Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn i Ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt; ii Nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng; iii Chia đôi tài sản chung là nhà, đất có số thửa 496, tờ b
Trang 1BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
-o0o -BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
MÔN: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA
GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ
Mã hồ sơ : LS.DS 07 – TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN – HOÀNG THỊ HẢO – NGUYỄN VĂN NGUYỆT Diễn lần : 01
Ngày diễn : 07/01/2023
Vai diễn : Ông Nguyễn Văn Chuyển – em trai của Ông Nguyễn Văn Nguyệt
Họ và tên : An Thị Hồng Chuyên Lớp : LS 24.1 H tại Hà Nội
Ngày sinh : 01/01/1988
Hà Nội, Ngày 07 tháng 01 năm 2023
Trang 2MỤC LỤC
1 TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP VÀ YÊU CẦU, TRÌNH BÀY CỦA CÁC
ĐƯƠNG SỰ 1
1.1 Tư cách đương sự 1
1.2 Tóm tắt nội dung tranh chấp 1
1.3 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 2
1.4 Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 3
1.5 Ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 3
2 KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA 4
Hỏi với vai trò luật sư của nguyên đơn 4
2.1 Hỏi nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Hảo 4
2.2 Hỏi bị đơn – Ông Nguyễn Văn Nguyệt 4
2.3 Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – bà Thoa 5
2.4 Hỏi người làm chứng 5
3 BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN 6
Trang 31 TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP VÀ YÊU CẦU, TRÌNH BÀY CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
1.1 Tư cách đương sự
- Nguyên Đơn: Chị Nguyễn Thị Hảo Sinh năm 1978 ĐKHKTT: Thôn Thượng Triệt I, xã
Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Hiện trú tại: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Bị Đơn: Anh Nguyễn Văn Nguyệt Sinh năm 1976 ĐKHKTT: Thôn Thượng Triệt I, xã
Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thoa và Ông Nguyễn Văn
Cang – có tài sản liên quan Đều trú tại: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
1.2 Tóm tắt nội dung tranh chấp
• Ngày 26/03/1999, chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương Việc kết hôn này dựa trên sự tự nguyện của 2 người
• Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân mâu thuẫn: i) Theo chị Hảo thì là do tính tình không hợp, anh Nguyệt hay đi chơi, về nhà lại chửi đánh vợ con; ii) Theo anh Nguyệt thì là do chị Hảo hay ghen, vợ chồng cãi nhau là chị Hảo bỏ về nhà mẹ đẻ nhiều lần
• Hai người sống ly thân hơn 01 năm kể từ năm 2014, không còn quan tâm đến nhau Chị Hảo và anh Nguyệt đều xác định tình cảm vợ chồng không còn
• Chị Hảo xin ly hôn anh Nguyệt, anh Nguyệt đồng ý ly hôn
Các vấn đề của vụ ly hôn:
• Các nội dung đã thỏa thuận được:
- Về tình cảm: Nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn.
- Về nợ chung: Khoản nợ đối với ngân hàng Agribank: nợ gốc 20.000.000 và số tiền
lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng Đã hoàn thành trả vào 28/06/2016 và ngân hàng Agribank đã hoàn trả lại GCNQSDĐ đối với thửa đất 496 (BL 148-154)
- Về tài sản chung: 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu 02
Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, Tp Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi
cơ cấu cây trồng Lúc đầu, chị Hảo đề nghị được sử dụng ½ diện tích được khoán và
1
Trang 4anh Nguyệt không đồng ý do: anh Nguyệt là người trực tiếp ký hợp đồng thuê khoán với UBND xã Thượng Đạt, quá trình sử dụng canh tác và hoàn thành các nghĩa vụ nộp tiền thuê, tiền thuế đều do anh Nguyệt thực hiện; chị Hảo chỉ đóng góp công sức không đáng kể trên diện tích đất này Tuy nhiên, khi hòa giải, hai bên thống nhất không yêu cầu tòa án giải quyết nội dung này nữa
• Các nội dung chưa thỏa thuận được:
- Về con chung: Có 2 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh 04/01/2000) và Nguyễn Đức
Anh (sinh 13/06/2007) Kể từ khi ly thân, cháu Nhi đang sống cùng chị Hảo, cháu Đức Anh sống cùng anh Nguyệt Chị Hảo yêu cầu nuôi cả 2 con chung Anh Nguyệt không đồng ý cho chị Hảo nuôi cả 2 con chung, anh Nguyệt đề nghị anh Nguyệt nuôi
bé Đức Anh, chị Hảo nuôi bé Nhi Cả hai bên không yêu cầu bên kia phải cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung:
Nguyệt và chị Hảo Chị Hảo yêu cầu được chia ½ diện tích đất, lấy phần không có tài sản, tài sản trên đất không yêu cầu chia
Không có tài sản chung là thửa đất số 496 Anh Nguyệt không đồng ý chia cho chị Hảo
ý chia đôi tài sản chung này, anh đề nghị nhận hiện vật, trả tiền cho chị Hảo
1.3 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
i) Ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt;
ii) Nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng;
iii) Chia đôi tài sản chung là nhà, đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 1, diện tích 216m2 tại
xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Tại đơn khởi kiện, chị Hảo có yêu cầu chia đôi nhà đất nhưng sau đó, tại Biên bản hòa giải ngày 12/07/2016, chị Hảo thay đổi yêu cầu: không yêu cầu chia tài sản trên đất mà chỉ yêu cầu chia ½ diện tích đất và xin được lấy phần không có tài sản
Trang 51.4 Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Các chứng cứ ban đầu chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp bao gồm:
• Tài liệu chứng minh tư cách đương sự:
• Tài liệu chứng minh quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn:
chị Hảo là tự nguyện và đúng pháp luật;
38 quyển số 2007 – chứng minh về con chung;
• Tài liệu chứng minh yêu cầu khởi kiện có căn cứ hợp pháp:
ngày 31/12/2005, đứng tên anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo – chứng minh về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1.5 Ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
• Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyệt đồng ý ly hôn với chị Hảo.
