1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

126 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Và Tổ Chức Dạy Học Theo Dự Án Môn Toán Lớp 7 Ở Trường Trung Học Cơ Sở
Tác giả Lương Văn Quang
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Danh Nam
Trường học Đại Học Thái Nguyên Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Khoa Học Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn Toán.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯƠNG VĂN QUANG

THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Danh Nam

Thái Nguyên, 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯƠNG VĂN QUANG

THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn Toán

Mã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Danh Nam

Thái Nguyên, 2022

Trang 3

i

L ỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là Lương Văn Quang, học viên cao học chuyên ngành: Lý luận và

phương pháp dạy học bộ môn Toán, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên, khóa học 2020 – 2022 Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên

cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Danh Nam

Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được công bố trước đây

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Xác nhận của Thái Nguyên, tháng 5 năm 2022

Giáo viên hướng dẫn Tác giả luận văn

PGS.TS Nguyễn Danh Nam Lương Văn Quang

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Danh Nam, người luôn nhiệt tình và tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Toán của trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá học Cùng các thầy cô giáo trong tổ bộ môn phương pháp giảng dạy môn Toán của Khoa Toán và các thầy cô đã hết lòng giảng dạy lớp cao học LL&PPDH bộ môn Toán K28 chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong trường Tiểu học và Trung học cơ sở 915 Gia Sàng – Thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình

Đặc biệt tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến bố mẹ tôi là ông Lương Văn Úc, bà Lương Thị Hương đã luôn động viên, ủng hộ, giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin cảm ơn cô giáo Trần Thị Thủy phó Hiệu trưởng trường Tiểu học và Trung học cơ sở 915 Gia Sàng – Thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên cùng cô giáo Phạm Thị Phượng giảng viên trường Cao đẳng Thái Nguyên là những người đã truyền cảm hứng học tập, niềm say mê nghiên cứu khoa học, tinh thần ham học hỏi và luôn tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình công tác, học tập, nghiên cứu

Do khả năng và thời gian có hạn, mặc dù đã cố gắng rất nhiều tuy nhiên bản Luận văn này chắc chắn không tránh khỏi sai sót Tôi rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô giáo

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2022

Tác giả luận văn Lương Văn Quang

Trang 5

iii

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VI DANH MỤC CÁC BẢNG VII DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VIII

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Giả thuyết khoa học 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học 7

1.2 Phương pháp dạy học theo dự án 12

1.2.1 Dự án và dự án học tập 14

1.2.2 Quan niệm về dạy học theo dự án 15

1.2.3 Mục tiêu của dạy học theo dự án 16

1.2.4 Đặc điểm của dạy học theo dự án 17

1.2.5 Phân loại dạy học theo dự án 19

1.2.6 Quy trình dạy học theo dự án 20

1.2.7 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo dự án 22

1.2.8 Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo dự án 24

1.2.9 Đánh giá trong dạy học theo dự án 25

1.2.10 Dạy học dự án với môn Toán 27

1.3 Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học môn Toán ở trường THCS 29

Trang 6

iv

1.3.1 Kết quả điều tra giáo viên 29

1.3.2 Kết quả điều tra học sinh 33

1.4 Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MỘT SỐ NỘI DUNG GẮN VỚI THỰC TIỄN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 37

2.1 Một số nguyên tắc cơ bản khi thiết kế dự án học tập 37

2.1.1 Đảm bảo phù hợp với nhận thức và tâm lý lứa tuổi của học sinh 37

2.1.2 Đảm bảo phù hợp với nội dung chương trình 37

2.1.3 Đảm bảo tính thiết thực, gần gũi trong đời sống 38

2.1.4 Đảm bảo thể hiện kinh nghiệm sống và kỹ năng sống 38

2.2 Thiết kế một số dự án liên hệ toán học với thực tiễn 39

2.2.1 Dự án “Tỉ lệ thức trong cuộc sống” 39

2.2.2 Dự án “Đại lượng tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch với lao động sản xuất” 43

2.2.3 Dự án “Tam giác trong cuộc sống” 47

2.2.4 Dự án “Thống kê tác động của đại dịch Covid – 19 tới cuộc sống” 52

2.2.5 Dự án “Biểu thức đại số và sức khỏe con người” 57

2.3 Tổ chức thực hiện một số dự án đã thiết kế 63

2.3.1 Dự án “Tỉ lệ thức trong cuộc sống” 63

2.3.2 Dự án “Đại lượng tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch với lao động sản xuất” 70

2.4 Tiểu kết chương 2 77

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 78

3.2 Kế hoạch thực nghiệm 78

3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 78

3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 78

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 78

3.5 Thuận lợi và khó khăn 79

3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 80

3.6.1 Phân tích về mặt định tính 80

3.6.2 Phân tích về mặt định lượng 82

Trang 7

v

3.7 Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 92

Trang 9

vii

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 1 Kết quả điều tra giáo viên 29

Bảng 1 2: Kết quả điều tra học sinh 33

Bảng 1 3: Đánh giá mức độ tham gia các hoạt động 34

Bảng 1 4: Khả năng phát triển năng lực 34

Bảng 2 1: Lực lượng lao động các quý, giai đoạn 2019 – 2021 53

Bảng 2 2: Số lao động có việc làm các quý, giai đoạn 2019 – 2021 53

Bảng 2 3: Số người và tỉ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi các quý 53

Bảng 2 4: Thu nhập bình quân đầu người 54

Bảng 2 5: Tỉ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập 54

Bảng 3 1: Danh sách các kĩ năng học học sinh được phát triển sau khi tham gia thực hiện dự án 81

Bảng 3 2: Bảng thống kê điểm số 82

Bảng 3 3: Bảng phân phối tần suất 82

Bảng 3 4: Bảng tổng hợp các tham số 82

Bảng 3 5: Bảng thống kê điểm số 84

Bảng 3 6: Bảng phân phối tần suất 85

Bảng 3 7: Bảng tổng hợp các tham số 85

Trang 10

viii

DANH M ỤC SƠ ĐỒ, HÌNH

Sơ đồ 1 1: Đặc điểm của dạy học theo dự án 19

Hình 3 1: Đồ thị biểu diễn phân phối tần suất điểm số 83

Hình 3 2: Đồ thị phân phối tần suất 83

Hình 3 3: Đồ thị biểu dẫn phân phối tần suất điểm số 85

Hình 3 4: Đồ thị phân phối tần suất 86

Trang 11

dục và đào tạo với quan điểm “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” lần đầu

tiên được đưa ra, đã cho thấy Việt Nam từ rất sớm đã luôn coi trọng giáo dục bên cạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Song song với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới hiện nay ngành giáo dục cũng có những bước chuyển mình rất lớn Trong thời kì công nghệ số 4.0 ngành giáo dục đã chủ động tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại tạo điều kiện cho việc học tập, đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, đáp ứng nhu cầu của xã hội và từng cá nhân học sinh

Kế thừa tư tưởng đó, khoản 2, điều 3, Luật Giáo dục (2005) đã quy định về

nguyên lí giáo dục như sau: “Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lí học đi

đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với sản xuất, lí luận phải gắn liền với thực tiễn”

[17] Rõ ràng, với môn Toán lý thuyết cũng cần gắn liền với thực tiễn

Còn Luật Giáo dục 2019 khẳng định “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn

diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.” [18]

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI

“về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp

hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” (2013) đã nhấn mạnh về sự cấp thiết phải đổi mới cả mặt phương

pháp lẫn nội dung dạy học và chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và

học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy

Trang 12

2

móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học

tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học.” [19]

Từ những điều đó đã cho ta thấy rằng, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến việc cải cách giáo dục đổi mới nội dung, phương pháp dạy học từ rất sớm Do đó

“Cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo, trong đó học sinh được tham

gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải quyết vấn đề Đó là cách tốt nhất giúp học sinh có

sự hiểu biết vững chắc, phát triển được vốn kiến thức, kỹ năng toán học nền tảng, từ

đó hình thành và phát triển các năng lực chung cùng với năng lực toán học” [1]

Theo Howard Gardner – một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard, trí thông minh (intelligence) gồm các loại trí thông minh: Logic – toán học, không gian,

vận động, tương tác giao tiếp, nội tâm, thiên nhiên, ngôn ngữ, âm nhạc Hay như nhà bác học Albert Einstein từng nói rằng: “Ai cũng là thiên tài Nhưng nếu bạn đánh giá

một con cá bằng khả năng leo cây, nó sẽ sống suốt đời với niềm tin rằng nó là kẻ đần độn.” Điều đó cho thấy mỗi một học sinh có một cách tiếp nhận, xử lý và ghi nhớ

thông tin bằng những cách khác nhau

Mặc dù vậy đã từ rất lâu nhiều học sinh vẫn quen với việc “học để thi” chú trọng lý thuyết, giải bài tập khó với những kiến thức rất “hàn lâm” Các phương pháp dạy học tích cực chưa thực sự được chú ý, coi trọng, chưa phát huy được tối đa những trí thông minh của người học Do đó, vẫn còn nhiều hạn chế trong việc tiếp thu kiến thức môn học với học sinh Với các phương pháp dạy học cũ, giáo viên thường chỉ tập trung rèn luyện cho các em học sinh chủ yếu loại trí thông minh logic – toán học

mà đã bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp… đồng thời hướng tất cả học sinh đi theo cùng một con đường và cùng chịu chung một sự đánh giá và nhận xét

