1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận thương mại quốc tế Chương 3: CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – WTO (Phần nhận định và bài tập)

36 9 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thảo luận thương mại quốc tế: Các nguyên tắc hoạt động của tổ chức thương mại thế giới – WTO (Phần nhận định và bài tập)
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Thương Mại Quốc Tế
Thể loại Tài liệu giảng dạy
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 103,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II. CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH: 1. Theo quy định của WTO, các quốc gia thành viên không được phép áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau lên hàng hoá nhập khẩu tương tự có xuất xứ từ các thành viên WTO khác. 2. Thành viên WTO không được phép áp thuế nhập khẩu vượt quá mức trần đã cam kết. 3. Điều XX Hiệp định GATT 1994 chỉ ghi nhận ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử tối huệ quốc. 4. Nguyên tắc MFN nhằm tạo ra sự công bằng và bình đẳng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá được sản xuất trong nước. 5. Để được hưởng ngoại lệ chung theo Điều XX GATT 1994, các nước chỉ cần chứng minh mình thuộc trong các trường hợp quy định tại điểm (a) đến điểm (j) Điều XX. 6. Một khi khu vực thương mại tự do (FTA) hoặc một liên minh hải quan (Custom Union) được thành lập, thành viên của các liên kết này sẽ được hưởng ngay ngoại lệ của nguyên tắc MFN theo Điều XXIV GATT 1994. III. BÀI TẬP TÌNH HUỐNG: Bài tập 1: Tháng 10 năm 2008, quốc gia A chính thức trở thành thành viên của WTO. Trước yêu cầu của các thành viên, quốc gia A đồng ý chấp nhận giảm mức thuế đối với sản phẩm thuốc lá điếu xì gà nhập khẩu từ các thành viên WTO từ 50% (mức thuế trước khi A gia nhập WTO) xuống còn 20%. Trong đó, sản phẩm thuốc lá điếu xì gà được nhập khẩu vào thị trường A chủ yếu là sản phẩm của các doanh nghiệp của quốc gia B và C. Tháng 12 năm 2008, quốc gia A và B ký hiệp định thương mại song phương. Theo hiệp định này, hàng nông sản, may mặc và thuỷ sản của A sẽ được miễn thuế khi vào thị trường B. Trong khuôn khổ thoả thuận này, sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của B khi nhập khẩu vào A được miễn thuế nhập khẩu. Anhchị hãy cho biết: 1. Quốc gia A có thể dành cho sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của B mức thuế 0% mặc dù mức thuế MFN của A đối với thuốc lá điếu xì gà áp dụng đối với các thành viên WTO là 20% không? Tại sao? 2. Giả sử A và B không ký hiệp định thương mại song phương kể trên. Tháng 012009, cơ quan y tế của quốc gia A phát hiện ra sản phẩm thuốc lá điếu xì gà nhập khẩu của tất các doanh nghiệp của B có hàm lượng khí CO cao hơn mức tiêu chuẩn, khi kết hợp với hemoglobine dẫn đến hiện tượng thiếu máu não và góp phần hình thành các mảng xơ vữa động mạch ở người hút. Trên cơ sở này, chính phủ quốc gia A quyết định ban hành lệnh cấm nhập khẩu sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của các doanh nghiệp đến từ B. Phản đối quyết định này, chính phủ quốc gia B cho rằng căn cứ vào quy định của WTO, A không được phép hạn chế nhập khẩu hàng hoá có xuất xứ từ các thành viên WTO. Với tư cách là chuyên gia về luật thương mại quốc tế của A, anhchị hãy tư vấn cho A bảo vệ quyền lợi của mình. Bài tập 2: J và B là hai quốc gia thành viên WTO, C đang đàm phán gia nhập WTO. J là một quốc gia xuất khẩu đồ điện tử hàng đầu thế giới. Trong khi đó, B là một nước công nghệ mới nằm tại châu Á – Thái Bình Dương; cũng là một thị trường tiêu thụ hàng điện tử lớn. Hằng năm kinh ngạch xuất khẩu hàng điện tử của J tới thị trường của B lên tới 750 triệu USD. Trong những năm gần đây B bắt đầu phát triển quan hệ thương mại mật thiết với C. Năm 2007, C và B bắt đầu đàm phán ký kết hiệp định thương mại tự do song phương (CB – FTA) để xúc tiến thương mại và đầu tư giữa hai nước. Hai doanh nghiệp điện tử lớn của C và B là ASF và Technotronics đã tiến hành đàm phán hợp tác liên doanh hợp tác sản xuất hàng điện tử. Họ đề nghị chính phủ hai nước C và B thiết lập chế độ ưu đãi thương mại đặc biệt đối với các linh kiện điện tử và đồ điện tử có xuất xứ từ C và B, đồng thời tạo cho họ những lợi thế cạnh tranh hơn sản phẩm của J vốn đã có chỗ đứng tại B trong nhiều thập niên qua. Nếu được ưu đãi từ CB – FTA, ASF và Technotronics cam kết sẽ tăng đầu tư vào ngành sản xuất điện tử để hình thành nên chuỗi sản xuất của khối; dự án này cũng sẽ thúc đẩy các ngành công nghệ phụ trợ và tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động của hai nước. Đoàn đàm phán của C và B đang cân nhắc áp dụng (i) cơ chế hạn ngạch đối với hàng điện tử nhập khẩu, đặc biệt là đối với sản phẩm của J trong 5 năm đầu của CB – FTA, (ii) áp dụng thuế nhập khẩu 0% cho hàng điện tử và linh kiện điện tử có xuất xứ từ các nước thuộc CB – FTA. Chính phủ J kịch liệt phản đối đề án này và chỉ ra rằng nếu áp dụng cơ chế trên B sẽ vi phạm Điều I và Điều XI GATT 1994. Với tư cách là cố vấn pháp lý của chính phủ B, anhchị hãy phân tích tình huống và giải quyết các vấn đề sau: 1. B có thể đàm phán những điều kiện thương mại ưu đãi với C trong khuôn khổ CB – FTA khi C chưa phải là thành viên của WTO không? 2. Việc áp thuế nhập khẩu 0% đối với hàng điện tử và linh kiện điện tử có xuất xứ từ các nước thuộc CB – FTA và áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu xuất xứ từ J có vi phạm Điều I và Điều XI của GATT như J khẳng định không? 3. Nếu muốn thực hiện các ưu đãi cho doanh nghiệp điện tử của mình và của C trong trường hợp này B có thể và cần cân nhắc những biện pháp thương mại nào? Bài tập 3: E là một quốc gia xuất khẩu lốp xe hơi hàng đầu trên thế giới. B là một nước công nghiệp mới nằm tại châu Mỹ La – tinh; cũng là một thị trường tiêu thụ lốp xe hơi lớn với hơn 50 triệu người sử dụng xe hơi. Một số doanh nghiệp của B đã hợp tác với LOPe, hãng sản xuất lốp xe lớn hàng đầu của E, để xuất khẩu lốp xe cũ đã qua sử dụng để LOPe tái chế và sau đó tái nhập khẩu các lốp xe này vào B để bán trên thị trường. Năm 2006 – 2008, do dịch bệnh sốt rét bùng phát tại nhiều địa phương, chính phủ của B bị đặt dưới áp lực phải có những biện pháp ngăn ngừa và phòng chống dịch bệnh này. Qua một nghiên cứu khoa học của Viện nghiên cứu bệnh nhiệt đới thì chính phủ được biết muỗi mang mầm bệnh sốt rét chủ yếu sinh sản ở các vùng nước đọng chứa trong các lốp xe phế thải. Căn cứ vào báo cáo này, chính phủ của nước B đã ra sắc lệnh cấm nhập khẩu lốp xe tái chế từ E. Tuy nhiên, B vẫn cho một số doanh nghiệp trong nước sản xuất và phân phối lốp xe tái chế vì cho rằng công nghệ sản xuất lốp xe của họ an toàn và sản phẩm của họ ít có khả năng làm nguồn sinh sản của muỗi, không như công nghệ của LOPe. Chính phủ B cũng sẽ phạt các doanh nghiệp nào lưu giữ, chuyên chở và phân phối lốp xe không được cấp phép. Chính phủ B cho rằng biện pháp nêu trên vừa đảm bảo nhu cầu kinh tế của đất nước vừa góp phần hạn chế được dịch bệnh sốt rét. E và B đều là thành viên WTO từ năm 1995. E doạ sẽ kiện B ra WTO vì B đã vi phạm Điều III và Điều XI của GATT. 1. Với tư cách là cố vấn pháp lý của chính phủ B, anhchị hãy trả lời các câu hỏi sau, nêu rõ lý do và cơ sở pháp lý: (i) Lệnh cấm nhập khẩu và phân phối lốp xe tái chế của B có vi phạm nghĩa vụ thành viên WTO như E nhận định không? (ii) Nếu B muốn vận dụng quy định của ngoại lệ chung về bảo vệ sức khoẻ con người của Điều XX, GATT 1994 để bảo vệ cho biện pháp mà nước này áp dụng thì phải đáp ứng những điều kiện gì? 2. Với tư cách là cố vấn pháp lý của chính phủ E, anhchị hãy tư vấn nếu khởi kiện B thì E cần chứng minh những vấn đề gì? Đâu sẽ là điểm mạnh trong đơn kiện của E? Bài tập 4: A là một nước đang phát triển ở châu Á, đồng thời là thành viên của WTO. Kể từ năm 1994, chính phủ A tiến hành phát triển ngành công nghiệp sản xuất xe hơi quốc gia. Chính phủ cam kết hỗ trợ và tạo những điều kiện thuận lợi nhất để tập đoàn xe hơi quốc gia AMotors, sản xuất ra chiếc xe hơi nội địa đầu tiên có tên là “Premier”. Tháng 41995, AMotors liên doanh với Hankuk Motors (tập đoàn xe hơi lớn của H, một nước thành viên khác của WTO) để nhập khẩu động cơ xe, và các linh kiện khác của dòng xe “Paxon” nổi tiếng của Hankuk Motors để sản xuất xe Premier. AMotors sẽ tiếp thu công nghệ của Hankuk Motors và dự tính sẽ sản xuất độc lập Premier trong vòng 10 năm. Tháng 61995, A áp dụng chính sách phát triển công nghiệp xe hơi quốc gia với các điểm chính như sau: (1) giảm thuế nhập khẩu đối với các bộ phận và linh kiện xe hơi, tuỳ theo tỷ lệ hàm lượng nội địa của xe hơi thành phẩm có sử dụng các bộ phận và linh kiện này; (2) giảm thuế nhập khẩu đối với các bộ phận được sử dụng để sản xuất các linh kiện và bộ phận của xe hơi, tuỳ theo tỷ lệ hàm lượng nội địa của linh kiện và bộ phận hoàn chỉnh và (3) giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe hơi có hàm lượng nội địa nhất định (xe hơi có tỷ lệ linh kiện được sản xuất trong nước chiếm trên 30% được miễn thuế này). Được biết cho tới 121995, A mới chỉ cấp giấy phép sản xuất xe hơi cho liên doanh Hankuk Motors và AMotors. Các hãng sản xuất xe hơi của J, E và U rất bất bình về chính sách này của A, vì cho rằng nó gây khó khăn cho chiến lược phân phối xe hơi xuất khẩu của họ tại A. Họ cho rằng chính sách này vi phạm các nghĩa vụ của A tại WTO. Chính phủ A cho rằng những đòi hỏi của các hãng xe hơi nước ngoài là bất hợp lý vì trong lịch sử chính phủ nước họ cũng đã có những chính sách tương tự khi xây dựng các ngành công nghiệp non trẻ của mình, đặc biệt là ngành xe hơi – một ngành công nghiệp quan trọng của mỗi quốc gia. Bản thân AMotors cũng có cam kết một lộ trình để tự sản xuất xe Premier. Ngày 