nghĩa của việc phổ cập giáo dục :
Phổ cập giáo dục có một ý nghĩa vô cùng quan trọng được thể hiện ở một số khíacạnh sau :
- Là thể hiện một quyền cơ bản của trẻ em – quyền được giáo dục đã được nhànước ta khẳng định bằng hiến pháp và luật (luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dụctrẻ em, luật phổ cập giáo dục tiểu học…)
- Phổ cập giáo dục là một bước, một biện pháp nâng cao trình độ dân trí nước ta,
từ đó tạo điều kiện để cho tương lai tiến hành ở trình độ cao hơn
- Phổ cập giáo dục còn nhằm tạo điều kiện cơ bản để nâng cao năng suất, pháttriển sản xuất và các mặt khác của đời sống xã hội
3 Mục tiêu và chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học
(Chinhphu.vn)- Để được công nhận đạt chuẩn về phổ cập giáo dục tiểu học (PCGDTH), đối với
cá nhân phải hoàn thành chương trình tiểu học trước 15 tuổi; đối với đơn vị cơ sở phải có trên80% trẻ em trong độ tuổi 14 hoàn thành chương trình tiểu học; đối với đơn vị cấp huyện, cấptỉnh phải có 90% số đơn vị cơ sở công nhận đạt chuẩn PCGDTH
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành quy định kiểm tra, công nhận PCGDTH và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (PCGDTHĐĐT) Quy định này cũng ưu tiên cho các đơn vị cơ sở và đơn vị cấp huyện trở lên thuộc khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa với chỉ tiêu đạt chuẩn
PCGDTH tương ứng là 70%, 80%, giảm 10% so với các vùng miền khác
Trang 26Chuẩn PCGDTHĐĐT còn được chia ở hai cấp độ 1 và 2 căn cứ vào tỉ lệ học sinh đầu vào, đầu rađúng độ tuổi, chất lượng giáo viên và cơ sở vật chất Ở cấp độ 1, các đơn vị cơ sở phải có 95% tỉ
lệ học sinh 6 tuổi nhập học, 80% trẻ em 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học; có ít nhất 20%giáo viên đạt trình độ trên chuẩn, có tỉ lệ 0,5 phòng/lớp trở lên
Đối với cấp độ 2, các đơn vị cơ sở phải có ít nhất 98% tỉ lệ học sinh 6 tuổi nhập học, 90% trẻ em
11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học, có 50% giáo viên trên chuẩn và đủ giáo viên dạy các môn chuyên trách, có tỉ lệ phòng học đạt 0,8 phòng/lớp
Hàng năm, các đơn vị sẽ tổ chức tự kiểm tra, công nhận để có biện pháp củng cố, duy trì kết quả
và báo cáo lên Bộ Giáo dục và Đào tạo tổng hợp vào tháng 11
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định này ra đời nhằm mục đích từng bước nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học và đưa quy trình kiểm tra, công nhận PCGDTH, PCGDTHĐĐT đảm bảođúng thực chất, khách quan, nghiêm túc
4 Những biện pháp cơ bản để phổ cập giáo dục :
Phổ cập giáo dục là quá trình không ngừng phấn đấu đạt đến số người đi học vàchất lượng đào tạo – giáo dục của quá trình đó Để đạt được điều đó cần có những biệnpháp đồng bộ và nhiều mặt Sau đây là các biện pháp cụ thể :
- Những biện pháp hình chinh – pháp chế : được khẳng định bằng các đạo luật vàcác văn bản dưới luật quy định quyền lợi và nghĩa vụ học tập của mỗi công dân, khẳngđịnh đó là chế độ bắt buộc và không phải trả tiền; quy định nội dung giáo dục thống nhất,quy định đối tượng, tiêu chuẩn, quy định trách nhiệm của các ngành các cấp của gia đìnhcủa mỗi công dân trong việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học; trách nhiệm của xã hội,gia đình và nhà trường
Những biện pháp kinh tế xã hội :
Đi đôi với việc nâng cao mức sống nhân dân, cần giảm bớt tỉ lệ sinh đẻ, xây dựngngân sách cho giáo dục tiểu học : CSVC, trang bị dạy học, tài liệu học tập Cải thiện điềukiện làm việc và mức sống của giáo viên vẫn còn khó khăn
Những biện pháp về tư tưởng văn hóa :
Cần tuyên truyền, giải thích chế độ phổ cập giáo dục tiểu học một cách sâu rộngtrong toàn dân đặc biệt là làm cho người dân thấy được ý nghĩa quyền lợi của con em họtrong chính sách phổ cập giáo dục tiểu học
Khắc phục tâm lý lạc hậu, tính toán vị kỉ, thiện cận gây trở ngại cho việc học tậpcủa trẻ em
Những biện pháp về tổ chức sư phạm :
- Cần bố trí mạng lưới trường học hợp lý để trẻ em đi học thuận tiện
Trang 27- Xây dựng hệ thống các trường dành cho trẻ em khuyết tật.