Để hình thành và phát triển năng lực toán học cho học sinh như năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán và năng lực tự học toán cho học sinh Người giáo viên cần dạy học bằng những hình thức học tập chủ

Trang 13

3

động với tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, phát huy tính tích cực, tự giác,

chủ động của học sinh, chú ý nhu cầu, năng lực nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân học sinh [1]

“Tăng cường tính ứng dụng, gắn kết giữa nội dung môn Toán với đời sống thực tế hay liên môn, gắn với xu hướng phát triển hiện đại của kinh tế, khoa học và đời sống xã hội, góp phần giúp học sinh hình thành, rèn luyện khả năng ứng dụng tri thức đã học trong thực tiễn và làm chủ các "kỹ năng sống"”

“Việc rèn luyện phương pháp học tập có ý nghĩa quan trọng Việc kiểm tra đánh giá không chỉ kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà định hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn” [1]

Hiện nay các phương pháp, hình thức dạy học tích cực đã được triển khai trong các nhà trường phổ thông với mong muốn phát huy tối đa tiềm năng của học sinh nhưng vì nhiều lý do từ chủ quan đến khách quan làm cho phương pháp dạy học theo xu hướng truyền thống vẫn là phương pháp dạy học phổ biến Albert Einstein

nói rằng: "Đừng mong chờ kết quả mới nếu bạn vẫn lặp đi lặp lại cách làm cũ"

“Phát triển năng lực người học” được xem là kim chỉ nam trong hoạt động

xây dựng và triển khai chương trình sách giáo khoa mới của các môn học nói chung

và môn Toán nói riêng Chính vì vậy, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [1] hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực chung, thông qua tất cả môn học; những năng lực đặc thù thông qua một số hoạt động giáo dục nhất định; bên cạnh đó còn bồi dưỡng năng khiếu học sinh

Dù biết để hình thành tất cả những năng lực trên cho học sinh không phải là một điều dễ dàng, nhưng với phương pháp dạy học theo xu hướng truyền thống khó

có thể tạo ra môi trường học tập hợp tác, tích cực, chủ động mà từng thành viên có thể phát huy hết những thế mạnh của bản thân để đảm nhận một vai trò hay một công việc cụ thể hướng đến một mục tiêu chung Vì thế, học sinh không thể hình thành được các kỹ năng hợp tác, cộng tác thiết yếu rất quan trọng để tồn tại và phát triển trong thực tế cuộc sống cũng không có kỹ năng áp dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hàng ngày

Dạy học theo dự án được biết đến là một phương pháp lấy người học làm

Trang 14

4

trung tâm khi mà người học được sử dụng tất cả những thế mạnh của mình để lĩnh hội tri thức Thỏa mãn nhu cầu tiếp thu kiến thức bằng các phong cách học tập khác nhau tương ứng với mỗi loại hình thông minh của học sinh Học sinh sẽ tích lũy kiến thức của mình thông qua các bối cảnh và kinh nghiệm khác nhau Lớp học truyền thống với những cách làm cũ khiến học sinh khó có cơ hội tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức bằng nhiều cách khác nhau mà chỉ tập trung vào việc “hỏi – đáp”, “ghi – chép”

Dạy học dự án giúp học sinh phải sử dụng tất cả những thế mạnh những “trí thông minh” mạnh mẽ của bản thân trong quá trình nghiên cứu và giải quyết vấn đề,

từ đó đưa ra các giải pháp cho những vấn đề gặp phải Người học sẽ học được cách hợp tác với bạn bè, tinh thần trách nhiệm cùng sự tổng hợp kiến thức, kỹ năng, rèn luyện thái độ học tập và kinh nghiệm ở nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng thời phát triển

kỹ năng giải quyết vấn đề, giao tiếp, hợp tác, nghiên cứu và tự học Tất cả những kiến thức và kỹ năng đó rất cần thiết để học sinh thích ứng với những thay đổi diễn ra hàng ngày trong thời đại kỉ nguyên số 4.0 Những tình huống thực tế của cuộc sống được đưa vào chương trình học thông qua các dự án học tập, mọi học sinh được khuyến khích để trở thành một người có thể làm việc độc lập, có tư duy phản biện, có những kỹ năng cơ bản và tinh thần học tập suốt đời

Qua thực tiễn dạy học môn Toán tại trường phổ thông và quá trình học tập, nghiên cứu sau đại học, tác giả luận văn rất quan tâm tới đổi mới phương pháp dạy học Tác giả luận văn đã nghiên cứu về các phương pháp dạy học theo dự án để vận dụng cho bộ môn Toán nhằm có thể thay đổi việc dạy và học môn Toán theo hướng tích cực, giúp cho học sinh thấy được toán học rất gần gũi, thực tế với cuộc sống thường nhật xung quanh và cảm thấy việc học tập các kiến thức toán ở nhà trường là một việc cần thiết để giải quyết các vấn đề, các tình huống thực tiễn đơn giản trong cuộc sống, quan trọng hơn là các em học sinh sẽ cảm thấy toán học không còn khô khan mà trở nên thú vị hơn

Với những mục đích đó, tác giả luận văn chọn đề tài nghiên cứu: “Thiết kế và

tổ chức dạy học theo dự án môn Toán lớp 7 ở trường trung học cơ sở”

2 M ục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu về việc phát triển năng lực hợp tác, chủ động, tích cực,

Trang 15

5

giải quyết các vấn đề thực tiễn đơn giản trong cuộc sống của học sinh để nghiên cứu

và vận dụng hình thức dạy học theo dự án cho phù hợp hiệu quả đối với một số nội dung thực tiễn trong môn Toán lớp 7

3 Khách th ể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán ở trường THCS 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các dự án học tập có sự liên hệ giữa toán học với thực tiễn

3.3 Phạm vi nghiên cứu: Nội dung môn Toán lớp 7

4 Gi ả thuyết khoa học

Nếu thiết kế và tổ chức thực hiện được một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong dạy học môn Toán ở trường THCS thì sẽ góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tạo động lực để học sinh khám phá, tìm tòi, kích thích niềm đam

mê nghiên cứu khoa học, đồng thời làm cho toán học gần gũi, thiết thực hơn trong cuộc sống của học sinh, qua đó nâng cao chất lượng học tập môn Toán và khả năng vận dụng toán học vào thực tế cuộc sống của học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

5 Nhi ệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu về đường lối giáo dục và chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng

và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay

- Nghiên cứu về các năng lực cần đạt của học sinh trong chương trình giáo dục phổ thông mới

- Nghiên cứu tâm lý lứa tuổi học sinh

- Nghiên cứu một số biện pháp rèn luyện kỹ năng cho giáo viên và học sinh khi tham gia hoạt động học tập theo dự án

- Nghiên cứu lí luận về dạy học theo dự án phù hợp với tâm lý lứa tuổi

- Tìm hiểu thực trạng việc dạy học theo dự án ở trường THCS

- Thiết kế một số dự án học tập nhỏ gắn toán học với thực tiễn trong chương trình môn Toán lớp 7

- Tổ chức thực hiện một số dự án học tập nhỏ gắn với thực tiễn trong dạy học môn Toán lớp 7

Trang 16

6

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của một số

dự án liên hệ toán học với thực tiễn

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu một số văn bản, tài liệu liên

quan đến đổi mới chương trình, SGK; đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp dạy học theo dự án; các tài liệu triết học, tâm lí học, giáo dục học và lí luận dạy học

bộ môn Toán có liên quan đến đề tài

- Phương pháp chuyên gia: Hỏi ý kiến chuyên gia, những người có kinh

nghiệm cả về lý luận lẫn thực tiễn trong dạy học dự án

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thiết kế các phiếu điều tra và tiến

hành điều tra về tình hình dạy - học của giáo viên, học sinh về dạy học dự án và việc vận dụng các kiến thức được học vào thực tế cuộc sống

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phân tích dự án của từng nhóm; phân

tích phiếu đánh giá của cá nhân học sinh, của nhóm trưởng đối với các thành viên trong nhóm và phiếu đánh giá chéo giữa các nhóm học sinh

- Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính

khả thi và hiệu quả của đề tài

- Phương pháp thống kê toán học: Phân tích các số liệu điều tra thực trạng và

số liệu thực nghiệm sư phạm, kiểm định giả thuyết thống kê,

7 C ấu trúc của luận văn

Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận” và “Danh mục tài liệu tham khảo”, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Dạy học theo dự án một số nội dung gắn với thực tiễn môn Toán lớp 7 ở trường trung học cơ sở

