II. CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH: 1. Việc ký kết nhiều thoả thuận tự do hoá thương mại sẽ làm giảm thiểu các trường hợp áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. 2. Các quốc gia không phải là thành viên WTO thì không thể bị áp thuế chống bán phá giá (thuế đối kháng). 3. Thuế quan là biện pháp duy nhất để chống trợ cấp và chống bán phá giá. 4. Mọi hành vi trợ cấp đều vi phạm hiệp định SCM. 5. Trợ cấp chính phủ là hiện tượng bị cấm và phải bị rút bỏ theo WTO. 6. Miễn giảm các khoản thuế gián thu cho hàng xuất khẩu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt,… là một trong những hình thức trợ cấp. 7. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng là hiệp định duy nhất trong WTO đề cập đến trợ cấp. 8. Với việc thi hành Hiệp định SCM, các nước thành viên WTO sẽ không còn trợ cấp nữa. 9. Trong WTO, nước nhập khẩu được tự do áp dụng thuế đối kháng khi có dấu hiệu hàng nhập khẩu được trợ cấp. 10. Để đảm bảo tính khách quan, cơ quan điều tra chống trợ cấp phải là một tổ chức quốc tế độc lập. 11. Thuế suất thuế đối kháng là cố định. 12. Bán phá giá chỉ xảy ra khi giá xuất khẩu nhỏ giá bán tại thị trường trong nước. 13. Doanh nghiệp thường áp dụng biện pháp bán phá giá nhằm hy sinh lợi nhuận trước mắt để tối ưu hoá lợi nhuận lâu dài. 14. Số vụ điều tra chống bán phá giá nhằm vào một nước xuất khẩu có quan hệ tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng xuất khẩu của nước đó. 15. Trong WTO, nếu có đủ bằng chứng, có thể cùng một lúc áp dụng cả 03 biện pháp phòng vệ thương mại đối với cùng một mặt hàng. 16. Mọi hành vi bán phá giá đều bị áp thuế chống bán phá giá. 17. Ngành sản xuất nội địa có liên quan trong điều tra áp dụng một biện pháp phòng vệ là ngành sản xuất các sản phẩm tương tự sản phẩm nhập khẩu bị điều tra. 18. Việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại bắt buộc phải trải qua 4 giai đoạn: giai đoạn nộp đơn, điều tra đến kết luận sơ bộ, phán quyết sơ bộ đến chính thức, thi hành và giám sát phán quyết. 19. Hiệp định ADA, SCM, SA là những hiệp định được WTO xây dựng nhằm chống lại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động thương mại quốc tế. 20. Rà soát hoàng hôn có thể kéo dài việc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại mãi mãi. 21. Khi hết thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ chính thức thì biện pháp này vẫn có thể được gia hạn. 22. Sau khi hết thời gian gia hạn thì đương nhiên có thể tiến hành điều tra để áp dụng tiếp biện pháp tự vệ nếu quốc gia nhập khẩu thấy cần thiết phải làm như vậy. 23. Các thành viên WTO không được phép áp dụng biện pháp phi thuế quan trong mọi trường hợp. 24. Trong yêu cầu đối với việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, không có quy trình rà soát, rà soát hoàng hôn. 25. Theo WTO, có thể loại trừ một số sản phẩm ra khỏi việc áp dụng biện pháp tự vệ căn cứ vào xuất xứ hàng hoá (FTA). III. BÀI TẬP TÌNH HUỐNG: Bài tập 1: Năm 1998, Hàn Quốc tiến hành phân tích mức độ thiệt hại vật chất của hành vi phá giá dựa trên cơ sở mức thiệt hại của 17 doanh nghiệp “tiêu biểu” trong 35 doanh nghiệp của Hàn Quốc sản xuất sản phẩm X. Các doanh nghiệp này đại diện cho 61,6% tổng sản lượng hàng hoá tương tự thể hiện quan điểm đối với hành vi phá giá của sản phẩm X nhập khẩu từ Trung Quốc. Để xác định “giá thông thường” của sản phẩm X, Hàn Quốc đã chọn một doanh nghiệp xuất khẩu C của Trung Quốc làm đối tượng xem xét. Thực tế có 05 doanh nghiệp xuất khẩu khác cũng có sản phẩm được bán trên thị trường. Trung Quốc đồng thời xuất khẩu vào Hàn Quốc, tuy nhiên Hàn Quốc không chọn điều tra các doanh nghiệp này vì cho rằng các sản phẩm của họ được bán không đúng với điều kiện thương mại thông thường. Giả sử sau đó trong quá trình điều tra Hàn Quốc thay đổi quan điểm cho rằng tất cả các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm X của Trung Quốc đều bán hàng trong nước theo điều kiện thương mại thông thường nhưng Hàn Quốc vẫn xác định như sau: “Giá thông thường” của sản phẩm X được xác định thông qua giá trị thông thường tự tính toán của sản phẩm X (phương thức cấu thành giá) được cơ quan điều tra xác định dựa vào dữ liệu thực tế do các doanh nghiệp của Trung Quốc đang bị điều tra cung cấp phản ánh những khoản chi phí cần thiết để sản xuất ra sản phẩm X. “Giá xuất khẩu” được xác định trên cơ sở giá bán sản phẩm X được ghi trên hợp đồng mua bán giữa các Doanh nghiệp của Trung Quốc và Hàn Quốc. Anhchị hãy phân tích các nội dung pháp lý thể hiện trong vụ việc trên cơ sở các quy định của Hiệp định Chống bán phá giá – ADA. Bài tập 2: Quốc gia A gia nhập WTO từ 2006 với cam kết thuế nhập khẩu nông sản trung bình từ 25 – 30%. Sau nửa năm gia nhập, tại quốc gia này xảy ra tình trạng nông sản ngoại nhập chiếm lĩnh thị trường nội địa. Trong đó, một số mặt hàng nông sản từ quốc gia B chiếm đa số. 1. Dựa vào những kiến thức đã được cung cấp, anhchị hãy tư vấn cho quốc gia A những biện pháp pháp lý cụ thể để xử lý tình huống nêu trên phù hợp với quy định của WTO. 2. Từ nội dung trên hãy bình luận quan điểm cho rằng: “Sự phấn khích với hội nhập làm cho nhiều chính sách bảo hộ bị quên đi”. Bài tập 3: Vena có ba nhà sản xuất quan trọng trong ngành công nghiệp đồ gỗ, AEKI, Schoeder và StyleMark. Sản lượng sản xuất của ba công ty này cùng nhau chiếm khoảng 70% sản lượng của ngành công nghiệp đồ gỗ trong nước. Những nhà sản xuất nhỏ chiếm 30% còn lại. Trong vài năm qua, tất cả các nhà sản xuất đồ gỗ Vena đều xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Richland và số lượng sản phẩm này ngày một tăng lên do đáp ứng được yêu cầu về thị hiếu, chất liệu chọn lọc và giá thành rẻ. Do đó, các sản phẩm gỗ từ Vena khá phổ biến ở thị trường Richland. Thị phần của các nhà sản xuất đồ gỗ trong nước đã liên tục giảm trong những năm qua và nhiều nhà sản xuất nhỏ đã bị phá sản. Ngành công nghiệp đồ gỗ nội địa của Richland không hài lòng với việc thị phần của mình bị xâm chiếm ngay trên sân nhà; do đó, 06 nhà sản xuất đồ gỗ lớn, sản xuất khoảng 60% tổng sản lượng đồ gỗ trong Richland, muốn thực hiện hành động chống lại việc nhập khẩu đồ gỗ từ Vena. Họ muốn chính phủ mình áp đặt thuế chống bán phá giá vàhoặc thuế đối kháng đối với các đồ gỗ nhập khẩu từ Vena hoặc bất kỳ hành động nào khác giúp hạn chế dòng chảy đồ gỗ từ nước này. Các công ty này tin rằng đồ gỗ từ Vena được bán trên thị trường Richland với giá thấp hơn nhiều so với chi phí sản xuất. Họ chỉ ra trường hợp cụ thể đó là các sản phẩm đồ gỗ phòng ngủ được sản xuất bởi AEKI và StyleMark. Họ cũng lưu ý rằng các nhà sản xuất đồ gỗ của Vena được cung cấp điện từ Tổng công ty điện Vena thuộc sở hữu nhà nước với mức giá vô cùng ưu đãi. Ngoài ra, các nhà sản xuất đồ nội thất nhỏ của Vena còn được giảm thuế đáng kể nếu họ chứng minh được công ty mình đã sử dụng ít nhất 100 lao động thất nghiệp mới mỗi năm. Các nhà sản xuất nhỏ có ý định xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài cũng có thể nhận được tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ tài chính từ Hội đồng Xúc tiến xuất khẩu của Vena (một cơ quan được lập ra bởi chính phủ). 