- Nhà trường cùng với chính quyền địa phương tổ chức thống kê hằng năm số trẻ
em trong độ tuổi đi học và kiểm tra chặt chẽ việc các em đến trường
- Gây hứng thú học tập, nâng cao chất lượng dạy và học
- Giảm bớt số học sinh kém, phải ở lại lớp, ngăn chặn hiện tượng bỏ học
- Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội trong việc tiến hành phổcập giáo dục tiểu học
* Lưu ý : các biện pháp trên phải được tiến hành một cách đồng bộ trong đó cácbiện pháp tổ chức sư phạm phải được đặc biệt coi trọng
CÂU HỎI
1 Phổ cập giáo dục là gì? Ý nghĩa của phổ cập giáo dục tiểu học
2 Mục tiêu và các biện pháp để phổ cập giáo dục tiểu học
3 Phân tích việc thực hiện phổ cập tiểu học ở nước ta hiện nay
CHƯƠNG V: NGƯỜI GIÁO VIÊN TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC
I VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN :
1 Vị trí của người giáo viên :
a) Vị trí, xã hội của người giáo viên gắn liền với vị trí và chức năng của giáo dục :chuẩn bị cho học sinh về mọi mặt để bước vào cuộc sống đáp ứng những yêu cầu của
xã hội, trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm xã hội Đặc biệt là trí thức và kỹ nănglao động nghề nghiệp, trong một thời đại mà khoa học công nghệ phát triển như vũbão Công việc này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định đưa nước tathoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, trở thành đất nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh
Vì vậy người thầy giáo từ xưa tới nay luôn được nhân dân ta tôn trọng và đánh giácao Tôn sư trọng đạo đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng luôn đánh giá cao công lao củacác thầy giáo, cô giáo Đảng ta khẳng định :
Người thầy giáo là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng văn hóa, là lực lượngcốt cán trong sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Trang 28Tuy nhiên không phải ở bất cứ xã hội nào, giai đoạn nào người thầy giáo cũngđược coi trọng và đối xử đúng mức, nhất là trong xã hội có giai cấp đối kháng khi sựnghiệp giáo dục không được chú trọng đúng mức.
b) Trong nhà trường thầy giáo là một trong hai nhân vật trung tâm, là người quyếtđịnh chất lượng giáo dục
2 Chức năng người giáo viên :
Chức năng của người giáo viên là dạy học và giáo dục toàn diện cho học sinh.Trước đây, chức năng truyền đạt thông tin, kiến thức của người giáo viên là chứcnăng chủ yếu và dường nhu là duy nhất Đó là vì trong điều kiện khoa học kỹ thuật,nhất là các phương tiện thông tin đại chúng còn hạn chế Nhà trường và người giáoviên là người độc quyền nắm tri thức khoa học
Ngày nay tình hình đã thay đổi : Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ,các phương tiện thông tin đại chúng Do đó người học có điều kiện để tiếp nhận trithức không chỉ từ người giáo viên, từ sách giáo khoa mà từ còn nhiều thông tin kháctrong cuộc sống Vì vậy chức năng truyền đạt thông tin mặc dù vẫn quan trọng và vẫntồn tại lâu dài Nhưng không còn là chức năng chủ yếu nữa Từ mục đích đào tạo ranhững con người năng động, sáng tạo, có năng lực tự giải quyết vấn đề, thì chức năngchủ yếu của người giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn quá trình nhận thức của họcsinh, quá trình hình thành những năng lực và phẩm chất tâm lý cho cuộc sống trongmột xã hội luôn biến đổi mà nhiều điều không biết trước hết được
II ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN
Đặc điểm lao động của người thầy giáo do mục đích, đối tượng, công cụ, sảnphẩm… của lao động sư phạm quy định
1 Mục đích của lao động sư phạm (LĐSP)
a) Mục đích của LĐSP là nhằm giáo dục – đào tạo thế hệ trẻ, hình thành cho học sinhnhững phẩm chất và năng lực mà xã hội yêu cầu Nói cách khác LĐSP góp phầnsáng tạo ra con người, ra nhân cách mới, nghề dạy học là “trồng người” Vì vậynghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý
Mục đích của LĐSP của người giáo viên tiểu học là thực hiện mục tiêu của giáodục tiểu học
Đặc điểm nói trên phải được các thầy cô giáo ý thức một cách sâu sắc, đầy
đủ, phải biến nó hành động Có như vậy hoạt động cụ thể của họ mới được tiến
Trang 29hành một cách sáng tạo Ngược lại mù quáng sẽ dẫn đến những hậu quả xấu, cótác hại lâu dài, nghiêm trọng không lường hết được kết quả.
