1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam

233 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách Tiền Tệ Với Phân Phối Thu Nhập Khu Vực Hộ Gia Đình Việt Nam: Bằng Chứng Từ Mô Hình DSGE
Tác giả Triệu Kim Lanh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Đức Trung
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 233
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH TRIỆU KIM LANH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI PHÂN PHỐI THU NHẬP KHU VỰC HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM: BẰNG CHỨNG TỪ MÔ HÌNH DSGE TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng MÃ SỐ: 9 34 02 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN ĐỨC TRUNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2023 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Nghiên cứu về tác động phân phối của CSTT đối với bất bình đẳng thu nhập được quan tâm nhiều hơn từ sau khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu (giai đoạn 2007 2009). Trong khi đang còn nhiều tranh cãi ở các nền kinh tế phát triển liên quan đến mức độ tác động của nó thì tại các nền kinh tế mới nổi, vấn đề này cũng ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Ở những thị trường tài chính chưa hoàn thiện cùng với việc không được tiếp cận đầy đủ với các tổ chức tài chính chính thức làm hạn chế khả năng của các hộ gia đình để bảo đảm chống lại trước các cú sốc và làm phóng đại hơn tác động phân bổ của các biến động kinh tế vĩ mô tổng thể. Về mặt lý thuyết, CSTT mở rộng có thể có những tác động không rõ ràng đối với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình biểu hiện thông qua chỉ tiêu bất bình đẳng thu nhập như: (i) làm gia tăng bất bình đẳng (làm tăng giá tài sản, điều này có lợi cho hộ gia đình thu nhập cao nắm giữ tài sản tài chính lớn hơn; làm gia tăng lạm phát, điều này ảnh hưởng đến hộ gia đình thu nhập thấp nắm giữ tài sản tính lỏng nhiều hơn), (ii) làm giảm bất bình đẳng (có lợi cho những người đi vay và bất lợi đối với những người gửi tiết kiệm; hoạt động kinh tế tác động nhiều hơn đến thu nhập của những người lao động ở nhóm thu nhập thấp nhất của phân phối). Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện theo từng quốc gia và từng khu vực trên thế giới trong thời gian vừa qua để tìm kiếm câu trả lời thống nhất cho các vấn đề nêu trên. Ở các nước có nền kinh tế phát triển, các nghiên cứu cho các kết quả không đồng nhất khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa CSTT với thu nhập, phân phối lại của cải và bất bình đẳng giàu nghèo, như nghiên cứu Alves và Silva (2021), Hohberger và cộng sự (2020), Ampudia và cộng sự (2018), Guerello (2018) và Lenza và Slacalek (2018) với nền kinh tế Châu Âu; Albert và GómezFernández (2021), Albert và cộng sự (2020), Doepke và cộng sự (2019) và Davtyan (2017) với nền kinh tế Mỹ; Mumtaz và Theophilopoulou (2020) với nền kinh tế Anh; Israel và Latsos (2020) và Lee (2020) với nền kinh tế Nhật Bản; Kuncl và Ueberfeldt (2021) với nền kinh tế Canada; Zhang và cộng sự (2021) với nền kinh tế Trung Quốc. Trong đó, Guerello (2018); Hohberger và cộng sự (2020) và Israel và Latsos (2020) đồng thời nghiên cứu CSTT truyền thống và phi truyền thống; Lenza và Slacalek (2018) và Lee (2020) đánh giá tác động của nới lỏng định lượng đến phân phối thu nhập. Trong phạm vi các nước khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu của Punzi (2020) về tác động phân phối của CSTT ở các nền kinh tế ASEAN cho kết quả tương tự như Guerello (2018), Davtyan (2017). Cụ thể, cú sốc CSTT mở rộng có xu hướng làm giảm bất bình đẳng thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Tại Việt Nam, nghiên cứu về tác động phân phối của CSTT đến bất bình đẳng thu nhập được phát triển gần đây với nghiên cứu của Tran Huu Tuyen và cộng sự (2020); Vũ Ngọc Hương và cộng sự (2019) với kết quả tương tự như Punzi (2020). Ngày 0882018 Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được phê duyệt bởi Thủ tướng chính phủ trong Quyết định số 986QĐTTg, theo đó một trong những nhiệm vụ, giải pháp được đặt ra là đổi mới “Khuôn khổ chính sách tiền tệ hướng đến mục tiêu ưu tiên cao nhất là kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững; tăng tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tiền tệ. Điều hành chính sách tiền tệ chuyển dần từ điều hành theo khối lượng tiền sang chủ yếu điều hành theo giá; sử dụng công cụ gián tiếp, tiến tới dỡ bỏ dần các biện pháp hành chính về lãi suất khi điều kiện cho phép; tiếp tục điều hành nghiệp vụ thị trường mở theo hướng là công cụ chủ yếu điều tiết vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, nhằm đạt được mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ”. Cùng với Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng, ngày 01022019 Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát đã được ban hành kèm theo Quyết định số 146QĐTTg theo đó khu vực kinh tế chưa được quan sát sẽ được tiến hành thống kê bao gồm 05 nhóm: (i) Hoạt động kinh tế ngầm, (ii) Hoạt động kinh tế bất hợp pháp, (iii) Hoạt động kinh tế phi chính thức chưa được quan sát, (iv) hoạt động kinh tế tự sản, tự tiêu của hộ gia đình và (v) Hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu thống kê (Triệu Kim Lanh cộng sự, 2021). Ngày 22012020 Thủ tướng phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, nhằm đạt được mục tiêu “Mọi người dân và doanh nghiệp đều được tiếp cận và sử dụng an toàn, thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp, với chi phí hợp lý, do các tổ chức được cấp phép cung ứng một cách có trách nhiệm và bền vững”. Với các Chiến lược trên, khu vực hộ gia đình ngày càng được quan tâm xây dựng phát triển nhiều hơn trong các chương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước, vấn đề đặt ra cho xu hướng điều hành CSTT trong tương lai là, bên cạnh mục tiêu cuối cùng theo Luật NHNN năm 2010, chúng ta có thể đặt mục tiêu hướng tới khu vực hộ gia đình hay không, ví dụ như mục tiêu giảm bất bình đẳng thu nhập hộ gia đình. Khi phân tích tương quan sự biến động trong điều hành CSTT với diễn biến thu nhập, chi tiêu hộ gia đình và bất bình đẳng thu nhập, từ số liệu thực tiễn luận án nhận thấy các giai đoạn NHNN thực thi CSTT (thông qua tănggiảm công cụ lãi suất và các biện pháp khác phối hợp) có làm cho tiêu dùng hộ gia đình bị giảmtăng trong ngắn hạn và bất bình đẳng thu nhập hộ gia đình có sự thay đổi. Tuy nhiên, khai thác ảnh hưởng của CSTT đến khu vực hộ gia đình đối với các nghiên cứu trong nước còn chưa nhiều, đặc biệt là các nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng mô hình DSGE, chưa kết hợp với phân tích tổng quan về thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng thu nhập qua thông qua Kết quả Khảo sát mức sống dân cư. Nhằm mục tiêu nghiên cứu tác động của CSTT đến kết quả phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình nhằm hàm ý chính sách hướng tới giảm bất bình đẳng thu nhập. Đây cũng chính là động lực quan trọng thúc đẩy luận án thực hiện nghiên cứu này. Khác với các nghiên cứu trước đây về chủ đề này đã thực hiện tại Việt Nam, luận án đề xuất mô hình DSGE với 06 phương trình chính, phù hợp cho nền kinh tế nhỏ và mở của Việt Nam, bổ sung phương trình hàm cung tiền và phương trình hàm tiêu dùng nhằm đo lường phản ứng khu vực hộ gia đình đối với các cú sốc CSTT phù hợp với thực tiễn điều hành CSTT của NHNN Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu sẽ thực nghiệm cùng bộ dữ liệu với mô hình VAR bổ sung thêm hệ số Gini, chỉ số bất ổn thương mại thế giới (WTUI) và chỉ số bất ổn thế giới (WUI), đo lường phản ứng hộ gia đình thông qua phân phối thu nhập có tính đến yếu tố bất ổn vĩ mô thế giới. Luận án kỳ vọng có thể đưa ra các ước lượng cụ thể và khoa học về hiệu quả của CSTT đến khu vực hộ gia đình và phân phối thu nhập tại Việt Nam. Sau cùng, luận án cũng có một đóng góp nhỏ khác là đưa ra dự báo về tác động của CSTT đến lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2022 2025 trên cơ sở kết quả ước lượng mô hình DSGE luận án đề xuất. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1. Mục tiêu tổng quát Luận án tập trung đánh giá CSTT tác động đến kết quả phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 1996 2021 thông qua thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng thu nhập từ đó đưa ra những bằng chứng khoa học về lý thuyết và thực nghiệm nhằm hàm ý điều hành CSTT hướng tới giảm bất bình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể Đánh giá diễn biến điều hành CSTT của NHNN Việt Nam cùng với tổng quan về thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng thu nhập giai đoạn 1996 2021. Đánh giá tác động của CSTT với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam thông qua chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập giai đoạn 1996 2021. Hàm ý chính sách và khuyến nghị về điều hành CSTT với phân phối thu nhập hộ gia đình tại Việt Nam. 1.3. Câu hỏi nghiên cứu Diễn biến điều hành CSTT của NHNN Việt Nam cùng với tổng quan về thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình giai đoạn 1996 2021 như thế nào? Phản ứng của khu vực hộ gia đình đối với cú sốc chính sách tiền tệ như thế nào thông qua chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập giai đoạn 1996 2021? Hàm ý chính sách cho vấn đề điều hành chính sách tiền tệ hướng tới giảm bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam là gì? 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là CSTT của NHNN Việt Nam và phân phối thu nhập của khu vực hộ gia đình Việt Nam. 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu về tác động của CSTT đến kết quả phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình tại Việt Nam. Phạm vi thời gian: về đánh giá tổng quan: đề tài đánh giá hoạt động điều hành CSTT của NHNN Việt Nam từ năm 1996 đến 2021, để có bức tranh tổng quan về công tác điều hành CSTT của NHNN trong giai đoạn này, kết hợp phân tích diễn biến thu nhập, chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình trong cùng giai đoạn nghiên cứu. về thực nghiệm: đề tài nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn 1996 2021 để lượng hoá các tác động vĩ mô mà CSTT mang lại đối với khu vực hộ gia đình thông qua phân tích cú sốc CSTT lên chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập. 1.5. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu cụ thể thứ nhất, luận án tổng hợp những báo cáo về điều hành CSTT của NHNN, các báo cáo có liên quan đến khu vực hộ gia đình cùng thời kỳ và kết quả khảo sát mức sống dân cư (VHLSS) từ Tổng cục Thống kê (GSO) và Ngân hàng Thế giới (WB) để từ đó tiến hành phân tích các số liệu báo cáo, đưa ra những đánh giá một cách tổng thể về diễn biến điều hành CSTT và thu nhập, chi tiêu, bất bình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình trong giai đoạn 1996 2021. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu cụ thể thứ hai, luận án thu thập dữ liệu các biến trong giai đoạn 1996 2021 từ các nguồn đáng tin cậy trong nước và quốc tế như NHNN (SBV), Tổng cục Thống kê (GSO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Trung tâm hội nhập khu vực Châu Á Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asia Regional Integration Center ARIC, ADB), ST. Louis FED, Cơ sở dữ liệu về bất bình đẳng thu nhập thế giới được chuẩn hóa (SWIID), Cơ sở dữ liệu về bất ổn vĩ mô thế giới (WUI) và thực nghiệm mô hình kinh tế lượng (mô hình DSGE và mô hình VAR) để lượng hóa tác động của CSTT đến phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình tại Việt Nam thông qua phân tích cú sốc CSTT đến chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập từ đó đưa ra được kết luận cho cả tổng thể bài nghiên cứu, làm cơ sở để khuyến nghị, hàm ý chính sách cho mục tiêu nghiên cứu thứ ba. Đặc biệt, luận án đề xuất đến NHNN Việt Nam mô hình DSGE phù hợp cho nền kinh tế nhỏ mở của Việt Nam trên cơ sở kế thừa từ mô hình DSGE đã được xây dựng dành cho NHNN và phát triển thêm phương trình liên quan đến hộ gia đình góp phần nâng cao khả năng phân tích, dự báo của NHNN trong mảng này. 1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Đề tài “Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam: Bằng chứng từ mô hình DSGE” có ý nghĩa về mặt khoa học, về mặt thực tiễn cũng như về mặt chính sách. Xét trên góc độ khoa học, nghiên cứu về tác động của CSTT đối với khu vực hộ gia đình và phân phối thu nhập chưa được khai thác nhiều tại Việt Nam, đặc biệt là việc ứng dụng mô hình DSGE trong việc đánh giá tác động chính sách đến khu vực hộ gia đình, đề tài luận án sẽ cung cấp các bằng chứng thực nghiệm cho thấy mức độ tác động của chính sách tiền tệ đến khu vực hộ gia đình Việt Nam tham khảo từ mô hình DSGE của các NHTW trên thế giới có hiệu chỉnh phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội và điều hành CSTT tại Việt Nam, trong khi các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của CSTT tại Việt Nam liên quan đến khu vực hộ gia đình được khai thác dựa trên mô hình DSGE còn khá mới và phức tạp, luận án đề xuất mô hình DSGE với 06 phương trình chính phù hợp nền kinh tế nhỏ mở Việt Nam trong đó có phương trình vi mô về khu vực hộ gia đình và luận án tiến hành thực nghiệm trên mô hình VAR từ đó đưa ra kết luận tổng thể các phát hiện về mức độ tác động của điều hành chính sách đến khu vực hộ gia đình và phân phối thu nhập. Từ góc độ chính sách, NHNN Việt Nam rất cần những thông tin phản biện từ phía các nhà khoa học trong việc đo lường mức độ tác động của chính sách, độ trễ của nó đối với thực tiễn, từ đó sẽ có nhiều thông tin đa chiều đóng góp định hướng tốt hơn cho người làm chính sách trong công tác dự báo và ra quyết định tiếp theo. Ngoài ra, đề tài “Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam: Bằng chứng từ mô hình DSGE” còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh khu vực hộ gia đình là đối tượng ngày càng được quan tâm nhiều hơn trong điều hành chính sách vĩ mô, kết quả của luận án cho thấy khu vực hộ gia đình có phản ứng trước tác động của CSTT và là cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý trong việc đánh giá, dự báo và hoạch định chính sách vĩ mô trong tương lai. Trong khi các nghiên cứu thực nghiệm về khu vực hộ gia đình ở Việt Nam liên quan đến tác động của chính sách vĩ mô của nhà nước nói chung còn chưa nhiều, đề tài sẽ đóng góp thêm một bằng chứng khoa học có giá trị trong việc nghiên cứu về phân phối thu nhập của khu vực hộ gia đình và tác động của CSTT đến khu vực này tại Việt Nam. 1.7. Thiết kế nghiên cứu 1.8. Kết cấu của luận án Luận án được trình bày gồm có 5 chương, với nội dung chính như sau: Chương 1. Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2. Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ, phân phối thu nhập và mô hình nghiên cứu. Chương 3. Phương pháp nghiên cứu. Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5. Kết luận, hàm ý chính sách. 1.9. Tóm tắt chương 1 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, PHÂN PHỐI THU NHẬP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ truyền thống 2.1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ truyền thống 2.1.2. Các công cụ của chính sách tiền tệ truyền thống 2.1.3. Truyền dẫn của chính sách tiền tệ truyền thống 2.2. Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ phi truyền thống 2.2.1. Khái niệm chính sách tiền tệ phi truyền thống 2.2.2. Các công cụ của chính sách tiền tệ phi truyền thống 2.2.2.1. Công cụ cung cấp thanh khoản 2.2.2.2. Công cụ mua tài sản quy mô lớn 2.2.2.3. Công cụ định hướng chính sách 2.2.2.4. Công cụ lãi suất âm 2.2.2.5. Một số công cụ khác 2.2.3. Truyền dẫn của chính sách tiền tệ phi truyền thống 2.3. Cơ sở lý thuyết về phân phối thu nhập 2.3.1. Các thước đo bất bình đẳng trong phân phối thu nhập 2.3.1.1. Đường cong Lorenz 2.3.1.2. Hệ số Gini 2.3.2. Lý thuyết về phân phối thu nhập 2.4. Tác động của chính sách tiền tệ đến phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến thu nhập và phân phối của cải theo nhiều cách khác nhau. Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến hộ gia đình hoặc cá nhân thông qua ba tác động chính: tác động thu nhập (income effect), tác động của cải (wealth effect), tác động thay thế (substitution effect). Tổng các tác động phân bổ của chính sách tiền tệ được xác định bởi các kênh truyền dẫn khác nhau mà chính sách tiền tệ có thể có đối với bất bình đẳng thu nhập, phân loại tổng các tác động phân bổ thành năm kênh cụ thể như sau: kênh thành phần thu nhập (Income Composition Channel), kênh phân khúc tài chính (Financial Segmentation Channel), kênh danh mục đầu tư (Portfolio Channel), kênh phân phối lại tiết kiệm (Savings Redistribution Channel), kênh không đồng nhất thu nhập (Earnings Heterogeneity Channel). Nakajima (2015) tóm tắt năm kênh của chính sách tiền tệ thành hai kênh phân phối chính: kênh lạm phát và kênh thu nhập. 2.5. Các cơ sở lý thuyết về mô hình nghiên cứu 2.5.1. Mô hình cân bằng tổng quát theo Lý thuyết chu kỳ kinh doanh 2.5.2. Mô hình cân bằng tổng quát theo Lý thuyết Tân cổ điển 2.5.3. Mô hình tự hồi quy theo véc tơ 2.6. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan về chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập hộ gia đình và mô hình DSGE áp dụng tại Việt Nam 2.6.1. Các nghiên cứu nước ngoài 2.6.2. Các nghiên cứu trong nước 2.6.3. Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước và khoảng trống nghiên cứu Từ các vấn đề được tổng hợp, luận án xác định khoảng trống trong các nghiên cứu trước và đề xuất nội dung nghiên cứu của luận án như sau: Luận án tiến hành phân tích tổng quan về điều hành CSTT tại Việt Nam giai đoạn 1996 2021 cùng với phân tích thực trạng thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng khu vực hộ gia đình thông qua Kết quả điều tra mức sống dân cư (VHLSS), từ đó cho thấy diễn biến của khu vực này trong cùng thời kỳ của điều hành của CSTT. Luận án tiến hành thực nghiệm về tác động của CSTT đến kết quả phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình thông qua mô hình DSGE và mô hình VAR nhằm lượng hoá các cú sốc tác động. Mô hình DSGE là một trong những mô hình khá phức tạp nhưng mang tính bao quát và đang bắt đầu được khai thác nhiều hơn trong các nghiên cứu tại Việt Nam, đây là mô hình phổ biến được các NHTW trên thế giới sử dụng trong phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô và là mô hình thích hợp với các nghiên cứu liên quan đến kết hợp giữa các biến số vĩ mô và vi mô. Kết quả nghiên cứu từ 02 mô hình định lượng cho thấy được mức độ tác động của CSTT đối với chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập, từ đó đánh giá về mức độ tác động của CSTT của NHNN Việt Nam đối với khu vực hộ gia đình, đóng góp bằng chứng thực nghiệm cho các hàm ý chính sách và khuyến nghị. Các phương trình được đề xuất trong mô hình DSGE và mô hình VAR của luận án còn là đóng góp về mặt cơ sở lý thuyết và thực nghiệm cho quá trình nghiên cứu chính sách tại Việt Nam 2.7. Tóm tắt chương 2 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Mô hình DSGE đề xuất Trong phạm vi luận án, mô hình DSGE được đề xuất trên cơ sở kế thừa các phương trình từ mô hình DSGE được xây dựng bởi Vụ Dự báo Thống kê NHNN Việt Nam có sự tham vấn của các chuyên gia IMF và JICA Nhật Bản phù hợp cho nền kinh tế nhỏ và mở của Việt Nam nhằm ước lượng các cú sốc mà mô hình mang lại từ đó đánh giá tác động đến tổng cầu của nền kinh tế. Ngoài ra, luận án bổ sung thêm mô hình cung tiền (M2) được tham khảo từ mô hình DSGE nghiên cứu cho NHNN Việt Nam thuộc đề tài cấp ngành của nhóm nghiên cứu Nguyễn Đức Trung cộng sự (2019), phương trình về cung ứng tiền (M2) là một trong các phương trình cơ bản bên cạnh phương trình xác định quan hệ lãi suất, tỷ giá để phù hợp hơn với thực tế điều hành chính sách của NHNN . Cuối cùng, mô hình DSGE của luận án đề xuất bổ sung phương trình đại diện cho khu vực hộ gia đình nhằm phục vụ mục tiêu đánh giá cú sốc CSTT đến khu vực này. Mô hình DSGE được đề xuất trong luận án như sau: xt = xt+1 (rt pt+1) p2et + p2ust + p12oilt + gt (1) Pt = PlPt+l + (1 + KXt Ps(et1 et2 ) + nt (2) rt = p6rt+i + (1OPt + xt + rt_1) + ut (3) et = p7(rt pt+i) + kt (4) mt = + p9xt + 0lopt+i + at (5) ct = Ct+1 Pn(rt Pt+í) + bt (6) Trong đó: xt là độ lệch sản lượng (output gap) của Việt Nam (chênh lệch của GDP thực tế và GDP tiềm năng) pt là lạm phát của Việt Nam rt là lãi suất tái cấp vốn et là tỷ giá hối đoái USDVND ust là độ lệch sản lượng (output gap) của Mỹ oilt là giá dầu thế giới (Brent) mt là cung tiền M2 của Việt Nam ct là chi tiêu tiêu dùng hộ gia đình gt, nt, ut, kt, at, bt là các cú sốc của từng phương trình (là độ lệch của biến kiểm soát so với giá trị cân bằng của nó) K, 2 »12 là các tham số cần ước lượng Phương trình (1) được xây dựng dựa trên phương trình đường cong IS cho nền kinh tế mở và nhỏ. Phương trình (1) xác định độ lệch sản lượng, là sự kết hợp tuyến tính của độ lệch sản lượng kỳ vọng, lãi suất thực, tỷ giá, độ lệch sản lượng của Mỹ và biến trạng thái gt. Phương trình (2) là phương trình đường cong Phillips biểu thị cho quan hệ giữa lạm phát và GDP. Phương trình (2) xác định lạm phát, là sự kết hợp tuyến tính của lạm phát kỳ vọng, lạm phát quá khứ, độ lệch sản lượng và sự thay đổi tỷ giá quá khứ và biến trạng thái nt. Phương trình (3) là phương trình lãi suất xây dựng dựa trên Quy tắc Taylor. Phương trình (3) xác định lãi suất, là sự kết hợp tuyến tính của lãi suất kỳ vọng, lãi suất quá khứ, độ lệch sản lượng, lạm phát và biến trạng thái ut. Trong nghiên cứu này, giả định rằng ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi suất để phản ứng với những thay đổi của lạm phát, sản lượng thực tế. Phương trình (4) là phương trình tỷ giá. Phương trình (5) là phương trình cung tiền, phản ánh quan hệ của cung tiền hiện tại với cung tiền quá khứ, sản lượng thực của nền kinh tế và lạm phát kỳ vọng. Phương trình (6) là phương trình hàm tiêu dùng hộ gia đình, phản ánh quan hệ của tiêu dùng hộ gia đình hiện tại với tiêu dùng trong tương lai và lãi suất thực. Trong đó, phương trình (1), (2), (3) được phát triển dựa trên nghiên cứu của Galí (2015) ứng dụng Lý thuyết Tân cổ điển (New Keyesian), phương trình (4) được tích hợp thêm vào hệ phương trình cơ sở theo nghiên cứu thực nghiệm của Ball (1999) đối với nền kinh tế Mỹ, phương trình (5) được tích hợp vào theo nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Đức Trung cộng sự (2019) và Galí (2015). Phương trình (6) được xây dựng dựa trên Galí (2015), Nguyen Van Phuong (2021). Các phương trình từ (1) đến (5) thuộc nhóm phương trình vĩ mô, phương trình (6) thuộc nhóm phương trình vi mô, phản ánh thu nhập hộ gia đình thông qua hàm tiêu dùng. Các biến trạng thái được mô hình hóa dưới dạng quá trình tự hồi quy bậc nhất. Các tham số có sự giải thích cấu trúc. Tham số K được gọi là độ dốc của đường cong Phillips và được dự đoán mang giá trị dương; trong các mô hình Keynes mới, giá cả phụ thuộc vào sản lượng (output) và K là thước đo của sự phụ thuộc đó. Tham số 4 được gọi là hệ số chiết khấu (discount factor), thể hiện mức độ chiết khấu của các tác nhân trong tương lai so với thời kỳ hiện tại (liên quan đến độ lệch lạm phát hiện tại so với độ lệch lạm phát dự kiến trong tương lai), về lý thuyết nó thường được giới hạn giá trị là 0,96. Tham số đo lường mức độ mà lãi suất phản ứng với các chuyển động của lạm phát, liên quan đến độ lệch lãi suất với độ lệch lạm phát. 3.2. Mô hình thực nghiệm VAR Trong nghiên cứu này, vector yt bao gồm tăng trưởng GDP Việt Nam, lạm phát, lãi suất, tỷ giá, cung tiền, tiêu dùng, chỉ số bất ổn thế giới, chỉ số bất ổn thương mại thế giới và hệ số Gini. Với GDP Việt Nam được đại diện bằng chỉ số tăng trưởng GDP, lạm phát được đại diện bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI, lãi suất chính sách được sử dụng trong nghiên cứu là lãi suất tái cấp vốn, tỷ giá được sử dụng là tỷ giá danh nghĩa USDVND, giá dầu thế giới được đại diện bằng sự thay đổi của giá dầu Brent trong mô hình DSGE được thay thế bằng chỉ số bất ổn thế giới WUI, độ lệch sản lượng Mỹ trong mô hình DSGE được thay thế bằng chỉ số bất ổn thương mại thế giới WTUI. Hệ số Gini đã được sử dụng đa số trong các bài nghiên cứu trước để đại diện cho sự phân tán của bất bình đẳng thu nhập

