1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính Sách Tiền Tệ Của Ngân Hàng Trung Ương Với Mục Tiêu Kiểm Soát Lạm Phát 1.Docx

40 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách Tiền Tệ Của Ngân Hàng Trung Ương Với Mục Tiêu Kiểm Soát Lạm Phát
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Hoài Phương
Trường học Khoa Ngân hàng – Tài chính, Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế tài chính, Chính sách tiền tệ
Thể loại Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 104,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương I Tổng quan chung về lạm phát và chính sách tiền tệ (3)
    • 1.1. Các quan điểm khác nhau về lạm phát (3)
    • 1.2. Tác động của lạm phát đến nền kinh tế (4)
    • 1.3. Khái niệm chính sách tiền tệ (5)
    • 1.4. Mục tiêu của chính sách tiền tệ (6)
    • 1.5. Vai trò của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát (8)
      • 1.5.1. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc (9)
      • 1.5.2. Công cụ tái chiết khấu (11)
      • 1.5.3. Hoạt động thị trường mở (12)
      • 1.5.4. Quản lý lãi suất của các ngân hàng thương mại (13)
      • 1.5.5. Kiểm soát hạn mức tín dụng (14)
  • Chương II Chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam với mục tiêu kiểm soát lạm phát (16)
    • 2.1. Mục tiêu của chính sách tiền tệ (16)
    • 2.2. Điều hành chính sách tiền tệ (16)
    • 2.3 Ngân hàng nhà nước Việt Nam sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát (17)
      • 2.3.1. Nghiệp vụ thị trường mở (17)
      • 2.3.2. Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc (18)
      • 2.3.3. Chính sách tái chiết khấu (20)
      • 2.3.4. Lãi suất (21)
      • 2.3.5. Hạn mức tín dụng (24)
    • 2.4. Đánh giá chung về việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam thời gian qua (25)
      • 2.4.1. Những thành công đã đạt được (25)
      • 2.4.2. Một số hạn chế trong điều hành chính sách tiền tệ (25)
  • Chương III Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát giai đoạn 2006-2010 (27)
    • 3.1. Nguy cơ dẫn tới việc tái lạm phát (27)
    • 3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong việc kiểm soát lạm phát (28)
      • 3.2.1. Đối với công cụ Nghiệp vụ thị trường mở (29)
      • 3.2.2. Đối với công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc (30)
      • 3.2.3. Với công cụ tái cấp vốn ( tái chiết khấu ) (32)
      • 3.2.4. Đối với công cụ lãi suất (33)
      • 3.2.5. Công cụ hạn mức tín dụng (34)
  • KẾT LUẬN (36)

Nội dung

Lời mở đầu Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ Khoa Ngân hàng – Tài chính LỜI MỞ ĐẦU Trong thời gian qua ở Việt Nam, lạm phát đã và đang trở thành mối quan tâm, chú ý của các nhà hoạch định chính sách,[.]

Tổng quan chung về lạm phát và chính sách tiền tệ

Các quan điểm khác nhau về lạm phát

Lạm phát là chủ đề được đề cập nhiều trong các nghiên cứu của các nhà kinh tế, với nhiều khái niệm khác nhau được đưa ra để mô tả hiện tượng này Các nhà kinh tế đã phân tích lạm phát từ nhiều góc độ, nhấn mạnh các ảnh hưởng và đặc điểm riêng biệt của nó trong từng công trình nghiên cứu Việc hiểu rõ các khái niệm về lạm phát giúp làm rõ tác động của nó đối với nền kinh tế và quyết định các chính sách phù hợp để kiểm soát.

Theo Tư duy của Theo C Mac trong bộ Tư bản, lạm phát xảy ra do sự tràn đầy các kênh, các luồng lưu thông của lượng tiền giấy thừa, dẫn đến giá cả hàng hóa tăng vọt Ông cho rằng, ngoài việc tạo ra giá trị thặng dư, chủ nghĩa tư bản còn gây ra lạm phát nhằm bóc lột người lao động thêm lần nữa, vì lạm phát làm giảm sức mua của tiền lương thực tế của người lao động.

Nhà kinh tế học Samuelson định nghĩa lạm phát là sự tăng lên trong mức giá cả chung của nền kinh tế Ông cho biết, lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí đều tăng, bao gồm các mặt hàng như bánh mì, dầu xăng, ô tô, cùng với tiền lương, giá đất và tiền thuê tư liệu sản xuất Hiện tượng này phản ánh sự gia tăng liên tục của giá cả các dịch vụ và hàng hóa, gây ảnh hưởng đến sức mua và hoạt động kinh tế Do đó, kiểm soát lạm phát là một mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế để duy trì ổn định giá cả.

Milton Friedman cho rằng, "Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài," đồng thời ông nhấn mạnh rằng, "Lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ." Quan điểm này của ông đã nhận được sự đồng tình rộng rãi từ các nhà kinh tế thuộc cả phái tiền tệ và phái Keynes.

Lạm phát hiện nay được định nghĩa là sự tăng liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế Không cần tất cả hàng hóa và dịch vụ đều tăng giá cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tổng thể tăng lên Một nền kinh tế vẫn có thể đối mặt với lạm phát ngay cả khi giá của một số mặt hàng giảm, miễn là giá của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh để kéo mức giá trung bình lên.

Tác động của lạm phát đến nền kinh tế

Lạm phát ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế theo các mức độ khác nhau, trong đó lạm phát ở mức độ vừa phải thúc đẩy sản xuất, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập cho chính phủ Tuy nhiên, khi lạm phát ở mức cao, nó gây bất lợi và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, gây ra biến động và khó khăn cho hoạt động kinh doanh cũng như cuộc sống của người dân Chính vì vậy, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý là yếu tố then chốt để duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế.