2 Đối tượng của lao động sư phạm :
a) Đối tượng của LĐSP là học sinh, là lứa tuổi nhân cách đang hình thành và pháttriển Các em có kinh nghiệm, có vốn hiểu biết, có những đặc trưng về tâm lý, sinh
lý, xã hội Hơn thế nữa họ còn là chủ thể của các hoạt động
b) Từ đặc điểm trên muốn cho LĐSP đạt hiệu quả cao, giáo viên phải tìm hiểu nắmbắt được những đặc điểm nhân cách của học sinh, coi đó là cơ sở khoa học củamọi hành động sư phạm Phải tôn trọng nhân cách và phát huy vai trò chủ thể của
họ Có thể nói rằng lao động sư phạm là lao động sáng tạo và sự sáng tạo nhấtchính là ở chỗ dạy cho phù hợp với từng nhân cách vốn rất đa dạng phong phú
3 Công cụ của lao động sư phạm :
a) Công cụ của LĐSP là công cụ đặc biệt Công cụ của LĐSP chủ yếu là :
- Hệ thống tri thức và kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên.
- Những dạng hoạt động mà giáo viên thu hút học sinh tham gia.
- Phẩm chất đạo đức và nhân cách của giáo viên.
b) Đặc điểm này đòi hỏi người giáo viên phải thường xuyên rèn luyện bản thân, nângcao trình độ về mọi mặt của mình Coi đó là biện pháp chủ yếu, quan trọng hàngđầu để nâng cao hiệu quả hoạt động sư phạm
4 Sản phẩm của lao đống sư phạm :
a) Sản phẩm của LĐSP là con người Trải qua quá trình giáo dục, đào tạo nhữngngười đó đã thay đổi về chất Họ đã chuẩn bị về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu của cuộcsống Họ sẽ là một bộ phận của lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội, góp phầnlàm ra các sản phẩm vật chất và tinh thần, tương lai đất nước phần lớn phụ thuộc vàohọ
b) Đặc điểm này đòi hỏi người giáo viên trong lao động phải hết sức thận trọng,nhẫn nại trong công việc, phải thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dụcmột cách khoa học, tuyệt đối không cho ra đời những sản phẩm loại 2, những thứphẩm
5 Điều kiện làm việc của LĐSP :
a) LĐSP của người giáo viên là loại lao động không chỉ phức tạp mà còn có cường độlao động cao
Trang 30Để tạo ra sản phẩm quan trọng cho xã hội, giáo viên cần phải vất vả một cáchthường xuyên, khó quan sát GV phải làm việc ở trên lớp, ở phòng bộ môn, ở cơ sởkinh thế - xã hội GV phải làm việc trong giờ hành chính và ngoài giờ hành chính, vào
cả ngày chủ nhật, ngày lễ… LĐSP là lao động có một số độc hại và căng thẳng đặcthù, nhất là trong hoàn cảnh nước ta hiện nay
b) Muốn cho LĐSP đạt hiệu quả cao phải kết hợp một cách hữu cơ các khoảng thờigian làm việc của giáo viên, huy động sự toàn tâm toàn ý của giáo viên Mặt khácphải tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho giáo viên một cách xứng đáng
III NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI NHÂN CÁCH NGƯỜI GIÁO VIÊN :
Khoản 2 điều 61 luật giáo dục nước Cộng hòa XHCN Việt Nam : “Nhà giáo phải
có những tiêu chuẩn sau :
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệpvụ
c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu của nghề nghiệp
Có tình cảm trong sáng, cao thượng : yêu nước, yêu CNXH, yêu nghề, yêu conngười, yêu thế hệ trẻ Tình cảm đó sẽ tạo nên sức mạnh, sẽ nhen nhóm và bùng lênngọn lửa nhiệt tình, họ sẽ có thái độ ân cần, trìu mến, chân thành với học hành luônluôn nỗ lực chăm lo cho chúng trở nên con người mới, có ích cho xã hội
Có hàng loạt những phẩm chất khác giúp họ có bản lĩnh vững vàng, có nghệ thuậtkhéo léo trước học sinh Đó là sự thống nhất giữa mục đích và tính kế hoạch; giữatính tổ chức kỷ luật với tính tự chủ trong công việc, với tính nghiêm khắc với sựthương yêu của học sinh, giữa chí tiến thủ và tính khiêm tốn