10011996, J, E và U khởi kiện A tại WTO. Anhchị hãy phân tích các vấn đề sau, nêu rõ cơ sở pháp lý: 1. Phân tích cơ sở pháp lý để J, E và U khởi kiện A tại WTO. 2. Tư vấn lập luận hiện nay của A có phù hợp không và nên có chiến lược, lập luận thế nào trong vụ kiện này. 3. A có thể thực hiện những biện pháp nào để hỗ trợ nền công nghiệp xe hơi phù hợp theo quy định của WTO. Bài tập 5: A là một nước phát triển, thành viên của WTO. Các doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử của A đóng góp khoảng 10% GDP của quốc gia này. Năm 2013 – 2014, họ chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ hàng nhập khẩu từ B và C (cũng là thành viên WTO). Thị phần của các sản phẩm điện tử gia dụng nhập khẩu từ B, C đã tăng từ 30% trong năm 2012 lên 50% trong năm 2013 và 60% trong năm 2014. Được biết các nhà sản xuất của A phải chịu chi phí sản xuất cao do quy định ngặt nghèo về bảo vệ người lao động và bảo vệ môi trường (Ví dụ: định mức tối thiểu cao, tiêu chuẩn an toàn lao động cao và các biện pháp kỹ thuật hiện đại để hạn chế mức độ ô nhiễm,…). Trong khi đó, các đối thủ cạnh tranh tại B và C không bị ràng buộc vởi các quy định tương tự và còn được chính phủ của họ dành cho các ưu đãi thuế trên cơ sở kết quả xuất khẩu vì vậy giá bán sản phẩm của họ thấp hơn nhiều. Bên cạnh đó, việc các doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử của B và C gây ô nhiễm môi trường của sông Xanh (sông chảy qua lãnh thổ của ba nước B, C và A, mà A nằm ở hạ lưu dòng sông) cũng gây ra một dòng dư luận bất bình ở A, nhiều tổ chức bảo vệ môi trường đã biểu tình đòi nhà nước phải can thiệp và có biện pháp chống lại B và C, trong đó có việc áp dụng biện pháp hạn chế hàng nhập khẩu từ hai nước này. Do áp lực của Hiệp hội công nghệ điện tử, Tổng thống của A muốn thông qua một đạo luật cấm nhập khẩu hàng điện tử từ B và C vì các quốc gia này không đặt ra chính sách về tiêu chuẩn lao động và tiêu chuẩn bảo vệ môi trường tương tự như A. Anhchị với tư cách là chuyên gia pháp luật thương mại quốc tế, hãy tư vấn cho chính phủ A các vấn đề sau: 1. Một quy định cấm nhập khẩu hoặc hạn chế định lượng đối với hàng điện tử của A có được phép theo quy định của WTO không? 2. Việc hạn chế nhập khẩu liệu có thể được thực hiện dưới một hình thức khác được phép trong khuôn khổ khung pháp lý của WTO không? Hãy nêu và phân tích rõ yêu cầu áp dụng các biện pháp liên quan (nếu có). Tổng thống nước A yêu cầu anhchị giải thích rõ ràng về các lập luận, các cơ sở pháp lý cũng như thực tiễn pháp lý của WTO để làm rõ những vấn đề được nêu trong bản tư vấn của mình. Bài tập 6: Quốc gia A là một nước đang phát triển ở Đông Nam Á, vừa gia nhập WTO năm 2000. Các quốc gia B, C, D đều là thành viên sáng lập của WTO và là những nước xuất khẩu xe hơi lớn vào A. Trong hai thập niên trở lại đây, A đang nỗ lực trong quá trình công nghiệp hoá, chính phủ A quyết tâm xây dựng ngành công nghiệp xe hơi nội địa. Từ trước khi tham gia WTO, A đã có những chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu đối với động cơ, linh kiện làm xe hơi của D vì các công ty của nước này là đối tác của AMotors (hãng xe hơi quốc gia của A) và cũng cấp nguyên phụ liệu cũng như công nghệ sản xuất xe hơi cho AMotors. Anhchị hãy cho biết: 1. Sau khi gia nhập WTO, chính sách thuế quan của A phải được áp dụng như thế nào? 2. Hiểu thế nào là việc áp dụng ưu đãi một cách ngay lập tức và vô điều kiện theo Điều I, GATT? Bài tập 7: Quốc gia A (thành viên WTO) nằm ở khu vực Nam Mỹ và hiện phải đối đầu với vấn đề ô nhiễm môi trường và dịch bệnh do muỗi gây ra. Quốc gia này cho rằng các lốp xe phế thải là nguồn gây ô nhiễm môi trường và cũng tạo thành nguồn trữ nước mưa là môi trường cho muỗi sinh sản. Do đó, A ban hành lệnh cấm nhập khẩu lốp xe tái chế (1). Cùng lúc đó, nước ngày cũng ban hành lệnh cấm nhập khẩu lốp xe cũ vì mục đích tài chế (2) cũng cùng lý do trên là để tránh tạo thêm lốp xe tái chế có vòng đời sử dụng ngắn. Tuy nhiên, lệnh cấm nhập khẩu lốp xe tái chế (1) vấp phải sự phản đối của các quốc gia trong nhóm MERCOSUR và sau đó, quốc gia A dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu này đối với các quốc gia trong nhóm MERCOSUR trong khi vẫn duy trì lệnh cấm nhập khẩu này đối với các quốc gia khác. Điều này gây ra sự không đồng tình trong các đối tác thương mại của quốc gia A. Về lệnh cấm thứ (2), chính các nhà sản xuất trong nước kiện chính phủ quốc gia A đã vi phạm Hiến pháp và kết quả là quốc gia A buộc phải dỡ bỏ lệnh cấm thứ (2). Anhchị hãy bình luận về các vấn đề pháp lý trong tình huống này: 1. Việc quốc gia hạn chế nhập khẩu lốp xe tái chế có đi ngược lại các cam kết về tự do hoá thương mại của WTO hay không? 2. Việc A hạn chế nhập khẩu đối với các quốc gia khác mà vẫn cho phép nhập khẩu lốp xe tái chế từ các thành viên trong nhóm MERCOSUR có phù hợp với quy định của WTO không? 3. Việc quốc gia A vẫn cho phép nhập khẩu lốp xe cũ để dùng làm nguyên liệu sản xuất lốp xe tái chế ở thị trường trong nước trong khi không cho phép nhập khẩu lốp xe tái chế có tạo ra một sự phân biệt đối xử (theo quy định tại phần mở đầu của Điều XX, Hiệp định GATT 1994) với các quốc gia sản xuất và kinh doanh lốp xe tái chế với A không? Bài tập 8: A áp dụng mức thuế hải quan 0% đối với rượu vang trắng nhập khẩu từ B và C nhưng lại áp dụng mức thuế 10% đối với rượu vang đỏ nhập khẩu từ D. Điều này làm cho các nhà sản xuất và xuất khẩu rượu vang đỏ của D không hài lòng vì ảnh hưởng đến sức cạnh tranh các mặt hàng của họ so với B và C, đối thủ cạnh tranh khốc liệt của họ trên thị trường A, điều đó dẫn đến sự sụt giảm thị phần và doanh thu của họ trên thị trường A. Họ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia D có biện pháp bảo vệ bảo vệ quyền lợi cho họ. D đang cân nhắc khởi kiện A theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Biết A, B, C, D đều là các thành viên của WTO. 1. Quốc gia D nhờ các anhchị (các chuyên gia luật thương mại quốc tế) tư vấn cho họ. Anhchị hãy đánh giá cơ hội thành công trong vụ này. 2. Quốc gia A cho rằng mình có một thoả thuận thành lập khu vực thương mại tự do (FTA) với B và C nên phải dành mức thuế suất ưu đãi như vậy theo đúng lộ trình thành lập FTA. Được biết, trước khi gia nhập FTA với B và C, quốc gia A áp dụng mức thuế suất 7% đối với rượu vang đỏ nhập khẩu từ quốc gia D. Ngoài ra, quốc gia D cũng phát hiện rằng FTA của quốc gia A, B, C chưa được đăng ký với WTO. Anhchị hãy đánh giá lập luận của quốc gia A và đưa ra phản biện của mình. Điều kiện nào sẽ phải đáp ứng để FTA giữa quốc gia A, B, C được WTO công nhận? 3. Giả sử A, B, C thành lập một Liên minh thuế quan với biểu thuế chung cho các nước ngoài khu vực, ví dụ như D. Liên minh thuế quan của A, B, C áp dụng mức thuế nhập khẩu đối với rượu vang đỏ xuất xứ từ các nước ngoài khu vực là 15%. E tham gia vào liên minh thuế quan này nên cũng phải dành mức thuế nhập khẩu đối với D là 15%. Biết liên minh thuế quan này được WTO công nhận và mức thuế trước đây của E là 10%. Trong trường hợp này, D có thể khởi kiện E không? Bài tập 9: Nước A đàm phán tham gia Khu vực thị trường chung AS (ASC). ASC đặt ra điều kiện là A phải hội nhập theo từng giai đoạn. Giai đoạn 1: A và ASC sẽ ký liên minh thuế quan để lấy đó làm cơ sở đàm phán các điều kiện hội nhập. Giai đoạn 2: A sẽ áp dụng các chế độ thuế quan của ASC. Theo đó, A sẽ phải áp dụng hạn ngạch đối với hàng may mặc nhập khẩu thay vì thuế quan như A đang áp dụng. Giai đoạn 3: A hoàn tất đàm phán và tiến hành ký kết hiệp định gia nhập ASC. Sau khi A tiến hành áp dụng các biện pháp thương mại đối với hàng may mặc như theo yêu cầu của giai đoạn 2, một số nước thành viên WTO có hàng xuất khẩu vào A (trong đó có X) đã khiếu nại cho rằng A vi phạm các nghĩa vụ mở cửa thị trường theo quy định tại Điều XI, GATT. A cho rằng mình không vi phạm nghĩa vụ này căn cứ vào Điều XXIV, GATT 1994. Anhchị hãy cho biết: 1. Biện pháp của A áp dụng theo yêu cầu của giai đoạn 2 đề cập đến ở trên có thoả mãn yêu cầu để thành lập liên minh thuế quan với ASC không, tại sao? 2. A có những lựa chọn nào trong việc xây dựng chính sách thương mại của mình? Bài tập 10: Vitian là một quốc gia chuyên sản xuất rượu Soke, đây là rượu thuốc truyền thống của quốc gia này có nồng độ cồn vào khoản 10 – 15 độ, rượu được nấu từ gạo và được ngâm thêm một số loại thảo dược chỉ có tại Vitian. Richland là quốc gia nhập khẩu rượu vang lớn thứ hai tại thị trường Vitian. Một thời gian sau khi gia nhập WTO, Vitian bắt đầu áp thuế nội địa lên các đồ uống chứa cồn và không chứa cồn. Theo đó, thuế VAT được áp dụng như sau: 2% đối với đồ uống không có cồn và đồ uống có chưa thành phần thảo dược như metholscinnamon. 7% đối với các mặt hàng đồ uống có cồn còn lại. Đầu năm 2008, Chính phủ Vitian điều tra thấy rằng tỉ lệ bia rượu trong giới trẻ ngày càng tăng lên, điều này đe doạ đến thế hệ trẻ và tương lai đất nước, do đó Vitian ban hành quy định không cho phép bán bia rượu trong hoặc gần các khu vực trường học cũng như không cho phép bán bia rượu cho trẻ vị thành viên dưới 18 tuổi. Quy định này không được áp dụng đối với rượu thuốc Soke vì lý giải cho rằng rượu này tốt cho sức khoẻ, giúp phục hồi tinh thần. Sau khi tham khảo quy định pháp luật tại Vitian, Công ty Superbrew đã yêu cầu quốc gia của mình là Richland khởi kiện quy định này của Vitian lên WTO do vi phạm quy định của tổ chức này. 1. Richland mong muốn không có sự phân biệt đối xử giữa Soke và rượu vang vì cho rằng chúng có cùng nồng độ cồn nên là những sản phẩm tương tự, vậy Richland có thể khởi kiện Vitian vi phạm những quy định nào của WTO, nêu cơ sở pháp lý? 2. Vitian có thể căn cứ vào những quy định nào của WTO để bảo vệ những lập luận của mình.