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

TRIỆU KIM LANH

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI PHÂN PHỐI THU NHẬP KHU VỰC HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM: BẰNG CHỨNG TỪ

MÔ HÌNH DSGE TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng

MÃ SỐ: 9 34 02 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN ĐỨC TRUNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2023

Trang 2

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu về tác động phân phối của CSTT đối với bất bình đẳng thu nhập được quantâm nhiều hơn từ sau khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu (giai đoạn 2007 - 2009) Trongkhi đang còn nhiều tranh cãi ở các nền kinh tế phát triển liên quan đến mức độ tác động của

nó thì tại các nền kinh tế mới nổi, vấn đề này cũng ngày càng được quan tâm nhiều hơn Ởnhững thị trường tài chính chưa hoàn thiện cùng với việc không được tiếp cận đầy đủ với các

tổ chức tài chính chính thức làm hạn chế khả năng của các hộ gia đình để bảo đảm chống lạitrước các cú sốc và làm phóng đại hơn tác động phân bổ của các biến động kinh tế vĩ môtổng thể Về mặt lý thuyết, CSTT mở rộng có thể có những tác động không rõ ràng đối vớiphân phối thu nhập khu vực hộ gia đình biểu hiện thông qua chỉ tiêu bất bình đẳng thu nhậpnhư: (i) làm gia tăng bất bình đẳng (làm tăng giá tài sản, điều này có lợi cho hộ gia đình thunhập cao nắm giữ tài sản tài chính lớn hơn; làm gia tăng lạm phát, điều này ảnh hưởng đến

hộ gia đình thu nhập thấp nắm giữ tài sản tính lỏng nhiều hơn), (ii) làm giảm bất bình đẳng(có lợi cho những người đi vay và bất lợi đối với những người gửi tiết kiệm; hoạt động kinh

tế tác động nhiều hơn đến thu nhập của những người lao động ở nhóm thu nhập thấp nhấtcủa phân phối)

Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện theo từng quốc gia và từng khu vực trên thếgiới trong thời gian vừa qua để tìm kiếm câu trả lời thống nhất cho các vấn đề nêu trên Ởcác nước có nền kinh tế phát triển, các nghiên cứu cho các kết quả không đồng nhất khinghiên cứu về mối quan hệ giữa CSTT với thu nhập, phân phối lại của cải và bất bình đẳnggiàu nghèo, như nghiên cứu Alves và Silva (2021), Hohberger và cộng sự (2020), Ampudia

và cộng sự (2018), Guerello (2018) và Lenza và Slacalek (2018) với nền kinh tế Châu Âu;Albert và Gómez-Fernández (2021), Albert và cộng sự (2020), Doepke và cộng sự (2019) vàDavtyan (2017) với nền kinh tế Mỹ; Mumtaz và Theophilopoulou (2020) với nền kinh tếAnh; Israel và Latsos (2020) và Lee (2020) với nền kinh tế Nhật Bản; Kuncl và Ueberfeldt(2021) với nền kinh tế Canada; Zhang và cộng sự (2021) với nền kinh tế Trung Quốc Trong

đó, Guerello (2018); Hohberger và cộng sự (2020) và Israel và Latsos (2020) đồng thờinghiên cứu CSTT truyền thống và phi truyền thống; Lenza và Slacalek (2018) và Lee (2020)đánh giá tác động của nới lỏng định lượng đến phân phối thu nhập Trong phạm vi các nướckhu vực Đông Nam Á, nghiên cứu của Punzi (2020) về tác động phân phối của CSTT ở cácnền kinh tế ASEAN cho kết quả tương tự như Guerello (2018), Davtyan (2017) Cụ thể, cúsốc CSTT mở rộng có xu hướng làm giảm bất bình đẳng thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu

Trang 3

nghèo Tại Việt Nam, nghiên cứu về tác động phân phối của CSTT đến bất bình đẳng thunhập được phát triển gần đây với nghiên cứu của Tran Huu Tuyen và cộng sự (2020); VũNgọc Hương và cộng sự (2019) với kết quả tương tự như Punzi (2020)