Trang 312 Về năng lực :
* Có hệ thống tri thức sâu rộng đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp : tri thức văn hóachung, tri thức khoa học chuyên môn; tri thức khoa học giáo dục; tri thức công cụgiúp hoàn thiện nhân cách (tin học, ngoại ngữ, phương pháp nghiên cứu khoa học)
* Có hệ thống kỹ năng sư phạm bao gồm 2 nhóm :
+ Nhóm kỹ năng nghiên cứu khoa học và nghiên cứu khoa học giáo dục
+ Nhóm kỹ năng hoạt động xã hội
IV VIỆC TỰ HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH CỦA GIÁO VIÊN :
1 Nhân cách người thầy giáo được hình thành liên tục bao gồm các giai đoạn :
- Giai đoạn hướng nghiệp khi học sinh ở nhà trường phổ thông
- Giai đoạn học ở nhà trường ĐH
- Giai đoạn lao động trong thực tiễn giáo dục
2 Để đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp, nhất là trong điều kiện của sự bùng nổ thông tin,
điều kịên gia tốc của sự phát triển ở trẻ em, người giáo viên khi bước vào nghề vẫnphải luôn tự hoàn thiện nhân cách giáo viên bằng nhiều hình thức
- Học thêm để nâng cao trình độ, đạt và vượt trình độ chuẩn.
- Tự học, tự bồi dưỡng.
- Nghiên cứu khoa học.
Trang 32- Học hỏi ở đồng nghiệp.
CÂU HỎI
a Hãy phân tích cơ sở xã hội của truyền thống tôn sư trọng đạo
b Hãy phân tích những đặc điểm của lao động sư phạm
c Anh ( chị) rút ra được những bài học sư phạm gì từ đặc điểm lao động sưphạm
d Hãy phân tích những yêu cầu đối với nhân cách giáo viên
e Anh (chị) đã và sẽ làm gì để đáp ứng những yêu cầu đối với nhân cách giáoviên
CHƯƠNG VI: QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TIỂU HỌC
I KHÁI NIỆM VỀ DẠY HỌC
1 Định nghĩa
Trang 33Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của ngườigiáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động, biết tự tổ chức, tự điều khiển hoạt độngnhận thức - học tập của mình, nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.
Quá trình dạy học với tư cách là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản sauđây: mục đích, nhiệm vụ dạy hoc; nội dung dạy học; thầy và hoạt động dạy; trò và hoạtđộng học; các phương pháp và phương tiện dạy học; kết quả dạy học
Các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy học tồn tại trong mối quan hệ qua lại thốngnhất với nhau Mặt khác toàn bộ hệ thống này lại có mối quan hệ qua lại và thống nhấtvới môi trường của nó: môi trường xã hội - chính trị và môi trường khoa học - kĩ thuật
2 Đặc điểm của quá trình dạy học hiện nay: Thời đại ngày nay đã và đang cónhững biến đổi to lớn và sâu sắc, nên đã tạo cho quá trình dạy học có những đặc điểm cơbản sau đây:
- Hoạt động của học sinh được tích cực hóa trên cơ sở nội dung dạy học ngày cànghiện đại hóa
- Trong quá trình dạy học hiện nay, học sinh có vốn sống và năng lực nhân thứcphát triển hơn so với trẻ cùng độ tuổi trước đây
- Trong quá trình học tập, học sinh có xu hướng vượt ra khỏi nội dung tri thức, kĩnăng kĩ xảo do chương trình qui định
- Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất vàphương tiện ngày dạy học càng hiện đại
II NHIỆM VỤ CỦA DẠY HỌC
2.1, Tổ chức, điều khiển người học nắm vững hệ thống tri thức ,kĩ năng, kĩ xảo cần thiết
Đó là những tri thức về tự nhiên, xã hôi, con người được thể hiện trong các môn học và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với hệ thống tri thức đó
Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của dạy học
2.2 Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành và phát triển năng lực và phấm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo.