Mức độ lạm phát phù hợp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, khi tỷ lệ lạm phát ở dưới 10% giúp kiểm soát ổn định, thúc đẩy sản xuất và nâng cao đời sống người dân Nếu lạm phát quá thấp hoặc tăng trưởng cao, ngân hàng có thể bị ứ đọng vốn, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Ngược lại, khi lạm phát vượt quá 10%, đặc biệt là trên mức hai con số, nền kinh tế đối mặt với nhiều hậu quả nghiêm trọng như phân phối lại bất hợp lý, phá hoại hoạt động sản xuất do rủi ro cao, xuất hiện tình trạng đầu cơ tích trữ, khan hiếm hàng hóa giả tạo, gây mất cân đối cung cầu và đẩy giá cả tăng cao Tình trạng lạm phát cao kéo theo nạn khó khăn cho đời sống nhân dân, xã hội mất ổn định, và phải mất nhiều năm để phục hồi Tại Việt Nam, lạm phát diễn ra khá phức tạp, đòi hỏi các chính sách kiểm soát phù hợp để duy trì ổn định kinh tế.

Trong những năm 1980, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua tình trạng lạm phát cao tới 3 con số, gây ảnh hưởng nặng nề đến đời sống người dân và ổn định xã hội Chính phủ đã thành công trong việc kiểm soát lạm phát phi mã bằng cách điều chỉnh lãi suất ngân hàng, đưa lãi suất huy động tiết kiệm vượt tốc độ tăng của lạm phát nhằm kiềm chế tăng giá và ổn định thị trường Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ như lãi suất đã thể hiện vai trò then chốt trong điều tiết vĩ mô và đạt các mục tiêu ngắn hạn về ổn định kinh tế Tuy nhiên, dù đã phần nào kiểm soát được lạm phát, nhưng đến những năm sau, thách thức về ổn định giá vẫn còn tồn tại và cần có các biện pháp phù hợp để duy trì tăng trưởng bền vững.

Năm 2004, tỷ lệ lạm phát đã trở lại và đạt mức gần 10% (9,5%), gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đất nước và kìm hãm tăng trưởng kinh tế Do đó, việc nghiên cứu và ứng dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát trở thành một nhiệm vụ cấp thiết.

Khái niệm chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là thành phần quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước nhằm thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế hiệu quả Chính sách này giúp kiểm soát lượng tiền tệ lưu thông, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định giá cả Việc điều chỉnh chính sách tiền tệ phù hợp góp phần đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Chính sách tiền tệ, theo nghĩa rộng, là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động tới các mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ là giữ vững ổn định tiền tệ, duy trì sức mua của đồng tiền và ổn định giá cả hàng hóa trong nền kinh tế.

Chính sách tiền tệ thường tập trung vào việc điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Mục tiêu chính của chính sách này là phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát để đảm bảo ổn định tiền tệ và giá cả hàng hóa Điều này giúp duy trì sự ổn định của thị trường tài chính, hạn chế biến động dữ liệu và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ quan trọng của chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng Nhà nước (NHTW) chủ trì, nhằm điều tiết lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế Hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa thông thường, chính sách tiền tệ đóng vai trò then chốt trong việc duy trì sự ổn định kinh tế, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng NHTW có trách nhiệm khởi thảo và thực thi chính sách tiền tệ thông qua các công cụ như lãi suất, tỷ giá hối đoái và hoạt động thị trường mở Thực hiện chính sách tiền tệ hiệu quả giúp điều chỉnh lượng tiền lưu thông phù hợp với mục tiêu kinh tế của quốc gia.

Lạm phát là kết quả của sự mất cân đối giữa tổng khối lượng hàng hóa và tổng khối lượng tiền trong nền kinh tế, do đó, chính sách kiểm soát lạm phát cần kết hợp điều hành chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài chính Chính sách tài chính chủ yếu tập trung vào thành phần và cấu trúc mức chi phí thuế khoá của nhà nước, trong khi chính sách tiền tệ hướng tới quản lý khả năng thanh toán của nền kinh tế, điều chỉnh lượng tiền cung ứng, kiểm soát hệ thống tiền tệ và tín dụng để đáp ứng nhu cầu vốn, thúc đẩy sự phát triển của thị trường tiền tệ và thị trường vốn theo các quỹ đạo đã định Việc xác định tỷ giá hối đoái hợp lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế đối ngoại, duy trì sức mua của đồng tiền và kiểm soát giá cả hàng hoá nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ và giữ vững ổn định giá cả trong nền kinh tế.

Chính vì vậy, chính sách tiền tệ tác động khá nhạy bén tới lạm phát và đây là giải pháp khá hữu hiệu trong việc kiểm soát lạm phát.

Mục tiêu của chính sách tiền tệ

* Ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát.

Trong điều kiện lưu thông tiền giấy không được tự do chuyển đổi ra vàng, lạm phát luôn tiềm ẩn và khó tránh khỏi ở nhiều quốc gia Ngân hàng Trung ương coi việc kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ nhằm ổn định giá cả hàng hóa và dịch vụ Việc kiểm soát lạm phát góp phần đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững và nâng cao đời sống của người lao động.

Kiểm soát lạm phát thể hiện qua việc duy trì ổn định giá trị nội địa của đồng tiền, đảm bảo sức mua của nó đối với hàng hoá và dịch vụ trong nước, cũng như ổn định giá trị đối ngoại thông qua tỷ giá hối đoái thả nổi Trong nền kinh tế mở, sự biến động của tỷ giá chuyển thành mối quan tâm của các quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu và nhập khẩu Tăng giá trị đồng tiền quốc tế có thể hạn chế xuất khẩu, trong khi giảm giá trị của đồng bản tệ so với ngoại tệ lại thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, vì vậy, giá trị nội địa và ngoại lai của đồng tiền luôn có quan hệ mật thiết Để duy trì ổn định tiền tệ và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhà nước cần có các biện pháp kiểm soát giá cả, hàng hoá dịch vụ trong nước và tỷ giá hối đoái hợp lý.

* Tạo công ăn việc làm.