Ngày 08/8/2018 Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, địnhhướng đến năm 2030 đã được phê duyệt bởi Thủ tướng chính phủ trong Quyết định số

986/QĐ-TTg, theo đó một trong những nhiệm vụ, giải pháp được đặt ra là đổi mới “Khuôn

khổ chính sách tiền tệ hướng đến mục tiêu ưu tiên cao nhất là kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững; tăng tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tiền tệ Điều hành chính sách tiền tệ chuyển dần từ điều hành theo khối lượng tiền sang chủ yếu điều hành theo giá; sử dụng công cụ gián tiếp, tiến tới dỡ bỏ dần các biện pháp hành chính về lãi suất khi điều kiện cho phép; tiếp tục điều hành nghiệp vụ thị trường mở theo hướng là công cụ chủ yếu điều tiết vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, nhằm đạt được mục tiêu chính sách tiền

tệ trong từng thời kỳ” Cùng với Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng, ngày 01/02/2019

Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát đã được ban hành kèm theo Quyết định

số 146/QĐ-TTg theo đó khu vực kinh tế chưa được quan sát sẽ được tiến hành thống kê baogồm 05 nhóm: (i) Hoạt động kinh tế ngầm, (ii) Hoạt động kinh tế bất hợp pháp, (iii) Hoạtđộng kinh tế phi chính thức chưa được quan sát, (iv) hoạt động kinh tế tự sản, tự tiêu của hộgia đình và (v) Hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu thống kê(Triệu Kim Lanh & cộng sự, 2021) Ngày 22/01/2020 Thủ tướng phê duyệt Chiến lược tàichính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, nhằm đạt được mục tiêu

“Mọi người dân và doanh nghiệp đều được tiếp cận và sử dụng an toàn, thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp, với chi phí hợp lý, do các tổ chức được cấp phép cung ứng một cách có trách nhiệm và bền vững” Với các Chiến lược trên, khu vực hộ gia đình ngày

càng được quan tâm xây dựng phát triển nhiều hơn trong các chương trình phát triển kinh tế

-xã hội của Nhà nước, vấn đề đặt ra cho xu hướng điều hành CSTT trong tương lai là, bêncạnh mục tiêu cuối cùng theo Luật NHNN năm 2010, chúng ta có thể đặt mục tiêu hướng tớikhu vực hộ gia đình hay không, ví dụ như mục tiêu giảm bất bình đẳng thu nhập hộ gia đình.Khi phân tích tương quan sự biến động trong điều hành CSTT với diễn biến thu nhập,chi tiêu hộ gia đình và bất bình đẳng thu nhập, từ số liệu thực tiễn luận án nhận thấy các giaiđoạn NHNN thực thi CSTT (thông qua tăng/giảm công cụ lãi suất và các biện pháp khác

Trang 4

phối hợp) có làm cho tiêu dùng hộ gia đình bị giảm/tăng trong ngắn hạn và bất bình đẳng thunhập hộ gia đình có sự thay đổi Tuy nhiên, khai thác ảnh hưởng của CSTT đến khu vực hộgia đình đối với các nghiên cứu trong nước còn chưa nhiều, đặc biệt là các nghiên cứu thựcnghiệm ứng dụng mô hình DSGE, chưa kết hợp với phân tích tổng quan về thu nhập, chi tiêu

và bất bình đẳng thu nhập qua thông qua Kết quả Khảo sát mức sống dân cư Nhằm mục tiêunghiên cứu tác động của CSTT đến kết quả phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình nhằmhàm ý chính sách hướng tới giảm bất bình đẳng thu nhập Đây cũng chính là động lực quantrọng thúc đẩy luận án thực hiện nghiên cứu này

Khác với các nghiên cứu trước đây về chủ đề này đã thực hiện tại Việt Nam, luận án đềxuất mô hình DSGE với 06 phương trình chính, phù hợp cho nền kinh tế nhỏ và mở của ViệtNam, bổ sung phương trình hàm cung tiền và phương trình hàm tiêu dùng nhằm đo lườngphản ứng khu vực hộ gia đình đối với các cú sốc CSTT phù hợp với thực tiễn điều hànhCSTT của NHNN Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu sẽ thực nghiệm cùng bộ dữ liệu với

mô hình VAR bổ sung thêm hệ số Gini, chỉ số bất ổn thương mại thế giới (WTUI) và chỉ sốbất ổn thế giới (WUI), đo lường phản ứng hộ gia đình thông qua phân phối thu nhập có tínhđến yếu tố bất ổn vĩ mô thế giới Luận án kỳ vọng có thể đưa ra các ước lượng cụ thể vàkhoa học về hiệu quả của CSTT đến khu vực hộ gia đình và phân phối thu nhập tại ViệtNam Sau cùng, luận án cũng có một đóng góp nhỏ khác là đưa ra dự báo về tác động củaCSTT đến lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2022 - 2025 trên cơ sở kết quả ước lượng

mô hình DSGE luận án đề xuất

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Luận án tập trung đánh giá CSTT tác động đến kết quả phân phối thu nhập khu vực hộgia đình Việt Nam giai đoạn 1996 - 2021 thông qua thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng thunhập từ đó đưa ra những bằng chứng khoa học về lý thuyết và thực nghiệm nhằm hàm ý điềuhành CSTT hướng tới giảm bất bình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình

Trang 5

đình tại Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Diễn biến điều hành CSTT của NHNN Việt Nam cùng với tổng quan về thu nhập, chitiêu và bất bình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình giai đoạn 1996 - 2021 như thế nào?

- Phản ứng của khu vực hộ gia đình đối với cú sốc chính sách tiền tệ như thế nào thôngqua chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập giai đoạn 1996 - 2021?

- Hàm ý chính sách cho vấn đề điều hành chính sách tiền tệ hướng tới giảm bất bìnhđẳng thu nhập tại Việt Nam là gì?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là CSTT của NHNN Việt Nam và phân phối thunhập của khu vực hộ gia đình Việt Nam

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu về tác động của CSTT đến kết quả phân phốithu nhập khu vực hộ gia đình tại Việt Nam

Phạm vi thời gian:

- về đánh giá tổng quan: đề tài đánh giá hoạt động điều hành CSTT của NHNN Việt

Nam từ năm 1996 đến 2021, để có bức tranh tổng quan về công tác điều hành CSTT củaNHNN trong giai đoạn này, kết hợp phân tích diễn biến thu nhập, chi tiêu tiêu dùng và bấtbình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình trong cùng giai đoạn nghiên cứu

- về thực nghiệm: đề tài nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn 1996 - 2021 để lượng

hoá các tác động vĩ mô mà CSTT mang lại đối với khu vực hộ gia đình thông qua phân tích

cú sốc CSTT lên chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu cụ thể thứ nhất, luận án tổng hợp những báo cáo vềđiều hành CSTT của NHNN, các báo cáo có liên quan đến khu vực hộ gia đình cùng thời kỳ

và kết quả khảo sát mức sống dân cư (VHLSS) từ Tổng cục Thống kê (GSO) và Ngân hàngThế giới (WB) để từ đó tiến hành phân tích các số liệu báo cáo, đưa ra những đánh giá mộtcách tổng thể về diễn biến điều hành CSTT và thu nhập, chi tiêu, bất bình đẳng thu nhập khuvực hộ gia đình trong giai đoạn 1996 - 2021

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu cụ thể thứ hai, luận án thu thập dữ liệu các biến tronggiai đoạn 1996 - 2021 từ các nguồn đáng tin cậy trong nước và quốc tế như NHNN (SBV),

Trang 6

Tổng cục Thống kê (GSO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Trung tâmhội nhập khu vực Châu Á - Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asia Regional Integration Center -ARIC, ADB), ST Louis FED, Cơ sở dữ liệu về bất bình đẳng thu nhập thế giới được chuẩnhóa (SWIID), Cơ sở dữ liệu về bất ổn vĩ mô thế giới (WUI) và thực nghiệm mô hình kinh tếlượng (mô hình DSGE và mô hình VAR) để lượng hóa tác động của CSTT đến phân phốithu nhập khu vực hộ gia đình tại Việt Nam thông qua phân tích cú sốc CSTT đến chi tiêutiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập từ đó đưa ra được kết luận cho cả tổng thể bài nghiêncứu, làm cơ sở để khuyến nghị, hàm ý chính sách cho mục tiêu nghiên cứu thứ ba Đặc biệt,luận án đề xuất đến NHNN Việt Nam mô hình DSGE phù hợp cho nền kinh tế nhỏ mở củaViệt Nam trên cơ sở kế thừa từ mô hình DSGE đã được xây dựng dành cho NHNN và pháttriển thêm phương trình liên quan đến hộ gia đình góp phần nâng cao khả năng phân tích, dựbáo của NHNN trong mảng này

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Đề tài “Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam: Bằng

chứng từ mô hình DSGE” có ý nghĩa về mặt khoa học, về mặt thực tiễn cũng như về mặt

chính sách Xét trên góc độ khoa học, nghiên cứu về tác động của CSTT đối với khu vực hộgia đình và phân phối thu nhập chưa được khai thác nhiều tại Việt Nam, đặc biệt là việc ứngdụng mô hình DSGE trong việc đánh giá tác động chính sách đến khu vực hộ gia đình, đề tàiluận án sẽ cung cấp các bằng chứng thực nghiệm cho thấy mức độ tác động của chính sáchtiền tệ đến khu vực hộ gia đình Việt Nam tham khảo từ mô hình DSGE của các NHTW trênthế giới có hiệu chỉnh phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội và điều hành CSTT tại Việt Nam,trong khi các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của CSTT tại Việt Nam liên quan đến khuvực hộ gia đình được khai thác dựa trên mô hình DSGE còn khá mới và phức tạp, luận án đềxuất mô hình DSGE với 06 phương trình chính phù hợp nền kinh tế nhỏ mở Việt Nam trong

đó có phương trình vi mô về khu vực hộ gia đình và luận án tiến hành thực nghiệm trên môhình VAR từ đó đưa ra kết luận tổng thể các phát hiện về mức độ tác động của điều hànhchính sách đến khu vực hộ gia đình và phân phối thu nhập Từ góc độ chính sách, NHNNViệt Nam rất cần những thông tin phản biện từ phía các nhà khoa học trong việc đo lườngmức độ tác động của chính sách, độ trễ của nó đối với thực tiễn, từ đó sẽ có nhiều thông tin

đa chiều đóng góp định hướng tốt hơn cho người làm chính sách trong công tác dự báo và ra

quyết định tiếp theo Ngoài ra, đề tài “Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ

gia đình Việt Nam: Bằng chứng từ mô hình DSGE” còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn, đặc biệt

Trang 7

trong bối cảnh khu vực hộ gia đình là đối tượng ngày càng được quan tâm nhiều hơn trongđiều hành chính sách vĩ mô, kết quả của luận án cho thấy khu vực hộ gia đình có phản ứngtrước tác động của CSTT và là cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý trong việc đánh giá, dựbáo và hoạch định chính sách vĩ mô trong tương lai Trong khi các nghiên cứu thực nghiệm

về khu vực hộ gia đình ở Việt Nam liên quan đến tác động của chính sách vĩ mô của nhànước nói chung còn chưa nhiều, đề tài sẽ đóng góp thêm một bằng chứng khoa học có giá trịtrong việc nghiên cứu về phân phối thu nhập của khu vực hộ gia đình và tác động của CSTTđến khu vực này tại Việt Nam

1.7 Thiết kế nghiên cứu

1.8 Kết cấu của luận án

Luận án được trình bày gồm có 5 chương, với nội dung chính như sau:

- Chương 1 Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu

- Chương 2 Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ, phân phối thu nhập và mô hìnhnghiên cứu

- Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

- Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

- Chương 5 Kết luận, hàm ý chính sách

1.9 Tóm tắt chương 1

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, PHÂN PHỐI THU NHẬP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ truyền thống

2.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ truyền thống

2.1.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ truyền thống

2.1.3 Truyền dẫn của chính sách tiền tệ truyền thống

2.2 Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ phi truyền thống

2.2.1 Khái niệm chính sách tiền tệ phi truyền thống

2.2.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ phi truyền thống

2.2.2.1 Công cụ cung cấp thanh khoản

2.2.2.2 Công cụ mua tài sản quy mô lớn

2.2.2.3 Công cụ định hướng chính sách

2.2.2.4 Công cụ lãi suất âm

Trang 8

2.2.2.5 Một số công cụ khác

2.2.3 Truyền dẫn của chính sách tiền tệ phi truyền thống

2.3 Cơ sở lý thuyết về phân phối thu nhập

2.3.1 Các thước đo bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

2.3.1.1 Đường cong Lorenz

2.3.1.2 Hệ số Gini

2.3.2 Lý thuyết về phân phối thu nhập

2.4 Tác động của chính sách tiền tệ đến phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình

Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến thu nhập và phân phối của cải theo nhiều cách khácnhau Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến hộ gia đình hoặc cá nhân thông qua ba tác độngchính: tác động thu nhập (income effect), tác động của cải (wealth effect), tác động thay thế(substitution effect) Tổng các tác động phân bổ của chính sách tiền tệ được xác định bởi cáckênh truyền dẫn khác nhau mà chính sách tiền tệ có thể có đối với bất bình đẳng thu nhập,

phân loại tổng các tác động phân bổ thành năm kênh cụ thể như sau: kênh thành phần thu

nhập (Income Composition Channel), kênh phân khúc tài chính (Financial Segmentation Channel), kênh danh mục đầu tư (Portfolio Channel), kênh phân phối lại tiết kiệm (Savings Redistribution Channel), kênh không đồng nhất thu nhập (Earnings Heterogeneity Channel).