- Sự phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự tích lũy vốn tri thức và sự vận dụngcác thao tác trí tuệ thành thạo và vững chắc Đó là quá trình chuyển biến về chất lượngtrong hoạt động trí tuệ nói chung, trong hoạt động nhận thức của người học nói riêng
Trang 34Trong quá trình dạy học, với vai trò tổ chức điều khiển của giáo viên, học sinh khôngngừng phát huy tính tích cực nhận thức, tự mình rèn luyện các thao tác trí tuệ, dần dầnhình thành các phẩm chất hoạt động trí tuệ cần thiết
2.3 Tổ chức, điều khiển người học hình thành và phát triển thế giới quan khoa học, lí tưởng cách mạng và những phẩm chất đạo đức của người công dân, người lao động có bản lĩnh, bản ngã trong cộng đồng.
* Thế giới quan: là hệ thống quan điểm, quan niệm, về thế giới xung quanh mình.Theo nghĩa tổng quát, đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới, về những hiện tượngtrong tự nhiên và trong xã hội, các quan điểm triết học, xã hội học, chính trị, luân lí, mĩhọc
* Lí tưởng cách mạng:
- Lí tưởng là biểu tượng của con người về cái mà họ cảm thấy rất cao đẹp và họmong muốn đạt tới Vì vậy nó là lẽ sống của con người, có sức lôi cuốn mạnh mẽ toàn bộcuộc sống của cá nhân vào những hoạt động để vươn tới mục tiêu cao cả đã định
- Cùng với việc giáo dục thế giới quan khoa học, nhà trường cần giáo dục cho họcsinh lí tưởng cách mạng bằng nhiều con đường, trong đó, có con đường dạy học
* Trong thực tiễn, việc giáo dục thế giới quan khoa học, lí tưởng cách mạng khôngthể tách rời việc giáo dục các phẩm chất đạo đức của con người lao động
Có thể giáo dục cho học sinh những phẩm chất đạo đức qua nội dung, phươngpháp và hình thức tổ chức dạy học Trong đó, nội dung dạy học có ý nghĩa giáo dục rấtlớn vì bản thân nó đã chứa đựng những quan điểm, những tư tưởng, những chuẩn mựcđạo đức
2.4 Mối quan hệ giữa các nhiệm vụ dạy học.
Ba nhiệm vụ dạy học có quan hệ mật thiết với nhau Trên cơ sở võ trang tri thức,rèn luyện kĩ năng kĩ xảo, giúp học sinh phát triển trí tuệ (nhiệm vụ 1 là cơ sở của nhiệm
vụ 2), song khi trí tuệ của học sinh được phát triển nó lại giúp cho quá trình lĩnh hội trithức của học sinh được diễn ra một cách thuận lợi, có kết quả tốt hơn (nhiệm vụ 2 là điềukiện để thực hiện tốt nhiệm vụ 1) Khi nhiệm vụ 1 và 2 đã được thực hiện tức là học sinh
đã lĩnh hội được tri thức, rèn luyện được hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng vàphát triển trí tuê, nó sẽ giúp cho học sinh hình thành được cơ sở thế giới quan, lí tưởngcách mạng, lý tưởng nghề nghiệp và những phẩm chất của người công dân, người laođộng Tuy nhiên ta cũng cần thấy rằng, khi nhiệm vụ thứ 3 được thực hiện, có nghĩa là ở
Trang 35học sinh đã hình thành được hệ thống quan điểm, niềm tin, lí tưởng và những phẩm chấtđạo đức thì nó lại là cơ sở về mặt tư tưởng, đạo đức giúp cho quá trình nhận thức, rènluyện của học sinh có hiệu quả cao.
III Ý NGHĨA CỦA DẠY HỌC.