Chính sách tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế Khi Ngân hàng Trung ương mở rộng cung tiền, các hoạt động đầu tư sản xuất sẽ tăng, tạo nhiều việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp Ngược lại, nếu cung tiền giảm, hoạt động kinh doanh thu hẹp, nhu cầu về lao động giảm, dẫn đến tăng tỷ lệ thất nghiệp.

* Kích thích tăng trưởng kinh tế.

Khi tỷ lệ tăng trưởng sản phẩm quốc nội (GDP) vượt quá tốc độ tăng dân số, nền kinh tế sẽ có sự tăng trưởng tích cực Chính sách tiền tệ cần đảm bảo duy trì sự tăng trưởng của GDP thực tế, tức là sau khi trừ đi tỷ lệ lạm phát Lượng tiền cung ứng tăng lên trong ngắn hạn sẽ làm giảm lãi suất tín dụng, khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất và tăng trưởng kinh tế Nhà nước và doanh nghiệp cần nhiều lao động hơn, dẫn đến tăng sản lượng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngược lại, khi lượng tiền cung ứng giảm, lãi suất tăng sẽ hạn chế đầu tư, làm giảm hoạt động sản xuất và chậm lại tăng trưởng kinh tế Trong tình huống này, Ngân hàng Trung ương thường sử dụng các công cụ gián tiếp để tăng lượng tiền cung ứng và duy trì sự phát triển của nền kinh tế.

* Quan hệ giữa các mục tiêu.

Trong chiến lược dài hạn, các mục tiêu và chính sách tiền tệ có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau, thể hiện tính tổng thể trong quá trình thực thi chính sách Tuy không thể tuyệt đối hóa một mục tiêu hay giải quyết các mục tiêu độc lập ở tầm vĩ mô, việc đạt được tất cả các mục tiêu cùng lúc là khó khăn, đôi khi cần hi sinh mục tiêu này để hướng tới mục tiêu khác Mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng mục tiêu cơ bản của chính sách tiền tệ là duy trì giá trị đồng tiền ổn định, kiểm soát lạm phát, từ đó tạo nền tảng cho ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.

Vai trò của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát

Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là duy trì ổn định giá trị tiền tệ, kiểm soát lạm phát hiệu quả, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm bền vững These objectives nhằm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Thông thường, Ngân hàng Nhà nước (NHTW) sử dụng các công cụ kiểm soát tiền tệ để tác động đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ NHTW áp dụng cả cơ chế kiểm soát tiền tệ trực tiếp và gián tiếp nhằm điều chỉnh lãi suất dài hạn, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng tín dụng, cũng như giá trị của các tài sản cầm cố thế chấp Qua các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ này, NHTW ảnh hưởng đến các biến số vĩ mô của nền kinh tế, hướng tới đạt được các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.

Cơ chế kiểm soát tiền tệ trực tiếp của Ngân hàng Trung ương tác động thông qua các công cụ như hạn mức tín dụng và lãi suất trần, nhằm kiểm soát lượng tiền cung ứng và ảnh hưởng đến cơ sở tiền tệ cũng như khối lượng tín dụng trong nền kinh tế Tuy nhiên, cơ chế này thường chỉ được áp dụng trong những điều kiện kinh tế đặc thù như nền kinh tế đóng, hoạt động của NHTW kém phát triển và thị trường tài chính chưa phát triển Trong các môi trường này, sự giao lưu quốc tế còn hạn chế khiến hoạt động đầu tư gián tiếp ít diễn ra, đồng thời cung cầu tiền tệ bị chi phối mạnh bởi các yếu tố phi lãi suất.

Cơ chế kiểm soát tiền tệ gián tiếp chủ yếu dựa vào các công cụ như dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở, nhằm điều chỉnh lượng dự trữ của hệ thống ngân hàng phù hợp với điều kiện thị trường và hoạt động của nền kinh tế Những công cụ này ảnh hưởng đến lượng tín dụng cung ứng và lãi suất ngắn hạn, từ đó tác động đến biến động giá cả ngắn hạn của vốn tiền tệ Trong nền kinh tế mở, sự biến động của lãi suất ngắn hạn còn ảnh hưởng đến kỳ vọng dài hạn, tỷ giá và giá tài sản, cũng như hoạt động tín dụng ngân hàng Tác động của chính sách tiền tệ qua các kênh như tín dụng, tiền tệ, tỷ giá giúp điều chỉnh các biến số vĩ mô như tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu ròng, từ đó ảnh hưởng đến tổng sản lượng, chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát Hiểu rõ các công cụ của chính sách tiền tệ giúp nhận diện rõ hơn vai trò của chúng trong việc kiểm soát lạm phát và ổn định nền kinh tế.

1.5.1 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Trong hoạt động tín dụng và thanh toán, các ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền từ những khoản tiền gửi ban đầu thông qua quá trình sinh ra bội số tín dụng Khả năng này cho phép hệ thống ngân hàng mở rộng quy mô tín dụng, gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Để kiểm soát việc tạo tiền này, Ngân hàng Nhà nước bắt buộc các ngân hàng gửi một phần tiền huy động được vào tài khoản dự trữ bắt buộc tại ngân hàng trung ương, không hưởng lãi suất, nhằm hạn chế quá trình mở rộng tín dụng quá mức và duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính.

Cơ chế hoạt động của công cụ dự trữ bắt buộc nhằm kiểm soát khả năng tạo tiền của các ngân hàng thương mại Bằng việc quy định tỷ lệ dự trữ tối thiểu mà ngân hàng phải duy trì, công cụ này giúp hạn chế mức tăng bội số tín dụng và đảm bảo an toàn vĩ mô Điều này góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế và duy trì hệ thống ngân hàng mạnh mẽ, bền vững.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm của tổng số tiền gửi mà các ngân hàng thương mại phải giữ lại để hạn chế khả năng thanh toán và tín dụng Đây là một công cụ quan trọng giúp kiểm soát lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế, đảm bảo sự ổn định tài chính Việc duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc thích hợp giúp điều chỉnh khả năng thanh toán và khả năng tín dụng của các ngân hàng, góp phần ổn định hệ thống ngân hàng và kiểm soát lạm phát.