Nakajima (2015) tóm tắt năm kênh của chính sách tiền tệ thành hai kênh phân phối chính:kênh lạm phát và kênh thu nhập

2.5 Các cơ sở lý thuyết về mô hình nghiên cứu

2.5.1 Mô hình cân bằng tổng quát theo Lý thuyết chu kỳ kinh doanh

2.5.2 Mô hình cân bằng tổng quát theo Lý thuyết Tân cổ điển

2.5.3 Mô hình tự hồi quy theo véc tơ

2.6 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan về chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập hộ gia đình và mô hình DSGE áp dụng tại Việt Nam

2.6.1 Các nghiên cứu nước ngoài

2.6.2 Các nghiên cứu trong nước

2.6.3 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước và khoảng trống nghiên cứu

Từ các vấn đề được tổng hợp, luận án xác định khoảng trống trong các nghiên cứutrước và đề xuất nội dung nghiên cứu của luận án như sau:

- Luận án tiến hành phân tích tổng quan về điều hành CSTT tại Việt Nam giai đoạn

1996 - 2021 cùng với phân tích thực trạng thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng khu vực hộ gia

Trang 9

và là mô hình thích hợp với các nghiên cứu liên quan đến kết hợp giữa các biến số vĩ mô và

vi mô Kết quả nghiên cứu từ 02 mô hình định lượng cho thấy được mức độ tác động củaCSTT đối với chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập, từ đó đánh giá về mức độ tácđộng của CSTT của NHNN Việt Nam đối với khu vực hộ gia đình, đóng góp bằng chứngthực nghiệm cho các hàm ý chính sách và khuyến nghị Các phương trình được đề xuất trong

mô hình DSGE và mô hình VAR của luận án còn là đóng góp về mặt cơ sở lý thuyết và thựcnghiệm cho quá trình nghiên cứu chính sách tại Việt Nam

2.7 Tóm tắt chương 2

Trang 10

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Mô hình DSGE đề xuất

Trong phạm vi luận án, mô hình DSGE được đề xuất trên cơ sở kế thừa các phươngtrình từ mô hình DSGE được xây dựng bởi Vụ Dự báo Thống kê NHNN Việt Nam có sựtham vấn của các chuyên gia IMF và JICA Nhật Bản phù hợp cho nền kinh tế nhỏ và mở củaViệt Nam nhằm ước lượng các cú sốc mà mô hình mang lại từ đó đánh giá tác động đến tổngcầu của nền kinh tế Ngoài ra, luận án bổ sung thêm mô hình cung tiền (M2) được tham khảo

từ mô hình DSGE nghiên cứu cho NHNN Việt Nam thuộc đề tài cấp ngành của nhóm nghiêncứu Nguyễn Đức Trung & cộng sự (2019), phương trình về cung ứng tiền (M2) là một trongcác phương trình cơ bản bên cạnh phương trình xác định quan hệ lãi suất, tỷ giá để phù hợphơn với thực tế điều hành chính sách của NHNN1 Cuối cùng, mô hình DSGE của luận án đềxuất bổ sung phương trình đại diện cho khu vực hộ gia đình nhằm phục vụ mục tiêu đánh giá

- p t là lạm phát của Việt Nam

- r t là lãi suất tái cấp vốn

- et là tỷ giá hối đoái USD/VND

- us t là độ lệch sản lượng (output gap) của Mỹ

- oil t là giá dầu thế giới (Brent)

- m t là cung tiền M2 của Việt Nam

- c t là chi tiêu tiêu dùng hộ gia đình

- g t , n t , u t , k t , a t , b t là các cú sốc của từng phương trình (là độ lệch của biến kiểm soát so

1 Mô hình của IMF xác định sự thay đổi của chính sách tiền tệ thông qua phản ứng của lãi suất và tỷ giá Điều này chỉ phù hợp với các NHTW sử dụng công cụ trung gian là lãi suất mục tiêu (hoặc tỷ giá mục tiêu) để đạt được mục tiêu cuối cùng là ổn định lạm phát (sản lượng)

Trang 11

với giá trị cân bằng của nó)

- K, ^2 »12 là các tham số cần ước lượng

Phương trình (1) được xây dựng dựa trên phương trình đường cong IS cho nền kinh tế

mở và nhỏ Phương trình (1) xác định độ lệch sản lượng, là sự kết hợp tuyến tính của độ lệch

sản lượng kỳ vọng, lãi suất thực, tỷ giá, độ lệch sản lượng của Mỹ và biến trạng thái g t.Phương trình (2) là phương trình đường cong Phillips biểu thị cho quan hệ giữa lạm phát vàGDP Phương trình (2) xác định lạm phát, là sự kết hợp tuyến tính của lạm phát kỳ vọng, lạm

phát quá khứ, độ lệch sản lượng và sự thay đổi tỷ giá quá khứ và biến trạng thái n t Phươngtrình (3) là phương trình lãi suất xây dựng dựa trên Quy tắc Taylor Phương trình (3) xác địnhlãi suất, là sự kết hợp tuyến tính của lãi suất kỳ vọng, lãi suất quá khứ, độ lệch sản lượng, lạm

phát và biến trạng thái u t Trong nghiên cứu này, giả định rằng ngân hàng trung ương điềuchỉnh lãi suất để phản ứng với những thay đổi của lạm phát, sản lượng thực tế Phương trình(4) là phương trình tỷ giá Phương trình (5) là phương trình cung tiền, phản ánh quan hệ củacung tiền hiện tại với cung tiền quá khứ, sản lượng thực của nền kinh tế và lạm phát kỳ vọng.Phương trình (6) là phương trình hàm tiêu dùng hộ gia đình, phản ánh quan hệ của tiêu dùng

hộ gia đình hiện tại với tiêu dùng trong tương lai và lãi suất thực

Trong đó, phương trình (1), (2), (3) được phát triển dựa trên nghiên cứu của Galí (2015)ứng dụng Lý thuyết Tân cổ điển (New Keyesian), phương trình (4) được tích hợp thêm vào

hệ phương trình cơ sở theo nghiên cứu thực nghiệm của Ball (1999) đối với nền kinh tế Mỹ,phương trình (5) được tích hợp vào theo nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Đức Trung &cộng sự (2019) và Galí (2015) Phương trình (6) được xây dựng dựa trên Galí (2015),Nguyen Van Phuong (2021) Các phương trình từ (1) đến (5) thuộc nhóm phương trình vĩ

mô, phương trình (6) thuộc nhóm phương trình vi mô, phản ánh thu nhập hộ gia đình thôngqua hàm tiêu dùng Các biến trạng thái được mô hình hóa dưới dạng quá trình tự hồi quy bậc

nhất Các tham số có sự giải thích cấu trúc Tham số K được gọi là độ dốc của đường cong

Phillips và được dự đoán mang giá trị dương; trong các mô hình Keynes mới, giá cả phụ

thuộc vào sản lượng (output) và K là thước đo của sự phụ thuộc đó Tham số ^4 được gọi là

hệ số chiết khấu (discount factor), thể hiện mức độ chiết khấu của các tác nhân trong tươnglai so với thời kỳ hiện tại (liên quan đến độ lệch lạm phát hiện tại so với độ lệch lạm phát dựkiến trong tương lai), về lý thuyết nó thường được giới hạn giá trị là 0,96 Tham số đo lườngmức độ mà lãi suất phản ứng với các chuyển động của lạm phát, liên quan đến độ lệch lãisuất với độ lệch lạm phát

Trang 12

3.2 Mô hình thực nghiệm VAR

Trong nghiên cứu này, vector y t bao gồm tăng trưởng GDP Việt Nam, lạm phát, lãi suất,

tỷ giá, cung tiền, tiêu dùng, chỉ số bất ổn thế giới, chỉ số bất ổn thương mại thế giới và hệ sốGini Với GDP Việt Nam được đại diện bằng chỉ số tăng trưởng GDP, lạm phát được đạidiện bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI, lãi suất chính sách được sử dụng trong nghiên cứu là lãisuất tái cấp vốn, tỷ giá được sử dụng là tỷ giá danh nghĩa USD/VND, giá dầu thế giới đượcđại diện bằng sự thay đổi của giá dầu Brent trong mô hình DSGE được thay thế bằng chỉ sốbất ổn thế giới WUI, độ lệch sản lượng Mỹ trong mô hình DSGE được thay thế bằng chỉ sốbất ổn thương mại thế giới WTUI Hệ số Gini đã được sử dụng đa số trong các bài nghiêncứu trước để đại diện cho sự phân tán của bất bình đẳng thu nhập Phân phối thu nhập củamột nền kinh tế càng gần bằng nhau, chỉ số Gini càng thấp

3.3 Dữ liệu nghiên cứu

Mô hình ước lượng cho mẫu từ 1996Q1 đến hết 2021Q4 (104 quan sát) với số liệu đượcthu thập từ nguồn NHNN (SBV), Tổng cục Thống kê (GSO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),Ngân hàng Thế giới (WB), Trung tâm hội nhập khu vực Châu Á - Ngân hàng Phát triển Châu

Á (Asia Regional Integration Center - ARIC, ADB), ST Louis FED, Cơ sở dữ liệu về bấtbình đẳng thu nhập thế giới được chuẩn hóa (SWIID) và Cơ sở dữ liệu về bất ổn vĩ mô thếgiới (WUI) Các mốc thời gian cần lưu ý khi phân tích kết quả từ mô hình bao gồm giai đoạn

2009 - 2017 kinh tế Việt Nam có sự thay đổi về cấu trúc sau khi gia nhập WTO (2007), giaiđoạn chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008), giai đoạnbùng phát dịch bệnh COVID-19 (2019 - 2021)

Nguồn dữ liệu trong mô hình DSGE và mô hình VAR được trình bày trong bảng 3.1:

Trang 13

Bảng 3.1: Hệ thống biến số trong mô hình DSGE và mô hình VAR

Các biến trong mô hình Nguồn số liệu

oil t

Thay đổi giá dầu thô thế giới Brent: sử dụng làm đại

diện cho toàn bộ biến động giá dầu thô quốc tế vì sản

lượng dầu Brent giao dịch bình quân trên thị trường

chiếm trên 60% tổng lượng dầu thô giao dịch trên toàn

Federal Reserve Bank of St Louis

Các cú sốc của từng phương trình (là độ lệch của biến

K,

&,

&

Các tham số cần ước lượng:

- K được gọi là độ dốc (slope) của đường cong Phillips

và được dự đoán mang giá trị dương

hiện mức độ chiết khấu của các tác nhân trong tương lai so với thời kỳ hiện tại

Hệ số Gini, đại diện bất bình đẳng thu nhập, thể hiện sự

phân phối thu nhập không đồng đều giữa các nhóm hộ

gia đình

Standardized World Income Inequality Database (SWIID) và ước tính từ mô hình VAR

wui

Chỉ số bất ổn thế giới (W orld Uncertaincy Index), đại

diện cho biến động vĩ mô trên thế giới như dịch bệnh,

xung đột địa chính trị, khủng bố

https://worlduncertaintyindex.com

/data/

wtui

Chỉ số bất ổn thương mại thế giới (World Trade

Uncertaincy Index), đại biện cho biến động vĩ mô về

thương mại trên thế giới như chiến tranh thương mại,

khủng hoảng kinh tế.

https://worlduncertaintyindex.com

/data/

Nguồn: tác giả tự tổng hợp

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.5 Quy trình nghiên cứu

3.6 Tóm tắt chương 3

Trang 14

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tổng quan về điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 1996 - 2021

4.1.1 Điều hành chính sách tiền tệ truyền thống

4.1.2 Điều hành chính sách tiền tệ phi truyền thống

4.2 Tổng quan về phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 1996

tả các biến lãi suất r, biến lạm phát p, biến tỷ giá e, biến cung tiền m, biến tiêu dùng c, biến

ggdp, biến gini, biến wui, biến wtui là các biến nội sinh có giá trị quan sát được (observed

variables); biến độ lệch sản lượng Mỹ us, biến giá dầu oil là các biến ngoại sinh có giá trị

quan sát được

4.3.2 Kiểm định tính dừng của dữ liệu

Kết quả kiểm định cụ thể được trình bày tại Bảng 4.13

4.3.3 Phản ứng khu vực hộ gia đình Việt Nam đối với cú sốc chính sách tiền tệ: Tiếp

cận từ mô hình DSGE

Đo lường phản ứng của khu vực hộ gia đình được thực hiện trong mô hình DSGE với

06 phương trình chính được đề xuất (mục 3.1) cho ra kết quả ước lượng của các tham số trìnhbày tại Bảng 4.14 Từ kết quả ước lượng mô hình DSGE cho thấy hệ số hồi quy của các biếnlạm phát kỳ vọng trong tương lai (ổ4), độ lệch sản lượng (K) và lãi suất chính sách kỳ vọng(ổ6) có giá trị p-value nhỏ hơn mức ý nghĩa 1% Như vậy, lạm phát kỳ vọng tương lai và độlệch sản lượng có tác động đến lạm phát, lãi suất điều hành của NHNN cũng chịu sự ảnhhưởng của lãi suất kỳ vọng và lạm phát hiện tại, hoàn toàn phù hợp với Quy tắc Taylor

Tham số K là độ dốc của đường cong Phillips (phương trình (2)), lý thuyết dự đoán rằng tham số này sẽ dương, và thật vậy trong Bảng 4.14, K cho giá trị dương, hoàn toàn phù hợp

với lý

Trang 15

thuyết Tham số trong phương trình lãi suất (phương trình (3)) biểu thị phản ứng củaNHNN với các chuyển động của lạm phát.

Bảng 4.1: Ước lượng mô hình DSGE

Mô hình DSGE

Log likelihood = -970.79021

Coef Std err. z P> |z| [95% conf. ] interval/structural

2.33229 5

beta

2.43

beta

0.26

-0.79

0.00196 1

beta

1.19

-0.23

0.63934 2

betai

2.54

1.00232 6

0.33267 4

0.75383 4

sd(e.

1.58147 1

sd(e.

0.83207 6

sd(e.

1.38790 3

sd(e.

1.35096 5

sd(e.

0.01937 7

sd(e.

17.4833 6

sd(e.

6.3864 8

sd(e.

0.11063 3

Nguồn: kết quả tính toán từ phần mềm StataPhụ lục - Bảng 5.1 thể hiện ma trận của các tham số ở dạng không gian-trạng thái(spacestate form), xác định cách mà biến trạng thái (state variables) tác động đến biến kiểmsoát (control variables), được gọi là ma trận chính sách (policy matrix) Để thấy rõ hơn về tácđộng qua mô hình DSGE, Phụ lục - Bảng 5.2 cho thấy phương trình chính sách cho lạm phát

Trang 16

p và

Trang 17

viết nó dưới dạng một hàm riêng của các biến trạng thái Một cú sốc đơn vị đối với biến trạng

thái u (u tăng 1%) đại diện cho tác động CSTT của NHTW (NHTW tạo ra cú sốc) làm giảm lạm phát ước tính 1,20%, X (độ lệch sản lượng) giảm 0,66% Như vậy, cú sốc u xảy ra, làm

cho lãi suất gia tăng, độ lệch sản lượng giảm, làm giảm lạm phát Các biến trạng thái trongPhụ lục - Bảng 5.2 đều được mô hình hoá dưới dạng quá trình tự hồi quy, do đó, kết quảtrong quá trình chuyển trạng thái lặp lại các ước tính của rhor, rhon, rhou, rhov, rhok, rhoz từđầu ra của mô hình DSGE (Bảng 4.14) Trong trường hợp này, các mục nhập khác trong matrận chuyển đổi trạng thái là 0 hoặc khác 0 chỉ vì thiếu độ chính xác về số

Hình 4.1: Hàm phản ứng đẩy phân tích cú sốc u (tác động của NHTW)

Nguồn: kết quả tính toán từ phần mềm Stata

Biến trạng thái u mô hình hóa các chuyển động của lãi suất xảy ra vì những lý do khác ngoài phản hồi giữa lạm phát và lãi suất Một cú sốc đối với u thực sự là một sự gia tăng bất

ngờ trong lãi suất và IRF tìm ra cách mà cú sốc này gây ra sự giảm tạm thời đối với lạm phát(Hình 4.17, biểu đồ hàng thứ 2 ngoài cùng bên trái) và độ lệch sản lượng (Hình 4.17, biểu đồ

hàng thứ 3 ngoài cùng bên trái) Một cú sốc (độ lệch chuẩn) tăng 1% đến biến trạng thái u sẽ

làm lãi suất gia tăng khoảng gần 0,29% từ quý 1 và kéo theo độ lệch sản lượng giảm 0,66%,

sẽ làm lạm phát giảm khoảng gần 1,20% Tác động của cú sốc biến trạng thái u sẽ giảm dần

Graphs by irfname, Impulse variable, and Response variable

Trang 18

và triệt tiêu sau 4 quý Đối với tiêu dùng hộ gia đình, hàm

phản ứng đẩy cũng cho thấy cú sốc u có tác động đến tiêu dùng hộ

gia đình, giảm khoảng 0,041% Như vậy, cú sốc CSTT có tác động đến

hộ gia đình thông qua hàm tiêu dùng, một cú sốc u tăng 1% đơn vị

làm cho lãi suất tăng 0,29% dẫn đến tiêu dùng hộ gia đình giảmkhoảng 0,041% Lãi suất, độ lệch sản lượng, lạm phát và tiêu dùng

hộ gia đình có phản ứng với cú sốc của u và triệt tiêu sau 1 năm.