1 - Dạy học là con đường thuận lợi nhất giúp người học trong khoảng thời gianngắn nhất có thể chiếm lĩnh một khối lượng tri thức, kĩ năng với chất lượng cần thiết
2 - Dạy học còn là con đường quan trọng bậc nhất giúp học sinh phát triển mộtcách có hệ thống năng lực hoạt động trí tuệ nói chung, đặc biệt là năng lực tư duy sángtạo nói riêng
3 - Dạy học là một trong những con đường chủ yếu góp phần giáo dục cho họcsinh thế giới quan khoa học, lí tưởng cách mạng và những phẩm chất đạo đức của conngười mới
Với những ý nghĩa trên, dạy học là một hoạt động đặc trưng chủ yếu của nhàtrường
IV BẢN CHẤT CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC.
1 Quá trình dạy học là sự thống nhất hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò
1.1 Quá trình dạy học bao gồm hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động nhận thức - học tập của học sinh, là quá trình hoạt động chung, trong đó người giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học và người học đóng vai trò tự giác, tích cực, chủ động phối hợp với sự tác động của người giáo viên bằng cách tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình, nhằm đạt được những nhiệm vụ dạy học
Công tác tổ chức lãnh đạo của người giáo viên bao gồm:
- Đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức học tập
- Vạch ra kế hoạch hoạt động của mình
- Tổ chức hoạt động dạy của mình và hoạt động học của người học
- Kích thích tính tự giác, tính tích cực và chủ động của người học sinh bằng cáchtạo nên nhu cầu, động cơ, khơi gợi tính tò mò, ham hiểu biết, hứng thú nhận thức củangười học, làm cho họ ý thức rõ ràng nghĩa vụ và trách nhiệm đối với việc học tập củamình
Trang 36- Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh qua đó mà có biệnpháp điều chỉnh và sửa chữa kịp thời những thiếu sót, sai lầm của họ cũng như cải tiếncông tác giảng dạy của mình.
Quá trình học của người học có thể diễn ra dưới sự tác động trực tiếp của ngườigiáo viên như diễn ra trong tiết học trên lớp hoặc những hình thức tổ chức dạy học khácdưới sự tác động gián tiếp của người giáo viên như tự học ở nhà
* Học sinh tồn tại với tư cách là đối tượng điều khiển của thầy, của hoạt động dạy:tiếp thu những tác động của thầy về nội dung tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác:
- Tiếp nhận những nhiệm vụ và kế hoạch học tập do giáo viên đề ra
- Thực hiện những hành động và những thao tác nhận thức - học tập nhằm giảiquyết những nhiệm vụ đề ra
- Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của mình dưới tác động kiểm tracủa giáo viên và sự tự kiểm tra của mình
- Phân tích những kết quả hoạt động học tập dưới sự lãnh đạo của giáo viên
Học sinh THCN và dạy nghề đã có vốn sống, kinh nghiệm và thực tiễn nghề nghiệp.Vìvậy họ có khả năng tiếp thu có phê phán những tác động của thầy, trên cơ sở tự tổ chức,
tự điều khiển cho phù hợp với điều kiện sống của mỗi học sinh
* Dưới tác động của thầy, của hoạt động dạy sẽ nảy sinh hệ thống con: Học sinh- tài liệu học tập Trong mối quan hệ này học sinh là chủ thể nhận thức trước đối tượng nhận thức là tài liệu học tập
Vai trò chủ thể nhận thức của học sinh được thể hiện như :
- Lập kế hoạch hoặc cụ thể hóa những nhiệm vụ học tập của mình
- Tự tổ chức hoạt động học tập bao gồm việc lựa chọn phương pháp, phương tiện
và những hình thức hoạt động học tập của mình
- Tự kiểm tra và tự điều chỉnh trong tiến trình học tập của mình
- Tự phân tích kết quả hoạt động học tập của mình
2 QTDH là một quá trình nhận thức của học sinh:
2.1 Thực chất của quá trình học tập của học sinh là quá trình nhận thức: Tức là sựphản ánh thế giới khách quan vào trong ý thức của học sinh; nắm được bản chất củaSVHT, nắm được các khái niệm, các qui luật
Trang 372.2 Quá trình nhận thức của học sinh có những nét giống và những nét khác so vớinhận thức của nhà khoa học, của loài người:
* Những điểm giống nhau:
- Cùng là sự phản ánh thế giới khách quan vào ý thức con người
- Cùng diễn ra theo qui luật nhận thức chung của loài người Qui luật này đã đượcphản ánh trong công thức nổi tiếng của V.I.Lênin: “ Từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhậnthức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan” - Đều huy động các thao tác tưduy ở mức độ cao nhất
- Đều làm cho vốn hiểu biết của chủ thể được phong phú thêm và hoàn thiện hơn
- Quá trình học tập của học sinh có thêm các khâu kích thích thái độ tích cực, củng
cố, kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
2.3.Từ bản chất của QTDH chúng ta rút ra một số kêt luận sư phạm sau:
- Phải bảo đảm sự thống nhất giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học củatrò
- Không nên cường điều hóa sự giống nhau hay sự khác nhau giữa nhận thức củahọc sinh và nhận thức của nhà khoa học
- Trong QTDH bên cạnh quá trình nhận thức còn có các quá trình tâm lý khác vàcác trạng thái tâm lý Cần có biện pháp để phát huy chúng nhằm làm cho QTDH đạt hiệuquả cao nhất
V ĐỘNG LỰC VÀ LÔGIC CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC.