1. Giả sử anhchị là chuyên gia về luật thương mại quốc tế của chính phủ Vena được chính phủ chỉ định hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ của mình. Các công ty này muốn biết liệu sản phẩm của mình có bị coi là bán phá giá hoặc nhận được trợ cấp trên thị trường Richland theo quy định của WTO không vì cả hai quốc gia này đều là thành viên tổ chức này. 2. Nếu có cơ sở để Richland tiến hành các cuộc điều tra áp thuế như vậy; anhchị hãy tư vấn cho các công ty này hành động phù hợp để giảm thiểu thiệt hại có thể xảy ra từ việc bị áp thuế đối kháng hoặc thuế chống phá giá đối với sản phẩm nêu trên. Bài tập 4: Năm 2012, ngành sản xuất dầu ăn của quốc gia A ghi nhận hiện tượng gia tăng nhập khẩu ồ dạt dầu ăn từ nước ngoài (lượng nhập khẩu năm 2012 là 568,896 tấn so với lượng nhập khẩu từ năm 2011 là 389,932 tấn). Sau khi nhận được đơn khởi kiện của một doanh nghiệp chiếm 50% tổng sản lượng dầu ăn được sản xuất trong nước, quốc gia A tiến hành điều tra để xác định các căn cứ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Trong quá trình điều tra, cơ quan có thẩm quyền của A xác định được lượng hàng nhập khẩu đến từ các nước đang phát triển với thị phần nhập khẩu thực tế (so với tổng lượng hàng hoá nhập khẩu bị điều tra áp dụng biện pháp tự vệ thương mại) như sau: Quốc gia A 3%, quốc gia B 2%, quốc gia C 4%, quốc gia D 2,5%, quốc gia E 2,5%, quốc gia F 0,5%, quốc gia G 1,5%. Kết thúc quá trình điều tra, quốc gia A áp dụng biện pháp tự vệ thương mại bằng cách tăng thuế nhập khẩu mặt hàng dầu ăn từ 15% lên 21% không phân biệt xuất xứ hàng hoá. Anhchị hãy cho biết: 1. Việc A áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại trên có phù hợp với pháp luật WTO hay không? Vì sao? 2. Các quốc gia đang phát triển nêu trên cho rằng lượng xuất khẩu từ các nước này vào quốc gia A là không đáng kể, do đó phải được loại ra khỏi danh sách đối tượng áp dụng biện pháp tự vệ thương mại trên. Trình bày quan điểm của anhchị về vấn đề này? Bài tập 5: Tháng 52020, quốc gia A nộp đơn gia nhập WTO. Trước thời điểm tham gia vào WTO, A duy trì mức thuế nhập khẩu rất cao đối với hàng hoá nhập khẩu của các thành viên WTO để hạn chế lượng hàng hoá nhập khẩu. Bên cạnh đó, A còn áp dụng biện pháp hạn ngạch (quota) đối với các sản phẩm hàng hoá nhập khẩu cũng nhằm hạn chế lượng hàng hoá nhập khẩu. Anhchị hãy cho biết: Nếu trở thành thành viên WTO, A có quyền tiếp tục quy trì những chính sách này nữa không? Tình huống bổ sung: Sau khi gia nhập WTO năm 2009, chính phủ của A bắt đầu thực hiện chính sách phát triển thị trường xuất khẩu nông sản sang các thị trường mới, đặc biệt là thị trường nước B. Chính sách này bao gồm yêu cầu các khoản tín dụng ưu đãi để giúp họ phát triển sản xuất và thâm nhập thị trường B. Tháng 072009, A cũng ban hành quy định giảm thuế thu nhập và thuế kinh doanh cho các doanh nghiệp có thành tích trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu nông sản ra thị trường nước ngoài. Nhờ những khoản hỗ trợ của chính phủ, các doanh nghiệp xuất khẩu của A đã thực hiện những khoản đầu tư phát triển dây chuyền sản xuất hiện đại để nâng cao chất lượng và giá thành sản phẩm nông sản của mình. Nhờ vào lợi thế cạnh tranh về giá cả và chất lượng, sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu của A đã nhanh chóng chiếm được tới 35% thị phần tại thị trường B trong thời gian ngắn từ 2009 – 2013. Sự gia tăng thị phần sản phẩm của A trên thị trường B gây thiệt hại nghiêm trọng cho các doanh nghiệp sản xuất nông sản của B. Hiệp hội ngành sản xuất thuỷ sản của B (SBA) kiến nghị chính phủ của B áp dụng biện pháp tự vệ thương mại dưới hình thức hạn ngạch để hạn chế khối lượng hàng nhập khẩu của A, giúp các doanh nghiệp trong nước vượt qua khó khăn. Với tư cách là cố vấn pháp lý cho SBA, anhchị hãy tư vấn: 1. Theo quy định của WTO, liệu SBA có thể yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ thương mại (hạn ngạch) để bảo vệ quyền lợi của mình hay không? 2. Nếu không thể áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, liệu SBA có thể áp dụng biện pháp nào để bảo vệ quyền lợi của mình? Thủ tục và yêu cầu áp dụng biện pháp thương mại liên quan theo quy định của WTO là gì? Bài tập 6: Năm 2009, A gia nhập WTO. Trong giai đoạn này, dựa trên các cam kết mở thị trường tại WTO, A đã tiến hành mở cửa thị trường mạnh mẽ. Tuy nhiên, cùng thời gian này sản phẩm dầu ăn nhập khẩu đã chiếm lĩnh thị trường nội địa của A. Năm 2013, ngành công nghiệp dầu ăn trong nước yêu cầu chính phủ. A áp dụng biện pháp tự vệ dưới hình thức tăng thuế nhập khẩu đối với sản phẩm dầu ăn có xuất xứ từ các thành viên khác của WTO từ 15% lên 25%. Anhchị hãy cho biết: 1. Chính phủ nước A có thể ngay lập tức áp dụng thuế tự vệ đối với dầu nhập khẩu khi các doanh nghiệp trong nước có yêu cầu. 2. Nếu A áp dụng các mức thuế nhập khẩu tự vệ khác nhau cho dầu ăn nhập khẩu các nước khác nhau có vi phạm luật WTO? 3. Chính phủ nước A có thể áp dụng biện pháp tự vệ nào ngoài biện pháp áp thuế tự vệ? Điều kiện và cách thức áp dụng biện pháp đó là gì? Bài tập 8: Quốc gia X đã ký với doanh nghiệp ABC (doanh nghiệp lớn nhất kinh doanh xuất khẩu sản phẩm da bọc cao cấp dùng trong sản xuất nội thất ô tô của quốc gia này) một hợp đồng tài trợ 30 triệu USD, giải ngân thành 3 lần, lần đầu tiên 5 triệu USD ngay sau thời điểm ký kết hợp đồng, 2 lần sau mỗi lần 12,5 triệu USD sẽ được giải ngân sau khi nhận được báo cáo của doanh nghiệp ABC về tình hình thực hiện các mục tiêu của hợp đồng liên quan đến kết quả xuất khẩu. Anhchị hãy cho biết: 1. Khoản tài trợ của quốc gia X cấp cho ABC có được xem là trợ cấp hay không? 2. Hãy xác định khoản lợi ích được nhận. Sản phẩm của doanh nghiệp ABC được xuất khẩu sang quốc gia Y và khiến doanh thu từ ngành sản xuất da bọc nội thất ô tô nội địa nước này sụt giảm nghiêm trọng. Doanh nghiệp A sản xuất da bọc ô tô của Y quyết định nộp đơn khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Y áp dụng thuế đối kháng đối với sản phẩm của ABC. Biết rằng ngành sản xuất mặt hàng da bọc của Y có tổng cộng 6 nhà sản xuất, trong đó: Nhà sản xuất A sản xuất 25% tổng sản lượng nội địa. Nhà sản xuất B sản xuất 10% tổng sản lượng nội địa. Nhà sản xuất C, D sản xuất 13% tổng sản lượng nội địa. Nhà sản xuất E sản xuất 20% tổng sản lượng nội địa. Nhà sản xuất F sản xuất 9% tổng sản lượng nội địa. Quyết định nộp đơn khởi kiện của nhà sản xuất A bị hai nhà sản xuất B và C phản đối. 3. Đơn kiện của doanh nghiệp A có được cơ quan có thẩm quyền xem xét hay không, nêu cơ sở pháp lý?
Trang 1THẢO LUẬN MÔN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ - CHƯƠNG 4 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TRONG WTO
II CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH:
1 Việc ký kết nhiều thoả thuận tự do hoá thương mại sẽ làm giảm thiểu các trường hợp
áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.