Kết quả từ mô hình DSGE hoàn toàn phù hợp với lý thuyết về quá trình truyền dẫnCSTT đến các biến số vĩ mô và cũng là bằng chứng thực nghiệm cho thấy kết quả đạt được

từ hoạt động điều hành CSTT của NHNN, đặc biệt giai đoạn bùng phát dịch bệnh COVID-19

từ cuối năm 2019 - 2021 NHNN đã có những phản ứng kịp thời và hiệu quả đối với công cụlãi suất thông qua việc giảm các mức lãi suất điều hành kết hợp với hàng loạt các biện pháptruyền thống và phi truyền thống khác (NHNN, 2020) Việt Nam là một trong số ít quốc giatrên thế giới có tăng trưởng kinh tế dương, tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 2,91% năm

2020 và 2,59% năm 2021 là mức tăng trưởng ấn tượng, thể hiện sức chịu đựng đáng kể củaViệt Nam trước tác động to lớn của đại dịch COVID-19 và những bất ổn vĩ mô khác (khủnghoảng kinh tế, xung đột địa chính trị ) trong giai đoạn này (NHNN, 2022b; WB, 2021).Ngoài ra, kết quả từ mô hình DSGE còn cho thấy khu vực hộ gia đình đã có nhữngphản ứng phù hợp với sự thay đổi của lãi suất điều hành tương tự như kỳ vọng lý thuyết, từ

đó nền kinh tế nhanh chóng trở về trạng thái cân bằng nếu xảy ra những cú sốc Như vậy, đãxuất hiện điều kiện để NHNN chuyển sang điều hành theo mục tiêu lãi suất (thay vì điềuhành theo mục tiêu khối lượng tiền tệ như hiện nay) khi mà điều hành của NHNN đã có vaitrò rõ rệt đến mục tiêu cuối cùng của CSTT là ổn định giá cả

Ảnh hưởng cụ thể từ cú sốc chính sách tiền tệ đến kết quả phân phối thu nhập hộ giađình sẽ được tiếp tục thảo luận thông qua phân tích hàm phản ứng xung và phân rã phươngsai từ ước tính của mô hình thực nghiệm VAR với hệ số bất bình đẳng thu nhập (hệ số Gini)

4.3.4 Tác động của chính sách tiền tệ đến phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình

Việt Nam: Mô hình thực nghiệm VAR

Với mô hình lý thuyết tiếp cận từ mô hình DSGE cho thấy, các biến số vĩ mô và vi mô(đại diện là tiêu dùng hộ gia đình) có phản ứng khá mạnh từ cú sốc chính sách tiền tệ, sự thayđổi này hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết kinh tế Tuy nhiên, tiếp cận mô hình DSGE bướcđầu cho thấy ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình thông qua mức tiêu dùng, chưa cho thấy rõđược tác động cụ thể đến mức độ phân tán thu nhập hộ gia đình trong nền kinh tế Nhằm giảithích cụ thể hơn về tác động của chính sách tiền tệ đến các biến số vĩ mô nền kinh tế và phânphối thu nhập hộ gia đình Việt Nam, luận án tiến hành thực nghiệm mô hình VAR với các

Trang 19

biến số vĩ mô gồm tăng trưởng GDP ggdp, lạm phát p (CPI), các biến lãi suất chính sách r, tỷ giá USD/VND e và cung tiền m (đại diện điều hành CSTT), chỉ số bất ổn thương mại thế giới

(đại diện cho yếu tố kinh tế quốc tế tác động như cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung ), chỉ sốbất ổn thế giới (đại diện cho các tác động bất ổn vĩ mô từ quốc tế mang lại như các xung đột

địa chính trị, sự kiện Brexit, dịch bệnh COVID-19 ) và hệ số Gini gini (đại diện cho phân

phối thu nhập hộ gia đình) thông qua phân tích hàm phản ứng xung và phân rã phương saiCholesky Các biến số và mô hình VAR được đề xuất trong bài nghiên cứu này được kế thừa

từ các bài nghiên cứu trước, đặc biệt là Nguyễn Thị Minh (2010), Phạm Thị Tuyết Trinh(2017) và Nguyễn Đức Trung và cộng sự (2022)

Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu thời gian đã được thực hiện và kết quả được

trình bày tại Bảng 4.13, các chuỗi số liệu p,r,wui,wtui đều là chuỗi dừng, chuỗi e không dừng nên luận án sẽ dùng Ine để chạy trong mô hình, chuỗi cung tiền (m), chuỗi tiêu dùng hộ gia đình (c), chuỗi hệ số Gini (giní) và tăng trưởng GDP (ggdp) dừng ở sai phân bậc 1 Kiểm

định độ trễ tối ưu được lựa chọn bởi các tiêu chuẩn là không đồng nhất, tuy nhiên đa số cáctiêu chuẩn chọn lựa đều thống nhất lựa chọn bước trễ 1 Các kiểm định cho thấy mô hìnhVAR trong nghiên cứu là ổn định và không có hiện tượng tự tương quan tại độ trễ tối ưuđược chọn Phân tích hàm phản ứng đẩy sẽ cho thấy cụ thể cơ chế truyền tải sốc CSTT lêncác biến vĩ mô nền kinh tế và phân phối thu nhập hộ gia đình Việt Nam Hình 4.19 cho thấyphản ứng của biến lãi suất, lạm phát, tăng trưởng GDP, tiêu dùng hộ gia đình và hệ số Ginivới cú sốc từ điều hành CSTT của NHNN

Hình 4.19 cho thấy điều hành CSTT có tác động lên phân phối thu nhập khu vực hộ giađình, tác động này là khá nhỏ và kéo dài Khi có cú sốc trong quá khứ của lãi suất (NHNNthực thi CSTT thắt chặt bằng cách tăng lãi suất của NHNN) làm tiêu dùng hộ gia đình giảm,tăng trưởng GDP phản ứng giảm sau 2 quý và triệt tiêu sau khoảng 2 năm Cú sốc CSTT làmcho lạm phát cũng bị tác động tương tự, phản ứng của lạm phát kéo dài và tắt dần sau 2 năm.Phản ứng của lạm phát và tăng trưởng GDP hoàn toàn phù hợp dự đoán của các lý thuyếtkinh tế Tương tự, cú sốc CSTT có tác động đến phân phối thu nhập hộ gia đình, cụ thể làmgiảm bất bình đẳng thu nhập sau khoảng 2-3 quý và tác động này diễn ra trong dài hạn Nhưvậy, điều hành CSTT của NHNN (thông qua cú sốc lãi suất) làm giảm chi tiêu tiêu dùng, thuhẹp khoảng cách bất bình đẳng, đồng thời cũng làm giảm tăng trưởng GDP, giảm lạm phátsau 2 quý Quá trình này có xu hướng tắt dần trong dài hạn

Trang 20

95% Cl - Impulse-response function Graphs by irfname, Impulse variable, and Response variable

Hình 4.2: Hàm phản ứng đẩy phân tích cú sốc CSTT của NHTW

Nguồn: kết quả tính toán từ phần mềm Stata

Mô hình VAR đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy có mối quan hệ giữa phânphối thu nhập hộ gia đình (bất bình đẳng thu nhập) và điều hành CSTT (lãi suất chính sách)của NHNN Kiểm định Granger cho thấy giữa lạm phát và lãi suất có mối quan hệ nhân quảvới nhau, điều này hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết kinh tế và điều hành CSTT Việt Namtrong thực tế; bất bình đẳng thu nhập có thể giải thích cho sự thay đổi của lãi suất, hay nóicách khác, điều hành CSTT của NHNN có quan tâm tới yếu tố bất bình đẳng thu nhập, ngoài

ra lạm phát cũng là nguyên nhân của sự thay đổi lãi suất, dẫn tới có sự thay đổi trong tiêudùng hộ gia đình, tác động tới bất bình đẳng thu nhập Chỉ số bất ổn thế giới phản ánh cácbiến động về thế giới như dịch bệnh COVID-19 (cuối năm 2019 đến nay), sự kiện Brexit(06/2016-01/2020), các xung đột địa chính trị (cuộc chiến Iraq, sự kiện 11/9 của Mỹ ) có thểdùng để giải thích cho sự thay đổi của bất bình đẳng thu nhập Như vậy, kiểm định Grangertrong mô hình VAR cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa các biến khá phù hợp với thực tếViệt Nam Trên thực tế, điều hành CSTT của NHNN luôn theo dõi sát diễn biến tình hình thếgiới, điều hành một cách thận trọng, linh hoạt và có sự phối hợp nhịp nhàng với công cụchính sách tài khoá của Chính phủ Phản ứng cụ thể mức độ đóng góp của các biến số đượcthể hiện trong phân rã phương Cholesky

Phân rã phương sai Cholesky từ hình 4.20 và Phụ lục - Bảng 5.3 cho thấy % mức đónggóp của các biến số vĩ mô trong sự thay đổi của phân phối thu nhập hộ gia đình theo thời

Trang 21

gian Biến động của hệ số Gini được giải thích bởi lãi suất trở nên rõ ràng hơn kể từ quý thứ2-3 (sau 2 quý 1,3% và 4% sau 9 quý) Biến bất ổn vĩ mô có tác động mạnh trong 2-3 quýđầu (5,1% sau 3 quý) trong khi tỷ giá có mức tác động tăng dần theo thời gian (3% sau 6quý) Biến bất ổn thương mại thế giới có tác động ít nhất đối với bất bình đẳng thu nhập (1%sau 11 quý) Như vậy, mô hình VAR đã xác định tầm quan trọng của CSTT đối với sự biếnđộng của hệ số Gini, những thay đổi của CSTT đã có tác động đến hệ số Gini là bằng chứngthực nghiệm cho thấy truyền dẫn CSTT đến phân phối thu nhập hộ gia đình có sự tồn tại củatác động phân phối của CSTT trong nền kinh tế Việt Nam.

4.3.5 Dự báo các biến số vĩ mô giai đoạn 2022 - 2025

Luận án tiến hành dự báo chỉ tiêu các biến số vĩ mô cho giai đoạn 2022 - 2025 từ kếtquả ước lượng của mô hình DSGE, kết quả được thể hiện thông qua đồ thị Hình 4.21 vàBảng 4.17 Kết quả từ Hình 4.21 cho thấy mô hình dự báo nắm bắt được xu hướng tăngchung của lạm phát từ năm 2022, nhưng mô hình không dự đoán được sự thay đổi của lạmphát xung quanh xu hướng tăng của nó (Hình 4.21) Kết quả tính toán từ mô hình DSGEthông qua phần mềm Stata được thể hiện tại Bảng 4.17 cho thấy tốc độ tăng và xu hướngtăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giai đoạn 2022 - 2025 như sau: so với cùng kỳ tốc độ tăngCPI dao động quanh mức 1 - 1,2%/quý và có xu hướng tăng nhẹ trong tương lai; trong khi đódiễn biến tương tự cũng xảy ra với lãi suất điều hành của NHNN và xu hướng tăng của lãisuất xoay quanh mức 4 - 5,5% Đây là tín hiệu và là cơ sở cho các khuyến nghị của luận án

về công tác điều hành CSTT của NHNN sắp tới thông qua công cụ lãi suất nhằm mục tiêuhướng tới giữ lạm phát ở mức ổn định vừa phải, điều này cũng phù hợp với mục tiêu điềuhành vĩ mô của Chính phủ và NHNN trong đặc biệt trong giai đoạn COVID-19 và xung độtđịa chính trị thế giới nhằm đảm bảo mục tiêu kép ”vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế”.Như vậy, các phân tích từ mô hình lý thuyết DSGE và mô hình thực nghiệm VAR chothấy, có sự tác động từ các cú sốc lên phản ứng của CSTT Theo đó, từ mô hình VAR, điềuhành CSTT của NHNN (thông qua cú sốc lãi suất) làm thu hẹp lại khoảng cách bất bìnhđẳng, đồng thời cũng làm giảm tiêu dùng, giảm lạm phát, giảm tăng trưởng GDP sau 2 quý,quá trình này có xu hướng tắt dần trong dài hạn; sự thay đổi của kết quả phân phối thu nhập

hộ gia đình theo thời gian được phản ánh qua biến động của hệ số Gini được giải thích bởi lãisuất trở nên rõ ràng hơn kể từ quý thứ 2-3 (sau 2 quý 1,3% và 4% sau 9 quý), biến bất ổn vĩ

mô có tác động mạnh trong 2-3 quý đầu (5,1% sau 3 quý) trong khi tỷ giá có mức tác độngtăng dần theo thời gian (3% sau 6 quý), biến bất ổn thương mại thế giới có tác động ít nhấtđối với bất bình đẳng thu nhập (1% sau 11 quý) Từ mô hình DSGE có thể thấy cú sốc chính

Trang 22

sách tiền tệ ảnh hưởng rõ rệt lên các biến số vĩ mô, các tác động này xảy ra trong sự cân bằng

tổng thể của nền kinh tế, cụ thể: một cú sốc (độ lệch chuẩn) tăng 1% đến biến trạng thái u sẽ

làm lãi suất gia tăng khoảng gần 0,29% từ quý 1 và kéo theo độ lệch sản lượng giảm 0,66%,

sẽ làm lạm phát giảm khoảng gần 1,20% Tác động của cú sốc biến trạng thái u sẽ giảm dần

và triệt tiêu sau 4 quý Đối với tiêu dùng hộ gia đình, hàm phản ứng đẩy cũng cho thấy cú sốc

u có tác động đến thay đổi trong tiêu dùng hộ gia đình, giảm khoảng 0,041% Như vậy, cú

sốc CSTT có tác động đến hộ gia đình thông qua hàm tiêu dùng, một cú sốc u tăng 1% đơn vị

làm cho lãi suất tăng 0,29% dẫn đến tiêu dùng hộ gia đình giảm khoảng 0,041% Lãi suất, độ

lệch sản lượng, lạm phát và tiêu dùng hộ gia đình có phản ứng với cú sốc của u và triệt tiêu

sau 1 năm Ngoài ra, kết quả từ mô hình DSGE còn cho thấy khu vực hộ gia đình đã cónhững phản ứng phù hợp với kỳ vọng của lý thuyết khi có sự thay đổi của lãi suất điều hành(cú sốc từ NHNN) Đây là bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho luận án trong hàm ýchính sách đối với NHNN trong việc khuyến nghị chuyển sang điều hành theo mục tiêu lãisuất thay vì điều hành theo mục tiêu khối lượng tiền tệ như hiện nay