1 Khái quát về sự vận động và phát triển của quá trình dạy học.
Cũng như các sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới khách quan, quá trình dạyhọc với tư cách là một hệ thống luôn luôn ở trạng thái vận động và phát triển
Trang 38Quá trình dạy học bao gồm nhiều nhân tố cấu trúc tồn tại trong mối quan hệ biệnchứng với nhau Bản thân mỗi nhân tố cấu trúc cũng luôn luôn ở trạng thái vận động vàphát triển Chính sự vận động và phát triển tổng hợp và đồng bộ của các nhân tố cấu trúcnày tạo nên sự vận động và phát triển chung của quá trình dạy học Chúng ta chỉ xem xétnhững biểu hiện cơ bản của sự vận động và phát triển của các nhân tố trung tâm.
* Học sinh và hoạt động học
Dưới ảnh hưởng của các nhân tố khác, đặc biệt là của thầy và hoạt động dạy, họcsinh và hoạt động học không ngừng vận động và phát triển đi lên Cụ thể là qua hoạtđộng học, học sinh:
- Từ chỗ chưa ý thức được đầy đủ, chính xác, sâu sắc đến chỗ ý thức được đầy đủ hơn,chính xác hơn, sâu sắc hơn các mục đích, nhiệm vụ học tập
- Từ chỗ chưa nắm được tri thức đến chỗ nắm tri thức với mức độ ngày càng sâu sắc vàtoàn diện
- Từ chỗ nắm tri thức đến chỗ hình thành được kĩ năng, nắm kĩ xảo
-Từ chỗ vận dụng những điều đã học vào tình huống quen thuộc đến chỗ vận dụng chúngvào tình huống mới
- Trên cơ sở đó ngày càng hoàn thiện các năng lực và các phẩm chất hoạt động trí tuệcũng như hoàn thiện thế giới quan khoa học và các phẩm chất đạo đức
* Thầy và hoạt động dạy
Dưới ảnh hưởng của các nhân tố cấu trúc khác, đặc biệt là của sự tác động qua lạivới học sinh và hoạt động học, thầy và hoạt động dạy cũng vận động và phát triển đi lên
Trong qúa trình dạy học, trình độ chuyên môn, trình độ nghiệp vụ sư phạm, trình
độ hoạt động xã hội của thầy , không ngừng được nâng cao Không những thế, nhữngmặt khác trong nhân cách của thầy cũng không ngừng được hoàn thiện Do đó hoạt độngdạy ngày càng đáp ứng yêu cầu cao của qúa trình dạy học
Như vậy các nhân tố trung tâm nói riêng, cả quá trình dạy học nói chung vận động
và phát triển đi lên Sự vận động và phát triển này diễn ra nhờ sự tác động của nhữngđộng lực nhất định
2 Động lực của quá trình dạy học.