Nhận định này là sai
Tự do hóa thương mại là việc loại bỏ hoặc giảm bớt những hạn chế hoặc rào cản đối với việctrao đổi hàng hóa tự do giữa những quốc gia Những rào cản này có thể bao gồm những rào cảnthuế quan, chẳng hạn như vấn đề thuế và phụ phí, và những rào cản phi thuế quan, chẳng hạn nhưnhững quy tắc cấp phép và hạn ngạch
Các biện pháp phòng vệ thương mại là các biện pháp mà quốc gia sử dụng để tạo ra môitrường cạnh tranh bình đẳng giữa hàng hoá nhập khẩu với hàng hoá sản xuất trong nước thôngqua hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá, được trợcấp tăng nhanh đột biến, gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuấttrong nước
Hai chế định này là hai quy định riêng biệt, có ý nghĩa khác nhau Tự do hoá thương mại giúpquốc gia dễ dàng hơn trong việc hội nhập, tạo thêm cơ hội cho quốc gia trong mối quan hệthương mại với quốc gia khác Các biện pháp phòng vệ thương mại giúp bảo vệ ngành sản xuấttrong nước trước những thiệt hại hay đe doạ gây thiệt hại có thể đến từ hàng hoá nhập khẩu từquốc gia khác Bên cạnh đó, hai chế định này có mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau Tự do hoá thươngmại tạo điều kiện cho hàng hoá của quốc gia khác nhập khẩu vào quốc gia sở tại nên có thể sẽ gây
ra những thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước (có thể do hành vi thương mại lành mạnh hoặckhông làm mạnh), do đó, các biện pháp tự vệ thương mại là công cụ giúp quốc gia nhập khẩu hạnchế được những tổn thất có thể có Ngược lại, để tránh việc quốc gia nhập khẩu lợi dụng việc ápdụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo hộ hàng nội địa thì những quy định của thoảthuận tự do hoá thương mại sẽ có tác dụng trong trường hợp này
Trang 2Vì vậy, việc ký kết nhiều thoả thuận tự do hoá thương mại sẽ không làm giảm thiểu cáctrường hợp áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.
2 Các quốc gia không phải là thành viên WTO thì không thể bị áp thuế chống bán phá giá (thuế đối kháng).
Nhận định này là sai
Theo quy định tại Điều 1 của Hiệp định ADA:
“Một biện pháp chống phá giá chỉ được áp dụng trong trường hợp được qui định tại Điều VI của GATT 1994 và phải tuân theo các thủ tục điều tra được bắt đầu[1] và tiến hành theo đúng các qui định của Hiệp định này Các qui định sau đây điều tiết việc áp dụng Điều VI của GATT
1994 khi có một hành động được thực thi theo luật hoặc các qui định về chống bán phá giá”.
Như vậy, nguyên tắc của áp thuế chống bán phá giá là trong trường hợp quy định tại Điều VIcủa GATT 1994 và tuân theo thủ tục điều tra Quy định tại Điều VI của GATT 1994 chỉ nêu rađịnh nghĩa về thế nào là sản phẩm của quốc gia bị xem là có hành vi bán phá giá như sau:
“Các bên ký kết nhận thấy rằng bán phá giá, tức là việc sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm, phải bị xử phạt nếu việc đó gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho một ngành sản xuất trên lãnh thổ của một bên ký kết hay thực sự làm chậm chễ sự thành lập một ngành sản xuất trong nước Nhằm vận dụng điều khoản này, một sản phẩm được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của hàng hoá đó nếu giá xuất khẩu của sản phẩm từ một nước này sang nước khác
(a) thấp hơn giá có thể so sánh trong điều kiện thương mại thông thường với một sản phẩm tương tự nhằm mục đích tiêu dùng tại nước xuất khẩu, hoặc
(b) trường hợp không có một giá nội địa như vậy, thấp hơn một trong hai mức
(i) giá so sánh cao nhất của sản phẩm tương tự dành cho xuất khẩu đến bất cứ một nước thứ ba nào trong điều kiện thương mại thông thường, hoặc
(ii) giá thành sản xuất ra sản phẩm tại nước xuất xứ có cộng thêm một mức hợp lý chi phí bán hàng và lợi nhuận”.
Trang 3Có thể thấy quy định tại GATT 1994 và Hiệp định ADA nêu ra việc áp dụng thuế chống bánphá giá (thuế đối kháng) trong trường hợp có đủ các điều kiện bắt buộc theo quy định của WTOchứ không quy định có quy định về quốc gia không phải là thành viên WTO thì không áp dụngthuế chống bán phá giá (thuế đối kháng), nên không loại trừ trường hợp không áp thuế chống bánphá giá hay thuế đối khác với quốc gia không là thành viên WTO Bên cạnh đó, việc quốc giakhông là thành viên của WTO không thuộc một trong các trường hợp không áp thuế chống bánphá gia hay thuế đối kháng được quy định tại Điều VI của GATT 1994
Vì vậy, các quốc gia không phải là thành viên của WTO thì vẫn có thể bị áp dụng thuế chốngbán phá giá (thuế đối kháng)
3 Thuế quan là biện pháp duy nhất để chống trợ cấp và chống bán phá giá.
Nhận định này là sai
Biện pháp chống trợ cấp và chống bán phá được áp dụng theo quy định của WTO bao gồmbiện pháp thuế quan và phi thuế quan
Đối với biện pháp chống trợ cấp, các biện pháp có thể áp dụng gồm:
- Thuế chống trợ cấp tạm thời được đảm bảo bởi số tiền đặt cọc, ký quỹ tương đương vớikhoản tiền trợ cấp tạm tính (Điều 17, Hiệp định SCM) (Biện pháp thuế quan)
- Cam kết tự nguyện (i) xoá bỏ hay hạn chế trợ cấp một cách tự nguyện của Chính phủ thànhviên xuất khẩu, (2) xem xét lại giá của nhà xuất khẩu sao cho cơ quan có thẩm quyền đang điềutra thấy rằng biện pháp trợ cấp không còn gây ra thiệt hại (Điều 18.1, Hiệp định SCM) (Biệnpháp phi thuế quan)
- Áp thuế và thu thuế đối kháng (Điều 19, Hiệp định SCM) (Biện pháp thuế quan)
Đối với biện pháp chống bán phá giá, các biện pháp có thể áp dụng gồm:
- Thuế chống bán phá giá (Điều 9 của Hiệp định ADA) (biện pháp thuế quan)
- Biện pháp chống bán phá tạm thời (Điều 7 của Hiệp định ADA) (gồm cả thuế quan và phithuế quan): có thể được áp dụng dưới hình thức thuế tạm thời hoặc tối ưu hơn là áp dụng dướihình thức đảm bảo (bằng tiền đặt cọc hoặc tiền đảm bảo) tương đương với mức thuế chống phá
Trang 4- Cam kết về giá (Điều 8 của ADA): là cam kết tự nguyện của nhà xuất khẩu với cơ quan cóthẩm quyền của thành viên nhập khẩu về việc nhà xuất khẩu sẽ tăng giá sản xuất khẩu để loại bỏbiên độ phá giá hoặc đình chỉ hành động bán phá giá Đây là biện pháp phi thuế quan.
Có thể thấy rằng, thuế quan không chỉ là biện pháp duy nhất để chống trợ cấp và chống bánphá giá mà còn có biện pháp phi thuế quan
4 Mọi hành vi trợ cấp đều vi phạm hiệp định SCM.
Nhận định này là sai
Không phải mọi hành vi trợ cấp đều vi phạm Hiệp định SCM
Hiệp định SCM phân loại hành vi trợ cấp làm 03 loại là trợ cấp “đèn đỏ”, trợ cấp “đèn vàng”
và trợ cấp “đèn xanh” (hiện nay trợ cấp “đèn xanh” không còn tồn tại nên không xem xét đến trợcấp này nữa)
Đối với trợ cấp “đèn đỏ” đây là trợ cấp bị cấm theo quy định tại Điều 3 của Hiệp định SCM,
pháp luật WTO cấm các thành viên áp dụng loại trợ cấp này Nhóm trợ cấp này bao gồm:
- Nhóm trợ cấp xuất khẩu: trợ cấp căn cứ vào kết quả xuất khẩu, ví dụ: thưởng xuất khẩu, trợcấp nguyên liệu đầu vào để xuất khẩu, miễn thuế/giảm thuế cap hơn mức mà sản phẩm tương tựbán trong nước được hưởng, ưu đãi bảo hiểm xuất khẩu, ưu đã tín dụng xuất khẩu,… Nhóm hành
vi trợ cấp này được ghi nhận cụ thể trong luật và các văn bản hướng dẫn hoặc thông qua từng vụviệc trên thực tế mặc dù không được quy định ở bất kỳ văn bản nào
- Nhóm trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu
Đối với trợ cấp “đèn vàng” đây là trợ cấp có thể bị khiếu kiện theo quy định tại Điều 5 của
Hiệp định SCM Hiệp định SCM không nêu ra định nghĩa và cũng không liệt kê biện pháp nào làtrợ cấp “đèn vàng” Điều 5, Hiệp định SCM quy định rằng điều kiện để bị xem là trợ cấp “đènvàng” là phải chứng minh được hành vi trợ cấp thì đáp ứng các điều kiện (trừ những trợ cấp “đènxanh”):
+ Chứng minh sự hiện diện của một trong ba yếu tố: Gây tổn hại cho ngành sản xuất của mộtthành viên khác; làm vô hiệu, suy giảm những lợi ích mà thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếpđược hưởng từ Điều II của GATT; gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của thành viên khác
Trang 5+ Chứng minh hoạt động trợ cấp mang tính riêng biệt được ghi nhận tại Điều 1.2 của Hiệpđịnh SCM.