• Về con chung: Anh Nguyệt không đồng ý việc chị Hảo nuôi 02 con, anh yêu cầu
được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đức Anh, giao cháu Nhi cho chị Hảo nuôi dưỡng,
những lý do sau: i) Chị Hảo không đủ điều kiện chăm sóc cả 2 con, bằng chứng là chị
đã cho bé Nhi hiện đang ở cùng mẹ phải nghỉ học Cháu Đức Anh ở với anh Nguyệt
đã có Đơn đề nghị xin tiếp tục ở với bố; ii) Anh Nguyệt đảm bảo có thể lo được cho
cháu Đức Anh Đồng thời, nhà anh Nguyệt gần trường học rất tiện lợi cho cháu Đức Anh đi học, có ông bà nội đưa đón đi học
• Về tài sản chung, anh Nguyệt có các ý kiến như sau:
và nhà vệ sinh khoảng 10 m² , 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6 m³, ngoài ra không có gì nữa Anh Nguyệt đồng ý chia tài sản này, anh nhận hiện vật, trả tiền cho chị Hảo
Dương theo GCN QSD Đất H497 được UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp
Trang 6cho cả 02 vợ chồng ngày 31/12/2005: Không phải là tài sản chung của vợ Anh Nguyệt không đồng ý chia đất, yêu cầu hủy GCN QSDĐ của thửa đất 496 đã cấp cho
anh Nguyệt chị Hảo Lý do anh Nguyệt đưa ra: i) Nguồn gốc đất là của mẹ anh
Nguyệt là bà Nguyễn Thị Thoa đã mua với giá 1.550.000 đồng, trong đó có 1.000.000 đồng là của anh trai anh Nguyệt là anh Nguyễn Văn Quyết, 550.000 đồng là của em trai anh Nguyệt là anh Nguyễn Văn Chuyển, mẹ anh Nguyệt đứng ra thực hiện giao dịch Năm 1999 bố mẹ anh Nguyệt cho vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo xây dựng công
trình nhà ở trên đất để tách ra ở riêng; ii) Năm 2005, UBND xã Thượng Đạt và
UBND huyện Nam Sách đã tự làm GCN QSDĐ cho vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo, anh Nguyệt không đứng ra kê khai để được cấp GCN QSDĐ này Gia đình không ai biết nên không ai có ý kiến Sau này, anh Nguyệt đã thế chấp QSDĐ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn để vay tiền
2 KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN
TÒA Hỏi với vai trò luật sư của nguyên
đơn
2.1 Hỏi nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Hảo
Mục đích hỏi: Làm rõ vụ việc, chứng minh các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ
cụ thể: làm rõ khả năng nuôi con của nguyên đơn, chứng minh nguồn gốc tài sản chung và công sức đóng góp của chị Hảo vào tài sản trên
kiến gì không? Có tranh chấp gì không?
nay?
trong gia đình có ý kiến gì không?
2.2 Hỏi bị đơn – Ông Nguyễn Văn Nguyệt
Trang 7Mục đích hỏi: Tập trung vào những điểm yếu của bị đơn trong việc chăm sóc con cái, yêu cầu
chứng minh tài sản không phải tài sản chung
2.3 Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – bà Thoa
Mục đích hỏi: Làm rõ ý thức của bà Thoa khi nào biết anh Nguyệt chị Hảo được cấp GCN
QSDĐ thửa đất 496
thân bà có ý kiến phản đối không?
không?
không?