Trang 1

THẢO LUẬN MÔN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ - CHƯƠNG 3

CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA

TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – WTO

II CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH:

1 Theo quy định của WTO, các quốc gia thành viên không được phép áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau lên hàng hoá nhập khẩu tương tự có xuất xứ từ các thành viên WTO khác.

Nhận định này là sai

Luật WTO cho phép thành viên WTO có quyền đơn phương, hoặc thông qua đàm phán songphương để giảm mức thuế quan mà mình áp dụng Điểm cần lưu ý là nghĩa vụ đối xử tối huệquốc quy định tại Điều I của GATT cũng cần được cân nhắc

Trên thực tế, nhằm đảm bảo cho các nhân nhượng thuế quan được thực thi, WTO cũng cungcấp các quy tắc hướng dẫn cách thức áp dụng thuế quan, trong đó có yếu tố xác định xuất xứ củahàng nhập khẩu (Quy tắc xuất xứ) Yếu tố này dẫn đến việc thuế quan có thể khác nhau giữa cácquốc gia xuất khẩu khác nhau Thuế quan áp dụng đối với các sản phẩm nhập khẩu sẽ có thểkhác nhau tuỳ thuộc vào quốc gia hàng hoá đó được xuất đi Các quy tắc xác định xuất xứ này

có thể hiểu là luật, quy định được sử dụng bởi các quốc gia nhằm xác định nước xuất xứ củahàng hoá Các quốc gia có thể sử dụng các quy định này để thực hiện việc phân biệt đối xửtrong chính sách thương mại của họ hoặc dùng các quy định này như một rào cản thương mại.Các quy định của GATT cũng ghi nhận hai vấn đề liên quan đến quy tắc xuất xứ là nhãn xuất xứ(Điều IX của GATT) và hài hoà hoá các quy tắc xuất xứ

Do đó, các quốc gia thành viên có thể áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau lên hànghoá nhập khẩu tương tự có xuất xứ từ các thành viên WTO khác

2 Thành viên WTO không được phép áp thuế nhập khẩu vượt quá mức trần đã cam kết.

Nhận định này là sai

Trang 2

Khi gia nhập WTO, các thành viên đều phải cắt giảm và ràng buộc mức thuế quan mà mình

áp dụng tại các Biểu nhân nhượng thuế quan Các biểu nhân nhượng thuế quan được xem là một

bộ phận của Hiệp định GATT Một thành viên của tổ chức WTO không được phép áp dụng mứcthuế quan cao hơn mức mà mình đã cam kết trước đó trong Biểu nhân nhượng nếu không có sựbồi thường tương ứng đối với các thành viên bị ảnh hưởng từ việc áp dụng đó Do đó, nếu mộtthành viên áp dụng mức thuế nhập khẩu vượt quá mức trần đã cam kết thì phải bồi thường tươngứng cho các thành viên bị ảnh hưởng

Mặt khác, nếu một nhân nhượng thuế quan cụ thể quá khó thực hiện đối với nền kinh tế hoặctạo ra những khó khăn nhất định về chính trị đối với thành viên thì thành viên có thể tiến hànhđàm phán để đạt được nhân nhượng thuế quan mới cao hơn Các trường hợp đàm phán lại thuếquan được ghi nhận tại Điều XXVIII của GATT

Vì vậy, thành viên WTO vẫn có thể áp dụng thuế nhập khẩu vượt mức trần đã cam kết vớiđiều kiện là bồi thường tương ứng cho thành viên bị ảnh hưởng hoặc nâng mức thuế quan thôngqua đàm phán lại

3 Điều XX Hiệp định GATT 1994 chỉ ghi nhận ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử tối huệ quốc.