2.1 Quan niệm về động lực của quá trình dạy học.
Trang 39Theo quan điểm của CN Mác-Lênin: Sự vận động và phát triển của các sự vật hiệntượng của thế giới khách quan là do có sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập,không ngừng giải quyết các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài
2.2 Qúa trình dạy học cũng vận động và phát triển là nhờ không ngừng giải quyếtcác mâu thuẫn bên trong và bên ngoài
* Các mâu thuẫn bên trong bao gồm các mâu thuẫn giữa các nhân tố cấu trúc của
qúa trình dạy học, và các mâu thuẫn giữa các yếu tố trong từng nhân tố
- Về loại mâu thuẫn giữa các nhân tố:
+ Mâu thuẫn giữa một bên là mục đích, nhiệm vụ dạy học đã được nâng cao vàhoàn thiện, và một bên là nội dung dạy học còn ở trình độ thấp, còn ở tình trạng lạc hậu,
+ Mâu thuẫn giữa một bên là nội dung dạy học đã được hiện đại hóa và một bên làphương pháp, phương tiện dạy học còn cũ kĩ,
+ Mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu, nhiệm vụ học tập mới và một bên là trình
độ hiện có còn hạn chế ở học sinh,
+ Mâu thuẫn giữa một bên là nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đãđược hiện đại hóa và một bên là trình độ giáo viên còn thấp,
+ Mâu thuẫn giữa trình độ tư duy cao của thầy và trình độ tư duy thấp của trò,
- Về loại mâu thuẫn giữa các yếu tố trong một nhân tố:
+ Trong mục đích, nhiệm vụ dạy học có mâu thuẫn giữa yêu cầu cao về nắm trithức, kĩ năng, kĩ xảo và yêu cầu không đúng mức về mặt giáo dục
+ Trong phương pháp dạy học, có mâu thuẫn giữa một bên là phương pháp thuyếttrình và một bên là phương pháp luyện tập
+ Trong nội dung dạy học, có yêu cầu đầy đủ về nắm tri thức và yêu cầu chưa đầy
đủ về việc rèn luyện kĩ năng,
+ Trong thầy có mâu thuẫn giữa trình độ chuyên môn tương đối khá và trình độ sưphạm còn non yếu ,
+ Trong trò có mâu thuẫn giữa một bên là tư duy cụ thể phát triển và một bên là tưduy trừu tượng kém phát triển
Những mâu thuẫn bên trong của qúa trình dạy học nếu được giải quyết đúng đắnthì sẽ tạo nên động lực của qúa trình dạy học
Vậy động lực của qúa trình dạy học là kết quả giải quyết tốt các mâu thuẫn bêntrong của quá trình đó
Trang 40* Các mâu thuẫn bên ngoài của quá trình dạy học.
Qúa trình dạy học vận động và phát triển không phải chỉ dựa vào động lực của nó, mặc dù động lực có ý nghĩa quyết định, mà nó còn dựa vào những điều kiện nhất định Những điều kiện này được hình thành là do việc giải quyết tốt các mâu thuẫn bên ngoài
Đó là mâu thuẫn giữa các nhân tố cấu trúc của qúa trình dạy học và các nhân tố của môi trường của nó
Ví dụ: mâu thuẫn giữa những tiến bộ khoa học kĩ thuật và nội dung dạy học lạc hậu, giữa sự tiến bộ xã hội và nhiệm vụ dạy học chưa được nâng cao
2.3 Mâu thuẫn cơ bản và động lực chủ yếu của quá trình dạy học.
* Trong hàng loạt các mâu thuẫn bên trong nêu trên có một loại mâu thuẫn gọi làmâu thuẫn cơ bản Việc giải quyết loại mâu thuẫn này sẽ tạo nên động lực chủ yếu củaQTDH Muốn xác định đâu là mâu thuẫn cơ bản ta phải dựa vào một số dấu hiệu sau:
- Mâu thuẫn tồn tại suốt từ đầu đến cuối quá trình,
- Việc giai quyết các mâu thuẫn khác, suy cho cùng, đều phục vụ cho việc giảiquyết nó,
- Việc giải quyết mâu thuẫn đó liên quan trực tiếp và sâu sắc đến sự vận động vàphát triển của nhân tố học sinh và hoạt động học
Căn cứ vào những dấu hiệu trên thì mâu thuẫn cơ bản của qúa trình dạy học là mâu thuẫn giữa một bên là nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học đề ra và một bên là trình độ phát triển trí tuệ hiện có của học sinh.
* Điều kiện để mâu thuẫn cơ bản trở thành động lực.
Mâu thuẫn chỉ có thể trở thành động lực khi:
- Mâu thuẫn phải được học sinh ý thức đầy đủ, cảm thấy có khó khăn trong việcnhận thức nó và từ đó xuất hiện nhu cầu giải quyết khó khăn này nhằm hoàn thành cácnhiệm vụ học tập
- Mâu thuẫn phải vừa sức với học sinh
- Mâu thuẫn phải do tiến trình dạy học dẫn đến
3 Lôgic của quá trình dạy học.
3.1 Khái niệm về lôgic của QTDH.
Lôgic của qúa trình dạy học là trình tự vận động hợp qui luật của nó đảm bảo chohọc sinh đi từ trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