Từ phân tích tổng quan về điều hành CSTT của NHNN và tổng quan về kết quả phânphối thu nhập hộ gia đình Việt Nam cho thấy giai đoạn 1996 - 2021 có sự bất bình đẳng thunhập tương đối (ở mức trung bình), khoảng cách giàu nghèo theo thời gian có cải thiện hơnđặc biệt trong giai đoạn Nhà nước có các chính sách an sinh xã hội, chương trình xoá đóigiảm nghèo Cùng với đó, CSTT phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, cótác động tới kết quả phân phối thu nhập hộ gia đình thông qua hệ số Gini và chi tiêu tiêudùng Các giai đoạn NHNN thực thi CSTT (thông qua tăng/giảm công cụ lãi suất và các biệnpháp khác phối hợp) làm cho tiêu dùng hộ gia đình bị giảm/tăng trong ngắn hạn (Hình 4.22),bất bình đẳng thu nhập hộ gia đình được thu hẹp lại Kết quả nghiên cứu luận án tương tựnhư phát hiện của Tran Huu Tuyen và cộng sự (2020) và Vũ Ngọc Hương và cộng sự (2019).Các phản ứng này phù hợp với lý thuyết kinh tế và là cơ sở quan trọng cho các hàm ý chínhsách được trình bày tại Chương 5

4.4 Tóm tắt chương 4

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, HÀM Ý CHÍNH SÁCH5.1 Tóm tắt các kết quả chính của luận án

về đánh giá tổng quan điều hành CSTT của NHNN giai đoạn 1996 - 2021:

- Đối với CSTT truyền thống: điều hành CSTT của NHNN dần định hình rõ nét khungCSTT và cơ chế CSTT từ sau Luật NHNN 2010 có hiệu lực, các công cụ điều hành CSTTđược sử dụng linh hoạt, phối hợp đồng bộ với nhau và phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ

Trang 23

mô khác của Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra, góp phần tăng trưởng kinh tế Kếtquả tăng trưởng GDP năm 2020 và 2021và tỷ lệ lạm phát giảm dần từ 2008 đến mức ổn địnhnhư hiện nay là minh chứng thực tiễn rõ nét nhất cho hiệu quả điều hành CSTT của NHNNViệt Nam Quá trình ra quyết định cũng ngày càng được thực hiện một cách khoa học dựatrên các bằng chứng thực nghiệm và mô phỏng các kỹ thuật định lượng với chất lượng ngàycàng nâng cao Mặc dù linh hoạt trong việc sử dụng các công cụ điều hành CSTT, nhưng cácquyết định của NHNN được đưa ra một cách thận trọng, phù hợp với tình hình biến động vĩ

mô trong nước và quốc tế

- Đối với CSTT phi truyền thống: bên cạnh các công cụ truyền thống, NHNN phối hợpvới cả những công cụ phi truyền thống trong từng giai đoạn: nới lỏng tín dụng đối với cácngành nghề, lĩnh vực ưu tiên; định hướng chính sách; một số biện pháp hành chính hỗ trợ Các công cụ phi truyền thống này không được thực hiện tách rời với CSTT truyền thống màđược phối hợp trong cùng bối cảnh thực tiễn, góp phần nâng cao tính hiệu quả trong điềuhành CSTT của NHNN Việt Nam Với trình độ phát triển hiện tại của hệ thống tài chính ViệtNam, việc áp dụng các công cụ khác của CSTT phi truyền thống ví dụ nới lỏng định lượng làchưa phù hợp trong khi các công cụ CSTT truyền thống vẫn phát huy hiệu quả nhất định vàchưa tới mức cần thiết để áp dụng giống như đối với các nước phát triển

Về đánh giá tổng quan phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam thông qua phân tích thu nhập, chi tiêu, hệ số Gini, tiêu chuẩn “40% ” và chênh lệch nhóm 5 - nhóm 1 của Kết quả khảo sát mức sống dân cư, một số điểm nổi bật có thể nhận thấy như:

- Bất bình đẳng thu nhập Việt Nam tồn tại ở mức trung bình, tương đối Xét giai đoạn

1996 - 2021 đến nay, hệ số Gini dao động trong khoảng 0,3 - 0,4 là một mức không cao, chothấy xu hướng bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam được kiểm soát khá tốt

- Khoảng cách giàu nghèo đã được thu hẹp lại, đặc biệt trong giai đoạn 2019 - 2021 do ảnhhưởng của dịch bệnh COVID-19 cùng với các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước đốivới các thành phần dễ tổn thương trong xã hội

- Bất bình đẳng gia tăng trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng, hoặc có khủng hoảng

đi kèm (2010 - 2018)

- Xu hướng bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng chi tiêu tương tự nhau, tỷ lệ thunhập trên chi tiêu khoảng 1,1 - 1,5 lần, cho thấy việc phân tích bất bình đẳng thu nhập phảnánh qua bất bình đẳng chi tiêu, hàm tiêu dùng hộ gia đình sẽ tạo nên bức tranh phản ánh vềphân phối thu nhập khu vực hộ gia đình

về thực nghiệm bằng mô hình DSGE và mô hình VAR:

Trang 24

- Đối với mô hình DSGE: luận án phát triển thêm phương trình tiêu dùng hộ gia đình,kết hợp với bộ phương trình các biến số vĩ mô đã được phát triển trong các nghiên cứu trước

đề xuất áp dụng cho NHNN nhằm đánh giá phản ứng của khu vực hộ gia đình trong môitrường cân bằng tổng thể phù hợp với nền kinh tế nhỏ mở, từ đó làm cơ sở cho các hàm ýchính sách Ngoài ra, bổ sung thêm biến ngoại sinh giá dầu thế giới vào phương trình sảnlượng nhằm phản ánh đầy đủ hơn về ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài đến nền kinh tế ViệtNam

- Đối với mô hình VAR: luận án thực nghiệm các biến số vĩ mô cùng với hệ số Gini và

bổ sung thêm 02 biến có thể phản ánh được các cú sốc bất ổn vĩ mô, biến bất ổn thế giới wui

và biến bất ổn thương mại thế giới wtui Vì biến số wtui, wui chứa đựng các thông tin bất ổn

vĩ mô trên thế giới như dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, xung đột địa chính trị, các sự kiệnđặc biệt như sự kiện 11/9, sự kiện Brexit nên khi đưa vào mô hình VAR sẽ góp phần giảithích cho biến động của hệ số Gini trở nên đầy đủ hơn bao hàm các yếu tố trong và ngoàinước

- Đối với kết quả từ 02 mô hình thực nghiệm: kết quả thực nghiệm đã khẳng định được

có tồn tại tác động phân phối của CSTT đến phân phối thu nhập hộ gia đình trong nền kinh tếViệt Nam, cú sốc CSTT xảy ra làm cho tiêu dùng hộ gia đình và bất bình đẳng thu nhập chịuảnh hưởng cả trong ngắn và dài hạn theo chiều hướng ngược chiều, NHNN thực thi CSTTthắt chặt (bằng cách giảm lượng tiền cung ứng hoặc tăng lãi suất chính sách) làm cho tiêudùng hộ gia đình giảm, bất bình đẳng cũng giảm theo trong 2-3 quý đầu Tiêu dùng hộ giađình phản ứng trước cú sốc CSTT dần triệt tiêu sau 1 năm, bất bình đẳng thu nhập phản ứngtrước cú sốc CSTT có xu hướng kéo dài hơn và dần triệt tiêu sau 2 năm Phân tích hàm phảnứng đẩy từ 02 mô hình DSGE và VAR đều cho kết quả phù hợp với nhau về phản ứng củacác biến số vĩ mô, kết quả từ 02 mô hình càng củng cố và bổ sung thông tin cho nhau mộtcách đầy đủ

5.2 Hàm ý chính sách và khuyến nghị

Xét tình hình thực tiễn hiện nay tại Việt Nam cũng như trên thế giới, hiện các nước vẫnđang phải đối mặt với những sự lựa chọn khó khăn nhằm cân bằng các khía cạnh khác nhaunhằm đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội Các cơ quan quản lý nhà nước một mặt phải tiếnhành các biện pháp phòng chống dịch bệnh (như biến chủng mới của dịch bệnh COVID-19,bệnh đậu mùa khỉ, bệnh sốt xuất huyết, ) mặt khác vẫn phải cố gắng kiểm soát lạm phát ởmức ổn định do hệ quả của các chính sách kinh tế - xã hội từ khi khởi phát dịch bệnhCOVID-19; Ngoài ra, sự bất ổn vĩ mô trên toàn thế giới ngày càng gia tăng do các cuộc xung

Trang 25

đột địa chính trị vẫn đang diễn ra, tạo nên hiện tượng gián đoạn chuỗi cung ứng tại một sốvùng (một số điểm, một số quốc gia) dẫn đến tình trạng thiếu nguyên nhiên vật liệu sản xuấtmôt số mặt hàng, giá cả các mặt hàng dần tăng cao, sự khác biệt về chính sách chốngCOVID-19 ở các quốc gia liên quan đến phong tỏa, giãn cách xã hội, cách ly xét nghiệm.Mặc dù vậy, qua phân tích thực tiễn điều hành CSTT giai đoạn 1996 - 2021 đã cho thấy đượcNHNN Việt Nam trong thời gian qua có một sự điều hành ứng phó linh hoạt, kịp thời với cácbiến động vĩ mô trong nước cũng như trên thế giới Mặc dù, NHNN điều hành CSTT mộtcách thận trọng nhưng vẫn có sự kết hợp nhịp nhàng giữa CSTT và các chính sách kinh tế vĩ

mô khác của Chính phủ như chính sách tài khóa, tạo nên kết quả về tăng trưởng kinh tế ấntượng của Việt Nam trong giai đoạn COVID-19 so với bình diện chung của thế giới

NHNN ngoài việc điều hành CSTT nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá trị đồng tiềntheo Luật NHNN năm 2010, NHNN có thể cân nhắc điều hành CSTT hướng tới xác địnhmục tiêu giảm bất bình đẳng thu nhập cũng là một trong những mục tiêu của CSTT Dựa trêntất cả các phân tích tổng quan và phân tích từ kết quả mô hình nghiên cứu luận án hàm ýchính sách và khuyến nghị cho NHNN trong thời gian tới như sau:

- Thứ nhất, trên cơ sở phân tích tổng quan điều hành CSTT của NHNN Việt Nam giaiđoạn 1996 - 2021, đặc biệt là khoảng thời gian dịch bệnh COVID-19 giai đoạn 2019 - 2021,NHNN có thể tiếp tục phát huy cách thức điều hành CSTT như hiện nay, đó là linh hoạt, thậntrọng và có phản ứng kịp thời nhằm ứng phó với những bất ổn vĩ mô trong tương lai

- Thứ hai, trên cơ sở phân tích kết quả thực nghiệm từ hai mô hình DSGE và VAR, kếtquả từ biến giá dầu và biến độ lệch sản lượng Mỹ là bằng chứng thực nghiệm cho thấyNHNN có thể cân nhắc các động thái gia tăng lãi suất từ Fed và diễn biến chỉ số giá CPItrong nước nhằm đưa ra các biện pháp gia tăng lãi suất trong nước thích hợp

- Thứ ba, trên cơ sở phân tích kết quả mô hình thực nghiệm DSGE và mô hình VAR,kết quả từ biến giá dầu cho thấy mức giá trong nước có bị ảnh hưởng bởi thực tế biến độnggiá dầu thế giới và nó có tác động đến điều hành CSTT thông qua sự thay đổi của chỉ số giáCPI trong nước (lạm phát), tuy nhiên tác động này diễn ra không tức thời mà diễn biến dầndần, do đó, khuyến nghị NHNN xem xét thận trọng ảnh hưởng của cú sốc giá dầu (thông quathay đổi CPI) đến phản ứng của CSTT (thay đổi lãi suất)

- Thứ tư, trên cơ sở phân tích tổng quan điều hành CSTT, tổng quan về phân phối thunhập khu vực hộ gia đình và kết quả từ mô hình DSGE và mô hình VAR cho thấy NHNNcần quan tâm nhiều hơn đến vấn đề tác động của CSTT đến bất bình đẳng thu nhập trong xãhội thông qua một số khuyến nghị như: (i) điều hành chính sách lãi suất theo hướng kích

Trang 26

thích sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động, làm tăng thu nhập của người dân,kích thích nhu cầu tiêu dùng; (ii) áp dụng biện pháp hành chính trong việc thực hiện chínhsách hỗ trợ người nghèo, người có thu nhập thấp thông qua hệ thống các tổ chức tín dụng vớinhững chương trình tín dụng đặc thù như ưu đãi cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp có ápdụng các tiến bộ kỹ thuật theo tiêu chuẩn quốc tế, cho vay nông nghiệp sạch xanh; (iii) tiếptục phát triển chương trình tài chính toàn diện, đẩy mạnh phát triển các tổ chức tài chính vi

mô và quỹ tín dụng nhân dân; (iv) có thể thông qua ngân hàng chính sách xã hội tổ chức tậphuấn cho người dân nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp sạch xanh phù hợp với cam kếtgiảm phát thải ròng

- Thứ năm, tiếp tục điều hành CSTT trên cơ sở phối hợp nhịp nhàng với chính sách tàikhoá và các chính sách quản lý vĩ mô khác của Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng giai đoạn

- Thứ sáu, NHNN có thể cân nhắc việc chuyển sang điều hành CSTT theo mục tiêu lãisuất thay vì điều hành theo mục tiêu khối lượng tiền tệ như hiện nay khi mà kết quả thựcnghiệm từ mô hình DSGE và VAR cho thấy được khu vực hộ gia đình đã có phản ứng phùhợp đối với tác động từ điều hành CSTT của NHNN (đại diện bởi công cụ lãi suất)

5.3 Hạn chế nghiên cứu

Do việc điều hành CSTT tại Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu sử dụng công cụ về lượng(cung tiền, hạn mức tín dụng), trái ngược với lý thuyết kinh tế chung là điều hành về giá nêncũng ảnh hưởng tới chất lượng mô hình DSGE tại NHNN Việt Nam Khả năng dự báo của

mô hình DSGE bị hạn chế do các biến số trong mô hình đã được biến đổi cho phù hợp với lýthuyết kinh tế nên kết quả dự báo có thể không hoàn toàn trực quan và tương thích với số liệuthống kê thông thường của Việt Nam

Nghiên cứu mới chỉ đánh giá tác động của cú sốc CSTT đến kết quả phân phối thu nhập

hộ gia đình thông qua hàm tiêu dùng và hệ số Gini cùng với các biến số vĩ mô của nền kinh

tế Việt Nam qua mô hình DSGE và mô hình thực nghiệm VAR Các khía cạnh chưa đượcphát triển trong luận án do hạn chế về tương thích số liệu thống kê phương trình về thu nhập

hộ gia đình trong lý thuyết của mô hình DSGE với đại diện các nhóm hộ gia đình khác nhauphù hợp với đặc điểm thu nhập hộ gia đình Việt Nam Như vậy, hướng nghiên cứu này trongtương lai có thể được tiếp tục khai thác với đề xuất các phương trình mới bổ sung liên quanđến khu vực hộ gia đình như phương trình thu nhập theo Ricardian và Non-Ricardian

Từ những phân tích, đánh giá tổng quan về điều hành CSTT và phân tích tổng quan vềphân phối thu nhập khu vực hộ gia đình cũng như từ kết quả thực nghiệm, luận án đã đưa ra

Trang 27

mức độ ảnh hưởng của điều hành CSTT đến kết quả phân phối thu nhập khu vực hộ gia đìnhViệt Nam Đây là bằng chứng khoa học làm cơ sở cho các hàm ý chính sách và khuyến nghịcủa luận án Do đặc thù của hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô tại Việt Nam, điều hành CSTTcủa NHNN được thực hiện trên cơ sở phối hợp với các chính sách vĩ mô khác của Nhà nước,đặc biệt là chính sách tài khoá cùng việc phối hợp với các chương trình phát triển kinh tế - xãhội của Nhà nước trong từng thời kỳ, mà đối với khu vực hộ gia đình thì trọng tâm trong thờigian tới vẫn là chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình tài chính toàn diện, thống kêkhu vực kinh tế chưa được quan sát Các chương trình này cuối cùng nhằm mục tiêu giúpkhu vực hộ gia đình (bao gồm cả khu vực chính thức và khu vực phi chính thức) ngày càngphát triển hơn, do đó điều hành CSTT trong tương lai rất cần chú trọng hơn nữa những tácđộng của nó đến khu vực hộ gia đình, CSTT có thể cân nhắc bổ sung thêm mục tiêu hướngtới giảm xu hướng bất bình đẳng thu nhập trong xã hội, bên cạnh mục tiêu chính là ổn giá trịđồng tiền.