2.4 Hỏi người làm chứng
i) Hỏi Ông Chuyển – Em trai của Ông Nguyệt
Mục đích hỏi: Làm rõ công sức tôn tạo thửa đất của vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo và
trong gia đình không ai phản đối việc xây dựng của vợ chồng anh chị
tạo xây dựng những gì?
ii) Hỏi Ông Bích – Công chức địa chính xã Thượng Đạt
Mục đích hỏi: Làm rõ quy trình cấp GCN QSDĐ là hợp pháp, không có tranh chấp,
khiếu nại
nào? Có đúng thủ tục pháp luật không?
bất kỳ ý kiến, đơn thư khiếu nại nào không?
Trang 8iii) Hỏi Ông Tư – Cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt
Mục đích hỏi: Làm rõ việc anh Nguyệt không cho cháu Đức Anh gặp mẹ.
khi gặp mẹ có được nhiều người biết không?
3 BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa vị đại diện Viện Kiểm
sát!
Thưa các vị luật sư đồng nghiệp và toàn thể quý vị đang có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay!
Tôi là luật sư… – thuộc Công ty luật… thuộc Đoàn Luật sư Tôi tham gia phiên toà hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hảo trong vụ án dân sự “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản”
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, tài liệu chứng cứ có trong vụ án và diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin đưa ra quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hảo Tôi xin khẳng định, các yêu cầu khởi kiện chị Nguyễn Thị Hảo đưa
ra là hoàn toàn có căn cứ và hợp pháp
1 Về yêu cầu ly hôn
Chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26/03/1999
Theo như lời trình bày của cả hai bên thì quan hệ hôn nhân của vợ chồng anh Nguyệt và chị Hảo đã mâu thuẫn đến mức đỉnh điểm, không thể hòa giải được Cụ thể thì sau khi cưới được khoảng thời gian 02 năm thì anh Nguyệt và chị Hảo bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyệt chơi bời, về nhà đánh chửi mẹ con chị Hảo Gia đình anh Nguyệt biết mâu thuẫn này đã nhiều lần khuyên can anh Nguyệt và hòa giải mối quan hệ vợ chồng nhưng không thành
Đỉnh điểm mâu thuẫn, anh chị đã ly thân từ năm 2014, chị Hảo về sống tại nhà mẹ đẻ Từ
đó đến nay, chị Hảo xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa Vì vậy, chị Hảo xin ly hôn với anh Nguyệt Anh Nguyệt cũng xác nhận không còn tình cảm vợ chồng và đồng ý yêu cầu ly hôn của chị Hảo
Do vậy, có thể khẳng định rằng cả hai bên không thể tiếp tục sống chung, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được Do vậy, tôi kính đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 và các chứng cứ tại hồ
sơ cũng như tại phiên tòa hôm nay, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyệt và chị Hảo
2 Về việc nuôi con chung
Trang 9i) Về việc nuôi dưỡng cháu Nhi
Cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000, là con chung của anh Nguyệt và chị Hảo trong thời kỳ hôn nhân Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyệt và chị Hảo đã đạt được thỏa thuận về việc chị Hảo sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhi, thể hiện tại biên bản hòa giải ngày 12/07/2016 Đồng thời, cháu Nhi cũng có đề nghị được ở với mẹ thông qua Đơn đề nghị ngày 20/01/2016 Khả năng kinh tế cũng như các yếu tố khác của chị Hảo có thể đáp ứng tốt việc nuôi dạy cháu Nhi
ii) Về việc nuôi dưỡng cháu Đức Anh
Cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/06/2007, là con chung của anh Nguyệt và chị Hảo trong thời kỳ hôn nhân, tính đến thời điểm hiện tại cháu Đức Anh đã trên 07 tuổi
Thứ nhất, về nguyện vọng của cháu Đức Anh Theo Đơn đề nghị ngày 22/01/2016 và Biên
bản lấy lời khai ngày 05/07/2016 (có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu)
thì nguyện vọng của cháu Đức Anh là cháu muốn ở với mẹ nếu bố mẹ cháu ly hôn
Thứ hai, về vấn đề tinh thần và tâm lý Hiện nay cháu Đức Anh đã được 10 tuổi Đây là độ
tuổi dễ bị ảnh hưởng về tâm lý, đang trong giai đoạn phát triển nhận thức và nhân cách; cháu rất cần sự chăm sóc, tình yêu thương của người mẹ Trong bối cảnh cha mẹ ly hôn, việc cháu được