Thông qua công cụ dự trữ bắt buộc, Ngân hàng Nhà nước ảnh hưởng đến khối lượng và giá cả tín dụng của các Ngân hàng Thương mại, từ đó tác động trực tiếp đến khả năng cung ứng tín dụng và khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng Việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc giúp kiểm soát lượng tiền trong lưu thông, thúc đẩy ổn định thị trường tài chính và kiểm soát lạm phát hiệu quả Công cụ dự trữ bắt buộc là một trong những biện pháp quan trọng giúp Ngân hàng Nhà nước duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

Dưới áp lực của lạm phát cao, Ngân hàng Trung ương (NHTW) tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm thu hẹp khả năng cho vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng, dẫn đến giảm cung tiền, tăng lãi suất, giảm đầu tư và tổng cầu, từ đó kéo giảm lạm phát Ngược lại, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng tín dụng, tăng cung tiền và thúc đẩy các hoạt động kinh tế, nhưng cũng có thể gây ra tình trạng lạm phát tăng do cung tiền tăng quá lớn Công cụ dự trữ bắt buộc là công cụ quản lý tiền tệ mạnh mẽ và trực tiếp, quan trọng để kiểm soát lạm phát khi các biện pháp thị trường mở hoặc chính sách tái chiết khấu chưa đủ hiệu quả, đặc biệt trong những nền kinh tế chưa ổn định Tuy nhiên, công cụ này rất nhạy cảm, chỉ cần thay đổi nhỏ về tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng có thể gây ra biến động lớn trong lượng tiền tệ, dễ dẫn đến mất ổn định hệ thống ngân hàng và khó khăn trong quản lý thanh khoản Do đó, sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung tiền và lạm phát ít phổ biến hơn trên thế giới, đặc biệt là tại các nước có nền kinh tế ổn định và phát triển.

1.5.2 Công cụ tái chiết khấu

Chính sách tái chiết khấu đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng của Ngân hàng Trung ương Thông qua hoạt động tái chiết khấu, Ngân hàng Trung ương thúc đẩy hệ thống ngân hàng thương mại tạo tiền và thúc đẩy thanh toán trong nền kinh tế Công cụ này giúp tăng dự trữ của các ngân hàng thương mại, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng tiền trong nền kinh tế và chính sách tiền tệ Ngân hàng Trung ương kiểm soát chính sách này qua việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu, phù hợp với mục tiêu nới lỏng hoặc thắt chặt tín dụng theo từng giai đoạn như tăng lãi suất nhằm hạn chế cung tiền và kiểm soát lạm phát, hoặc giảm lãi suất để kích thích tăng trưởng và tăng lạm phát Trong các quốc gia, công cụ phổ biến để thực hiện tái chiết khấu là thương phiếu hoặc tín phiếu, nhưng tại Việt Nam, công cụ truyền thống này chưa phổ biến Tái chiết khấu có khả năng mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng và được ví như một chiếc bơm hai chiều, vừa hút vừa đẩy tiền vào nền kinh tế nhằm kiểm soát lạm phát hoặc thúc đẩy tăng trưởng.

Khi Ngân hàng Trung ương ấn định lãi suất chiết khấu ở mức cố định, sẽ xảy ra biến động trong khoảng cách giữa lãi suất thị trường và lãi suất chiết khấu do sự thay đổi của lãi suất cho vay Những biến động này làm thay đổi khối lượng cho vay chiết khấu một cách ngoài ý muốn, từ đó ảnh hưởng đến cung ứng tiền tệ và khiến việc kiểm soát cung tiền trở nên khó khăn hơn Đây chính là hạn chế của công cụ tái chiết khấu trong việc kiểm soát lạm phát.

1.5.3 Hoạt động thị trường mở

Công cụ lãi suất tái chiết khấu là công cụ thụ động của Ngân hàng Trung ương, yêu cầu NHTW chờ các ngân hàng thương mại cần vốn gửi thương phiếu, kỳ phiếu để xin tái cấp vốn Trong khi đó, nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chủ động của NHTW trong việc điều phối khối lượng tiền, giúp kiểm soát lạm phát hiệu quả.

Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động của Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, chứng chỉ tiền gửi nhằm điều chỉnh lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế Hoạt động này giúp duy trì ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Thị trường mở đóng vai trò quan trọng trong chính sách tiền tệ, góp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia.

Ngân hàng Nhà nước sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để điều chỉnh lượng tiền trung ương trong lưu thông bằng cách mua bán trái phiếu ngân hàng quốc gia, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng dự trữ của các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính Việc này giúp hạn chế khả năng cấp tín dụng và thanh toán của các ngân hàng, từ đó kiểm soát lượng tiền trong thị trường tiền tệ Thay đổi cung tiền tệ có tác động trực tiếp đến tỷ lệ lạm phát, do đó ngân hàng trung ương có thể bán giấy tờ có giá ngắn hạn để thu hẹp tín dụng, giảm lượng tiền tệ nhằm ngăn chặn lạm phát tăng cao.

Trong nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Trung ương điều khiển khối lượng tiền tệ và lãi suất tín dụng thông qua việc điều chỉnh giá cả mua bán trái phiếu một cách linh hoạt và chính xác Các cuộc can thiệp vào khối lượng tiền tệ thường diễn ra một cách kín đáo, không gây rối loạn, cho phép Ngân hàng Trung ương dễ dàng đảo ngược nếu có sai lệch, như bán hoặc mua trái phiếu để điều chỉnh cung tiền Đây là công cụ cực kỳ quan trọng và được coi là vũ khí sắc bén nhất giúp duy trì ổn định kinh tế và kiểm soát lạm phát, từ đó Ngân hàng Trung ương có thể chủ động kiểm soát lượng tiền cung ứng và điều chỉnh tỷ lệ lạm phát phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước.

Chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam với mục tiêu kiểm soát lạm phát

Mục tiêu của chính sách tiền tệ

Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, việc xây dựng chính sách tiền tệ phù hợp đóng vai trò quyết định tới sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính sách tiền tệ đã xác định rõ mục tiêu kiểm soát lạm phát, duy trì giá trị tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng Thực tế cho thấy, sự ổn định của tiền tệ và hệ thống tài chính là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững đất nước Trước những năm 1990, nền kinh tế Việt Nam gặp phải tình trạng lạm phát tăng cao, đồng tiền mất giá nghiêm trọng, và hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề do các quỹ tín dụng nhân dân đổ vỡ, làm giảm lòng tin của người dân vào hệ thống tài chính và giá trị của đồng tiền Chính vì vậy, các mục tiêu của chính sách tiền tệ đã được xác định phù hợp để khắc phục các khó khăn này và hướng tới sự ổn định lâu dài.

Điều hành chính sách tiền tệ

Kể từ năm 1990, NHNN đã mạnh mẽ cải cách xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, xác định khối lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát NHNN đã chọn lựa công cụ chính sách tiền tệ phù hợp với thực tiễn, chủ động linh hoạt điều hành lượng tiền được phê duyệt hàng năm, đảm bảo hoạt động sản xuất - lưu thông không bị gián đoạn Từ năm 1993, NHNN đã quản lý hiệu quả lượng tiền cung ứng, sử dụng linh hoạt các công cụ, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và kiểm soát lạm phát trong mức một con số.

Ngân hàng nhà nước Việt Nam sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát

Trước năm 1990, các công cụ của chính sách tiền tệ hầu như chưa được phát triển Với sự ra đời của hai pháp lệnh ngân hàng, việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ đã trở nên rõ ràng hơn, xác định rõ các công cụ điều tiết tiền tệ Quá trình sử dụng các công cụ này đã đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lượng tiền lưu thông, góp phần làm giảm lạm phát và duy trì lạm phát trong mức một con số Từ năm 1990 trở đi, các công cụ chính sách tiền tệ ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế để đạt hiệu quả tối đa trong công tác kiểm soát lạm phát.

Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua thực trạng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ ở Việt Nam.

2.3.1 Nghiệp vụ thị trường mở Đây là công cụ quan trọng được NHTW các nước sử dụng để điều hành có hiệu quả chính sách tiền tệ Thậm chí một số ngân hàng coi đây là công cụ sắc bén nhất trong các hoạt động của mình.

Ngày 12/07/2000, nghiệp vụ thị trường mở chính thức được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc chuyển sang điều tiết tiền tệ gián tiếp Nghiệp vụ này đã không ngừng hoàn thiện và trở thành công cụ chủ yếu của NHNN trong việc duy trì ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động của hệ thống ngân hàng Luật NHNN Việt Nam quy định rõ rằng NHNN thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua mua bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Phạm vi pháp lý rộng mở tạo điều kiện thuận lợi cho công cụ thị trường mở phát huy hiệu quả, đồng thời kết hợp chặt chẽ với các công cụ chính sách tiền tệ khác để phát tín hiệu điều hành phù hợp Kể từ tháng 7/2000, NHNN đã sử dụng đồng bộ nghiệp vụ thị trường mở, hoán đổi ngoại tệ và tái cấp vốn, giúp các tổ chức tín dụng duy trì khả năng thanh toán và ổn định tiền tệ Những tháng đầu năm 2002 chứng kiến NHNN điều chỉnh kịp thời lượng vốn ngắn hạn qua nghiệp vụ thị trường mở khi vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng gặp nhiều căng thẳng Đến năm 2005, nghiệp vụ thị trường mở tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong việc bơm tiền vào lưu thông, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế, với số lượng thành viên, phiên giao dịch và khối lượng giao dịch tăng cao Đây là công cụ hiệu quả trong điều hành chính sách tiền tệ, đòi hỏi chính phủ sớm thúc đẩy hoạt động của thị trường mở để đảm bảo sự phát triển bền vững.

2.3.2 Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc được chính thức thực hiện từ năm 1992.

Từ thời điểm đó, công cụ dự trữ bắt buộc đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống ngân hàng Theo Điều 45 của pháp lệnh NHNN, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng được quy định từ mức tối thiểu 10% đến tối đa 35% trên tổng số tiền gửi Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng quản trị NHNN có quyền quyết định tăng tỷ lệ dự trữ trên mức 35%, nhằm kiểm soát lượng tiền trong nền kinh tế Kể từ cuối năm 1989, khi các ngân hàng thương mại phải ký gửi hơn 100 tỷ đồng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc vẫn duy trì ở mức 10% trên tổng số tiền gửi của khách hàng, giúp tăng cường khả năng kiểm soát thanh khoản và ổn định hệ thống ngân hàng quốc gia.

Trong thời gian đầu thực hiện, pháp lệnh ngân hàng quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% nhưng trên thực tế, tỷ lệ này đã duy trì ổn định trong một thời gian dài, phản ánh khả năng điều hành còn hạn chế của công cụ này tại Việt Nam Từ năm 1989 đến nay, chính sách tín dụng đã trải qua nhiều giai đoạn thắt chặt và nới lỏng nhằm kiểm soát lạm phát, với việc sử dụng các công cụ tiền tệ linh hoạt hơn, trong đó tỷ lệ dự trữ bắt buộc vẫn duy trì ở mức cố định Đầu năm 1994, Ngân hàng Nhà nước đã bổ sung tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn lên 13%, nhưng do trình độ quản lý còn hạn chế, công cụ này chưa thể kiểm soát linh hoạt lượng tiền lưu thông, hạn chế khả năng điều chỉnh khối lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Trong giai đoạn 1991-1992, nhiều ngân hàng quốc doanh còn duy trì lượng tiền gửi lớn tại Ngân hàng Nhà nước vượt qua mức dự trữ tối thiểu, khiến công cụ dự trữ bắt buộc kém hiệu quả trong việc kiểm soát tín dụng Ngoài ra, các vấn đề về nghiệp vụ và tổ chức thực hiện đã làm giảm tính nhạy của công cụ này Trước tình hình lạm phát năm 2004, Ngân hàng Nhà nước đã tăng gấp đôi tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 14% vào tháng 7/2004, được xem là biện pháp phù hợp nhằm đối phó với áp lực lạm phát thời điểm đó.

Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc nhằm hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả, đạt được kết quả tích cực trong việc kiểm soát lạm phát ở mức thấp Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy hiệu quả này trong giai đoạn mới, việc nghiên cứu nội dung của Luật NHNN là cần thiết để xây dựng quy chế dự trữ bắt buộc phù hợp với mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế, đồng thời kiểm soát lạm phát một cách hiệu quả.

2.3.3 Chính sách tái chiết khấu

Tái chiết khấu là công cụ quan trọng trong điều hành lượng tiền tệ, được Nhà nước cho phép theo điều 41 và 43 pháp lệnh NHNN Việt Nam Để nâng cao hiệu quả, NHNN đã từng bước đổi mới hình thức tái cấp vốn, tăng tỷ trọng thế chấp giấy tờ có giá và giảm tỷ trọng mục tiêu chỉ định Ngoài ra, NHNN còn thực hiện cho vay thanh toán bù trừ, một hình thức ngắn hạn để bù đắp thiếu hụt tạm thời của các ngân hàng thương mại từ năm 1991 Các hình thức cho vay thế chấp cũng được mở rộng từ tín phiếu kho bạc chưa đến hạn, khế ước vay ngắn hạn đến cho vay bằng ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi vào năm 1997 Theo luật hiện hành, hoạt động tái cấp vốn của NHNN bao gồm cho vay lại qua hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cũng như việc cho vay đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá Đặc biệt, quy định về lãi suất tái cấp vốn cũng đã được điều chỉnh theo những năm phù hợp, góp phần hoàn thiện công cụ này trong chính sách tiền tệ.

Từ năm 1994 đến đầu năm 1997, lãi suất tái cấp vốn được quy định theo tỷ lệ phần trăm trên lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng, dao động từ 60% đến 100% lãi suất ghi trên khế ước Kể từ cuối năm 1997, lãi suất tái cấp vốn đã được điều chỉnh linh hoạt phù hợp với diễn biến cung cầu vốn trên thị trường, góp phần ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát Hiện nay, để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhằm thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ, Thống đốc NHNN đã quyết định giảm mức lãi suất tái chiết khấu xuống còn 0,4%/tháng và 0,35%/tháng Năm 2005, công cụ tái cấp vốn tiếp tục được NHNN sử dụng cùng nghiệp vụ thị trường mở nhằm hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong việc đạt được các mục tiêu đề ra.

Trước năm 1993, hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động theo mô hình một cấp, chủ yếu là bộ phận của ngân sách nhà nước, hạn chế mối quan hệ với kinh tế ngoài quốc doanh và cộng đồng dân cư Khi ngân sách nhà nước thâm hụt hoặc các doanh nghiệp nhà nước thiếu vốn, ngân hàng thường phát hành thêm tiền để bù đắp, dẫn đến lạm phát trầm trọng với mức hai hoặc ba con số Chính sách lãi suất không hợp lý, như lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất tiền gửi và tốc độ trượt giá, gây khó khăn trong huy động vốn dân cư, làm hệ thống ngân hàng bị tê liệt Năm 1988, Nghị định 53 ra đời mở ra bước ngoặt trong chính sách tiền tệ, tiếp theo là việc ban hành hai pháp lệnh về ngân hàng năm 1990, hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp và áp dụng chính sách lãi suất phù hợp, góp phần kiểm chế lạm phát trong những năm sau đó.

Vào đầu năm 1989, chính phủ quyết định thay đổi chính sách lãi suất theo hướng giảm lạm phát nhanh chóng bằng cách điều chỉnh lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn chỉ số lạm phát hàng tháng, giúp kiểm soát tốt tốc độ tăng giá Đến tháng 6/1992, NHNN chuyển sang cơ chế lãi suất thực dương và quản lý theo khung lãi suất, mở đường cho quá trình tự do hoá dần các chính sách lãi suất Trong những năm tiếp theo, chính sách nâng cao lãi suất hành chính và thắt chặt tín dụng giúp kiểm soát cung tiền và lạm phát hiệu quả hơn, qua nhiều đợt điều chỉnh phù hợp với tình hình kinh tế Năm 1996, quyết định 381/QĐ-NH đã chính thức sử dụng lãi suất trần như công cụ chính trong điều hành chính sách tiền tệ, với mức lãi suất tối đa được điều chỉnh phù hợp giữa khu vực thành thị và nông thôn, góp phần cơ bản thay đổi cơ cấu tín dụng và thích ứng linh hoạt với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Nhờ đó, hệ thống ngân hàng thương mại đã tự thích nghi và điều chỉnh linh hoạt nhằm tối ưu hoá tín dụng, giảm chi phí cho doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế và kiềm chế lạm phát Tuy nhiên, lãi suất thời kỳ này vẫn chưa có tính linh hoạt thực sự, còn giới hạn trong lĩnh vực ngân hàng và chưa phản ánh đầy đủ xu hướng thị trường.