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

đã đề ra, giúp học sinh có đủ kiến thức, kỹ năng và phương pháp nền tảng đủ để các

em có thể thích nghi với sự phát triển, biến động của cuộc sống thường nhật trong xã hội hiện đại Có thể nói đó là xu hướng của thế giới và cũng là yêu cầu quan trọng của giáo dục Việt Nam trong kỉ nguyên mới nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

Ta có thể thấy được rất nhiều chủ chương của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình thúc đẩy việc đổi mới phương pháp giáo dục, như “biến quá trình giáo dục

thành quá trình tự giáo dục”, “biến quá trình dạy học thành quá trình dạy tự học”

Những định hướng về đổi mới phương pháp dạy học được pháp chế hoá trong Luật Giáo dục (sửa đổi) [18]

Luật Giáo dục 2019 quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ” [18]

Trang 18

8

Nhận thức được nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn không còn hiệu quả và phù hợp với xã hội hiện đại nên một trong những định hướng cơ bản của đổi mới giáo dục là cần chuyển nền giáo dục “cũ” sang nền giáo dục “mới” ở đó chú trọng việc hình thành năng lực tự học, tự tìm tòi khám phá, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh Một định hướng quan trọng khác trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực hợp tác trong quá trình làm việc của học sinh Chắc chắn đó là những xu hướng chung của quốc tế trong cải cách phương pháp dạy học ở trường phổ thông

Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,

toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy

học và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở

để người học tự cập nhật đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn

diện giáo dục và đào tạo theo nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này [19]

Tác giả luận văn có thể thấy một điều rất rõ ràng rằng đổi mới phương pháp dạy học đang chuyển từ chương trình giáo dục nội dung sang chương trình giáo dục tiếp cận năng lực học sinh Có thể hiểu đơn giản rằng, về mặt kiến thức phương pháp dạy học đang chuyển dần từ việc học sinh “thụ động” tiếp thu kiến thức mặc dù có thể những kiến thức này hàn lâm, xa rời thực tế sang việc tiếp cận những năng lực chung và năng lực riêng của từng cá nhân để thông qua đó học sinh tìm thấy những kiến thức phù hợp có thể ứng dụng và thực tế để ứng dụng trong quá trình xây dựng mục tiêu riêng của bản thân Về mặt hình thức phương pháp dạy học cũng đang dần

chuyển từ việc “Giáo viên đóng vai trò trung tâm” là người chủ động truyền đạt kiến thức chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình sang “học sinh đóng vai trò trung tâm”

Trang 19

9

chủ động trong việc tìm tòi, tiếp nhận tri thức mà giáo viên chỉ là người tổ chức, định hướng cho học sinh Qua đó phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng SGK, sách tham khảo, lắng nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin trên internet.), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của bản thân học sinh Có thể sử dụng nhiều phương pháp để

thực hiện tuy nhiên vẫn cần đảm bảo “học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận

thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên” [15]

Khi sử dụng phương pháp dạy học cần chú ý kết hợp với các hình thức tổ chức dạy học phù hợp Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức học tập phù hợp có thể kể như cá nhân, nhóm, học trong nhà trường, học tập ngoại khóa… Đối với các giờ thực hành cần chuẩn bị tốt về phương pháp nhằm đảm bảo các yêu cầu để rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn từ đó nâng cao hứng thú học tập cho học sinh

Trong quá trình dạy học thì thiết bị dạy học đóng vai trò vô cùng quan trọng,

do vậy cần đảm bảo sử dụng đầy đủ và hiệu quả những trang thiết bị dạy học tối thiểu khi dạy học Tuy nhiên, ngoài những dụng cụ dạy học có sẵn giáo viên cũng có thể sáng tạo, sử dụng những đồ dùng tự làm nếu thấy cần thiết với nội dung học tập của học sinh Bên cạnh đó, cũng cần tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học để những giờ học trở nên tích cực, vui vẻ hơn

Nên hiểu rằng đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ hẳn các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại… mà cần tìm cách hạn chế những nhược điểm và cải tiến, nâng cao hiệu quả của các phương pháp này Theo lời chia sẻ của những giáo viên có kinh nghiệm lâu năm thì để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học truyền thống người giáo viên cần phải nghiên cứu rất kỹ nội dung bài học, đồng thời cần hiểu rõ những yêu cầu khi sử dụng các kỹ thuật dạy học truyền thống trên lớp như kỹ thuật đặt các câu hỏi, xử lý các câu trả lời trong đàm thoại hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập Mặc dù những phương pháp dạy học truyền thống từ xưa đến nay vẫn là “kinh điển” vì tính đơn giản, dễ thực hiện và không mất nhiều thời gian để chuẩn bị tuy nhiên qua điều kiện thực tế đã chứng minh những phương pháp truyền thống này còn có những điểm hạn chế, chính vì vậy bên

Trang 20

10

cạnh việc sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sự dụng những phương pháp dạy học tích cực để khắc phục những hạn chế của phương pháp truyền thống nhằm đáp ứng được các mục tiêu giáo dục mới, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Có thể xem xét việc đổi mới phương pháp dạy học theo ba hướng sau [23]:

- Theo quan điểm Tâm lí - Giáo dục: Cần tìm mọi cách phát huy năng lực nội

sinh của học sinh phát triển mạnh về trí tuệ, tâm hồn, ý chí của người học

- Theo quan điểm điều khiển học: Tạo điều kiện cho học sinh được tự do phát triển nhu cầu học, phát triển khả năng của cá nhân trong quan hệ thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học

- Theo quan điểm công nghệ: Đưa những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào dạy học Thiết kế quá trình dạy học theo một quy trình nhất định nào đó

có thể điều khiển, kiểm soát được Công nghệ mang tính phương tiện và đóng vai trò không thể thiếu trong dạy học

Từ những xu hướng kể trên có thể nêu lên một số yêu cầu cụ thể hơn về đổi mới phương pháp dạy học như sau [7]:

- Đổi mới về cách dạy của giáo viên: Cần hướng vào học sinh, thay đổi tính chất hoạt động nhận thức của học sinh; coi trọng yêu cầu sáng tạo Như vậy, then chốt của đổi mới phương pháp dạy học là phải hình thành năng lực sáng tạo cho học sinh Tuy nhiên, tái hiện tốt chính là cơ sở cho hoạt động sáng tạo

- Đổi mới cách học của học sinh: Tăng cường hoạt động tự học của học sinh, chuyển từ học thụ động sang tự học, nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Trong các phương pháp học tập, thì cốt lõi là phương pháp tự học, tự học ngay trên lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên

- Tăng cường thí nghiệm, thực hành, tăng cường rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức cơ bản để giải quyết những vấn đề của thực tế cuộc sống, tăng cường sử dụng các phương tiện hiện đại vào dạy học

- Coi trọng mối quan hệ giữa trí tuệ và tâm hồn, giữa tư duy và cảm xúc, hoạt động dạy học tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập cho học sinh

Trang 21

11

Từ các quan điểm và yêu cầu trên có thể thấy, định hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học đó là:

- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh

- Bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh

- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh

- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Những phương pháp dạy học mới đang chuyển sự chủ động từ giáo viên sang học sinh hay nói đúng hơn là lấy học sinh làm trung tâm để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh tuy nhiên vai trò của người giáo viên vẫn vô cùng quan trọng vì giáo viên vẫn là người định hướng, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển và dẫn dắt học sinh trên con đường tìm hiểu, khám phá tri thức mới Đổi mới phương pháp dạy học

có thể hiểu một cách đơn giản là đổi mới quan hệ giữa người dạy (giáo viên) và người học (học sinh); chuyển từ việc thầy giảng – trò lắng nghe, ghi chép một cách thụ động, người thầy đóng vai trò trung tâm sang quan hệ hợp tác lấy người học làm trung tâm để nâng cao chất lượng dạy và học

Mỗi phương pháp và hình thức dạy học đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng nên trong quá trình dạy học người giáo viên cần biết phối hợp nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học từ đó phát huy tính tích cực, sáng tạo, gây hứng thú cho học sinh từ đó nâng cao chất lượng dạy và học

Phương pháp dạy học trong chương trình môn Toán phải đáp ứng các yêu cầu

cơ bản sau: [1]

- Phù hợp với tiến trình nhận thức của học sinh (đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ

dễ đến khó); không chỉ coi trọng tính logic của khoa học toán học mà cần chú ý cách tiếp cận dựa trên vốn kinh nghiệm và sự trải nghiệm của học sinh;

- Quán triệt tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, phát huy tính tích cực, tự giác, chú ý nhu cầu, năng lực nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân học sinh; tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo, trong đó học sinh được tham gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải quyết vấn đề;

- Linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực; kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo với các phương pháp, kĩ thuật dạy học truyền thống;

Trang 22

12

kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn Cấu trúc bài học bảo đảm tỉ lệ cân đối, hài hoà giữa kiến thức cốt lõi, kiến thức vận dụng và các thành phần khác

- Sử dụng đủ và hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định đối với môn Toán; có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm phù hợp với nội dung học và các đối tượng học sinh; tăng cường sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại một cách phù hợp và hiệu quả