Nhận định này là sai

Điều XX Hiệp định GATT 1994 không chỉ ghi nhận ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử tốihuệ quốc

Căn cứ quy định tại Đoạn mở đầu của Điều XX, GATT về Các ngoại lệ chung:

“Với bảo lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu

là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng các biện pháp:

…”

Theo quy định trên, Điều XX của GATT đang đề cập đến trường hợp ngoại lệ của nguyêntắc không phân biệt đối xử nói chung trong quan hệ thương mại quốc tế Nội dung của nguyêntắc không phân biệt đối xử bao gồm nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc đối

Trang 3

xử quốc gia (NT) Trong một số trường hợp quy định tại Điều XX của GATT 1994, các nướcthành viên của WTO được làm trái với nguyên tắc cơ bản của WTO (MFN hoặc NT) nhưngkhông bị xem là vi phạm Việc làm trái khi được viện dẫn phải đảm bảo phù hợp với các quyđịnh của WTO để một mặt phải đảm bảo chủ quyền, an ninh, đạo đức, tính mạng, sức khoẻ conngười, động vật, môi trường, hệ thống pháp luật,… không bị lạm dụng một cách tuỳ tiện vì lợiích riêng đó.

Do đó, Điều XX của GATT không chỉ ghi nhận ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử tối huệquốc mà còn ghi nhận ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử quốc gia

4 Nguyên tắc MFN nhằm tạo ra sự công bằng và bình đẳng giữa hàng hoá nhập khẩu

và hàng hoá được sản xuất trong nước.

Nhận định này là sai

Quy chế MFN đòi hỏi quốc gia phải dành cho đối tác thương mại của mình sự đối xử ưu đãinhất Khi áp dụng quy chế MFN, các quốc gia thoả thuận chấp nhận cho nhau hưởng những ưuđãi thương mại mà họ cho nước thứ ba hưởng hoặc với điều kiện có đi có lại vô điều kiện Quychế MFN có thể tồn tại dưới 02 dạng là vô điều kiện (việc áp dụng quy chế MFN được thực hiệnmột cách tự động) và có điều kiện (việc áp dụng được thực hiện có qua có lại, có sự nhượng bộ

từ hai phía) Nói một cách đơn giản, nguyên tắc MFN nhằm tạo ra sự công bằng và bình đẳnggiữa các quốc gia

Quy chế NT là nguyên tắc loại trừ sự phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại và nướcnhập khẩu; đối với hoạt động thương mại của các doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp từ quốcgia thành viên Nói một cách đơn giản, nguyên tắc MFN nhằm tạo ra sự công bằng và bình đẳnggiữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá trong nước

Do đó, nguyên tắc MFN không nhằm tạo ra sự công bằng và bình đẳng giữa hàng hoá nhậpkhẩu và hàng hoá được sản xuất trong nước mà tạo ra sự công bằng và bình đẳng giữa các quốcgia Còn việc tạo ra sự công bằng và bình đẳng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá được sảnxuất trong nước là nội dung của nguyên tắc NT

5 Để được hưởng ngoại lệ chung theo Điều XX GATT 1994, các nước chỉ cần chứng minh mình thuộc trong các trường hợp quy định tại điểm (a) đến điểm (j) Điều XX.

Trang 4

Việc áp dụng ngoại lệ tại Điều XX của GATT phải đáp ứng được 02 yêu cầu cơ bản sau:

- Thứ nhất, thành viên viện dẫn ngoại lệ có nghĩa vụ chứng minh rằng biện pháp đó thuộcmột hoặc nhiều trong số các ngoại lệ được liệt kê tại Điều XX của GATT và việc áp dụng ngoại

lệ đó phải là thực sự “cần thiết” hay “liên quan” Sự “cần thiết” đòi hỏi phải đánh giá khả năngtồn tại và áp dụng hợp lý trên thực tế Tức là, chọn ra một biện pháp mà tính tuân thủ quy địnhcủa GATT nhiều nhất và biện pháp hạn chế tối đa sự mâu thuẫn với GATT Nếu thành viênkhông áp dụng những biện pháp như vậy thì biện pháp thành viên viện dẫn được xem là không

“cần thiết” Biện pháp “cần thiết” phải nằm ở cấp độ “không thể thiếu” dựa trên các yếu tố nhưtính hiệu quả của biện pháp, tầm quan trọng của mục tiêu, khả năng hạn chế thương mại củabiện pháp

- Thứ hai, biện pháp đó phải đáp ứng các yêu cầu được nêu tại đoạn đầu của Điều XXGATT, tức là việc áp dụng các biện pháp đó không nhằm tạo ra sự phân biệt đối xử bất hợp lý,độc đoán hay hạn chế trá hình thương mại quốc tế

Để được hưởng ngoại lệ chung tại Điều XX GATT 1994 cần phải đáp ứng đủ 02 yếu tố trên,nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì việc áp dụng ngoại lệ tại Điều XX GATT là không phùhợp

Do đó, để được hưởng ngoại lệ chung theo Điều XX GATT 1994, các nước bên cạnh việcchứng minh mình thuộc trong các trường hợp quy định tại điểm (a) đến điểm (j) Điều XX màcòn phải chứng minh được áp dụng ngoại lệ phải thực sự “cần thiết” hoặc “liên quan” và việc ápdụng các biện pháp đó không nhằm tạo ra sự phân biệt đối xử bất hợp lý, độc đoán hay hạn chếtrá hình thương mại quốc tế

6 Một khi khu vực thương mại tự do (FTA) hoặc một liên minh hải quan (Custom Union) được thành lập, thành viên của các liên kết này sẽ được hưởng ngay ngoại lệ của nguyên tắc MFN theo Điều XXIV GATT 1994.

Nhận định này là sai Không phải mọi khu vực thương mại tự do (FTA) hoặc một liên minhhải quan (Custom Union) được thành lập, thành viên của các liên kết này sẽ được hưởng ngayngoại lệ của nguyên tắc MFN theo Điều XXIV GATT 1994

Ngoại lệ của nguyên tắc MFN cho phép một số quốc gia cho nhau hưởng quy chế đối xử ưuđãi đặc biệt hơn so với quy chế đối xử MFN, trong khuôn khổ các thiết chế thương mại khu vực,

Trang 5

với điều kiện các hiệp định, thoả ước liên quan phải thoả mãn các điều kiện đề cập trong quyđịnh của WTO.

Điều kiện để áp dụng ngoại lệ: Theo quy định của WTO, để hưởng quy chế ngoại lệ MFNđối với thiết chế thương mại khu vực, các hiệp định thương mại khu vực và liên minh hải quanphải thoả mãn được 02 điều kiện sau:

- Điều kiện về hình thức: Hiện nay các điều kiện và thủ tục được ghi nhận khá hệ thốngtrong Quyết định về cơ chế đảm bảo tính minh bạch của các hiệp định thương mại khu vực: cácthành viên của hiệp định thương mại khu vực phải thông báo và báo cáo thương xuyên về sựthành lập, các thay đổi cũng như chấm dứt hiệp định đó Sau đó, hiệp định thương mại khu vực

sẽ được xem xét, theo dõi bởi các cơ quan có thẩm quyền của WTO (Uỷ ban về hiệp địnhthương mại khu vực đối với các hiệp định thành lập theo Điều XXIV của GATT và Điều V củaGATS; Uỷ ban về thương mại và phát triển đối với các hiệp định thành lập theo Điều khoản khảthể)

- Điều kiện về nội dung: các hiệp định thương mại khu vực phải thoả mãn 02 điều kiện: điềukiện nội biên và điều kiện ngoại biên Điều kiện nội biên điều chỉnh mối quan hệ giữa các thànhviên của hiệp định, đòi hỏi sự nghiêm túc của thành viên hiệp định: các rào cản trong quan hệthương mại giữa các thành viên này phải được triệt tiêu, ít nhất là về cơ bản (Khoản 4 và 8, ĐiềuXXIV của GATT; Khoản 1 và 3, Điều V của GATS; Điểm c, Khoản 2 của Điều khoản khả thể).Điều kiện ngoại biên điều chỉnh mối quan hệ giữa thành viên của hiệp định (là thành viên WTOnhưng không là thành viên của hiệp định thương mại khu vực), nhằm giảm thiểu những thiệt hại

mà việc thành lập các hiệp định thương mại khu vực có thể gây ra cho hệ thống thương mại đaphương: khi thành lập hiệp định thương mại khu vực, các thành viên không được tạo ra thêm ràocản trong quan hệ thương mại với các bên thứ ba (Khoản 4 và 5, Điều XXIV của GATT; Khoản

4, Điều V của GATS; Điểm b, Khoản 3 của Điều khoản khả thể)

Do đó, một khu vực thương mại tự do (FTA) hoặc một liên minh hải quan (Custom Union)được thành lập phải đáp ứng đủ các điều kiện để được áp dụng ngoại lệ MFN thì thành viên củacác liên kết này sẽ được hưởng ngay ngoại lệ của nguyên tắc MFN theo Điều XXIV GATT1994

III BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:

Trang 6

Bài tập 1: Tháng 10 năm 2008, quốc gia A chính thức trở thành thành viên của WTO Trước

yêu cầu của các thành viên, quốc gia A đồng ý chấp nhận giảm mức thuế đối với sản phẩmthuốc lá điếu xì gà nhập khẩu từ các thành viên WTO từ 50% (mức thuế trước khi A gia nhậpWTO) xuống còn 20% Trong đó, sản phẩm thuốc lá điếu xì gà được nhập khẩu vào thị trường

A chủ yếu là sản phẩm của các doanh nghiệp của quốc gia B và C

Tháng 12 năm 2008, quốc gia A và B ký hiệp định thương mại song phương Theo hiệp địnhnày, hàng nông sản, may mặc và thuỷ sản của A sẽ được miễn thuế khi vào thị trường B Trongkhuôn khổ thoả thuận này, sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của B khi nhập khẩu vào A được miễnthuế nhập khẩu Anh/chị hãy cho biết:

1 Quốc gia A có thể dành cho sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của B mức thuế 0% mặc dù

mức thuế MFN của A đối với thuốc lá điếu xì gà áp dụng đối với các thành viên WTO là 20% không? Tại sao?