Đối với loại trợ cấp này, các nước thành viên có thể áp dụng nhưng nếu gây thiệt hại cho nướcthành viên khác hoặc ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước thành viên khác thì có thể bịkiện ra WTO Mặt khác, vì đến thời điểm hiện tại, trợ cấp “đèn xanh” không còn tại (chỉ có hiệulực trong vòng 05 năm kể từ khi Hiệp định SCM có hiệu lực, tức từ ngày 01/01/1995 đến01/01/2000) nên những trợ cấp nếu không phải là trợ cấp “đèn đỏ” thì sẽ là trợ cấp “đèn vàng”
Do vậy, không phải mọi hành vi trợ cấp đều vi phạm Hiệp định SCM mà chỉ có những hành vithuộc nhóm trợ cấp “đèn đỏ” hoặc những hành vi thuộc nhóm trợ cấp “đèn vàng” mà thoả mãncác điều kiện thì mới là những hành vi trợ cấp vi phạm Hiệp định SCM
5 Trợ cấp chính phủ là hiện tượng bị cấm và phải bị rút bỏ theo WTO.
Nhận định này là sai
Theo quy định của Hiệp định SCM về Định nghĩa trợ cấp thì trợ cấp chính phủ là bất kỳ hỗ trợtài chính nào chính phủ dưới một trong các hình thức quy định tại Điều 1.1 của Hiệp định SCM
và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất nội địa
Một trợ cấp Chính phủ bị coi là vi phạm quy định của WTO khi có đủ 02 yếu tố:
- Yếu tố thiệt hại (theo Điều 5 của Hiệp định SCM): gây tổn hại cho ngành sản xuất của mộtthành viên khác; làm vô hiệu, suy giảm những lợi ích mà thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếpđược hưởng từ Điều II của GATT; gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của thành viên khác.Mức độ thiệt hại được xác định theo quy định Điều 6 của Hiệp định SCM)
- Yếu tố riêng biệt (theo Điều 2 của Hiệp định SCM): trợ cấp được áp dụng cho một hay mộtnhón doanh nghiệp hay ngành sản xuất nhất định
Do đó, không phải mọi trợ cấp chính phủ đều là hiện tượng bị cấm theo WTO mà chỉ nhữngtrợ cấp chính phủ thoả mãn 02 yếu tố nên trên thì mới bị coi là hiện tượng bị cấm và phải rút bỏtheo quy định của WTO
6 Miễn giảm các khoản thuế gián thu cho hàng xuất khẩu như thuế giá trị gia tăng,
Trang 6Nhận định này là sai.
Căn quy định tại Điều 1 của Hiệp định SCM về Định nghĩa trợ cấp:
“1.1 Theo Hiệp định này, trợ cấp được coi là tồn tại nếu:
(a)(1) có sự đóng góp về tài chính của chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên lãnh thổ của một Thành viên ( theo Hiệp định này sau đây gọi chung là “chính phủ”) khi:
(i) chính phủ thực tế có chuyển trực tiếp các khoản vốn (ví dụ như cấp phát, cho vay, hay góp
cổ phần), có khả năng chuyển hoặc nhận nợ trực tiếp (như bảo lãnh tiền vay);
(ii) các khoản thu phải nộp cho chính phủ đã được bỏ qua hay không thu (ví dụ: ưu đãi tài chính như miễn thuế);
(iii) chính phủ cung cấp hàng hoá hay dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở chung, hoặc mua hàng;
(iv) chính phủ góp tiền vào một cơ chế tài trợ, hay giao hoặc lệnh cho một tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều chức năng đã nêu từ điểm (i) đến (iii) trên đây, là những chức năng thông thường được trao cho chính phủ và công việc của tổ chức tư nhân này trong thực tế không khác với những hoạt động thông thuờng của chính phủ.
hoặc
(a) (2) có bất kỳ một hình thức hỗ trợ thu nhập hoặc trợ giá nào theo nội dung Điều XVI của Hiệp định GATT 1994;
và
(b) một lợi ích được cấp bởi điều đó.
1.2 Trợ cấp theo định nghĩa tại khoản khoản 1 phải chịu sự điều chỉnh của các quy định tại Phần II hoặc các quy định tại Phần III hoặc Phần V chỉ khi đó là một trợ cấp riêng theo các quy định tại Điều 2”.
Những hành vi thoả mãn điều kiện trên thì mới được xem là hành vi trợ cấp Hành vi có thể bịxem là trợ cấp là hành vi bỏ qua hay không thu những khoản thu phải nộp cho chính phủ, do đó,giảm các khoản thuế gián thu cho hàng xuất khẩu thì không được xem xét là hành vi trợ cấp cònmiễn thuế thì có thể được xem xét là hành vi trợ cấp Bên cạnh đó, cần hai điều kiện nữa để được
Trang 7xem là hành vi trợ cấp, đó là hành vi đó phải mang lại lợi ích và có tính riêng biệt (dành cho mộthay một nhóm doanh nghiệp hay ngành sản xuất) Do đó, nếu việc miễn thuế không mang lại lợiích hoặc không dành cho một đối tượng riêng biệt nào thì cũng không được xem là hành vi trợcấp.
Vì vậy, hành vi giảm các khoản thuế gián thu cho hàng xuất khẩu không được xem là hành vitrợ cấp, còn hành vi miễn thuế chỉ được xem là hành vi trợ cấp khi thoả mãn điều kiện mang lạilợi ích và yếu tố riêng biệt
7 Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng là hiệp định duy nhất trong WTO
- Hiệp định về nông nghiệp (AOA)
- Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS): Điều 15
Vì vậy, ngoài Hiệp định ADA thì còn có những hiệp định khác quy định liên quan đến trợ cấpnhư Hiệp định GATT 1994, Hiệp định AOA, Hiệp định GATS
8 Với việc thi hành Hiệp định SCM, các nước thành viên WTO sẽ không còn trợ cấp nữa.
Nhận định này là sai
Không phải mọi hành vi trợ cấp đều là hành vi bị cấm theo Hiệp định SCM Hiện tại, có 02loại trợ cấp là trợ cấp “đèn đỏ” và trợ cấp “đèn vàng” (trợ cấp “đèn xanh” từ ngày 01/01/2000 đãkhông còn tồn tại) Trợ cấp “đèn đỏ” là hành vi trợ cấp bị cấm theo quy định tại Phần II của Hiệpđịnh SCM Trợ cấp “đèn vàng” là hành vi trợ có thể bị khiếu kiện theo quy định tại Phần III của
Trang 8- Chứng minh sự yếu tố thiệt hại: Gây tổn hại cho ngành sản xuất của một thành viên khác;làm vô hiệu, suy giảm những lợi ích mà thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từĐiều II của GATT; gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của thành viên khác (Điều 5 và Điều
6 của Hiệp định SCM)
+ Chứng minh yếu tố riêng biệt theo quy định tại Điều 2 của Hiệp định SCM
Đối với loại trợ cấp này, các nước thành viên có thể áp dụng nhưng nếu gây thiệt hại cho nướcthành viên khác hoặc ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước thành viên khác thì bị xem là viphạm quy định của SCM và có thể bị kiện ra WTO
Vì vậy, với việc thi hành Hiệp định SCM, các nước thành viên WTO vẫn còn trợ cấp (đènvàng) nếu không gây thiệt hại cho các thành viên khác
9 Trong WTO, nước nhập khẩu được tự do áp dụng thuế đối kháng khi có dấu hiệu hàng nhập khẩu được trợ cấp.
- Hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp (với biên độ trợ cấp - tức là trị giá phần trợ cấp trên trị giáhàng hoá liên quan - không thấp hơn 1%) (Điều 11.9 của Hiệp định SCM);
- Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe doạthiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (gọi chung
là yếu tố “thiệt hại”) (Điều 5 và Điều 6 của Hiệp định SCM);
- Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại nói trên
Vì vậy, nước nhập khẩu chưa thể áp dụng thuế đối kháng ngay khi có dấu hiệu hàng nhậpkhẩu được trợ cấp mà phải đáp ứng đủ các điều kiện trên thì mới được phép áp dụng thuế đốikháng
Trang 910 Để đảm bảo tính khách quan, cơ quan điều tra chống trợ cấp phải là một tổ chức quốc tế độc lập.
Nhận định này là sai
Mặc dù thường được gọi là “vụ kiện” (theo cách gọi ở Việt Nam), nhưng đây không phải thủtục tố tụng tại Toà án mà là một thủ tục hành chính và do cơ quan hành chính nước nhập khẩuthực hiện Thủ tục này liên quan đến một bên là ngành sản xuất nội địa và một bên là các nhà sảnxuất, xuất khẩu nước ngoài Thủ tục điều tra chống trợ cấp liên quan đến cả Chính phủ nước xuấtkhẩu (vì liên quan đến khoản trợ cấp)
Bên cạnh đó, căn cứ quy định tại Điều 32.5 của Hiệp định SCM:
“32.5 Mỗi Thành viên kể từ ngày không chậm hơn ngày Hiệp định WTO có hiệu lực sẽ có những bước đi cần thiết, mang tính chất chung hoặc riêng biệt để đảm bảo mọi luật, quy định và thủ tục hành chính của mình phù hợp với các quy định của Hiệp định này, khi được áp dụng cho Thành viên liên quan”.