1.2 Phương pháp dạy học theo dự án

Theo tác giả luận văn phương pháp dạy học theo dự án (Project-based learning) là phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, qua các dự án học tập người học sẽ được lĩnh hội tri thức, kỹ năng và có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng học được để giải quyết những vấn đề gặp phải trong cuộc sống Chính điều này làm cho người học sinh cảm thấy kiến thức cần học gần gũi và quan trọng với cuộc sống hơn Phương pháp dạy học theo dự án không chỉ giúp học sinh liên hệ được kiến thức học trên lớp với tình huống thực tế ngoài lớp học mà còn khuyến khích học sinh

áp dụng kiến thức được trên lớp để giải quyết các vấn đề của thế giới thực từ đó hình thành thói quen phát hiện và giải quyết vấn đề Chính vì làm cho người học nhận thấy tầm quan trọng của kiến thức trên lớp học với thực tiễn cuộc sống nên phương pháp dạy học theo dự án còn giúp học sinh phát triển kỹ năng tự học, tự tìm tòi, kỹ năng phân tích, tổng hợp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập để giải quyết vấn đề mình gặp phải

Theo tác giả luận văn phương pháp dạy học theo dự án cũng căn cứ vào một số

cơ sở sau:

Vào thập kỷ 60 (thế kỷ XX), một trong những xu hướng phát triển của nhà trường là gắn nhiệm vụ dạy học với mục đích phát triển trí tuệ của học sinh Vì thế đã xuất hiện mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu ngày càng cao đối với quá trình dạy học

và một bên là các phương pháp tổ chức dạy học đã quá cũ kỹ Để giải quyết mâu thuẫn, các nhà nghiên cứu đã triển khai theo hướng: Tăng cường mối quan hệ giữa dạy học và đời sống; thay đổi cấu trúc truyền thống của bài lên lớp; nâng cao vai trò

tự lực của học sinh; tăng cường cá nhân hoá [7]

Trang 23

13

Nét đặc trưng nhất được rút ra là: Tăng cường sự nghiên cứu độc lập của học sinh theo hướng “tìm kiếm” và “phát minh” những quy tắc mới, định lý mới dưới tác động hoặc chỉ đạo của giáo viên Các nhà giáo dục đã phát hiện những quy luật tích cực hoá quá trình dạy học nói chung và hoạt động nhận thức của học sinh nói riêng từ việc làm sáng tỏ hai quy luật:

1 Quy luật bên ngoài: Hoạt động nhận thức của học sinh được tích cực hoá

dưới tác động từ bên ngoài, đó là từ giáo viên

2 Quy luật bên trong: Hoạt động nhận thức của học sinh được tích cực hoá

trên cơ sở họ tự lực giải quyết các bài tập nhận thức

Và quy luật chung: Hoạt động nhận thức của học sinh được tích cực hoá dưới

ảnh hưởng của các câu hỏi nêu vấn đề, các bài tập nêu vấn đề (các bài tập có tính chất nghiên cứu) Hay nói cách khác, trên cơ sở học sinh tự lực phát hiện và giải quyết vấn đề

Phương pháp dạy học theo dự án còn dựa vào quy luật: “Mâu thuẫn là động

lực thúc đẩy quá trình phát triển” của phép duy vật biện chứng Mỗi vấn đề đặt ra

cho học sinh, đều hàm chứa trong nó mâu thuẫn giữa một bên là kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của học sinh, với một bên là nhiệm vụ nhận thức Giải quyết được mâu thuẫn này, chủ thể có thêm kiến thức mới, kỹ năng mới, kinh nghiệm mới Và như thế, học sinh phát triển thêm một bước trên con đường tự hoàn thiện mình, sẵn sàng tiếp nhận mâu thuẫn khác ở mức độ cao hơn

Với quy luật “mâu thuẫn”, dạy học phát hiện và dự án quan tâm đến động lực

của sự phát triển Tuy nhiên cơ chế của quá trình phát triển và khi nào có sự phát triển

đó còn chưa được giải quyết một cách thoả đáng Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế việc triển khai rộng rãi phương pháp dạy học này trong thực tế Hơn nữa con người chỉ bắt đầu hoạt động tư duy khi nảy sinh nhu cầu tư duy, tức là khi đứng trước một khó khăn về nhận thức mà thấy cần phải tìm các giải pháp để khắc phục vấn đề đó Như vậy về bản chất, dạy học theo dự án dựa trên cơ sở lý luận của tâm lý học về quá trình tư duy và về đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh

Có thể mô phỏng toàn bộ quá trình dạy học như sau: Giáo viên đưa học sinh đến một trở ngại Q (tình huống có vấn đề), ở đó Q thoả mãn các điều kiện gây cảm

Trang 24

14

xúc (ngạc nhiên, háo hức, hứng thú, chờ đợi) và trên sức một chút (tích cực suy nghĩ thì sẽ vượt qua trở ngại Q) Học sinh tích cực hoạt động nhận thức dưới sự gợi mở, dẫn dắt toàn bộ hoặc từng phần của giáo viên, hoặc độc lập suy nghĩ để tìm ra con đường vượt qua Q, đi đến kết luận nào đó

Quá trình nhận thức luôn thực hiện nhờ tư duy, mà tư duy về bản chất, lại là sự nhận thức dẫn đến chỗ giải quyết các vấn đề, các nhiệm vụ đặt ra cho mỗi người Vì

vậy, tâm lý học dạy học phải dựa vào nguyên tắc “Tính có vấn đề cao” (không có vấn

đề thì không có tư duy)

1.2.1 D ự án và dự án học tập

1 Dự án

“Dự án” trong tiếng Anh là “Project” được hiểu là một tập hợp các hoạt động

có liên quan đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định với những yêu cầu cụ thể về thời gian, tài chính và sản phẩm Khái niệm dự án được sử dụng dụng phổ biến trong sản xuất, doanh nghiệp, trong quản lý xã hội

Có thể hiểu “Dự án là một kế hoạch, một dự tính chuyên biệt nhằm thực hiện

một mục tiêu nhất định đã đề ra, được thực hiện trong một khoảng thời gian giới hạn,

có nguồn nhân lực, vật chất và tài chính xác định làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng tới” [7]

2 Dự án học tập

Như đã nói ở trên khái niệm dự án từ xưa thường chỉ được được sử dụng phổ biến trong sản xuất, doanh nghiệp cũng như trong quản lý xã hội tuy nhiên có những phương pháp dạy học sáng tạo được sử dụng có những đặc điểm giống với những khái niệm của “dự án” ở các lĩnh vực khác bên cạnh những “đặc thù” riêng của lĩnh vực giáo dục Dù là sử dụng phương pháp nào, kỹ năng, kỹ xảo nào thì việc tiếp thu các tri thức của môn học và ứng dụng tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống là mục tiêu hàng đầu Chính vì vậy, tác giả luận văn cho rằng: “Dự án học tập là một dự án

trong đó người học phải sử dụng tất cả những kiến thức, kỹ năng có sẵn thực hiện một loạt những nhiệm vụ được giao để giải quyết vấn đề gắn liền với thực tiễn cuộc sống Qua đó người học chủ động chiếm lĩnh nội dung kiến thức môn học đồng thời rèn luyện phát triển những kỹ năng mới”

Trang 25

15

1.2.2 Quan ni ệm về dạy học theo dự án

Khái niệm dự án thường được sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội Trong giáo dục khái niệm dự án không chỉ đơn thuần chỉ là sự đầu tư để phát triển cơ

sở vật chất trong giáo dục mà còn được nói đến như là một phương pháp hay một hình thức dạy học, trong đó người học chủ động vận dụng những lý thuyết đã được học trên lớp để thực hiện giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống

Đầu thế kỷ XX các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (The Project Method) và coi đó là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi giáo viên là trung tâm Ban đầu, phương pháp dạy học theo dự án được sử dụng trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, hiện phương pháp dạy học theo dự án được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại học trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển [7]

Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp của khối trường chuyên nghiệp cũng có điểm tương đồng với dạy học theo dự án Năm 1997, tác giả Nguyễn Văn Cường đã sử dụng thuật ngữ dạy học theo dự án trong bài viết “Dạy học Project hay dạy học theo dự án” [6] Trong bài “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện”, tác giả Đỗ Hương Trà đã đưa ra cách tiếp cận dự án trong dạy học và tiến trình thực hiện dạy học theo dự án [28]

Bên cạnh đó còn có nhiều định nghĩa cùng với những cách hiểu khác nhau về dạy học theo dự án như:

Theo học viện giáo dục Buck BIE: “Dạy học theo dự án là phương pháp dạy

học có hướng dẫn đòi hỏi học sinh thực hiện những nhiệm vụ phức hợp dựa trên các câu hỏi hay vấn đề mang tính thử thách đòi hỏi học sinh phải sử dụng nhiều kỹ năng như kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm kỹ năng đưa ra quyết định, dưới sự hỗ trợ của giáo viên chứ không phải dưới sự định hướng của giáo viên” [26]