5.4 Tóm tắt chương 5

Trang 28

THÔNG TIN TÓM TẮT

VỀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨTên luận án: Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam: Bằng chứng từ mô hình DSGE

Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng Mã số: 9.34.02.01

Họ và tên Nghiên cứu sinh: TRIỆU KIM LANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐỨC TRUNG

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

Mục tiêu của luận án là tập trung đánh giá CSTT tác động đến kết quả phân phối thunhập khu vực hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 1996 - 2021 thông qua thu nhập, chi tiêu và bấtbình đẳng thu nhập từ đó đưa ra những bằng chứng khoa học về lý thuyết và thực nghiệmnhằm hàm ý điều hành CSTT hướng tới giảm bất bình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình.Luận án tổng hợp những báo cáo về điều hành CSTT của NHNN, các báo cáo có liên quanđến khu vực hộ gia đình cùng thời kỳ và kết quả khảo sát mức sống dân cư (VHLSS) từ Tổngcục Thống kê (GSO) và Ngân hàng Thế giới (WB) để từ đó tiến hành phân tích các số liệubáo cáo, đưa ra những đánh giá một cách tổng thể về diễn biến điều hành CSTT và thu nhập,chi tiêu, bất bình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình trong giai đoạn 1996 - 2021 Đồng thời,luận án thu thập dữ liệu các biến trong giai đoạn 1996 - 2021 từ các nguồn đáng tin cậy trongnước và quốc tế, thực nghiệm mô hình kinh tế lượng (mô hình DSGE và mô hình VAR) đểlượng hóa tác động của CSTT đến phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình tại Việt Namthông qua phân tích cú sốc CSTT đến chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập từ đó đưa

ra được kết luận cho cả tổng thể bài nghiên cứu

Một số điểm mới trong luận án:

- Luận án phân tích khá chi tiết tổng quan điều hành chính sách tiền tệ Việt Nam vàtổng quan về phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 1996 - 2021 Luận

án tiến hành xem xét diễn biến điều hành CSTT cùng thời kỳ với sự thay đổi của khu vực hộgia đình từ đó phân tích về sự tác động của CSTT đến phân phối thu nhập khu vực hộ giađình

- Luận án tiến hành đo lường phản ứng khu vực hộ gia đình và mức độ ảnh hưởng củaphân phối thu nhập khi có tác động chính sách vĩ mô thông qua mô hình DSGE và mô hìnhVAR Mô hình DSGE là một trong những mô hình kinh tế lượng hiện đại và mạnh trong việcphân tích, đánh giá tác động và dự báo chính sách vĩ mô Đây là mô hình phản ánh cấu trúc

Trang 29

nền kinh tế một cách khá đầy đủ, mang yếu tố động và yếu tố kỳ vọng mà các mô hình kinh

tế vĩ mô truyền thống khác chưa phản ánh hết được

- Luận án đề xuất phương trình đại diện khu vực hộ gia đình trong mô hình DSGE, đềxuất mô hình DSGE với 6 phương trình chính cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việcđánh giá vĩ mô kết hợp vi mô, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế nhỏ mở của Việt Nam gópphần nâng cao khả năng phân tích, dự báo của NHNN trong mảng này Ngoài ra, luận án thựcnghiệm cùng bộ dữ liệu với mô hình VAR để đánh giá cùng với mô hình DSGE, đề xuất biếnwui và wtui trong mô hình VAR thay thế biến us và oil trong mô hình DSGE, đây là 2 biếnphản ánh các thông tin đại diện cho tính bất ổn vĩ mô từ bên ngoài tác động vào nền kinh tếViệt Nam

- Kết quả từ đánh giá tổng quan thực trạng và phân tích thực nghiệm làm cơ sở choluận án hàm ý chính sách và khuyến nghị điều hành chính sách tiền tệ hướng tới giảm bấtbình đẳng thu nhập bên cạnh mục tiêu cuối cùng là ổn định giá cả và mục tiêu lạm phát.Ngoài ra, kết quả từ mô hình DSGE là cơ sở cho luận án đề xuất NHNN cân nhắc về việc cóthể điều hành CSTT theo mục tiêu lãi suất thay vì mục tiêu khối lượng tiền tệ Các đóng gópcủa luận án có tính mới và có thể là cơ sở tham khảo ứng dụng trong thực tiễn điều hànhCSTT của Việt Nam trong tương lai

Trang 30

TRIEU KIM LANH

MONETARY POLICY WITH VIETNAM HOUSEHOLD INCOME DISTRIBUTION: EVIDENCE FROM THE

DSGE MODEL

SUMMARY OF THE THESIS

Major: Banking and Finance CODE: 9 34 02 01 Scientific Instructor: Assoc Prof Dr NGUYEN DUC TRUNG

HO CHI MINH CITY - 2023

Trang 31

CHAPTER 1 : OVERVIEW OF THE RESEARCH TOPIC

1.1 The urgency of the research topic

Research on the distributional effects of monetary policy on income inequality hasreceived more attention since the global economic and financial crisis (period 2007 - 2009).While there is much debate in developed economies regarding its impact, in emergingeconomies, this issue is also receiving more and more attention In mature financial markets,coupled with inadequate access to formal financial institutions, limits the ability ofhouseholds to insure against shocks and exaggerates the distributive effects of overallmacroeconomic fluctuations Theoretically, expansionary monetary policy can haveambiguous effects on household income distribution, which manifest through incomeinequality indicators such as: (i) increasing inequality (do asset price appreciation, whichfavours high-income households holding larger financial assets; do inflation, which affectslow-income households holding more liquid assets), (ii) reducing inequality (to the advantage

of borrowers and disadvantage of savings depositors; economic activity has a greater impact

on the incomes of workers in the lowest income quintile of the distribution)

Many studies have been carried out by countries and by country regions of the world inrecent times to seek unified answers to the above-mentioned issues In countries withdeveloped economies, studies have shown mixed results when studying the relationshipbetween monetary policy and income, redistribution of wealth, and inequality between richand poor, such as Alves and Silva (2021), Hohberger et al (2020), Ampudia et al (2018),Guerello (2018), and Lenza and Slacalek (2018) with the European economy; Albert andGómez-Fernández (2021), Albert et al (2020), Doepke et al (2019), and Davtyan (2017)with the US economy; Mumtaz and Theophilopoulou (2020) with the UK economy; Israeland Latsos (2020), and Lee (2020) with the Japanese economy; Kuncl and Ueberfeldt (2021)with the Canadian economy; Zhang et al (2021) with the Chinese economy Guerello (2018),Hohberger et al (2020), and Israel and Latsos (2020) study both traditional and non-traditional monetary policy; Lenza and Slacalek (2018), and Lee (2020) assess the impact ofquantitative easing on income distribution Within Southeast Asian countries, Punzi (2020)studying the distributional effects of monetary policy in ASEAN economies gave similarresults to Guerello (2018), and Davtyan (2017) Specifically, the expansionary monetarypolicy shock tends to reduce income inequality and narrow the gap between rich and poor InVietnam, research on the distributional effects of monetary policy on income inequality hasbeen recently developed with the study of Tran Huu Tuyen et al (2020); Vu Ngoc Huong et

Trang 32

al (2019) with similar results to Punzi (2020)

On August 8, 2018, Vietnam’s Banking Industry Development Strategy to 2025 with

an orientation to 2030 was approved by the Prime Minister in Decision No 986/QD-TTg,

according to which one of the tasks The proposed solution is to innovate "The monetary policy

framework is aimed at controlling inflation, stabilizing the value of money, contributing to maintaining macroeconomic stability, creating favourable conditions for conditions to improve the efficiency of capital mobilization and allocation in the economy, promoting sustainable economic growth; increasing the independence of the State Bank of Vietnam in conducting monetary policy Operating monetary policy gradually changed from operating according to the volume ofmoney to mainly operating according to price; using indirect tools, gradually removing administrative measures on interest rates when conditions permit; continuing to operate open market operations in the direction of being the main tool to regulate the available capital of credit institutions, to achieve monetary policy objectives in each period” Along with the Banking Industry Development Strategy, on February 1, 2019,

the Non-observed Economic Sector Statistics Scheme was issued together with Decision No.146/QD-TTg according to which the economic sector has not been statistical observationswill be made, including 05 groups: (i) Underground economic activities, (ii) Illegal economicactivities, (iii) Unobserved informal economic activities, (iv) Economic activities ofhouseholds' self-production and self-consumption and (v) Economic activities are omitted instatistical data collection programs (Trieu Kim Lanh et al., 2021) On January 22, 2020, thePrime Minister approved the National Financial Inclusion Strategy to 2025, with a vision to

2030, to achieve the goal of "Allpeople and businesses have safe and convenient access and

use with appropriate financial products and services, at reasonable costs, from licensed organizations responsibly and sustainably” With the above Strategies, the household sector

is increasingly interested in building and developing the State's socio-economic developmentprograms So, the question posed for the future trend of monetary policy management is that,besides the final goal according to the Law on the State Bank of 2010, can we set a targettowards the household sector, for example, a target of reducing household income inequality?When analyzing the correlation between the fluctuations in monetary policy

management with the changes in income, household expenditure and income inequality, fromthe actual data, the thesis finds that the stages of the State Bank of Vietnam's monetary policyimplementation (through increasing /reducing the interest rate instrument and other combinedmeasures) will reduce/increase household consumption in the short run and household

Trang 33

3income inequality has changed However, exploiting the influence of monetary policy on thehousehold sector for domestic studies is still not much, especially empirical studies applyingthe DSGE model, not combined with an overview analysis of income, expenditure andincome inequality through the Results of Vietnam Households Living Standards Survey Aim

to study the impact of monetary policy on the results of income distribution in the householdsector to imply policy towards reducing income inequality This is also an importantmotivation for the thesis to carry out this research

Unlike previous studies on this research topic conducted in Vietnam, the thesisproposes a DSGE model with 06 main equations, suitable for Vietnam's small and openeconomy, supplementing the money supply function equation and consumption functionequation to measure the response of the household sector to monetary policy shocks areconsistent with the practice of monetary policy implementation of the State Bank of Vietnam

In addition, the study will experiment with the same data set with the VAR model adding theGini coefficient, the world trade uncertainty index (WTUI) and the world uncertainty index(WUI), to measure the response of the household sector through income distribution takinginto account global macroeconomic instability The thesis is expected to be able to makespecific and scientific estimates of the effect of monetary policy on the household sector andincome distribution in Vietnam Finally, the thesis also has another small contribution, which

is to make a forecast on the impact of monetary policy on inflation in Vietnam in the period

of 2022 - 2025 based on the results of the DSGE model proposed by the thesis

1.2 Objectives of the study

1.2.1 Overall objectives

The thesis focuses on assessing the impact of monetary policy on the results of incomedistribution in Vietnam's household sector in the period 1996 - 2021 through income,expenditure and income inequality, thereby providing scientific evidence theoretically andempirically to imply that monetary policy implementation is aimed at reducing incomeinequality in the household sector

Trang 34

- Policy implications and recommendations on monetary policy implementation withhousehold income distribution in Vietnam

- Regarding the overall assessment: the topic evaluates the monetary policy operation of

the State Bank of Vietnam from 1996 to 2021, to have an overview of the monetary policyimplementation of the State Bank in this period, combined with an analysis of the income,consumer spending and household income inequality in the same study period

- Regarding the experiment: the topic of empirical research in the period 1996 - 2021

quantifies the macro impacts that monetary policy brings to the household sector through theanalysis of monetary policy shocks on consumer spending and income equality

1.5 Research Methods

To achieve the first research objective, the thesis synthesizes reports on monetarypolicy implementation of the State Bank of Vietnam, the reports are related to the householdsector of the same period and the results of Vietnam Households Living Standards Survey(VHLSS) from the General Statistics Office (GSO) and the World Bank (WB) to analyze thereported data and make an overall assessment of the monetary policy operation and income,expenditure, income inequality in the household sector in the period 1996 - 2021

Trang 35

To achieve the second research objective, the thesis collects data on variables for theperiod 1996 - 2021 from reliable domestic and international sources such as the State Bank ofVietnam (SBV), the General Statistics Office (GSO), International Monetary Fund (IMF), theWorld Bank (WB), Asia Regional Integration Center - Asian Development Bank (AsiaRegional Integration Center - ARIC, ADB), ST Louis Fed, Standardized World IncomeInequality Database (SWIID), World Uncertainty Index Database (WUI) and experimentaleconometric models (DSGE and VAR models) to quantify the impact of monetary policy onhousehold income distribution in Vietnam through analysis of monetary policy shocks toconsumer spending and income inequality, thereby concluding both overall research paper, as

a basis for recommendations and policy implications for the third research objective Inparticular, the thesis proposes to the State Bank of Vietnam a DSGE model suitable forVietnam's small open economy based on inheriting from the DSGE model built for the SBVand developing more equations related to households to contribute to improving the analysisand forecasting ability of the State Bank in this area

1.6 The scientific and practical significance of the thesis

The research topic "Monetary policy with Vietnam household income distribution:

Evidence from the DSGE model" has scientific, practical and policy significance From a

scientific perspective, research on the impact of monetary policy on the household sector andincome distribution has not been explored much in Vietnam, especially the application of theDSGE model in assessing the policy impact to the household sector, the thesis will provideempirical evidence showing the extent of the impact of monetary policy on the householdsector in Vietnam, referencing the DSGE model of the central banks over the world isadjusted to suit the socio-economic characteristics and operating monetary policy in Vietnam,while empirical studies on the impact of monetary policy in Vietnam related to the householdsector are exploited based on the DSGE model is still quite new and complicated, the thesisproposes DSGE model with 06 main equations suitable for Vietnam's small open economy,including the micro-equation on the household sector and the thesis conducts experiment onthe VAR model from that to make overall conclusions about the impact of policyadministration on the household sector and income distribution From a policy perspective,the State Bank of Vietnam urgently needs critical information from scientists in measuringthe impact of the policy, and its lag in practice, from which there will be a lot of multi-dimensional information contributing to better orientation for policymakers in forecasting

and subsequent decision making In addition, the research topic "Monetary policy with

Trang 36

Vietnam household income distribution: Evidence from the DSGE model" has practical

significance, especially in the context that the household sector is object are more and moreinterested in macroeconomic policy management, the results of the thesis show that thehousehold sector reacts to the impact of monetary policy and is a reference basis formanagers in implementing monetary policy for assessing, forecasting and planning futuremacroeconomic policies While there are not many empirical studies on the household sector

in Vietnam related to the impact of the state's macro policies in general, the study willcontribute valuable scientific evidence in the study of the income distribution of thehousehold sector and the impact of monetary policy on this sector in Vietnam

1.7 Research design

1.8 Thesis structure

The thesis is presented in 5 chapters, with the main contents as follows:

- Chapter 1 Overview of the research topic

- Chapter 2 The theoretical basis of monetary policy, income distribution and researchmodel

- Chapter 3 Research methods

- Chapter 4 Research results and discussion

- Chapter 5 Conclusion, policy implications

1.9 Summary of Chapter 1

CHAPTER 2 : THE THEORETICAL BASIS OF MONEY POLICY,

INCOME DISTRIBUTION AND RESEARCH MODEL

2.1 The theoretical basis of conventional monetary policy

2.1.1 The concept of conventional monetary policy

2.1.2 Tools of conventional monetary policy

2.1.3 Transmission of conventional monetary policy

2.2 The theoretical basis of unconventional monetary policy

2.2.1 The concept of unconventional monetary policy

2.2.2 Tools of unconventional monetary policy

2.2.2.1 Liquidity Provider

Trang 37

2.2.2.2 Large-scale asset purchase tool

2.2.2.3 Forward-looking tool

2.2.2.4 Negative interest rate tool

2.2.2.5 Some other tools

2.2.3 Transmission of unconventional monetary policy

2.3 The theoretical basis of income distribution

2.3.1 Measures of Inequality in income distribution

2.3.1.1 Lorenz curve

2.3.1.2 Gini coefficient

2.3.2 The theoretical basis of income distribution

2.4 The impact of monetary policy on household sector income distribution

Monetary policy affects income and wealth distribution in a variety of ways Monetary policy affects households or individuals through three main effects: income effect, wealth effect, and substitution effect The sum of the distributive effects of monetary policy

determined by the different transmission channels that monetary policy can have on income inequality, categorizing the sum of allocative effects into five specific channels as follows:

Income Composition Channel, Financial Segmentation Channel, Portfolio Channel, Savings Redistribution Channel, Earnings Heterogeneity Channel Nakajima (2015) summarizes the

five channels of monetary policy into two main distribution channels: the inflation channel and the income channel

2.5 The theoretical basis of the research model

2.5.1 Dynamic stochastic general equilibrium model according to the Theory of real

2.6.3 Summary of previous research results and research gaps

From the synthesized issues, the thesis identifies gaps in previous studies and proposesthe research content of the thesis as follows:

- The thesis conducts an overview analysis of monetary policy implementation in

Trang 38

8Vietnam in the period 1996 - 2021 along with analyzing the current situation of income,expenditure, and income inequality in the household sector through the results of the Vietnamhouseholds living standard survey (VHLSS), thereby showing the evolution of this area in thesame period of monetary policy.

- The thesis conducts experiments on the impact of monetary policy on the results ofincome distribution in the household sector through the DSGE model and the VAR model toquantify the impact of shocks The DSGE model is one of the quite complex butcomprehensive models and is starting to be exploited more in research in Vietnam, this is apopular model used by central banks in the world in macroeconomic analysis and forecastand is an appropriate model for studies involving the combination of macro and microvariables Research results from 02 quantitative models show the impact of monetary policy

on consumer spending and income inequality, thereby assessing the level of the impact of themonetary policy of the SBV Vietnam for the household sector, contributing empiricalevidence for policy implications and recommendations The proposed equations in the DSGEmodel and the VAR model of the thesis also contribute in terms of theoretical and empiricalbasis to the policy research process in Vietnam

to supplement the representative equation for the household sector to serve the purpose ofassessing monetary policy shock in this area

The proposed DSGE model in the thesis is as follows:

Trang 39

x t = x t+1 - (r t - pt+1) - p 2 e t + p 2 us t + p 12 oil t + g t (1) 2

2The IMF model identifies changes in monetary policy through the response of interest rates and exchange rates This is only suitable for central banks that use an intermediary tool that is the target interest rate (or target rate) to achieve the ultimate goal of stabilizing inflation (output).

Trang 40

1 0

- x t is the output gap of Vietnam (the difference

between real GDP and potential GDP)

- p t is Vietnam's inflation

- r t is the refinancing rate

- et is the USD/VND exchange rate

- us t is the US output gap

- oil t is the world oil price (Brent)

- m t is the M2 money supply of Vietnam

- c t is household consumption expenditure

- g t , n t , u t , k t , a t , b t are the shocks of each equation (which is the deviation of the controlvariable from its equilibrium value)

- K, >V2 are the parameters to be estimated.

Equation (1) is built based on the IS curve equation for the small and open economy.Equation (1) defines the output deviation, which is a linear combination of the expectedoutput deviation, the real interest rate, the exchange rate, the US output deviation, and the

state variable g t Equation (2) is the Phillips curve equation that represents the relationshipbetween inflation and GDP Equation (2) defines inflation, which is a linear combination ofexpected inflation, past inflation, output deviation, and changes in the past exchange rate and

state variable n t Equation (3) is an interest rate equation based on Taylor's Rule Equation (3)defines the interest rate, which is a linear combination of expected interest rates, past interest

rates, output deviations, inflation, and the state variable u t In this study, it is assumed that thecentral bank adjusts interest rates in response to changes in inflation, and real output.Equation (4) is the exchange rate equation Equation (5) is the money supply equation,reflecting the relationship of the current money supply with the past money supply, the realoutput of the economy and expected inflation Equation (6) is the household consumptionfunction equation, which reflects the relationship of current household consumption to futureconsumption and the real interest rate

Which, equations (1), (2), (3) are developed based on the research of Galí (2015) Using

(3)(4)(5)(6)

Ngày đăng: 14/08/2023, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Duy Hưng 2020, ‘Chính sách tiền tệ trong bối cảnh Covid-19 ở một số nước phát triển và Việt Nam’, Tạp chí Ngân hàng, Số 16(08/2020), Truy cập tại<http://tapchinganhang.com.vn/tcnh-so-16-thang-8-2020.htm&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngân hàng
2. Bùi Thị Trang Dung và Nguyễn Thị Giang 2015, Báo cáo kỹ thuật về việc xây dựng, tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật, ứng dụng và đề xuất vận hành mô hình DSGE tại Vụ Dự báo, Thống kê. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kỹ thuật về việc xây dựng, tiếpnhận hỗ trợ kỹ thuật, ứng dụng và đề xuất vận hành mô hình DSGE tại Vụ Dự báo, Thốngkê
3. Chu Khánh Lân, Trần Huy Tùng, Phạm Đức Anh, Nguyễn Thị Hiền, Trương Hoàng Diệp Hương, Vũ Ngọc Hương, . . . Trần Văn Tần 2017, Chính sách tiền tệ phi truyền thống: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tiền tệ phi truyền thống: Kinhnghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
4. Đào Minh Thắng 2019, Hiệu ứng tràn chính sách tiền tệ từ các quốc gia phát triển tới Việt Nam và một số hàm ý chính sách, Tạp chí Ngân hàng, Số 20(Tháng 10/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngân hàng
5. Đồng Thị Vân Hồng, Nguyễn Văn Thương và Đỗ Thị Dinh 2010, Giáo trình Kinh tế phát triển, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế pháttriển
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
6. Dương Ngọc Mai Phương, Vũ Thị Phương Anh, Đỗ Thị Trúc Đào và Nguyễn Hữu Tuấn 2015, ‘Tác động của chính sách tiền tệ đến thị trường chứng khoán: Bằng chứng tại Việt Nam’, Tạp chí Phát triển & Hội nhập, Số 25(35), 3-13. Truy cập tại<https://www.uef.edu.vn/newsimg/tap-chi-uef/2015-11-12-25/1.pdf&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển & Hội nhập
7. Dương Thị Bình Minh, Sử Đình Thành, Vũ Thị Minh Hằng, Nguyễn Anh Tuấn, Bùi Thị Mai Hoài và Diệp Gia Luật 2004, Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ (4 ed.), Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Thốngkê
8. Huỳnh Công Danh 2016, Tác động của chính sách tiền tệ phi truyền thống của các nước phát triển lên các nước đang phát triển và gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một, 1(26), 27-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học Đại họcThủ Dầu Một
9. Lê Thị Tuyết Hoa, Đặng Văn Dân, Nguyễn Thị Nhung, Đỗ Linh Hiệp, Lê Văn Hải, Nguyễn Văn Nghiện, . . . Nguyễn Trần Phước Bảo 2017, Giáo trình Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ, Nhà xuất bản Kinh tế TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Kinh tế TPHCM
10. Luật NHNN 1997, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10. Ban hành ngày 12/12/1997; Hiệu lực từ ngày 01/10/1998; Hết hiệu lực từ ngày 01/01/2011: Quốc Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10
11. Luật NHNN 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12. Ban hành ngày 16/6/2010; Hiệu lực từ ngày 01/01/2011: Quốc Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12
14. Nguyễn Đức Trung 2016, Ứng dụng mô hình cân bằng động ngẫu nhiên tổng quát trong phân tích tổng cầu của nền kinh tế Việt Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng,167, 16-19. Truy cập tại<http://210.245.26.173:6788/tapchi/Uploads/Duc_20Trung_20T4_2016.pdf&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng,"167
15. Nguyễn Đức Trung, Đặng Thị Ngọc Hà, Trần Anh Tuấn, Hoàng Việt Phương, Lê Hoàng Quân, Lưu Xuân Khôi, . . . Nguyễn Thị Bình Minh 2019, Phát triển mô hình cân bằng động tổng quát (DSGE) trong phân tích các cú sốc nhằm nâng cao chất lượng dự báo kinh tế vĩ mô Việt Nam, Đề tài cấp ngành,. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển mô hình cân bằngđộng tổng quát (DSGE) trong phân tích các cú sốc nhằm nâng cao chất lượng dự báo kinhtế vĩ mô Việt Nam
16. Nguyễn Đức Trung, Lê Hoàng Anh và Triệu Kim Lanh 2022, Điều hành chính sách tiền tệ Việt Nam trong bối cảnh xung đột giữa Nga và Ukraine: Nhìn từ giá dầu thế giới thông qua mô hình DSGE và mô hình thực nghiệm VAR, Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng Châu Á, 198(Tháng 9.2022), 5-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng Châu Á
17. Nguyễn Đức Trung và Nguyễn Hoàng Chung 2018a, Phân tích cú sốc chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam - tiếp cận bằng mô hình Keynes mới theo kỳ vọng hợp lý. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, Số 150(Tháng 09/2018), 8-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chíCông nghệ Ngân hàng
18. Nguyễn Đức Trung và Nguyễn Hoàng Chung 2018b, Mô hình dự báo cho nền kinh tế nhỏ và mở của Việt Nam: Phương pháp tiếp cận BVAR-DSGE. Tạp chí Phát triển Kinh tế, Số 28(10), 05-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển Kinh tế
19. Nguyễn Quang Dong, Nguyễn Thị Minh và Nguyễn Mạnh Thế 2013, Giáo trình kinh tế lượng, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tếlượng
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
20. Nguyễn Thị Cành, Trần Viết Hoàng, Hoàng Công Gia Khánh, Cung Trần Việt và Trương Quang Thông 2014, Giáo trình Tài chính công, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính công
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
21. Nguyễn Thị Hồng và Hồ Thị Diệu Linh 2020, Thực trạng áp dụng chính sách tiền tệ phi truyền thống ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý và Kinh tế Quốc tế, Số 126(Tháng 2/2020), 15- 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Quản lý và Kinh tế Quốc tế
22. Nguyễn Thị Hồng và Trần Quang Thanh 2018, Chính sách tiền tệ phi truyền thống: Bài học từ Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ), Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, Số 110(10/2018), 76-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế Đối ngoại

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Ước lượng mô hình DSGE - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Bảng 4.1 Ước lượng mô hình DSGE (Trang 15)
Hình 4.1: Hàm phản ứng đẩy phân tích cú sốc u (tác động của NHTW) - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 4.1 Hàm phản ứng đẩy phân tích cú sốc u (tác động của NHTW) (Trang 17)
Hình 4.2: Hàm phản ứng đẩy phân tích cú sốc CSTT của NHTW - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 4.2 Hàm phản ứng đẩy phân tích cú sốc CSTT của NHTW (Trang 20)
Hình 2.1: Truyền dẫn chính sách tiền tệ trong điều kiện bình thường - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 2.1 Truyền dẫn chính sách tiền tệ trong điều kiện bình thường (Trang 89)
Hình 2.2: Truyền dẫn CSTT phi truyền thống đến nền kinh tế - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 2.2 Truyền dẫn CSTT phi truyền thống đến nền kinh tế (Trang 91)
Hình 2.3: Truyền tải chính sách tiền tệ từ công cụ mua tài sản quy mô lớn - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 2.3 Truyền tải chính sách tiền tệ từ công cụ mua tài sản quy mô lớn (Trang 97)
Hình 2.4: Truyền dẫn công cụ lãi suất âm - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 2.4 Truyền dẫn công cụ lãi suất âm (Trang 98)
Hình 2.5: Truyền dẫn công cụ khuyến khích cho vay - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 2.5 Truyền dẫn công cụ khuyến khích cho vay (Trang 99)
Hình 2.8: Phân phối thu nhập tối ưu có MU A  = MU B - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 2.8 Phân phối thu nhập tối ưu có MU A = MU B (Trang 105)
Hình 2.10: Mô hình DSGE biểu diễn mối quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 2.10 Mô hình DSGE biểu diễn mối quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế (Trang 113)
Hình 2.11: Mô hình DSGE biểu diễn sự tham gia của Ngân hàng Trung ương - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 2.11 Mô hình DSGE biểu diễn sự tham gia của Ngân hàng Trung ương (Trang 113)
Hình 2.12: Cấu trúc cơ bản của mô hình DSGE - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 2.12 Cấu trúc cơ bản của mô hình DSGE (Trang 116)
Hình VAR - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
nh VAR (Trang 147)
Bảng 4.1: Kết quả thực hiện chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế hàng năm - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế hàng năm (Trang 154)
Hình 4.2: Tăng trưởng cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế (%) - Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình việt nam
Hình 4.2 Tăng trưởng cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế (%) (Trang 157)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w