Theo đó, khi ban hành pháp luật quốc gia tương ứng, WTO yêu cầu các thành viên phải cónghĩa vụ tiến hành tất cả các bước cần thiết để đảm bảo sự tương thích giữa luật, quy định, thủ tụchành chính với các Hiệp định tương ứng của WTO
Do đó, cơ quan điều tra chống trợ cấp không phải là một tổ chức quốc tế độc lập, mà là cơquan hành chính có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu
11 Thuế suất thuế đối kháng là cố định.
Nhận định này là sai
Căn cứ vào Điều 19.2 của Hiệp định SCM:
“19.2 Khi mọi yêu cầu để có thể áp dụng thuế đối kháng đã được thoả mãn, thì quyết định có đánh thuế đối kháng hay không và số tiền thuế đối kháng sẽ thu phải bằng mức trợ cấp hay thấp hơn mức trợ cấp, do cơ quan có thẩm quyền của Thành viên nhập khẩu đưa ra Các Thành viên mong muốn rằng việc đánh thuế đối kháng trên lãnh thổ của tất cả các Thành viên sẽ không cứng nhắc và rằng mức thuế đối kháng nên thấp hơn tổng mức trợ cấp, nếu mức thuế đối kháng thấp
Trang 10quyền lợi của mọi bên trong nước liên quan mà quyền lợi của họ có thể bị tổn hại do việc áp dụng thuế đối kháng”.
Có thể thấy, về nguyên tắc, thuế đối kháng được áp dụng cho từng nhà sản xuất nước ngoài và
sẽ không được cao hơn mức trợ cấp xác định cho họ Trường hợp các nhà sản xuất, xuất khẩunước ngoài không được lựa chọn để tham gia cuộc điều tra nhưng vẫn hợp tác với cơ quan điềutra thì mức thuế đối kháng áp dụng cho họ không cao hơn biên độ trợ cấp trung bình của tất cảcác nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài được lựa chọn điều tra Trường hợp các nhà sản xuất,xuất khẩu không hợp tác, gian lận trong quá trình điều tra thì sẽ phải chịu mức thuế cao mang tínhtrừng phạt Bên cạnh đó, sau khi áp thuế một thời gian (thường là theo từng năm) cơ quan cóthẩm quyền sẽ điều tra lại để xem xét tăng, giảm mức thuế hoặc chấm dứt việc áp thuế đối khángnếu có yêu cầu
Vì vậy, thuế đối kháng không là thuế cố định mà có thể thay đổi tuỳ từng trường hợp cụ thể
12 Bán phá giá chỉ xảy ra khi giá xuất khẩu nhỏ giá bán tại thị trường trong nước.
Nhận định này là sai
Căn cứ quy định tại Khoản 6 Điều XVI của GATT 1994:
“1 Các bên ký kết nhận thấy rằng bán phá giá, tức là việc sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm, phải bị xử phạt nếu việc đó gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho một ngành sản xuất trên lãnh thổ của một bên ký kết hay thực sự làm chậm chễ sự thành lập một ngành sản xuất trong nước Nhằm vận dụng điều khoản này, một sản phẩm được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của hàng hoá đó nếu giá xuất khẩu của sản phẩm từ một nước này sang nước khác
(a) thấp hơn giá có thể so sánh trong điều kiện thương mại thông thường với một sản phẩm tương tự nhằm mục đích tiêu dùng tại nước xuất khẩu, hoặc
(b) trường hợp không có một giá nội địa như vậy, thấp hơn một trong hai mức
(i) giá so sánh cao nhất của sản phẩm tương tự dành cho xuất khẩu đến bất cứ một nước thứ ba nào trong điều kiện thương mại thông thường, hoặc
Trang 11(ii) giá thành sản xuất ra sản phẩm tại nước xuất xứ có cộng thêm một mức hợp lý chi phí bán hàng và lợi nhuận.
Trong mỗi trường hợp trên, sẽ có xem xét điều chỉnh một cách thoả đáng đối với các khác biệt về điều kiện và điều khoản bán hàng, khác biệt về chế độ thuế hay những sự chênh lệch khác
có tác động tới việc so sánh giá”.
Để xác định sự hiện diện của bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩuphải so sánh sự khác biệt giữa giá xuất khẩu của sản phẩm nhập khẩu với giá trị thông thường củahàng hoá tương tự, cụ thể là giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hoá Giá xuấtkhẩu là mức giá ban đầu mà tại mức giá đó hàng hoá rời khỏi thị trường của quốc gia xuất khẩu.Giá thông thường là mức giá thuộc một trong các trường hợp sau:
- Giá bán trong nước của một sản phẩm tương tự với hàng hoá xuất khẩu đang bị điều tra (Giábán nội địa) (Điều 2.1 của Hiệp định ADA)
- Giá bán thay thế (trong trường hợp không có giá bán nội địa) (Điều 2.2 của Hiệp địnhADA), bao gồm:
+ Giá bán tại thị trường một nước thứ ba trong điều kiện thương mại thông thường
+ Giá thành sản xuất ra sản phẩm tại nước xuất khẩu có cộng thêm một mức chi phí bán hàng
và lợi nhuận (Giá trị tính toán)
Khi giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa hoặc giá bán thay thế (Giá tại nước thứ ba thích hợphoặc Giá trị tính toán) thì có thể bị xem là hành vi bán phá giá
Vì vậy, bán phá giá không chỉ xảy ra khi giá xuất khẩu thấp hơn giá bán tại thị trường trongnước mà còn có thể xảy ra khi giá xuất khẩu thấp hơn giá bán tại thị trường một nước thứ ba thíchhợp hoặc thấp hơn giá thành sản xuất ra sản phẩm tại nước xuất khẩu có cộng thêm một mức chiphí bán hàng lợi nhuận
13 Doanh nghiệp thường áp dụng biện pháp bán phá giá nhằm hy sinh lợi nhuận trước mắt để tối ưu hoá lợi nhuận lâu dài.
Nhận định này là sai
Trang 12Nếu doanh nghiệp áp dụng biện pháp bán phá giá bị quốc gia nhập khẩu yêu cầu tiến hành thủtục điều tra thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những bất lợi, rủi ro không hề nhỏ, như:
- Doanh nghiệp phải trải qua thủ tục điều tra chống bán phá giá Thủ tục này phải tiến hànhqua rất nhiều bước, chứng minh phức tạp, thời gian tiến hành thủ tục này khá lâu Thủ tục điều trachống bán phá giá là một thủ tục hành chính nhưng trình tự, thủ tục và các vấn đề liên quan đượcthực hiện gần giống như trình tự tố tụng xử lý một vụ kiện tại toà nên thủ tục này còn được xem
là “thủ tục bán tư pháp” nên khi kết thúc thủ tục mà không đồng ý, các bên có thể kiện ra Toà ánthì sẽ kéo dài thêm thời gian Mặt khác, các bên còn hao tốn chi phí trong quá trình tiến hành thủtục điều tra
- Nếu sau khi có kết luận rằng có tồn tại hành vi bán phá giá thì doanh nghiệp sẽ bị áp thuếchống bán phá giá Mức thuế này sẽ tương đương hoặc thấp hơn biên độ bán phá giá (Điều 9 củaHiệp định ADA) và thời hạn áp dụng là 05 năm hoặc có thể bị gia hạn tuỳ theo kết quả của việcquá trình rà soát (Điều 11 của Hiệp định ADA) Có thể thấy thời gian áp dụng khá dài và không
có mức tối đa
- Hành vi bán phá giá là một hành vi thương mại không lành mạnh đối với thị trường của quốcgia nhập khẩu Qua đó, có thể dẫn đến làm xấu đi mối quan hệ thương mại quốc tế giữa quốc gianhập khẩu và quốc gia khác Từ đó, hoạt động thương mại của quốc gia có hàng hoá nhập khẩuvào thị trường quốc gia nhập khẩu sẽ khó khăn hơn sau này
Vì vậy, việc doanh nghiệp áp dụng biện pháp bán phá giá không thể tối ưu hoá lợi nhuận lâudài mà ngược lại có thể làm tổn hại đến hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp đó saunày
14 Số vụ điều tra chống bán phá giá nhằm vào một nước xuất khẩu có quan hệ tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng xuất khẩu của nước đó.
Nhận định này là sai
Mức tăng trường xuất khẩu của quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể kể đến là:
- Yếu tố kinh tế: Tỷ suất hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu; mục tiêu và chiếnlược phát triển kinh tế; Thuế quan, hạn ngạch và trợ cấp xuất khẩu
- Yếu tố chính trị, pháp luật, xã hội
Trang 13- Yếu tố về tự nhiên và công nghệ.
- Quan hệ quốc tế, nhu cầu của thị trường nước ngoài
- Yếu tố thuộc về doanh nghiệp: Tiềm lực tài chính, tiềm lực thương hiệu, cơ sở vật chất kỹthuật, tổ chức quản lý,…
Có nhiều yếu tố tác động đến sự tăng trưởng xuất khẩu của một quốc gia kể trên nhưng sốlượng vụ điều tra chống bán phá giá không nằm trong số những yếu tố tác động này
Một vụ điều tra chống bán phá giá là một quy trình Kiện - Điều tra - Kết luận - Áp dụng biệnpháp chống bán phá giá (nếu có) mà nước nhập khẩu tiến hành đối với một loại hàng hoá nhậpkhẩu từ một nước nhất định khi có những nghi ngờ rằng loại hàng hoá đó bị bán phá giá vào nướcnhập khẩu gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu Đaphần, khi một vụ điều tra chống bán phá giá được khởi xướng thì quốc gia xuất khẩu đã ít nhiều
có hành vi bán phá giá, bán sản phẩm với giá thấp hơn giá tại thị trường quốc gia nhập khẩu Đây
là một hành vi thương mại không lành mạnh và chắc chắn rằng một hành vi thương mại khônglành mạnh sẽ không bao giờ là một yếu tố để xác định mức tăng trưởng xuất khẩu của một quốcgia
Vì vậy, số vụ điều tra chống bán phá giá nhằm vào một nước xuất khẩu sẽ không có quan hệ
tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng xuất khẩu của nước đó
15 Trong WTO, nếu có đủ bằng chứng, có thể cùng một lúc áp dụng cả 03 biện pháp phòng vệ thương mại đối với cùng một mặt hàng.