Căn cứ quy định tại Khoản 1, Điều I của GATT về Quy định chung về Nguyên tắc đối xử tốihuệ quốc:

“1 Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất cứ loại nào nhằm vào hay có liên hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc áp dụng phụ thu nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III,* mọi lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kỳ bên ký kết nào dành cho bất cứ một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước nào khác sẽ được áp dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên ký kết khác ngay lập tức và một cách không điều kiện”.

Theo quy định trên, mọi quyền miễn trừ được bất kỳ thành viên nào dành cho bất cứ một sảnphẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một quốc gia nào khác sẽ được áp dụng cho sảnphẩm tương tự có xuất xứ từ thành viên khác ngay lập tức và một cách không điều kiện cho cácthành viên còn lại của WTO Do đó, nếu quốc gia A có thể dành cho sản phẩm thuốc lá điếu xì

gà của B mức thuế 0% thì quốc gia A cũng phải dành cho các sản phẩm thuốc lá điếu xì gà củacác thành viên khác mức thuế là 0% Bên cạnh đó, việc quốc gia A dành cho sản phẩm thuốc lá

Trang 7

điếu xì gà của B mức thuế 0% cũng không thuộc trường hợp ngoại lệ nào theo quy định củaGATT Mặt khác, giữa A và B không tồn tại một thiết chế thương mại khu vực nào

Do đó, quốc gia A không thể dành cho sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của B mức thuế 0%trong khi mức thuế MFN của A đối với thuốc lá điếu xì gà áp dụng đối với các thành viên WTO

là 20%

2 Giả sử A và B không ký hiệp định thương mại song phương kể trên Tháng 01/2009, cơ

quan y tế của quốc gia A phát hiện ra sản phẩm thuốc lá điếu xì gà nhập khẩu của tất các doanh nghiệp của B có hàm lượng khí CO cao hơn mức tiêu chuẩn, khi kết hợp với hemoglobine dẫn đến hiện tượng thiếu máu não và góp phần hình thành các mảng xơ vữa động mạch ở người hút Trên cơ sở này, chính phủ quốc gia A quyết định ban hành lệnh cấm nhập khẩu sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của các doanh nghiệp đến từ B Phản đối quyết định này, chính phủ quốc gia B cho rằng căn cứ vào quy định của WTO, A không được phép hạn chế nhập khẩu hàng hoá có xuất xứ từ các thành viên WTO Với tư cách là chuyên gia về luật thương mại quốc tế của A, anh/chị hãy tư vấn cho A bảo vệ quyền lợi của mình.

Để có thể bảo vệ quyền lợi của quốc gia A, quốc gia A có thể chứng minh việc quốc gia Aban hành lệnh cấm nhập khẩu sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của các doanh nghiệp đến từ B làmột trường hợp ngoại lệ theo quy định tại Điều XX của GATT

Theo cơ quan y tế của quốc gia A phát hiện ra sản phẩm thuốc lá điếu xì gà nhập khẩu củatất các doanh nghiệp của B có hàm lượng khí CO cao hơn mức tiêu chuẩn, khi kết hợp vớihemoglobine dẫn đến hiện tượng thiếu máu não và góp phần hình thành các mảng xơ vữa độngmạch ở người hút Do vậy, có thể xem xét trường hợp này thuộc vào ngoại lệ liên quan đến bảo

vệ sức khoẻ con người theo Điểm b, Điều XX, GATT:

“Với bảo lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu

là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng các biện pháp:

b) Cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật;”

Và để được hưởng ngoại lệ chung theo Điều XX của GATT thì quốc gia A phải đáp ứngđược 02 điều kiện sau đây:

Trang 8

- Thứ nhất, quốc gia A phải chứng minh rằng việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu sản phẩmthuốc lá điếu xì gà của các doanh nghiệp đến từ B thuộc quy định tại Điểm b, Điều XX củaGATT và việc áp dụng ngoại lệ đó phải là thực sự “cần thiết” hay “liên quan” Sự “cần thiết”đòi hỏi phải đánh giá khả năng tồn tại và áp dụng hợp lý trên thực tế Tức là, việc quốc gia Aban hành lệnh cấm nhập khẩu sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của các doanh nghiệp đến từ B làbiện pháp mang tính tuân thủ quy định của GATT nhiều nhất và hạn chế tối đa sự mâu thuẫn vớiGATT Hay nói cách khác, việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu sản phẩm thuốc lá điếu xì gà củacác doanh nghiệp đến từ B là biện pháp tối ưu nhất hiện tại để bảo vệ sức khoẻ con người Biệnpháp “cần thiết” phải nằm ở cấp độ “không thể thiếu” dựa trên các yếu tố như tính hiệu quả củabiện pháp, tầm quan trọng của mục tiêu, khả năng hạn chế thương mại của biện pháp.

- Thứ hai, việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của các doanhnghiệp đến từ B đó phải đáp ứng các yêu cầu được nêu tại đoạn đầu của Điều XX GATT, tức làviệc ban hành lệnh cấm nhập khẩu sản phẩm thuốc lá điếu xì gà của các doanh nghiệp đến từ Bkhông nhằm tạo ra sự phân biệt đối xử bất hợp lý, độc đoán hay hạn chế trá hình thương mạiquốc tế

Khi quốc gia A chứng minh được rằng, việc mình ban hành lệnh cấm nhập khẩu sản phẩmthuốc lá điếu xì gà của các doanh nghiệp đến từ B là ngoại lệ của Điểm b, Điều XX, GATT thìhành vi của quốc gia A không bị xem là vi phạm nguyên tắc của WTO

Bài tập 2: J và B là hai quốc gia thành viên WTO, C đang đàm phán gia nhập WTO J là

một quốc gia xuất khẩu đồ điện tử hàng đầu thế giới Trong khi đó, B là một nước công nghệmới nằm tại châu Á – Thái Bình Dương; cũng là một thị trường tiêu thụ hàng điện tử lớn Hằngnăm kinh ngạch xuất khẩu hàng điện tử của J tới thị trường của B lên tới 750 triệu USD Trongnhững năm gần đây B bắt đầu phát triển quan hệ thương mại mật thiết với C Năm 2007, C và Bbắt đầu đàm phán ký kết hiệp định thương mại tự do song phương (CB – FTA) để xúc tiếnthương mại và đầu tư giữa hai nước Hai doanh nghiệp điện tử lớn của C và B là ASF vàTechnotronics đã tiến hành đàm phán hợp tác liên doanh hợp tác sản xuất hàng điện tử Họ đềnghị chính phủ hai nước C và B thiết lập chế độ ưu đãi thương mại đặc biệt đối với các linh kiệnđiện tử và đồ điện tử có xuất xứ từ C và B, đồng thời tạo cho họ những lợi thế cạnh tranh hơnsản phẩm của J vốn đã có chỗ đứng tại B trong nhiều thập niên qua Nếu được ưu đãi từ CB –FTA, ASF và Technotronics cam kết sẽ tăng đầu tư vào ngành sản xuất điện tử để hình thành

Trang 9

nên chuỗi sản xuất của khối; dự án này cũng sẽ thúc đẩy các ngành công nghệ phụ trợ và tạothêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động của hai nước.

Đoàn đàm phán của C và B đang cân nhắc áp dụng (i) cơ chế hạn ngạch đối với hàng điện tửnhập khẩu, đặc biệt là đối với sản phẩm của J trong 5 năm đầu của CB – FTA, (ii) áp dụng thuếnhập khẩu 0% cho hàng điện tử và linh kiện điện tử có xuất xứ từ các nước thuộc CB – FTA.Chính phủ J kịch liệt phản đối đề án này và chỉ ra rằng nếu áp dụng cơ chế trên B sẽ vi phạmĐiều I và Điều XI GATT 1994

Với tư cách là cố vấn pháp lý của chính phủ B, anh/chị hãy phân tích tình huống và giảiquyết các vấn đề sau:

1 B có thể đàm phán những điều kiện thương mại ưu đãi với C trong khuôn khổ CB – FTA

khi C chưa phải là thành viên của WTO không?