Trong những năm 2001 và 2002, Việt Nam áp dụng chính sách lãi suất thoả thuận, tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại chủ động điều chỉnh lãi suất Đến tháng 6 năm 2002, Ngân hàng Nhà nước quyết định không can thiệp vào lãi suất của các ngân hàng thương mại, dẫn đến cuộc cạnh tranh gay gắt kéo dài suốt 9 tháng đầu năm 2003, khiến lãi suất tăng cao đáng kể trên thị trường Trong bối cảnh đó, các ngân hàng cổ phần nhỏ bị đẩy lùi, còn bốn ngân hàng nhà nước chiếm tới 70% thị phần vay vốn và gửi tiền Tháng 9 năm 2003, Hiệp hội Ngân hàng đã can thiệp gián tiếp bằng cách họp nhóm các ngân hàng lớn, cam kết không tăng lãi suất, giúp ổn định lãi suất và góp phần kiểm soát lạm phát, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững Năm 2005, Ngân hàng Nhà nước tăng một số loại lãi suất chủ đạo như lãi suất tái cấp vốn từ 5% lên 6,5% (3 lần) và lãi suất cơ bản của Đông Nam Bộ từ 7,8% lên 8,25% (2 lần), đồng thời điều chỉnh lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức tín dụng, nâng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 6 tháng và trên 6 tháng theo từng đợt Những biến động về cung cầu vốn, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao và biến động lãi suất quốc tế đã khiến mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng VNĐ và ngoại tệ của các tổ chức tín dụng trong năm 2005 tăng so với cuối năm 2004, cụ thể lãi suất huy động VNĐ tăng từ 0,6% đến 1,2% mỗi năm, trong khi lãi suất huy động USD và cho vay USD cũng tăng lần lượt từ 1,2% đến 2,5% và từ 0,7% đến 1,5% mỗi năm.

Trong những năm gần đây, chính sách lãi suất của NHNN đã được sử dụng như một công cụ quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đồng thời, chính sách này cũng đóng vai trò chính trong việc kiểm soát lạm phát hiệu quả Qua thực tiễn, điều chỉnh lãi suất của NHNN đã góp phần ổn định thị trường tài chính và hỗ trợ sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Công cụ hạn mức tín dụng được NHNN áp dụng từ năm 1994 nhằm kiểm soát lạm phát và tăng trưởng tiền tệ, khi thị trường thứ cấp chưa phát triển Trong giai đoạn 1994-1997, việc sử dụng hạn mức tín dụng giúp kiểm soát tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và kiềm chế lạm phát, như năm 1992, hạn mức tín dụng đã được khống chế ở mức 34,5%, giúp mức lạm phát giảm còn 17,5% và tăng trưởng kinh tế đạt gấp đôi dự kiến Tuy nhiên, việc phân bổ hạn mức tín dụng chỉ giới hạn cho một số ngân hàng, gây hạn chế cạnh tranh Từ năm 1998, khi nhu cầu vốn đầu tư tăng cao và lạm phát giảm, NHNN đã hạn chế sử dụng công cụ này, chỉ áp dụng khi cần kiểm soát đột ngột tốc độ tăng tín dụng và lạm phát cao, nhằm đảm bảo sự linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ.

Chính sách tiền tệ đã đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát lạm phát trong những năm qua Tuy nhiên, trước nguy cơ tái phát lạm phát, việc hoàn thiện và điều chỉnh chính sách tiền tệ phù hợp với tình hình hiện tại là vô cùng cấp thiết để duy trì ổn định kinh tế.

Đánh giá chung về việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam thời gian qua

2.4.1 Những thành công đã đạt được

Kể từ khi có pháp lệnh của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), hoạt động điều hành chính sách tiền tệ đã có nhiều chuyển biến căn bản Ban đầu, khuôn khổ chính sách tiền tệ chưa rõ ràng và các công cụ chính sách chưa đầy đủ Tuy nhiên, hiện nay, NHNN đã xây dựng được một chính sách tiền tệ rõ ràng hơn và hệ thống các công cụ chính sách tiền tệ ngày càng hoàn chỉnh, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Các công cụ chính sách tiền tệ không ngừng được nâng cao vai trò điều tiết, với việc phát triển các công cụ gián tiếp trở nên linh hoạt và mềm dẻo hơn để phản ứng phù hợp với tín hiệu từ thị trường Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bắt đầu sử dụng phối hợp các công cụ này để đưa ra các tín hiệu chính sách tiền tệ hiệu quả, nhằm định hướng kỳ vọng của thị trường trong bối cảnh biến động phức tạp của thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế.

Trong những năm qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện thành công các chính sách ổn định tỷ giá ngoại tệ và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô NHNN kiểm soát tốt tăng trưởng tín dụng, giúp ổn định giá cả chung và chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, qua đó đẩy lùi lạm phát hiệu quả Đồng thời, ngân hàng đã giảm đáng kể lượng tiền mặt lưu thông, ổn định sức mua của đồng Việt Nam, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo điều kiện việc làm, góp phần nâng cao nền kinh tế quốc gia.

2.4.2 Một số hạn chế trong điều hành chính sách tiền tệ

NHNN hiện nay chủ yếu là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ hơn là cơ quan hoạch định chính sách tiền tệ Công tác điều hành chính sách tiền tệ còn phụ thuộc nhiều vào các chính sách khác và chịu sự giám sát của Chính phủ, với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách Việc xác định mục tiêu chính sách tiền tệ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và kết quả trong quá khứ, chưa được mô hình hóa hay đo lường tác động định lượng một cách rõ ràng.

Hệ thống các công cụ chính sách tiền tệ của Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, đặc biệt là các công cụ gián tiếp Việc kết hợp các công cụ này chưa thường xuyên và còn kém hiệu quả đã dẫn đến nhiều bất cập trong quá trình xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ Ngoài ra, điều này còn ảnh hưởng đến khả năng tạo dựng lòng tin của công chúng đối với hệ thống chính sách tiền tệ của quốc gia.

Hiện tại, NHNN chưa thiết lập được cơ chế kiểm soát lãi suất chủ động và chưa xây dựng một cơ chế điều hành lãi suất ngắn hạn theo chuẩn mực quốc tế Quan hệ giữa các loại lãi suất chưa tuân theo quy luật cung cầu, khiến lãi suất ngắn hạn gần như không tác động đến lãi suất dài hạn trên thị trường tài chính và thị trường tín dụng Hệ quả là, lãi suất ngắn hạn chưa thể trở thành công cụ mạnh mẽ và có ảnh hưởng trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.