Nhận định này là sai
Căn cứ theo quy định tại Điều 6.5 của GATT 1994:
“5 Không một sản phẩm nào xuất xứ lãnh thổ của một bên ký kết nhập khẩu vào lãnh thổ của một bên ký kết khác sẽ cùng lúc phải chịu cả thuế bán phá giá và thuế đối kháng cho cùng một hoàn cảnh bán phá giá hay trợ cấp xuất khẩu”.
Theo quy định trên, không một thành viên nào sẽ bị áp dujng thuế chống bán phá giá và thuếđối kháng cho cùng một hoàn cảnh bán phá giá hay trợ cấp xuất khẩu
Trang 14Vì vậy, trong WTO, dù có đủ bằng chứng, thì cũng không thể cùng một lúc áp dụng cả 03biện pháp phòng vệ thương mại đối với cùng một mặt hàng.
16 Mọi hành vi bán phá giá đều bị áp thuế chống bán phá giá.
Nhận định này là sai
Không phải mọi hành vi bán phá giá đều bị áp thuế chống bán phá giá
Để bị áp thuế chống bán phá giá, hành vi bán phá giá phải trải qua thủ tục điều tra chống bánphá giá của cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu Một hành vi bán phá giá bị áp dụngthuế chống bán phá giá nếu đáp ứng 03 điều kiện sau:
- Có hành vi bán phá giá (Điều 2 của Hiệp định ADA và Điều VI của GATT 1994): được xácđịnh thông qua biên độ bán phá giá (là sự chênh lệch của giá xuất khẩu của sản phẩm nhập khẩuvới giá trị thông thường của hàng hoá tương tự với sản phẩm nhập khẩu được tiêu thụ tại thịtrường thành viên xuất khẩu) Biên độ phá giá không thấp hơn 2% bị xem là có hành vi bán phágiá (Điều 5.8 của Hiệp định ADA)
- Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe doạthiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (Điều 9 củaHiệp định ADA)
- Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại nói trên
Như vậy, chỉ những hành vi bán phá giá đáp ứng đủ 03 điều kiện nêu trên thì mới bị áp dụngthuế chống bán phá giá
17 Ngành sản xuất nội địa có liên quan trong điều tra áp dụng một biện pháp phòng vệ
là ngành sản xuất các sản phẩm tương tự sản phẩm nhập khẩu bị điều tra.
Trang 15của Hiệp định SCM) hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm nhập khẩu bị điều tra (đối với vụviệc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ theo Điều 2.1 của Hiệp định SA).
- Sản phẩm tương tự được hiểu là sản phẩm giống hệt hoặc nếu không có sản phẩm giốnghệt thì là sản phẩm tương đồng về tính chất, thành phần, chất lượng và mục đích sử dụng cuốicùng (theo Điều 2.6 của Hiệp định ADA và chú thích số 46 của Hiệp định SCM)
- Sản phẩm cạnh tranh trực tiếp là những sản phẩm có thể thay thế sản phẩm nhập khẩu bịđiều tra ở một mức độ nhất định trên và trong các điều kiện của thị trường nước nhập khẩu (Điều2.1 của Hiệp định SA)
Do đó, ngành sản xuất nội địa có liên quan trong điều tra áp dụng một biện pháp phòng vệkhông chỉ là ngành sản xuất các sản phẩm tương tự sản phẩm nhập khẩu bị điều tra mà còn có thể
là sản phẩm cạnh tranh trực tiếp sản phẩm nhập khẩu bị điều tra nếu trong vụ việc điều tra ápdụng các biện pháp tự vệ thương mại
18 Việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại bắt buộc phải trải qua 4 giai đoạn: giai đoạn nộp đơn, điều tra đến kết luận sơ bộ, phán quyết sơ bộ đến chính thức, thi hành và giám sát phán quyết.
Nhận định này là sai
Không phải mọi trường hợp áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại bắt buộc trải qua 04giai đoạn nộp đơn, điều tra kết luận sơ bộ, phán quyết sơ bộ đến chính thức, thi hành và giám sátphán quyết
Về nguyên tắc, trước khi áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại thì phải trải qua mộtgiai đoạn điều tra và biện pháp phòng vệ thương mại được áp dụng khi có kết luận cuối cùng của
cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của quốc gianhập khẩu thì WTO cũng cho phép trường hợp áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại trước khibắt đầu thủ tục điều tra hay có kết luận cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền Trường hợp nàygọi là áp dụng biện pháp phòng vệ tạm thời Việc áp dụng biện pháp phòng vệ tạm thời khi xuấthiện trường hợp đặc biệt, nếu chậm trễ áp dụng biện pháp phòng vệ có thể gây ra thiệt hại khókhắc phục được trên thực tế Bên cạnh đó, để được áp dụng biện pháp phòng vệ tạm thời thì thành
Trang 16viên nhập khẩu cũng phải đáp ứng một số điều kiện cơ bản theo pháp luật của WTO Các biệnpháp phòng vệ tạm thời được quy định lần lượt tại:
- Đối với biện pháp chống bán phá giá: Điều 7 của Hiệp định ADA
- Đối với biện pháp chống trợ cấp: Điều 17 của Hiệp định SCM
- Đối với biện pháp tự vệ: Điều 6 của Hiệp định SA
Vì vậy, không phải mọi trường áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại bắt buộc phải trảiqua 4 giai đoạn của thủ tục điều tra, nếu trong trường hợp áp dụng biện pháp phòng vệ tạm thờithì không cần bắt buộc phải trải các giai đoạn này
19 Hiệp định ADA, SCM, SA là những hiệp định được WTO xây dựng nhằm chống lại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động thương mại quốc tế.
Nhận định này là sai
Hiệp định ADA là hiệp định được WTO xây dựng nhằm chống lại hành vi bán phá giá củaquốc gia khác Bán phá giá trong thương mại quốc tế có thể hiểu là hiện tượng xảy ra khi một loạihàng hoá được xuất khẩu từ nước này sang nước khác với mức giá thấp hơn giá bán của hàng hoá
đó tại thị trường nội địa nước xuất khẩu Nếu doanh nghiệp hoặc quốc gia nào có hành vi bán phágiá này gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa thì sẽ bị áp dụng biện pháp chống bán phá Do
đó, Hiệp định ADA là hiệp định xây dựng nhằm chống lại những hành vi cạnh tranh không lànhmạnh (Điều VI của GATT 1994 và Điều 1 của Hiệp định ADA)
Hiệp định SCM là hiệp định được WTO xây dựng nhằm chống lại hành vi bán phá giá củaquốc gia khác Trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của chính phủ hoặc một tổ chứccông (trung ương hoặc địa phương) theo các hình thức nhất định (quy định tại Điều 1.1 của HiệpSCM) và mang lại lợi ích cho một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp hoặc ngành sảnxuất Nếu doanh nghiệp hoặc quốc gia nào có hành vi trợ cấp này gây thiệt hại cho ngành sảnxuất nội địa thì sẽ bị áp dụng biện pháp chống trợ cấp Do đó, Hiệp định SCM là hiệp định xâydựng nhằm chống lại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Điều VI của GATT 1994).Hiệp định SA là hiệp định được WTO xây dựng cho phép quốc gia nhập khẩu áp dụng mộtbiện pháp tự vệ khi quốc gia đó xác định được có sự gia tăng của sản phẩm nhập khẩu (tương đốihay tuyệt đối) và có thể gây ra hoặc đe doạ gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp
Trang 17nội địa (Điều 2.1 của Hiệp định SA) Các biện pháp tự vệ sẽ được áp dụng đối với một sản phẩmnhập khẩu bất kể từ nguồn nào (Điều 2.2 của Hiệp định SA) Khác với biện pháp chống bán phágiá và chống trợ cấp, biện pháp tự vệ là biện pháp hạn chế hành vi thương mại lành mạnh của cácthành viên khác và áp dụng cho tất cả các quốc gia hoặc nhà sản xuất (trừ các thành viên đangphát triển) dựa trên nguyên tắc không phân biệ đối xử (chứ không như biện pháp chống bán phágiá và chống trợ cấp chỉ áp dụng cho một quốc gia hay một doanh nghiệp cụ thể) Vì áp dụngbiện pháp tự vệ thương mại là hạn chế hành vi cạnh tranh lành mạnh nên thành viên nhập khẩu cónghĩa vụ cam kết bồi thường cho thành viên có hàng hoá bị áp dụng biện pháp tự vệ (Điều 8 củaHiệp định SA), trong khi hai biện pháp trên thì không có cam kết bồi thường này Do đó, Hiệpđịnh SA là hiệp định xây dựng không nhằm chống lại những hành vi cạnh tranh không lànhmạnh.