Căn cứ quy định tại Khoản 1, Điều I của GATT về Quy định chung về Nguyên tắc đối xử tốihuệ quốc:

“1 Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất cứ loại nào nhằm vào hay có liên hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc áp dụng phụ thu nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III,* mọi lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kỳ bên ký kết nào dành cho bất cứ một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước nào khác sẽ được áp dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên ký kết khác ngay lập tức và một cách không điều kiện”.

Theo quy định trên, mọi quyền miễn trừ được bất kỳ thành viên nào dành cho bất cứ một sảnphẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một quốc gia nào khác sẽ được áp dụng cho sảnphẩm tương tự có xuất xứ từ thành viên khác ngay lập tức và một cách không điều kiện cho cácthành viên còn lại của WTO

Quốc gia J và B đều là thành viên của WTO còn C vẫn chưa là thành viên của WTO nên các

ưu đã mà quốc gia B dành cho bên thứ ba (là quốc gia C) cũng sẽ được áp dụng cho quốc gia J(một bên ký kết của GATT) Quốc gia B áp dụng thuế nhập khẩu 0% cho hàng điện tử và linh

Trang 10

kiện điện tử có xuất xứ từ quốc gia C thì cũng phải áp dụng thuế nhập khẩu 0% cho hàng điện tử

và linh kiện điện tử có xuất xứ từ quốc gia J

Vì vậy, quốc gia B vẫn có thể đàm phán những điều kiện thương mại ưu đãi với C trongkhuôn khổ CB – FTA khi C chưa phải là thành viên của WTO nhưng cùng với đó, quốc gia Bcũng phải dành những điều kiện thương mại ưu đã này cho thành viên WTO khác là quốc gia J

để không bị xem là vi phạm nguyên tắc MFN

2 Việc áp thuế nhập khẩu 0% đối với hàng điện tử và linh kiện điện tử có xuất xứ từ các

nước thuộc CB – FTA và áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu xuất xứ từ J có vi phạm Điều I và Điều XI của GATT như J khẳng định không?

- Đối với việc áp thuế nhập khẩu 0% đối với hàng điện tử và linh kiện điện tử có xuất xứ từcác nước thuộc CB – FTA:

Như phân tích tại Mục 1, quy định tại Điều I của GATT ghi nhận rằng nếu thành viên WTOdành những ưu đãi thương mại cho bên thứ ba bất kỳ thì những ưu đãi thương mại đó cũng đượcdành cho các thành viên WTO khác Quốc gia J và quốc gia B đều là thành viên của WTO Bêncạnh đó, giữa quốc gia C và B không tồn tại một thiết chế thương mại khu vực nào và cũngkhông thuộc các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc MFN Do đó, nếu quốc gia B dành nhữngđiều kiện thương mại ưu đãi với quốc gia C mà quốc gia B không dành những điều kiện thươngmại ưu đãi này cho thành viên WTO khác là quốc gia J thì bị xem là vi phạm Điều I của GATT

về nguyên tắc đối xử tối huệ quốc

- Đối với việc áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu xuất xứ từ J:

Căn cứ quy định tại Khoản 1, Điều XI của GATT về Triệt tiêu chung các hạn chế địnhlượng:

“1 Không một sự cấm hay hạn chế nào khác ngoại trừ thuế quan và các khoản thu khác, dù mang hình thức hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu hay xuất khẩu hoặc các biện pháp khác sẽ được bất cứ một bên ký kết nào định ra hay duy trì nhằm vào việc nhập khẩu từ lãnh thổ của bất

kỳ bên ký kết nào hay nhằm vào việc xuất khẩu hay bán hàng để xuất khẩu đến lãnh thổ của bất

kỳ bên ký kết nào”.

Theo quy định trên, quốc gia thành viên WTO không được áp dụng hình thức hạn ngạchnhằm vào việc nhập khẩu từ lãnh thổ của quốc gia thành viên khác

Trang 11

Thành viên được áp dụng các biện pháp hạn ngạch khi việc áp dụng này thuộc vào một trongcác trường hợp ngoại lệ được nêu tại Khoản 2, Điều XI của GATT hoặc Điều XX, GATT.

Do đó, nếu quốc gia B không chứng minh được rằng biện pháp hạn ngạch mà mình áp dụngcho quốc gia J thuộc vào các trường hợp được WTO quy định thì việc áp dụng hạn ngạch đốivới hàng nhập khẩu xuất xứ từ J sẽ bị xem là vi phạm Điều XI của GATT

3 Nếu muốn thực hiện các ưu đãi cho doanh nghiệp điện tử của mình và của C trong

trường hợp này B có thể và cần cân nhắc những biện pháp thương mại nào?

- Đối với việc áp dụng biện pháp thuế quan: Như phân tích ở trên thì nếu quốc gia B muốnthực hiện các ưu đãi cho doanh nghiệp điện tử của C, quốc gia B cũng phải dành các ưu đãi nàycho các thành viên của WTO Do đó, nếu quốc gia B áp dụng thuế nhập khẩu 0% cho hàng điện

tử và linh kiện điện tử có xuất xứ từ quốc gia C thì cũng phải áp dụng thuế nhập khẩu 0% chohàng điện tử và linh kiện điện tử có xuất xứ từ quốc gia J và các thành viên khác của WTO

- Đối với việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan: Các biện pháp trên thực tế áp dụng sẽhiệu quả hơn so với biện pháp thuế quan Bởi lẽ, đây là các quy định do quốc gia B đặt ra trongmột khuôn khổ nhất định của WTO sẽ mang tính chủ động hơn so với thuế quan Mặt khác, cácbiện pháp phi thuế quan này mang tính trừu tượng hơn so với thuế quan (là một khoản thu) vìchúng thường tồn tại dưới dạng quy định nên việc áp dụng trên thực tế sẽ phức tạp hơn, tạo ramột hình thức phân biệt đối xử “trá hình” Một số biện pháp có thể áp dụng như:

+ Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu

+ Các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng

+ Các quy tắc xuất xứ

Bài tập 3: E là một quốc gia xuất khẩu lốp xe hơi hàng đầu trên thế giới B là một nước công

nghiệp mới nằm tại châu Mỹ La – tinh; cũng là một thị trường tiêu thụ lốp xe hơi lớn với hơn 50triệu người sử dụng xe hơi Một số doanh nghiệp của B đã hợp tác với LOPe, hãng sản xuất lốp

xe lớn hàng đầu của E, để xuất khẩu lốp xe cũ đã qua sử dụng để LOPe tái chế và sau đó táinhập khẩu các lốp xe này vào B để bán trên thị trường

Năm 2006 – 2008, do dịch bệnh sốt rét bùng phát tại nhiều địa phương, chính phủ của B bịđặt dưới áp lực phải có những biện pháp ngăn ngừa và phòng chống dịch bệnh này Qua một

Trang 12

nghiên cứu khoa học của Viện nghiên cứu bệnh nhiệt đới thì chính phủ được biết muỗi mangmầm bệnh sốt rét chủ yếu sinh sản ở các vùng nước đọng chứa trong các lốp xe phế thải Căn cứvào báo cáo này, chính phủ của nước B đã ra sắc lệnh cấm nhập khẩu lốp xe tái chế từ E Tuynhiên, B vẫn cho một số doanh nghiệp trong nước sản xuất và phân phối lốp xe tái chế vì chorằng công nghệ sản xuất lốp xe của họ an toàn và sản phẩm của họ ít có khả năng làm nguồnsinh sản của muỗi, không như công nghệ của LOPe Chính phủ B cũng sẽ phạt các doanh nghiệpnào lưu giữ, chuyên chở và phân phối lốp xe không được cấp phép Chính phủ B cho rằng biệnpháp nêu trên vừa đảm bảo nhu cầu kinh tế của đất nước vừa góp phần hạn chế được dịch bệnhsốt rét.

E và B đều là thành viên WTO từ năm 1995 E doạ sẽ kiện B ra WTO vì B đã vi phạm ĐiềuIII và Điều XI của GATT

1 Với tư cách là cố vấn pháp lý của chính phủ B, anh/chị hãy trả lời các câu hỏi sau, nêu

rõ lý do và cơ sở pháp lý:

(i) Lệnh cấm nhập khẩu và phân phối lốp xe tái chế của B có vi phạm nghĩa vụ thành viên WTO như E nhận định không?