Theo nghiên cứu của Sylvester (2007) “Dạy học theo dự án là một phương

pháp dạy học khác biệt với các phương pháp dạy học truyền thống khác Dự án mà học sinh phải thực hiện là một vấn đề mang tính thực tế và là những loại vấn đề mà

Trang 26

16

các em có thể gặp phải trong cuộc sống hàng ngày Thông qua việc giải quyết vấn đề của dự án, học sinh tạo sản phẩm có thể trình bày được và hình thành các kỹ năng mềm cho bản thân” [9]

Tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo (2009) cho rằng “Dạy học theo dự án là một

phương pháp dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp,

có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn Nhiệm vụ này được thực hiện với tính tự lực cao trong t oàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều khiển, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Kết quả dự án là những sản phẩm có thể trình bày, giới thiệu” [25]

Qua các quan điểm đã nêu ở trên, có thể thấy được những thống nhất giữa

những quan niệm khác nhau về dạy học theo dự án:

- Dạy học theo dự án là hình thức tổ chức dạy học hướng vào học sinh, lấy học

sinh làm trung tâm

- Trong dạy học theo dự án, học sinh tự nghiên cứu, tự thực hiện một nhiệm vụ học tập do giáo viên đưa ra hoặc giáo viên cùng với học sinh đưa ra để hình thành các

kiến thức và các kỹ năng cần thiết

- Các hoạt động học tập trong dạy học theo dự án được thiết kế cẩn thận, theo sát chương trình học, có phạm vi kiến thức liên môn và quan trọng nhất phải gắn với

một vấn đề thực tiễn nghề nghiệp hay cuộc sống xung quanh

- Phải tạo ra được những giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề [26]

Với những phân tích trên, tác giả luận văn cho rằng: “Dạy học theo dự án là

phương pháp dạy học mà người dạy từ những kiến thức có sẵn của môn học, xây dựng các tình huống có vấn đề liên quan đến thực tiễn của cuộc sống, người học phải vận dụng tất cả những kiến thức kỹ năng có sẵn để giải quyết tình huống có vấn đề dưới dự hỗ trợ của người dạy Thông qua quá trình giải quyết các tình huống có vấn

đề, bên cạnh việc lĩnh hội được những tri thức mới người học còn được phát triển nhiều kỹ năng mềm cần thiết cho bản thân”

1.2.3 M ục tiêu của dạy học theo dự án

Mục tiêu về phát triển kiến thức và thái độ học tập

Triết học đã chỉ ra quy luật, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng sau

Trang 27

17

đó quay về thực tế để soi rọi lý thuyết Dạy học theo dự án sẽ giúp học sinh hoàn thiện được khâu thứ hai, đó là cho phép họ sử dụng những kiến thức mình biết để áp dụng vào các tình huống thực, từ đó thấy được vai trò của lý thuyết được học trong cuộc sống và trong mối liên hệ với các kiến thức khác, đồng thời cũng thấy được những điều cần phải bổ sung để hoàn thiện kiến thức của mình [24]

Mục tiêu về phát triển kỹ năng

Dự án nghiên cứu “Đánh giá và giảng dạy các kỹ năng của thế kỉ 21” (The Assessment and Teaching of 21st-Century Skills), đã tiến hành và phân loại các kỹ năng công dân thế kỉ 21 cần phải có thành bốn loại: [31]

- Kỹ năng tư duy: Tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, tư duy giải quyết vấn đề

và đưa ra quyết định

- Kỹ năng công việc: Giao tiếp và hợp tác

- Kỹ năng làm việc: Công nghệ thông tin

- Kỹ năng sống: Quyền công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân

và tập thể [24]

Trong kỉ nguyên mới, việc chỉ học lý thuyết, kiến thức hàn lâm xa rời thực tiễn cuộc sống đã trở nên lỗi thời và lạc hậu Ngày nay với quan điểm giáo dục hiện đại, phù hợp hơn việc học không chỉ dừng lại là những kiến thức lý thuyết trên sách vở

mà những kiến thức đó còn được ứng dụng vào cuộc sống thông qua sự trải nghiệm của học sinh Sự trải nghiệm đó sẽ giúp học sinh thấy được sự hữu ích và tầm quan trọng của tri thức trong cuộc sống để tồn tại và phát triển, giúp học sinh biết được những điểm mạnh hay điểm yếu của bản thân từ đó tìm cách hạn chế, khắc phục những điểm yếu và bồi dưỡng, phát huy những điểm mạnh để tìm hướng phát triển bản thân và có thể lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực

1.2.4 Đặc điểm của dạy học theo dự án

Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học ngày càng cao theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, gắn liền kỹ năng học tập với kỹ năng nghề nghiệp Trong rất nhiều phương pháp thì phương pháp dạy học theo dự án nổi bật lên với những đặc điểm sau: [26]

- Định hướng thực tiễn và nghề nghiệp: Chủ đề của các dự án học tập xuất

Trang 28

18

phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ của các dự án học tập cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống và xã hội

- Định hướng hứng thú người học: Người học khi tham gia được phép lựa

chọn đề tài, những nội dung học tập giúp người học giải quyết được vấn đề Từ đó người học sẽ thấy hứng thú hơn với việc học

- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án học tập có sự kết

hợp giữa nghiên cứu lý thuyết, vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn và thực hành Thông qua đó, người giáo viên có thể kiểm tra, củng cố và mở rộng những hiểu biết về lý thuyết cũng như rèn luyện những kỹ năng hành động và kinh nghiệm thực tiễn cho người học

- Tính tự lực cao của người học: Trong dạy học theo dự án, người học cần tự

mình và tham gia tích cực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm cũng như sự sáng tạo của người học Người dạy chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn và trợ giúp người học Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với năng lực, khả năng của người học và mức độ khó khăn của nhiệm vụ học tập

- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,

trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc rõ ràng giữa các thành viên trong nhóm Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện sự sẵn sàng về kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa người học với người dạy cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án học tập Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện các dự án học tập, các sản

phẩm học tập của các nhóm được tạo ra Sản phẩm này không chỉ giới hạn trong phạm vi là những bài thu hoạch thiên về lý thuyết, mà trong đa số trường hợp, các dự

án sẽ tạo ra những sản phẩm của hoạt động thực tế và thực hành

- Có khả năng tích hợp cao: Trong dạy học theo dự án có thể thực hiện phối

hợp với nhiều phương pháp dạy học, nhiều hình thức dạy học khác nhau như: Dạy

Trang 29

19

học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác, dạy học trong môi trường công nghệ thông tin Nội dung của các dự án học tập luôn có sự kết hợp tri thức của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập khác nhau

- Không bị ràng buộc chặt chẽ về không gian, thời gian: Dạy học theo dự án

có thể được tiến hành trong phạm vi một nhóm, một lớp học hoặc cũng có thể vượt ra khỏi phạm vi của một lớp học Thời gian thực hiện một dự án học tập có thể là một ngày, nhiều ngày hay hàng tuần tuỳ thuộc vào quy mô cũng như mức độ của từng

dự án học tập

- Tạo ra môi trường học tập tương tác: Dự án học tập sẽ tạo ra một môi trường

thuận lợi cho các hoạt động tương tác đa chiều: Tương tác giữa giáo viên - người học, người học - người học, người học - xã hội và tương tác giữa các thành tố trong quá trình dạy học

Có thể tóm tắt những đặc điểm của dạy học dự án bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1 1: Đặc điểm của dạy học theo dự án

Với những đặc điểm nêu trên của dạy học dự án, nếu áp dụng vào tổ chức dạy học môn Toán sẽ có nhiều thuận lợi, khi mà học sinh được khuyến khích để phát triển năng lực tự học và năng lực hợp tác

1.2.5 Phân lo ại dạy học theo dự án

Dự án học tập có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sau đây là một số cách phân loại: [26]

- Phân loại theo chuyên môn:

+ Dự án trong một môn học: Trọng tâm nội dung nằm trong một môn học + Dự án liên môn: Trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn học khác nhau

Trang 30

20

+ Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học

- Phân loại theo sự tham gia của người học:

Dự án cho cá nhân, dự án cho nhóm người học, dự án cho một lớp học, dự án dành cho một khối lớp và dự án toàn trường

- Phân loại theo sự tham gia của giáo viên

Dự án dưới sự hướng dẫn của một giáo viên hoặc dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều giáo viên

- Phân loại theo quỹ thời gian: K Frey đề nghị phân chia như sau: [14]

+ Dự án nhỏ: Thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 - 6 giờ học

+ Dự án trung bình: Thực hiện trong một hoặc một số ngày học, nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

+ Dự án lớn: Thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học) hoặc có thể kéo dài nhiều tuần

- Phân loại theo nhiệm vụ: Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại theo các dạng sau:

+ Dự án tìm hiểu: Là các dự án khảo sát thực trạng đối tượng

+ Dự án nghiên cứu: Là các dự án nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng

+ Dự án thực hành: Là các dự án nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

+ Dự án hỗn hợp: Là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên

Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Ở từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng

1.2.6 Quy trình d ạy học theo dự án

Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia tiến trình của dạy học theo dự án làm nhiều giai đoạn khác nhau Có thể phân chia các giai đoạn của dạy học theo dự án với năm giai đoạn [9]

Giai đoạn 1 (Xác định mục tiêu của dự án): Giáo viên và học sinh cùng nhau

Trang 31

21

đề xuất, xác định đề tài và mục tiêu của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú ý đến hứng thú của học sinh cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài Giáo viên có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học sinh lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía học sinh Giai đoạn này được K Frey mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận sáng kiến

Giai đoạn 2 (Xây dựng kế hoạch thực hiện): Trong giai đoạn này học sinh

dưới sự hướng dẫn của giáo viên xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong khi xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

Giai đoạn 3 (Thực hiện dự án): Các thành viên thực hiện công việc theo kế

hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này học sinh thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra

Giai đoạn 4 (Thu thập kết quả và công bố sản phẩm): Kết quả thực hiện dự án

có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có thể

là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một buổi sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm học sinh, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài

xã hội

Giai đoạn 5 (Đánh giá dự án): Giáo viên và học sinh đánh giá quá trình thực

hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó, rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể được đánh giá từ bên ngoài Hai giai đoạn cuối này cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án

Trang 32

22

1 Khởi động

+ Gợi ý chủ đề dự án và phát triển các ý tưởng đối với dự án

+ Thảo luận các ý tưởng và quyết định về chủ đề dự án

2 Xây dựng kế hoạch tiến trình dự án, xác định các hoạt động

và phân công lao động

+ Lập kế hoạch tiến tình dự án, xác định các hoạt động

và phân công lao động

3 Thực hiện

+ Thu thập và đánh giá thông tin, sử dụng thông tin

+ Giải quyết các nhiệm vụ dự án theo phân công

+ Đánh giá quá trình và kết quả dự án

+ Rút kinh nghiệm cho dự án tiếp theo

Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế chúng có thể xen kẽ lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn 4 và 5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc dự án)

1.2.7 Vai trò c ủa giáo viên và học sinh trong dạy học theo dự án

1.2.7.1 Vai trò của giáo viên

Trong dạy học theo dự án, người giáo viên không còn là người đóng vai trò

“cầm tay chỉ việc”, là người chủ động truyền đạt kiến thức trong quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh mà thay vào đó người giáo viên đóng vai trò như một “đạo diễn”, một “nhạc trưởng” Nói như vậy không có nghĩa là giáo viên được nghỉ ngơi, nhàn dỗi hơn mà đôi khi còn ngược lại, giáo viên đôi lúc sẽ vất vả hơn khi phải dành nhiều thời gian, công sức để chuẩn bị, lập kế hoạch cho các dự án

Đồng thời người giáo viên cũng phải tìm hiểu, nghiên cứu, để ý những ứng dụng nhỏ, thú vị của toán học vào thực tiễn phù hợp với kiến thức môn học để từ đó

Sơ đồ 1 2: Các giai đoạn của dự án

Trang 33

23

có thể đưa ra những ý tưởng hay cho các dự án

Khi bắt đầu một dự án, giáo viên cần tìm những nguồn tại liệu uy tín, đa dạng như: Các trang web chính thống, giáo trình, những chuyên gia uy tín trong lĩnh vực liên quan, các phần mềm hỗ trợ… Bên cạnh đó, giáo viên còn là người đồng hành, giúp đỡ, thảo luận, giải quyết những khó khăn, hỗ trợ học sinh trong suốt quá trình hoàn thành dự án cũng như dành thời gian để chấm, chữa các bản báo cáo và phản hồi thông tin kịp thời có thể để học sinh có đủ thời gian chỉnh sửa và hoàn thiện dự án sớm nhất

Một vấn đề rất quan trọng trong khi thực hiện dự án mà nhiều giáo viên có thể

bỏ qua hoặc chưa thực sự chú ý đến đó là động lực và sự hứng thú của học sinh trong suốt quá trình hoàn thành dự án Với những đặc điểm đặc thù của dạy học theo dự án, nhất là với những dự án dài ngày, chịu nhiều tác động của của ngoại cảnh làm cho học sinh rất dễ mất động lực, hứng thú và nản chí dẫn đến dễ bỏ cuộc khi gặp những vấn đề khó giải quyết chưa kể đến nhiều học sinh còn chưa quen với các hoạt động dạy học theo dự án, vẫn còn “sức ì” do quen với các hình thức học tập cũ Do đó, người giáo viên bên cạnh việc tổ chức, dẫn dắt, định hướng… còn phải là một người

có thể chia sẻ, động viên, tạo động lực, hứng thú cho học sinh trong suốt quá trình hình thành dự án Có như vậy những dự án sau này học sinh mới tiếp tục hứng thú tham gia và tham gia tích cực hơn

1.2.7.2 Vai trò của học sinh

Hoạt động dạy học theo dự án cũng làm thay đổi vai trò của học sinh trong lớp học Như đã nói ở trên người học sinh có thể lúc đầu chưa quen với vai trò chủ động, vẫn còn “ì” trong các hoạt động dạy học Do đó, trong các dự án, học sinh cần được luyện tập kỹ năng đưa ra nhiều quyết định, được cộng tác làm việc, được đưa ra sáng kiến, được trình bày trước đám đông và trong nhiều trường hợp, học sinh được thiết lập kiến thức riêng cho bản thân Mặc dù lúc đầu có thể là thách thức lớn nhưng hầu hết học sinh đều nhận thấy công việc dự án này rất có ý nghĩa, có liên quan thực tế đến cuộc sống và rất hấp dẫn Vì vậy, nhìn chung, học sinh rất tích cực thực hiện tốt các dự án và ghi nhớ được kiến thức mới Tham gia dự án học tập, học sinh sẽ phải tự làm các công việc sau:

Trang 34

24

+ Tham gia lựa chọn đề tài, nội dung học tập sao cho phù hợp với khả năng và hứng thú của từng cá nhân qua đó khuyến khích được tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm và sự sáng tạo của học sinh;

+ Học sinh làm việc với các thành viên trong nhóm trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết những nội dung học tập phức hợp;

+ Học sinh hệ thống kiến thức, thiết lập mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức của môn học và được tạo điều kiện học tập trong môi trường hợp tác;

+ Học sinh phải tạo ra các sản phẩm học tập đáp ứng các yêu cầu đề ra, đảm bảo tính thẩm mỹ, khoa học, kinh tế Do đó, khơi gợi sự tò mò và óc sáng tạo của học sinh qua việc cho phép chủ động, tự do tưởng tượng trong quá trình học tập

1.2.8 Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo dự án

Ưu điểm của dạy học theo dự án

Dạy học theo dự án mang lại nhiều lợi ích cho giáo viên và học sinh Ngày càng nhiều các nhà nghiên cứu giáo dục ủng hộ việc vận dụng dạy học theo dự án vào trường học để khuyến khích người học, thúc đẩy các kỹ năng học tập hợp tác và nâng cao hiệu quả việc học tập cho học sinh [9]

- Đối với giáo viên: Góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, sự hợp tác với

đồng nghiệp trong quá trình dạy học; tạo cơ hội xây dựng các mối quan hệ gần gũi với học sinh; đưa ra các mô hình cho phép hỗ trợ đa dạng các đối tượng học sinh bằng việc tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn trong dạy học

- Đối với học sinh: Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học

tập tích cực cho học sinh Lượng kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình dạy học khác Khi tham gia vào dự án học tập làm cho học sinh

có trách nhiệm hơn trong học tập so với các hoạt động trong mô hình dạy học truyền thống Học sinh có cơ hội phát triển những kỹ năng như giải quyết vấn đề, hợp tác, giao tiếp Học sinh cũng học được các kỹ năng khó có thể có được được từ các bài giảng theo phương pháp dạy học truyền thống Học sinh tham gia vào các dự án học tập có khả năng lĩnh hội được các kiến thức và phát triển được các kỹ năng cao hơn

so với các phương pháp truyền thống Học sinh cũng có thể tự giải quyết vấn đề một cách đầy đủ, sáng tạo và có khả năng giao tiếp một cách hiệu quả với bạn học hoặc

Trang 35

25

giáo viên để truyền tải ý tưởng và kết quả của dự án

- Đối với dạy học: Góp phần liên kết chặt chẽ giữa lý thuyết với thực hành, tư

duy và hành động, nhà trường và xã hội, giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với việc học tập trong thế giới thật, cùng một nội dung những học sinh khác nhau

sẽ học theo những cách khác nhau

Hạn chế của dạy học theo dự án

- Về nội dung chương trình: Không phải nội dung nào trong chương trình cũng

có thể tổ chức dạy học theo dự án một cách hiệu quả Vì vậy, giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ mục đích, yêu cầu và nội dung chương trình của môn học để lựa chọn, xây dựng các nội dung kiến thức phù hợp để có thể tổ chức dạy học theo dự án đạt hiệu quả [9]