Vì vậy, chỉ có Hiệp định ADA, SCM là những hiệp định được WTO xây dựng nhằm chốnglại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động thương mại quốc tế, còn Hiệpđịnh SA là hiệp định được WTO xây dựng nhằm chống lại những hành vi cạnh tranh lành mạnh
20 Rà soát hoàng hôn có thể kéo dài việc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại mãi mãi.
Nhận định này là sai
Rà soát hoàng hôn hay rà soát cuối kỳ (sunset review) là thủ tục rà soát được thực hiện ngaytrước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại kể từ ngày có quyết định áp dụngbiện pháp phòng vệ thương mại Rà soát được thực hiện theo yêu cầu của bên liên quan hoặc theo
ý kiến của chính cơ quan điều tra Thủ tục này nhằm xác định xem liệu việc chấm dứt hiệu lựccủa biện pháp phòng vệ thương mại (sau khi hết thời hạn áp dụng nêu trong Quyết định chínhthức) có thể dẫn tới việc tiếp diễn hoặc tái diễn hiện tượng gây thiệt hại không Nếu câu trả lời làkhông thì biện pháp phòng vệ thương mại sẽ hết hiệu lực Nếu câu trả lời là có thì về nguyên tắcbiện pháp này sẽ được gia hạn áp dụng
Đối với biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, một biện pháp chống bán phágiá/chống trợ cấp không được kéo dài quá 5 năm trừ khi chứng minh được rằng việc chấm dứtbiện pháp đó sẽ làm tái diễn hoặc tiếp tục hiện tượng bán phá giá/trợ cấp gây thiệt hại Nói cách
Trang 18được “gia hạn” nhiều lần (mỗi lần tối đa 5 năm, nhưng không hạn chế số lần “gia hạn”) (theoĐiều 11 của Hiệp định ADA và Điều 21 của Hiệp định SCM) WTO không quy định giới hạn củathủ tục rà soát hoàng hôn này nên đối với biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp thì ràsoát hoàng hôn có thể kéo dài việc áp dụng biện pháp hai biện pháp phòng vệ thương mại mãimãi.
Đối với biện pháp tự vệ thương mại, theo quy định tại Điều 7 của Hiệp định SA, thời hạn ápdụng là 04 năm kể từ ngày có quyết định điều tra cuối cùng của thành viên nhập khẩu Nếu saukhi tiến hành thủ tục rà soát hoàng hôn chứng minh được rằng việc tiếp tục áp dụng tự vệ thươngmại là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại nghiêm trọng có thể xảy ra đối với ngành sản xuất trongnước và cơ quan này xuất trình được chứng cứ liên quan đến việc ngành sản xuấ trong nước đangđiều chỉnh thì biện pháp tự vệ có thể gia hạn thêm 04 năm tiếp theo Hiệp định SA chỉ cho chophép gia hạn một lần đối với các biện pháp tự vệ và không được tiếp tục gia hạn thêm khi hết thờihạn gia hạn (Điều 7.4 của Hiệp định SA) Do đó, thời hạn tối đa cho việc áp dụng biện pháp tự vệ
là 08 năm đối với thành viên thông thường và 10 năm đối với thành viên đang phát triển
Vì vậy, rà soát hoàng hôn chỉ có thể kéo dài việc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại mãimãi đối với biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, còn đối với biện pháp tự vệ thươngmại thì việc rà soát hoàng hôn chỉ kéo dài áp dụng biện pháp này được thêm một lần gia hạn
21 Khi hết thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ chính thức thì biện pháp này vẫn có thể được gia hạn.
Nhận định này là đúng
Về nguyên tắc theo Điều 7 của Hiệp định SA, biện pháp tự vệ thương mại chỉ là những biệnpháp mang tính chất tạm thời nên thời hạn áp dụng là 04 năm, kể từ ngày có quyết định điều tracuối cùng của thành viên nhập khẩu (Điều 7.1 của Hiệp định SA) Trong trường hợp cần thiết,nếu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu chứng minh được rằng việc tiếp tục áp dụng
tự vệ thương mại là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại nghiêm trọng có thể xảy ra đối với ngành sảnxuất trong nước và cơ quan này xuất trình được chứng cứ liên quan đến việc ngành sản xuất trongnước đang điều chỉnh thì biện pháp tự vệ có thể gia hạn thêm 04 năm tiếp theo (Điều 7.2 củaHiệp định SA) Hiệp định SA chỉ cho cho phép gia hạn một lần đối với các biện pháp tự vệ vàkhông được tiếp tục gia hạn thêm khi hết thời hạn gia hạn (Điều 7.4 của Hiệp định SA) Do đó,
Trang 19thời hạn tối đa áp dụng biện pháp tự vệ là 08 năm Riêng đối với các thành viên đang phát triểnthì được áp dụng biện pháp tự vệ thương mại thêm 02 năm nữa so với thành viên khác của WTO,tức thời hạn áp dụng tối đa là 10 năm (Điều 9.2 của Hiệp định SA).
Vì vậy, khi hết thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ chính thức thì biện pháp này vẫn có thể đượcgia hạn nhưng chỉ gia hạn được một lần
22 Sau khi hết thời gian gia hạn thì đương nhiên có thể tiến hành điều tra để áp dụng tiếp biện pháp tự vệ nếu quốc gia nhập khẩu thấy cần thiết phải làm như vậy.
Nhận định này là sai
Về nguyên tắc theo Điều 7 của Hiệp định SA, biện pháp tự vệ thương mại chỉ là những biệnpháp mang tính chất tạm thời nên thời hạn áp dụng là 04 năm, kể từ ngày có quyết định điều tracuối cùng của thành viên nhập khẩu (Điều 7.1 của Hiệp định SA) Trong trường hợp cần thiết,nếu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu chứng minh được rằng việc tiếp tục áp dụng
tự vệ thương mại là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại nghiêm trọng có thể xảy ra đối với ngành sảnxuất trong nước và cơ quan này xuất trình được chứng cứ liên quan đến việc ngành sản xuất trongnước đang điều chỉnh thì biện pháp tự vệ có thể gia hạn thêm 04 năm tiếp theo (Điều 7.2 củaHiệp định SA) Hiệp định SA chỉ cho cho phép gia hạn một lần đối với các biện pháp tự vệ vàkhông được tiếp tục gia hạn thêm khi hết thời hạn gia hạn (Điều 7.4 của Hiệp định SA) Do đó,thời hạn tối đa áp dụng biện pháp tự vệ là 08 năm Riêng đối với các thành viên đang phát triểnthì được áp dụng biện pháp tự vệ thương mại thêm 02 năm nữa so với thành viên khác của WTO,tức thời hạn áp dụng tối đa là 10 năm (Điều 9.2 của Hiệp định SA)
Vì vậy, khi hết thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ chính thức thì biện pháp này vẫn có thể đượcgia hạn nhưng chỉ gia hạn được một lần nên sau khi hết thời gian gia hạn thì không thể tiếp tụctiến hành điều tra để áp dụng tiếp biện pháp tự vệ nếu quốc gia nhập khẩu thấy cần thiết phải làmnhư vậy
23 Các thành viên WTO không được phép áp dụng biện pháp phi thuế quan trong mọi trường hợp.
Nhận định này là sai
Trang 20- Thuế chống trợ cấp tạm thời được đảm bảo bởi số tiền đặt cọc, ký quỹ tương đương vớikhoản tiền trợ cấp tạm tính (Điều 17, Hiệp định SCM) (Biện pháp thuế quan).
- Cam kết tự nguyện (i) xoá bỏ hay hạn chế trợ cấp một cách tự nguyện của Chính phủ thànhviên xuất khẩu, (2) xem xét lại giá của nhà xuất khẩu sao cho cơ quan có thẩm quyền đang điềutra thấy rằng biện pháp trợ cấp không còn gây ra thiệt hại (Điều 18.1, Hiệp định SCM) (Biệnpháp phi thuế quan)
- Áp thuế và thu thuế đối kháng (Điều 19, Hiệp định SCM) (Biện pháp thuế quan)
Đối với biện pháp chống bán phá giá, các biện pháp có thể áp dụng gồm:
- Thuế chống bán phá giá (Điều 9 của Hiệp định ADA) (biện pháp thuế quan)
- Biện pháp chống bán phá tạm thời (Điều 7 của Hiệp định ADA) (gồm cả thuế quan và phithuế quan): có thể được áp dụng dưới hình thức thuế tạm thời hoặc tối ưu hơn là áp dụng dướihình thức đảm bảo (bằng tiền đặt cọc hoặc tiền đảm bảo) tương đương với mức thuế chống phágiá được dự tính tạm thời hay đình chỉ định giá tính thuế
- Cam kết về giá (Điều 8 của ADA): là cam kết tự nguyện của nhà xuất khẩu với cơ quan cóthẩm quyền của thành viên nhập khẩu về việc nhà xuất khẩu sẽ tăng giá sản xuất khẩu để loại bỏbiên độ phá giá hoặc đình chỉ hành động bán phá giá Đây là biện pháp phi thuế quan
Đối với biện pháp tự vệ, các biện pháp có thể áp dụng (Điều 5 của Hiệp định SA) bao gồm:
- Biện pháp thuế quan: Thành viên nhập khẩu nâng mức thuế nhập khẩu áp dụng đối với sảnphẩm bị điều tra cao hơn mức thuế trần mà thành viên nhập khẩu đã cam kết trong biểu thuếquan
- Hạn chế định lượng (biện pháp phi thuế quan): Thành viên nhập khẩu được quyền đưa ramức hạn ngạch nhất định mà sản phẩm điều tra được phép nhập khẩu vào thị trường của thànhviên này
Từ những biện pháp kể ra ở trên, các thành viên WTO được phép áp dụng biện pháp phi thuếquan trong các trường hợp áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
24 Trong yêu cầu đối với việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, không có quy trình
rà soát, rà soát hoàng hôn.