Căn cứ quy định của Điểm b, Điều XX của GATT về Các ngoại lệ chung:

“Với bảo lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu

là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng các biện pháp:

b) cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật;”

Theo quy định trên, GATT ghi nhận trường hợp ngoại lệ là để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻcủa con người, động vật hay thực vật thì quốc gia được phép áp dụng các biện pháp trái vớinguyên tắc của WTO với điều kiện đáp ứng nội dung tại đoạn đầu của Điều XX

Năm 2006 – 2008, tại quốc gia B bùng phát dịch bệnh sốt rét tại nhiều địa phương Việnnghiên cứu bệnh nhiệt đới đã nghiên cứu và cho ra kết quả rằng biết muỗi mang mầm bệnh sốtrét chủ yếu sinh sản ở các vùng nước đọng chứa trong các lốp xe phế thải Căn cứ vào báo cáonày, chính phủ của nước B đã ra sắc lệnh cấm nhập khẩu lốp xe tái chế từ E Tuy nhiên, B vẫncho một số doanh nghiệp trong nước sản xuất và phân phối lốp xe tái chế vì cho rằng công nghệ

Trang 13

sản xuất lốp xe của họ an toàn và sản phẩm của họ ít có khả năng làm nguồn sinh sản của muỗi,không như công nghệ của LOPe Do đó, đây có thể được xem là một biện pháp cần thiết ápdụng để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật và thực vật theo ngoại lệ tạiĐiều XX của GATT Bên cạnh đó, việc nước đọng trong các lốp xe phế thải, từ đó dẫn đến bùngphát bệnh sốt rét và kỹ thuật của LOPe có khả năng làm gia tăng nguồn sinh sản của muỗi nên

đã ra lệnh cấm nhập khẩu đối với lốp xe của quốc gia E (LOPe) Do đó, có thể thấy có mối quan

hệ nhân quả giữa việc nếu nhập khẩu hàng hoá của LOPe có thể gây ra những thiệt hại cho quốcgia B (dịch bệnh sốt rét bùng phát)

Do đó, lệnh cấm nhập khẩu và phân phối lốp xe tái chế của B có thể không vi phạm nghĩa vụthành viên WTO với điều kiện quốc gia B không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xửđộc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế tráhình với thương mại quốc tế

(ii) Nếu B muốn vận dụng quy định của ngoại lệ chung về bảo vệ sức khoẻ con người của Điều XX, GATT 1994 để bảo vệ cho biện pháp mà nước này áp dụng thì phải đáp ứng những điều kiện gì?

Nếu B muốn vận dụng quy định của ngoại lệ chung về bảo vệ sức khoẻ con người của Điều

XX, GATT 1994 để bảo vệ cho biện pháp mà nước này áp dụng thì phải đáp ứng được 02 điềukiện sau đây:

- Thứ nhất, quốc gia B phải chứng minh rằng việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu và phânphối lốp xe tái chế của B đối với các doanh nghiệp từ E thuộc quy định tại Điểm b, Điều XX củaGATT và việc áp dụng ngoại lệ đó phải là thực sự “cần thiết” hay “liên quan” Sự “cần thiết”đòi hỏi phải đánh giá khả năng tồn tại và áp dụng hợp lý trên thực tế Tức là, việc quốc gia Bban hành lệnh cấm nhập khẩu và phân phối lốp xe tái chế đối với các doanh nghiệp từ E là biệnpháp mang tính tuân thủ quy định của GATT nhiều nhất và hạn chế tối đa sự mâu thuẫn vớiGATT Hay nói cách khác, việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu và phân phối lốp xe tái chế đốivới các doanh nghiệp từ E là biện pháp tối ưu nhất hiện tại để bảo vệ sức khoẻ con người Biệnpháp “cần thiết” phải nằm ở cấp độ “không thể thiếu” dựa trên các yếu tố như tính hiệu quả củabiện pháp, tầm quan trọng của mục tiêu, khả năng hạn chế thương mại của biện pháp

Trang 14

- Thứ hai, việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu và phân phối lốp xe tái chế đối với các doanhnghiệp từ E đó phải đáp ứng các yêu cầu được nêu tại đoạn đầu của Điều XX GATT, tức là việcban hành lệnh cấm nhập khẩu và phân phối lốp xe tái chế đối với các doanh nghiệp từ E khôngnhằm tạo ra sự phân biệt đối xử bất hợp lý, độc đoán hay hạn chế trá hình thương mại quốc tế.

2 Với tư cách là cố vấn pháp lý của chính phủ E, anh/chị hãy tư vấn nếu khởi kiện B thì E

cần chứng minh những vấn đề gì? Đâu sẽ là điểm mạnh trong đơn kiện của E?

Để khởi kiện quốc gia B, quốc gia E cần chứng minh những nội dung sau:

- Công nghệ của LOPe ít hoặc hạn chế khả năng làm phát sinh nguồn sinh sản của muỗi, làmbùng phát dịch bệnh sốt rét

- Quốc gia B chỉ dựa vào nghiên cứu của Viện nghiên cứu bệnh nhiệt đới mà đã đưa ra kếtluận và ban hành lệnh cấm nhập khẩu đối với hàng hoá của E là chưa phù hợp và phiến diện.Quốc gia B nên lựa chọn thêm ít nhất là 02 chủ thể nữa để tiến hành nghiên cứu Mặt khác, bệnhsốt rét có thể gây ra bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn như thời tiết, khu vực, môi trường sống hoặcngười dân tại quốc gia B thực hiện không đúng cách các biện pháp phòng chống,… chứ khôngchỉ vì lý do nhập khẩu hàng hoá từ doanh nghiệp của E

- Chính phủ của nước B đã ra sắc lệnh cấm nhập khẩu lốp xe tái chế từ E nhưng B vẫn chomột số doanh nghiệp trong nước sản xuất và phân phối lốp xe tái chế vì cho rằng công nghệ sảnxuất lốp xe của họ an toàn và sản phẩm của họ ít có khả năng làm nguồn sinh sản của muỗi,không như công nghệ của LOPe Có thể thấy, quốc gia B cấm nhập khẩu lốp xe tái chế từ Enhưng vẫn cho doanh nghiệp trong nước sản xuất nó, nên quốc gia E có thể dựa vào điểm này

để chứng minh rằng quốc gia B đã tạo ra một sự phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý nhằmbảo hộ hàng hoá nội địa, tạo ra một sự hạn chế thương mại trá hình Do đó, việc ban hành lệnhcấm nhập khẩu của quốc gia B không đáp ứng đủ điều kiện để được xem là ngoại lệ tại Điều XXcủa GATT, cụ thể là không đáp ứng được đoạn mở đầu tại Điều XX của GATT Đây là điểmmạnh trong đơn kiện của E

Bài tập 4: A là một nước đang phát triển ở châu Á, đồng thời là thành viên của WTO Kể từ

năm 1994, chính phủ A tiến hành phát triển ngành công nghiệp sản xuất xe hơi quốc gia Chínhphủ cam kết hỗ trợ và tạo những điều kiện thuận lợi nhất để tập đoàn xe hơi quốc gia A-Motors,sản xuất ra chiếc xe hơi nội địa đầu tiên có tên là “Premier” Tháng 4/1995, A-Motors liên

Trang 15

doanh với Hankuk Motors (tập đoàn xe hơi lớn của H, một nước thành viên khác của WTO) đểnhập khẩu động cơ xe, và các linh kiện khác của dòng xe “Paxon” nổi tiếng của Hankuk Motors

để sản xuất xe Premier A-Motors sẽ tiếp thu công nghệ của Hankuk Motors và dự tính sẽ sảnxuất độc lập Premier trong vòng 10 năm

Tháng 6/1995, A áp dụng chính sách phát triển công nghiệp xe hơi quốc gia với các điểmchính như sau: (1) giảm thuế nhập khẩu đối với các bộ phận và linh kiện xe hơi, tuỳ theo tỷ lệhàm lượng nội địa của xe hơi thành phẩm có sử dụng các bộ phận và linh kiện này; (2) giảmthuế nhập khẩu đối với các bộ phận được sử dụng để sản xuất các linh kiện và bộ phận của xehơi, tuỳ theo tỷ lệ hàm lượng nội địa của linh kiện và bộ phận hoàn chỉnh và (3) giảm thuế tiêuthụ đặc biệt đối với xe hơi có hàm lượng nội địa nhất định (xe hơi có tỷ lệ linh kiện được sảnxuất trong nước chiếm trên 30% được miễn thuế này) Được biết cho tới 12/1995, A mới chỉ cấpgiấy phép sản xuất xe hơi cho liên doanh Hankuk Motors và A-Motors

Các hãng sản xuất xe hơi của J, E và U rất bất bình về chính sách này của A, vì cho rằng nógây khó khăn cho chiến lược phân phối xe hơi xuất khẩu của họ tại A Họ cho rằng chính sáchnày vi phạm các nghĩa vụ của A tại WTO

Chính phủ A cho rằng những đòi hỏi của các hãng xe hơi nước ngoài là bất hợp lý vì tronglịch sử chính phủ nước họ cũng đã có những chính sách tương tự khi xây dựng các ngành côngnghiệp non trẻ của mình, đặc biệt là ngành xe hơi – một ngành công nghiệp quan trọng của mỗiquốc gia Bản thân A-Motors cũng có cam kết một lộ trình để tự sản xuất xe Premier

Ngày 10/01/1996, J, E và U khởi kiện A tại WTO

Anh/chị hãy phân tích các vấn đề sau, nêu rõ cơ sở pháp lý:

1 Phân tích cơ sở pháp lý để J, E và U khởi kiện A tại WTO.

Xét những nội dung của chính sách mà quốc gia A ban hành:

- (1) Giảm thuế nhập khẩu đối với các bộ phận và linh kiện xe hơi, tuỳ theo tỷ lệ hàm lượngnội địa của xe hơi thành phẩm có sử dụng các bộ phận và linh kiện này:

Quốc gia A thực hiện việc giảm thuế nhập khẩu đối với các bộ phận và linh kiện xe hơi thì sẽtạo điều kiện hơn cho các doanh nghiệp trong nước có cơ hội mua các bộ phận và linh kiện đểsản xuất xe hơi nội địa với chi phí thấp hơn và cùng với đó giá bán của xe hơi nội địa cũng sẽ

Trang 16

thấp hơn so với xe nhập khẩu từ quốc gia khác Từ đó ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ hàng hoá

và có thể được xem là một sự bảo hộ với xe hơi nội địa

- (2) giảm thuế nhập khẩu đối với các bộ phận được sử dụng để sản xuất các linh kiện và bộphận của xe hơi, tuỳ theo tỷ lệ hàm lượng nội địa của linh kiện và bộ phận hoàn chỉnh:

Tương tự như nội dung (1), quốc gia A thực hiện việc giảm thuế nhập khẩu đối các bộ phậnđược sử dụng để sản xuất các linh kiện và bộ phận của xe hơi thì sẽ tạo điều kiện hơn cho cácdoanh nghiệp trong nước có cơ hội mua các bộ phận được sử dụng để sản xuất các linh kiện và

bộ phận của xe hơi để sản xuất xe hơi nội địa với chi phí thấp hơn và cùng với đó giá bán của xehơi nội địa cũng sẽ thấp hơn so với xe nhập khẩu từ quốc gia khác Từ đó ảnh hưởng đến lượngtiêu thụ hàng hoá và có thể được xem là một sự bảo hộ với xe hơi nội địa

- (3) giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe hơi có hàm lượng nội địa nhất định (xe hơi có tỷ

lệ linh kiện được sản xuất trong nước chiếm trên 30% được miễn thuế này):

Việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe hơi có hàm lượng nội địa nhất định là một hìnhthức thể hiện khá rõ ràng trong việc bảo hộ hàng hoá nội địa Nếu thuế tiêu thụ của xe hơi cóhàm lượng nội địa được giảm thì ảnh hưởng đến giá thành của xe hơi nội địa (giảm), khiến xehơi nhập khẩu khó khăn hơn trong việc cạnh tranh với xe hơi nội địa trên thị trường nội địa.Căn cứ theo Khoản 1, Điều III của GATT về nguyên tắc đối xử quốc gia:

“1 Các bên ký kết thừa nhận rằng các khoản thuế và khoản thu nội địa, cũng như luật, hay quy tắc hay yêu cầu tác động tới việc bán hàng, chào bán, vận tải, phân phối hay sử dụng sản phẩm trong nội địa cùng các quy tắc định lượng trong nước yêu cầu có pha trộn, chế biến hay

sử dụng sản phẩm với một khối lượng tỷ trọng xác định, không được áp dụng với các sản phẩm nội địa hoặc nhập khẩu với kết cục là bảo hộ hàng nội địa”.

Từ những phân tích trên, chính sách mà quốc gia A ban hành, cụ thể là khoản thuế, khoảnthu nội địa được áp dụng với kết cục là bảo hộ hàng hoá nội địa Do đó, quốc gia A có thể viphạm nguyên tắc đối xử quốc gia theo Điều III của GATT và các quốc gia J, E, U có thể khởikiện A về nội dung này

2 Tư vấn lập luận hiện nay của A có phù hợp không và nên có chiến lược, lập luận thế nào trong vụ kiện này.

Trang 17

- Lập luận hiện nay của A không phù hợp.

Chính phủ A cho rằng những đòi hỏi của các hãng xe hơi nước ngoài là bất hợp lý vì tronglịch sử chính phủ nước họ cũng đã có những chính sách tương tự Cách giải thích này khônghợp lý Bởi lẽ, những chính sách mà quốc gia A áp dụng đều do quốc gia A tự ban hành, mangtính đơn phương và các chỉ là các quốc gia khác không có khiếu kiện Tuy nhiên, việc khôngkhiếu kiện của các quốc gia khác không đồng nghĩa với việc áp dụng các chính sách đó là phùhợp Hơn nữa, việc quốc gia A áp dụng các chính sách như vậy từ trước đến giờ cũng khôngđược các quốc gia khác công nhận như một tập quán hay thông lệ nào

Mặt khác, có thể trước đó, khi đặt ra các chính sách thì quốc gia A vẫn chưa là thành viêncủa WTO và hiện nay, quốc gia A đã là thành viên của WTO nên quốc gia A cần tuân thủ theocác nguyên tắc của WTO Bên cạnh đó, việc quốc gia A áp dụng các chính sách không thuộccác trường hợp ngoại lệ theo quy định của GATT

Do đó, lập luận của A cho rằng trong lịch sử chính phủ nước họ cũng có những chính sáchtương tự nên hiện tại A cũng áp dụng như vậy là không phù hợp theo luật của WTO

- Tư vấn lập luận trong vụ kiện này:

Đối với chính sách giảm thuế nhập khẩu đối với các bộ phận và linh kiện xe hơi, các bộ phậnđược sử dụng để sản xuất các linh kiện đó: Việc quốc gia A giảm thuế nhập khẩu đối với các bộphận và linh kiện xe hơi là để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài có thể thuận lợihơn trong việc xuất khẩu các bộ phận và linh kiện xe hơi vào thị trường nội địa của A Đây đượcxem là hành vi tạo điều kiện cho thương mại hàng hoá phát triển, thúc đẩy thương mại giữa cácquốc gia Với việc giảm thuế nhập khẩu thì các doanh nghiệp nước ngoài có thể giảm được mộtphần chi phí cho trong việc xuất khẩu hàng hoá vào thị trường A và có sức cạnh tranh đượctrong thị trường nội địa

Đối với chính sách giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe hơi có hàm lượng nội địa nhất định(xe hơi có tỷ lệ linh kiện được sản xuất trong nước chiếm trên 30% được miễn thuế này): Quốcgia A có thể chứng minh rằng đây là một trường hợp ngoại lệ liên quan đến các khoản trợ cấpchỉ dành cho các nhà sản xuất nội địa theo Điểm b, Khoản 8, Điều III của GATT Lưu ý rằng,khoản trợ cấp phải được cung cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước thông qua việc chính phủ Amua sản phẩm nội địa (xe hơi do doanh nghiệp của A sản xuất)

Trang 18

3 A có thể thực hiện những biện pháp nào để hỗ trợ nền công nghiệp xe hơi phù hợp theo quy định của WTO.

Doanh nghiệp A có thể thực hiện các biện pháp để hỗ trợ nền công nghiệp xe hơi như sau:

- Đối với việc áp dụng biện pháp thuế quan: Như phân tích ở trên thì việc chính phủ A ápdụng việc giảm thuế đối với các bộ phận và linh kiện xe hơi sẽ có thể tạo ra một sự bảo hộ hànghoá nội địa (xe hơi thành phẩm) khiến các doanh nghiệp nước ngoài khó khăn trong việc cạnhtranh trong thị trường nội địa của A Tuy nhiên, nếu áp dụng biện pháp thuế quan thì quốc gia Aphải cân nhắc về mức thuế và đối tượng được phép áp dụng để không tạo ra sự phân biệt đối xửvới hàng hoá nước ngoài vì về bản chất, thuế nội địa vẫn là do quốc gia quyết định nhưng cũngphải dựa trên các quy tắc của WTO, không được tạo ra một sự bảo hộ hàng hoá nội địa Bêncạnh đó, nếu quốc gia A xét thấy ngành sản xuất ô tô là ngành sản xuất có ảnh hưởng lớn đốivới nền kinh tế của A và cần có một sự nhượng bộ nhất định thì quốc gia A có thể đệ trình việcmiễn trừ nghĩa vụ tuân thủ quy tắc NT đối với ngành sản xuất ô tô tại Hội nghị Bộ trưởng (theoKhoản 3 và 4, Điều 9, Hiệp định Marrakesh)

- Đối với việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan: Các biện pháp trên thực tế áp dụng sẽhiệu quả hơn so với biện pháp thuế quan Bởi lẽ, đây là các quy định do quốc gia A đặt ra trongmột khuôn khổ nhất định của WTO sẽ mang tính chủ động hơn so với thuế quan Mặt khác, cácbiện pháp phi thuế quan này mang tính trừu tượng hơn so với thuế quan (là một khoản thu) vìchúng thường tồn tại dưới dạng quy định nên việc áp dụng trên thực tế sẽ phức tạp hơn, tạo ramột hình thức phân biệt đối xử “trá hình” Một số biện pháp có thể áp dụng như:

+ Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu đối với xe ô tô của nước ngoài

+ Các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng

+ Các quy tắc xuất xứ

- Bên cạnh đó, với tư cách là một quốc gia đang phát triển thì theo quy định của WTO, quốcgia A được quyền hưởng các trợ giúp về kỹ thuật để tiết kiệm chi phí về kỹ thuật

Bài tập 5: A là một nước phát triển, thành viên của WTO Các doanh nghiệp sản xuất hàng

điện tử của A đóng góp khoảng 10% GDP của quốc gia này Năm 2013 – 2014, họ chịu sự cạnhtranh khốc liệt từ hàng nhập khẩu từ B và C (cũng là thành viên WTO) Thị phần của các sản

Ngày đăng: 14/08/2023, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w