- Về giáo viên: Giáo viên cần nhiều thời gian để chuẩn bị các vấn đề liên quan

đến dự án học tập như: Lên kế hoạch, chọn nội dung phù hợp… khi vận dụng phương pháp dạy học theo dự án Bên cạnh đó, giáo viên đã quen với các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học truyền thống nên thường mang tâm lý ngại thay đổi phương pháp dạy học trong quá trình dạy học của mình

- Về học sinh: Học sinh cần nhiều thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn

thành dự án học tập Do học sinh đã quen với vai trò thụ động của bản thân trong những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học truyền thống và do không được thường xuyên thực hiện các dự án nên những thói quen cũ sẽ cản trở họ khi thực hiện các dự án học tập

1.2.9 Đánh giá trong dạy học theo dự án

Quá trình đánh giá trong dạy học theo dự án cần tiến hành đánh giá nhiều góc

độ khác nhau: Kiến thức và kỹ năng; cá nhân và tập thể; quá trình và tổng thể

Đánh giá quá trình là loại hình đánh giá được tiến hành trong quá trình dạy và quá trình học một nội dung kiến thức nào đó, nhằm thu thập thông tin phản hồi về kết quả học tập của học sinh về nội dung kiến thức đó, làm cơ sở cho việc định hướng hoạt động dạy và hoạt động học tiếp theo làm cho những hoạt động này hiệu quả hơn

Đánh giá quá trình trong dạy học theo dự án là đánh giá theo giai đoạn các hoạt động của học sinh để triển khai dự án học tập Để đánh giá được hiệu quả của

Trang 36

26

dạy học theo dự án thì trong mỗi giai đoạn hoạt động, ngoài đánh giá về thái độ của học sinh cần đánh giá các sản phẩm của dự án Để có được kết quả đánh giá một cách khách quan, toàn diện và công bằng thì ngoài đánh giá của giáo viên đối với học sinh thì cần sử dụng thêm một số hình thức đánh giá khác như: Đánh giá chéo lẫn nhau giữa các thành viên trong một nhóm và cùng với việc học sinh tự đánh giá

Các giai đoạn tiến hành đánh giá: [26]

- Đánh giá việc hình thành dự án học tập: Trong đó cần đánh giá khả năng lựa

chọn chủ đề cũng như khả năng xác định mục tiêu, nội dung của dự án học tập, xác định những công việc cần thực hiện trong dự án học tập, những sản phẩm chính cần đạt được sau khi hoàn thành dự án học tập, dự kiến thời gian thực hiện dự án học tập, xác định những mốc thời gian quan trọng trong quá trình thực hiện dự án học tập Mặt khác trong quá trình đánh giá, chúng ta cần đánh giá mức độ hỗ trợ của giáo viên cũng như mức độ tự đề xuất ý tưởng của học sinh trong mỗi công việc

- Đánh giá việc xây dựng kế hoạch thực hiện dự án học tập: Trong đó cần

đánh giá: Khả năng dự kiến các công việc cần triển khai trong nhóm có chi tiết, lôgic

và khả thi hay không? khả năng dự kiến các nội dung cần nghiên cứu tìm hiểu có cụ thể hay không? phân công công việc cho từng thành viên trong nhóm có phù hợp không? dự kiến thời gian hoàn thành từng nội dung công việc, thời gian hoàn thành

dự án có hợp lý không? khả năng xác định các sản phẩm cần đạt được trong mỗi giai đoạn, trong mỗi nội dung công việc, đối với mỗi cá nhân trong nhóm có phù hợp hay không? khả năng dự kiến những khó khăn có thể gặp phải trong quá trình thực hiện

dự án học tập Trong quá trình đánh giá, chính giáo viên cần phải đánh giá mức độ

hỗ trợ của giáo viên đối với học sinh cũng như mức độ tự đề xuất ý kiến, ý tưởng của học sinh trong mỗi công việc

- Đánh giá việc thực hiện dự án học tập: Khi đánh giá việc thực hiện dự án

học tập, Giáo viên cần tiến hành đánh giá chất lượng của các sản phẩm trong việc thực hiện các công việc đó, đánh giá tiến độ thực hiện các công việc trong nhóm (đánh giá tiến độ thực hiện nội dung các phần việc do từng thành viên trong nhóm, tiến độ thực hiện nội dung các công việc cũng như tiến độ thực hiện dự án học tập của từng nhóm so với kế hoạch thực hiện đã đề ra), đánh giá khả năng, thái độ và

Trang 37

- Đánh giá tổng kết: Là loại hình đánh giá được thực hiện vào cuối mỗi giai

đoạn đào tạo; cung cấp thông tin về kết quả học tập của học sinh so với mục tiêu giáo dục của mỗi giai đoạn; là cơ sở để phân loại học sinh nhưng không góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh trong giai đoạn học tập được đánh giá Tuy nhiên, nó vẫn có thể góp phần vào việc cung cấp thông tin, làm cơ sở cho việc cải tiến giai đoạn học tập tiếp theo trong tương lai, cho những lớp kế tiếp [24]

Trong đánh giá tổng kết, cùng với việc đánh giá dựa vào kết quả điểm số của các bài kiểm tra, các bài thi hết môn thì cần đánh giá cả chất lượng, số lượng của các sản phẩm của dự án học tập như đã đề ra trong kế hoạch thực hiện dự án học tập, đánh giá hoạt động hợp tác trong làm việc của các thành viên trong từng nhóm học tập (đánh giá việc tham gia đề xuất ý kiến của các cá nhân trong nhóm học tập, khả năng cộng tác trong công việc, trách nhiệm trong công việc, mức độ hiệu quả trong các công việc ) và đánh giá năng lực của từng thành viên trong nhóm học tập (đánh giá khả năng lập kế hoạch, khả năng hợp tác, khả năng tổ chức, khả năng giao tiếp )

1.2.10 D ạy học dự án với môn Toán

a) Dạy học dự án nói chung: Mặc dù toán học là môn học được coi là “khô khan” và nhiều người thường hỏi “học toán để làm gì?” nhưng ít ai biết rằng toán học được hình thành và phát triển từ thực tiễn cuộc sống lao động sản xuất của con người

Ăng-ghen đã chỉ ra khái niệm toán học ban đầu, khái niệm về số tự nhiên, về đại số và hình học được con người trừu tượng hóa trong thế giới hiện thực do nhu cầu thực tiễn, chứ không phát sinh từ trí não con người, do tư duy thần túy

Ví dụ 1.1:

- Số tự nhiên ra đời do nhu cầu đếm và phân chia những chiến lợi phẩm sau

Trang 38

28

khi đi săn bắn hoặc đếm gia súc chăn nuôi

- Hình học ra đời do nhu cầu đo đạc và phân chia lại ruộng đất sau những trận

lũ lụt bên bờ sông Nin ở Ai Cập

- Sau đó thì phân số được phát sinh do nhu cầu đo đạc và do nhu cầu phân chia chiến lợi phẩm nhưng không có trong hệ thống số tự nhiên hoặc chia những đồ vật, thức ăn thành nhiều phần bằng nhau

Đó chính là một bộ phận của nhiều sự vật cụ thể đã giúp con người hoàn thiện được khái niệm về số tự nhiên, đại số, hình học Con người nghiên cứu tất cả các sự vật đó, số lượng, hình dạng, diện tích, thể tích của chúng trong khi giải quyết các bài toán trong thực tiễn đời sống

Ngay cả với thực tiễn hiện đại toán học cũng có những ứng dụng thực tiễn không nhỏ như, khoa học máy tính, tìm kiếm, định vị vệ tinh, hay khoa học thể thao, tiền tệ, kinh tế, thậm chí là cả nghệ thuật Có thể nói toán học xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống

b) Dạy học dự án với học sinh lớp 7: Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi mà các em chuẩn bị bước vào giai đoạn tuổi dậy thì với những biến đổi về cơ thể, tâm lý nhiều em đã có khả năng phân tích và tổng hợp khi đối diện với các vấn đề hay sự kiện trong cuộc sống Các em ở lứa tuổi này có khả năng ghi nhớ, so sánh, phân loại,

hệ thống hóa Bên cạnh đó tốc độ và khối lượng ghi nhớ của các em cũng tăng lên Tuy nhiên, ở lứa tuổi bắt đầu dậy thì này thì khả năng tập trung của các em không ổn định Mức độ tập trung của các em phụ thuộc vào tính chất môn học và mức độ hứng thú của các em đối với vấn đề mà các em gặp phải Chính điều này cũng là một khó khăn trong quá trình các em thực hiện dự án, đòi hỏi dự án đó phải khiến các em có

sự hứng thú và không gây nhàm chán, bên cạnh đó giáo viên còn phải liên tục động viên, truyền lửa cho các em Ở lứa tuổi lớp 7 các em cũng đã bắt đầu có những “cái tôi” riêng của mình Điều này đòi hỏi người giáo viên phải hết sức khéo léo, linh hoạt trong cách giao tiếp, giao nhiệm vụ cho các nhóm học sinh hoặc từng học sinh cụ thể