Trang 21Nhận định này là sai.
Về nguyên tắc theo Điều 7 của Hiệp định SA, biện pháp tự vệ thương mại chỉ là những biệnpháp mang tính chất tạm thời nên thời hạn áp dụng là 04 năm, kể từ ngày có quyết định điều tracuối cùng của thành viên nhập khẩu (Điều 7.1 của Hiệp định SA) Tuy nhiên, trong trường hợpcần thiết, nếu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu cần xem xét việc tiếp tục áp dụng
tự vệ thương mại là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại nghiêm trọng có thể xảy ra đối với ngành sảnxuất trong nước và cơ quan này xuất trình được chứng cứ liên quan đến việc ngành sản xuất trongnước đang điều chỉnh, đây gọi là thủ tục rà soát cuối kỳ đối với biện pháp tự vệ thương mại Nếukết quả của thủ tục rà soát là cần thiết áp dụng, biện pháp tự vệ có thể gia hạn thêm 04 năm tiếptheo (Điều 7.2 của Hiệp định SA) Hiệp định SA chỉ cho cho phép gia hạn một lần đối với cácbiện pháp tự vệ và không được tiếp tục gia hạn thêm khi hết thời hạn gia hạn (Điều 7.4 của Hiệpđịnh SA) Do đó, thời hạn tối đa áp dụng biện pháp tự vệ là 08 năm Riêng đối với các thành viênđang phát triển thì được áp dụng biện pháp tự vệ thương mại thêm 02 năm nữa so với thành viênkhác của WTO, tức thời hạn áp dụng tối đa là 10 năm (Điều 9.2 của Hiệp định SA)
Vì vậy, trong yêu cầu đối với việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, có quy trình rà soát, ràsoát hoàng hôn và thủ tục rà soát này chỉ được tiến hành một lần đối với một vụ việc
25 Theo WTO, có thể loại trừ một số sản phẩm ra khỏi việc áp dụng biện pháp tự vệ căn cứ vào xuất xứ hàng hoá (FTA).
Nhận định này là đúng
Một trong những nguyên tắc khi áp dụng biện pháp tự vệ thương mại là không phân biệt đối
xử theo Điều Điều 2.2 của Hiệp định SA Biện pháp tự vệ thương mại áp dụng đối với hàng nhậpkhẩu không được phân biệt đối xử nguồn gốc xuất xứ, biện pháp tự vệ sẽ được áp dụng đối vớimột sản phẩm nhập khẩu bất kể từ nguồn nào
Theo quy định tại Điểm b, Khoản 8, Điều XXIV của GATT 1994:
“b) Khu vực mậu dịch tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hay nhiều lãnh thổ quan thuế mà thuế quan và các quy tắc hạn chế thương mại (ngoại trừ, trong chừng mực cần thiết, các hạn chế được phép theo quy định của các Điều XI, XII, XIII, XIV, XV và XX) được triệt tiêu về cơ bản
Trang 22trong trao đổi thương mại các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ lập thành khu vực mậu dịch
tự do”.
Trong khu vực mậu dịch tự do, các quy định về thuế quan và hạn chế thương mại sẽ được triệttiêu trong thương mại các sản phẩm có xuất xứ từ các quốc gia của khu vực mậu dịch đó Quyđịnh này cũng ghi nhận một số ngoại trừ được phép dụng tại Điều XI, XII, XIII, XIV, XV và XXcủa GATT 1994 nhưng chỉ trong chừng mực và trường hợp cần thiết
Bên cạnh đó, việc áp dụng này cũng ghi nhận một ngoại lệ đối với nguyên tắc không phân biệtđối xử, đó là hàng hoá nhập khẩu của thành viên đang phát triển có thị phần không vượt quá 3%tính riêng lẻ (mức thị phần tối thiểu) hoặc không vượt quá 9% tính gộp mặc dù thị phần tính riêng
lẻ thấp hơn 3% (theo Điều 9.1 của Hiệp định SA)
Vì vậy, theo WTO có thể loại trừ một số sản phẩm ra khỏi việc áp dụng biện pháp tự vệ căn
cứ vào xuất xứ hàng hoá (FTA)
III BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:
Bài tập 1: Năm 1998, Hàn Quốc tiến hành phân tích mức độ thiệt hại vật chất của hành vi
phá giá dựa trên cơ sở mức thiệt hại của 17 doanh nghiệp “tiêu biểu” trong 35 doanh nghiệp của Hàn Quốc sản xuất sản phẩm X Các doanh nghiệp này đại diện cho 61,6% tổng sản lượng hàng hoá tương tự thể hiện quan điểm đối với hành vi phá giá của sản phẩm X nhập khẩu từ Trung Quốc.
Để xác định “giá thông thường” của sản phẩm X, Hàn Quốc đã chọn một doanh nghiệp xuất khẩu C của Trung Quốc làm đối tượng xem xét Thực tế có 05 doanh nghiệp xuất khẩu khác cũng
có sản phẩm được bán trên thị trường Trung Quốc đồng thời xuất khẩu vào Hàn Quốc, tuy nhiên Hàn Quốc không chọn điều tra các doanh nghiệp này vì cho rằng các sản phẩm của họ được bán không đúng với điều kiện thương mại thông thường.
Giả sử sau đó trong quá trình điều tra Hàn Quốc thay đổi quan điểm cho rằng tất cả các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm X của Trung Quốc đều bán hàng trong nước theo điều kiện thương mại thông thường nhưng Hàn Quốc vẫn xác định như sau:
- “Giá thông thường” của sản phẩm X được xác định thông qua giá trị thông thường tự tính toán của sản phẩm X (phương thức cấu thành giá) được cơ quan điều tra xác định dựa vào dữ
Trang 23liệu thực tế do các doanh nghiệp của Trung Quốc đang bị điều tra cung cấp phản ánh những khoản chi phí cần thiết để sản xuất ra sản phẩm X.
- “Giá xuất khẩu” được xác định trên cơ sở giá bán sản phẩm X được ghi trên hợp đồng mua bán giữa các Doanh nghiệp của Trung Quốc và Hàn Quốc.
Anh/chị hãy phân tích các nội dung pháp lý thể hiện trong vụ việc trên cơ sở các quy định của Hiệp định Chống bán phá giá – ADA.
* Xét về tính hợp pháp của đơn khởi kiện:
Theo theo Điều 5.4 và 5.6 của Hiệp định ADA, để được xem xét thì đơn khởi kiện của cácdoanh nghiệp Hàn Quốc phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- (1) Các nhà doanh nghiệp Hàn Quốc ủng hộ đơn kiện có sản lượng sản phẩm tương tự Xchiếm ít nhất 50% tổng sản lượng sản xuất ra bởi tất cả các nhà doanh nghiệp đã bày tỏ ý kiếnủng hộ hoặc phản đối đơn kiện;
- (2) Các nhà doanh nghiệp Hàn Quốc ủng hộ đơn kiện phải có sản lượng sản phẩm tương tự
X chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự X của toàn bộ ngành sản xuất trong nước
- (3) Ngoài ra, đơn kiện phải đảm bảo đầy đủ các thông tin liên quan đến chủ thể nộp đơn, mô
tả về hàng hoá bán phá giá, bằng chứng về sự tồn tại của bán phá giá, bằng chứng về thiệt hại vàmối quan hệ nhân quả
Trong trường hợp này, có 17 doanh nghiệp trong tổng số 35 doanh nghiệp tại Hàn Quốc sảnxuất sản phẩm X yêu cầu và các doanh nghiệp này đại diện cho 61,6% tổng sản lượng hàng hoátương tự thể hiện quan điểm đối với hành vi phá giá của sản phẩm X nhập khẩu từ Trung Quốc
Có thể thấy, các doanh nghiệp có yêu cầu đã chiếm hơn 50% (61,6%) tổng sản lượng hàng hoátương tự thể hiện quan điểm, tức thoả mãn điều kiện (1) Đối với điều kiện (2), (3) thì có 02trường hợp:
+ Trường hợp 1: Nếu sản lượng sản phẩm tương tự X chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng sảnphẩm tương tự X của toàn bộ ngành sản xuất Hàn Quốc và đáp ứng đủ điều kiện thông tin liênquan tại điều kiện (3) thì đơn khởi kiện được xem là hợp pháp