ở cùng với mẹ và chị gái sẽ dễ dàng chia sẻ tình cảm sẽ tốt hơn cho sự phát triển của cháu Trong khi đó anh Nguyệt thường xuyên tụ tập ăn chơi, không chăm lo cho con cái, có những hành động bạo lực trong suốt quá trình hôn nhân như đánh đập, chửi bới vợ con Khi chị Hảo đến thăm cháu Đức Anh thì anh Nguyệt đánh cả cháu.Với cách hành xử thô bạo như vậy cháu Đức Anh rất dễ bị ảnh hưởng tâm sinh lý và khả năng phát triển bình thường của cháu
Thứ ba, về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng Hiện nay, chị Hảo có nơi ở ổn định, chị
đang sống ở nhà mẹ đẻ, có công việc ổn định với mức lương khá, cùng với đó là sự giúp đỡ của
mẹ
tại phiên tòa ngày hôm nay, các biên bản lấy lời khai của chị Hảo Trong khi đó thu nhập của anh Nguyệt không ổn định phụ thuộc vào chăn nuôi Chị Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Đức Anh tốt hơn anh Nguyệt
Ngoài ra, trong thời gian qua khi cháu Đức Anh ở với bố, anh Nguyệt đã không cho chị
Hảo gặp cháu, nếu chị Hảo gặp thì anh Nguyệt sẽ đánh cháu Điều này chính quyền và bà con hàng xóm láng giềng đều biết và ông Đỗ Văn Tư - cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt cũng đã xác nhận thực tế này thông qua biên bản xác minh ngày 09/03/2016 Như vậy, nếu như anh Nguyệt được giao nuôi cháu Đức Anh thì sau khi ly hôn, quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cháu Đức Anh của chị Hảo theo Khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 không được bảo
đảm
Trang 10Như vậy, việc chị Hảo yêu cầu nuôi cả 2 con chung là cháu Nhi và cháu Đức Anh và
không cần cấp dưỡng là hoàn toàn phù hợp với các quy định pháp luật cũng như thực tế hiện tại
và mong muốn của cháu Đức Anh và cháu Nhi
3 Về tài sản chung
3.1 Thửa đất số 496 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hảo
Thứ nhất, vợ chồng anh Nguyệt – chị Hảo được ông Cang – bà Thoa cho thửa đất số
496 để xây nhà và sinh sống lâu dài, công khai, ổn định trên thửa đất này từ năm 1999.
Chị Hảo, anh Nguyệt, các thành viên trong gia đình anh Nguyệt đều thống nhất rằng anh chị đã được bố mẹ chồng là bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang cho vợ chồng anh chị xây dựng nhà và công trình phụ để ra ở riêng từ năm 1999 sau khi kết hôn Điều này cũng đã được thể hiện qua Biên bản lấy lời khai của ông Ông Đỗ Văn Tỏ, Biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Giới và một số thợ khác đã xây nhà và công trình phụ cho hai vợ chồng năm 1999
Thứ hai , thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho hai vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt từ năm 2005 một cách hợp pháp, đúng thủ tục pháp luật:
- Ngày 31/12/2005, UBND huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương đã cấp cho ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt
- Công văn ngày 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường UBND TP Hải Dương
đã xác nhận về việc cấp GCNQSDĐ cho thửa số 496 nói trên cho anh Nguyệt và chị Hảo trong khuôn khổ cấp đồng loạt cho cả 30 hộ dân trong xã Thượng Đạt, bảo đảm đúng quy định của pháp luật và không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSDĐ này của anh Nguyệt, bà Thoa và ông Cang
Thứ ba, trong suốt thời gian sinh sống, cũng như từ khi anh Nguyệt chị Hảo được cấp GCN QSDĐ đến nay không phát sinh bất kỳ tranh chấp, khiếu nại nào.
- Trong Công văn 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường UBND TP Hải Dương nêu rõ: ông Cang, bà Thoa đã biết việc anh Nguyệt chị Hảo được cấp GCNQSDĐ nhưng tất cả đều không có ý kiến về việc cấp GCNQSDĐ nêu trên; đồng thời các thành viên trong gia đình ông Cang, bà Thoa không ai có tranh chấp hay ý kiến phản đối gì
- Tại buổi hòa giải ngày 19/5/2016, bà Thoa nêu rằng đã biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSĐ và bà Thoa và mọi người trong gia đình không ai có ý kiến phản đối hay thắc mắc gì, không ai tranh chấp gì
- Tại biên bản xác minh ngày 23/6/2016, ông Bích cán bộ địa chính xã Thượng Đạt xác nhận kể từ khi được cấp GCNQSDĐ đến nay anh Nguyệt và chị Hảo sử dụng đất ổn