Do vậy người giáo viên cũng cần rất nhạy cảm và tinh tế để đạt hiệu quả tốt nhất

c) Dạy học dự án với đặc điểm của chương trình môn Toán lớp 7: Chương trình môn Toán lớp 7 được thiết kế với 140 tiết học gồm ba mạch kiến thức: Đại số

Trang 39

29

và Giải tích, Hình học và Đo lường, Thống kê và Xác suất Do đó khi thiết kế các dự

án học tập người giáo viên cần lưu ý thời lượng và lựa chọn sử dụng các dự án cho phù hợp Với rõ quan điểm xây dựng Chương trình là: "Chương trình GDPT môn Toán chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của HS, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và việc đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện cho các tác giả SGK

và GV phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện Chương trình" Đó cũng là một điều thuận lợi cho việc tổ chức dạy học theo dự án với môn Toán Từ đó đảm bảo được các yếu tố như:

1 Đảm bảo tính tinh giản, thiết thực, hiện đại;

2 Đảo bảo tính thống nhất, sự nhất quán và phát triển liên tục;

3 Đảo bảo tính tích hợp và phân hóa;

1.3.1 K ết quả điều tra giáo viên

Bảng 1 1 Kết quả điều tra giáo viên

1 Thầy, cô biết đến dạy học theo dự án từ nguồn nào?

Phương án lựa chọn Kết quả lựa chọn (%)

c) Từ Internet, sách báo, tài liệu tham khảo 57

Trang 40

3 Nếu không thường xuyên sử dụng thì lý do gì khiến thầy, cô còn ít hoặc không sử dụng?

lựa chọn (%)

c) Do cơ chế đánh giá và cho điểm không phù hợp 3

d) Do học sinh chưa thực sự tích cực, tự giác trong việc học 96

4 Trong quá trình dạy học theo dự án thầy, cô thấy có những khó khăn và thuận lợi như thế nào?

Nội dung

Mức độ thuận lợi (%) Thuận lợi Ít thuận lợi Khó

khăn

Ngày đăng: 14/08/2023, 10:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và đào tạo, (2018), chương trình giáo dục phổ thông môn toán (ban hành kèm theo thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chương trình giáo dục phổ thông môn toán
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
2. Bộ giáo dục và đào tạo, (2014), Toán 7, t ậ p 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán 7, t ậ p 1
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2014
3. Bộ giáo dục và đào tạo, (2014), Toán 7, t ậ p 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán 7, t ậ p 2
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2014
6. Nguyễn Văn Cường (1997), “ D ạ y h ọc Profect hay DHTDA”, Thông báo khoa h ọc trường Đạ i h ọc Sư phạ m, Đại học Quốc gia Hà Nội, (3). Tr.3 – 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: D ạ y h ọc Profect hay DHTDA
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: Thông báo khoa h ọc trường Đạ i h ọc Sư phạ m, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
7. Trần Việt Cường (2012), Tổ chức dạy học theo dự án học phần phương pháp dạy học môn Toán góp phần rèn luyện năng lực sư phạm cho sinh viên khoa Toán, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học theo dự án học phần phương pháp dạy học môn Toán góp phần rèn luyện năng lực sư phạm cho sinh viên khoa Toán
Tác giả: Trần Việt Cường
Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
8. Cục Y tế dự phòng (2021), Hệ thống Quốc gia quản lý ca bệnh Covid Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống Quốc gia quản lý ca bệnh Covid
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Năm: 2021
9. Nguyễn Thị Duyến (2015), chuyên đề “ P hương pháp dạy học dự án t rong môn Toán trung học phổ thông” Sách, tạp chí
Tiêu đề: P hương pháp dạy học dự án t rong môn Toán trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Duyến
Năm: 2015
11. Trần Thị Hải (2009), T ổ ch ứ c d ạ y h ọ c d ự án các n ộ i dung ki ế n th ứ c chương “Mắ t và các d ụ ng c ụ quang h ọc” – SGK Vật lý 11, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học dự án các nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang học” – SGK Vật lý 11
Tác giả: Trần Thị Hải
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm: 2009
12. Trần Bá Hoành (2006), Đổ i m ới PPDH, chương trình và sách giáo khoa , NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổ i m ới PPDH, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội
Năm: 2006
14. Lê Khoa (2015), Vận dụng phương PPDH theo dự án trong dạy học kiến thức về sản xuất và sử dụng điện năng cho học sinh THPT, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng phương PPDH theo dự án trong dạy học kiến thức về sản xuất và sử dụng điện năng cho học sinh THPT
Tác giả: Lê Khoa
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Năm: 2015
15. Nguyễn Bá Kim (1999), “Về định hướng đổi mới phương pháp dạy học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Năm: 1999
16. Nguyễn Bá Kim (2009), PPDH môn Toán , NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDH môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2009
20. Bùi Văn Nghị (2008), Phương pháp dạ y h ọ c nh ữ ng n ộ i dung c ụ th ể môn Toán , NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạ y h ọ c nh ữ ng n ộ i dung c ụ th ể môn Toán
Tác giả: Bùi Văn Nghị
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
21. Bùi Văn Nghị (2009), V ậ n d ụ ng lí lu ậ n vào th ự c ti ễ n d ạ y h ọ c môn Toán ở trườ ng ph ổ thông , NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: V ậ n d ụ ng lí lu ậ n vào th ự c ti ễ n d ạ y h ọ c môn Toán ở trườ ng ph ổ thông
Tác giả: Bùi Văn Nghị
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2009
22. Tổng cục Thống kê (20210, B áo cáo tác độ ng c ủ a d ị ch Covid- 19 đế n tình hình lao độ ng, vi ệ c làm quý I năm 2021 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: B áo cáo tác độ ng c ủ a d ị ch Covid- 19 đế n tình hình lao độ ng, vi ệ c làm quý I năm 2021
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2021
23. Thái Duy Tuyên (2008), phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
24. Trần Thị Thái (2017), “Tổ chức một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong dạy học môn toán ở trường trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong dạy học môn toán ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Trần Thị Thái
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Năm: 2017
25. Nguyễn Thị Diệu Thảo (2009), “ D ạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo giáo viên trung học cơ sở môn Công nghệ” , Luận án tiến sĩ Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo giáo viên trung học cơ sở môn Công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Thảo
Nhà XB: trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
4. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, https://www.vinmec.com/ Link
5. Cổng thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên, https://thainguyen.gov.vn/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.  1 : Đặc điểm của dạy học theo dự án - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Sơ đồ 1. 1 : Đặc điểm của dạy học theo dự án (Trang 29)
Bảng 3.  1 : Danh sách các kĩ năng học học sinh được phát triển sau khi - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Bảng 3. 1 : Danh sách các kĩ năng học học sinh được phát triển sau khi (Trang 91)
Bảng 3.  2 : Bảng thống kê điểm số - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Bảng 3. 2 : Bảng thống kê điểm số (Trang 92)
Hình 3. 1:  Đồ thị biểu diễn phân phối tần suất điểm số - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Hình 3. 1: Đồ thị biểu diễn phân phối tần suất điểm số (Trang 93)
Hình 3. 2:  Đồ thị phân phối tần suất - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Hình 3. 2: Đồ thị phân phối tần suất (Trang 93)
Bảng 3.  5 : Bảng thống kê điểm số - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Bảng 3. 5 : Bảng thống kê điểm số (Trang 94)
Bảng 3.  7 : Bảng tổng hợp các tham số - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Bảng 3. 7 : Bảng tổng hợp các tham số (Trang 95)
Hình 3. 3:  Đồ thị biểu dẫn phân phối tần suất điểm số - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Hình 3. 3: Đồ thị biểu dẫn phân phối tần suất điểm số (Trang 95)
Hình 3. 4:  Đồ thị phân phối tần suất - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Hình 3. 4: Đồ thị phân phối tần suất (Trang 96)
Hình ảnh sử dụng trong dự án: Tam giác trong cuộc sống. - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
nh ảnh sử dụng trong dự án: Tam giác trong cuộc sống (Trang 109)
Hình ảnh sử dụng trong dự án: Biểu thức đại số và sức khỏe con người . - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
nh ảnh sử dụng trong dự án: Biểu thức đại số và sức khỏe con người (Trang 109)
Hình ảnh sử dụng trong dự án: Thống kê tác động của đại dịch Covid –  19 - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
nh ảnh sử dụng trong dự án: Thống kê tác động của đại dịch Covid – 19 (Trang 110)
Bảng theo dõi ca nhiễm Covid tại Việt Nam - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Bảng theo dõi ca nhiễm Covid tại Việt Nam (Trang 110)
Bảng 2. 2: Số lao động có việc làm các quý, giai đoạn 2019 –  2021 - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Bảng 2. 2: Số lao động có việc làm các quý, giai đoạn 2019 – 2021 (Trang 114)
Bảng 2. 1:Lực lượng lao động các quý, giai đoạn 2019 –  2021 - LUẬN VĂN THẠC SĨ: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN TOÁN LỚP 7 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Bảng 2. 1:Lực lượng lao động các quý, giai đoạn 2019 – 2021 (Trang 114)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w