Hiện nay, cơ chế điều hành tiền tệ của NHNN chủ yếu dựa trên hoạt động điều tiết khối lượng tiền tệ với hạn mức cung ứng do Chính phủ phê duyệt nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát theo mục tiêu của Quốc hội Tuy nhiên, cơ chế này còn gặp hạn chế trong việc điều chỉnh các công cụ chính sách tiền tệ dựa trên các biến số mục tiêu như M3, M2, và GDP Đặc biệt, NHNN chưa xác lập chính thức cơ chế truyền tải tác động của chính sách tiền tệ, gây khó khăn trong việc kiểm soát và điều hành chính xác lượng tiền trong nền kinh tế.

Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát giai đoạn 2006-2010

Nguy cơ dẫn tới việc tái lạm phát

Dù đã kiểm soát được lạm phát, nền kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều vấn đề chưa ổn định, có thể gây ra nguy cơ tái lạm phát Các yếu tố tiềm ẩn có thể làm phát sinh lạm phát cần được xem xét kỹ lưỡng khi xuất hiện các dấu hiệu tăng giá, bao gồm áp lực từ chính sách tiền tệ, biến động giá nguyên liệu và sản phẩm, cùng với các yếu tố kinh tế vĩ mô khác Việc dự báo và kiểm soát các nhân tố này là yếu tố then chốt để duy trì sự ổn định kinh tế dài hạn tại Việt Nam.

Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội còn chậm được cải thiện, dẫn đến tỷ lệ tiết kiệm đầu tư thấp và hạn chế tối đa tiềm năng của người dân trong phát triển sản xuất Đồng thời, tài sản công cũng như vốn đầu tư của nhà nước đang gặp phải tình trạng thất thoát và lãng phí lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Nền kinh tế thị trường Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển ban đầu, chưa đạt đến mức độ đầy đủ và ổn định Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến khả năng quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững Năng lực và hiệu lực quản lý vĩ mô còn hạn chế, chưa đủ để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển kinh tế thị trường hiện nay.

Bộ máy nhà nước, hệ thống ngân hàng và khu vực doanh nghiệp nhà nước còn bộc lộ nhiều yếu kém

Ngân sách nhà nước đang đối mặt với những thách thức lớn về cân đối thu chi và tìm nguồn bù đắp thiếu hụt hàng năm, trong khi môi trường pháp lý và tài chính vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và phát triển Do đó, khả năng mất cân đối ngân sách và lạm phát tiền tệ vẫn còn tiềm ẩn và khó lường trước được.

Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), mở ra cơ hội thúc đẩy các dự án đầu tư trong nước và quốc tế tăng trưởng mạnh mẽ Việc gia nhập WTO dự kiến sẽ tác động đáng kể đến thị trường tiền tệ và thị trường hàng hóa của Việt Nam Sự tăng trưởng này sẽ đem lại làn sóng đầu tư, góp phần thúc đẩy nền kinh tế và mở rộng các cơ hội hợp tác quốc tế Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra thách thức về kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và duy trì cân đối cung cầu trên thị trường hàng hóa Chính phủ và các doanh nghiệp cần chuẩn bị các chiến lược phù hợp để thích nghi với xu hướng hội nhập toàn cầu này.

Những nhân tố trên có thể gây ra lạm phát trong thời gian tới.

Giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong việc kiểm soát lạm phát

Chính sách tiền tệ tập trung vào mục tiêu ổn định giá cả, vì vai trò và tầm quan trọng của nó trong việc kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống người lao động Việc duy trì ổn định giá cả giúp nền kinh tế phân bổ nguồn lực hiệu quả, đồng thời xác định mục tiêu dài hạn của chính sách tiền tệ Các mục tiêu khác của chính sách tiền tệ cần được xác định dựa trên mức độ cấp thiết và khả năng đánh đổi để đạt được sự cân đối tối ưu giữa tăng trưởng ổn định và kiểm soát lạm phát, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Thứ hai, cần thúc đẩy chuyển đổi từ kiểm soát tiền tệ trực tiếp sang kiểm soát tiền tệ gián tiếp để nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ Đồng thời, cần xem xét các giải pháp kỹ thuật nhằm xác định và lượng hóa rõ ràng các mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ Việc xác định rõ trật tự ưu tiên các mục tiêu nhằm tăng cường khả năng điều hành linh hoạt và hiệu quả của chính sách tiền tệ trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

Phát triển đồng bộ và hợp lý các thị trường như thị trường vốn, thị trường bất động sản, thị trường hối đoái và thị trường tín dụng là điều cần thiết để đảm bảo sự ổn định của các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ Điều này giúp hướng tác động của chính sách tiền tệ đến hành vi đầu tư, tiêu dùng và xuất nhập khẩu của các chủ thể kinh tế một cách hiệu quả Đồng thời, cần phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khoá để kiểm soát hợp lý chi tiêu của Chính phủ, từ đó ảnh hưởng tích cực đến tổng sản lượng và tổng cầu của nền kinh tế, hướng tới mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.

Ngày thứ tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tập trung nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ thông qua đổi mới và hoàn thiện các công cụ như dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở, nhằm xây dựng cơ chế điều hành lãi suất tự do theo hướng thị trường để đảm bảo sự cân đối hợp lý giữa các lãi suất trên thị trường tài chính và duy trì cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế Để kiểm soát lạm phát hiệu quả, NHNN cần linh hoạt sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ và phối hợp điều hành chúng nhằm bình ổn giá, duy trì mức lạm phát phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước.

3.2.1 Đối với công cụ Nghiệp vụ thị trường mở Đây là công cụ chủ yếu mà nhiều quốc gia trên thế giới đang sử dụng trong điều hành chính sách tiền tệ Để điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông NHNN thực hiện việc mua bán tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ cũng như các phương tiện có giá trị khác trên thị trường Bằng việc bán các trái phiếu, tín phiếu sẽ làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông Trong điều kiện hiện nay, để bình ổn giá, NHNN cung tiền cho nền kinh tế chủ yếu qua hoạt động mua ngoại tệ trên thị trường Hoạt động này vừa làm tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia, vừa ổn định tỷ giá của đồng tiền Việt Nam so với ngoại tệ Việt Nam đã đưa công cụ này vào sử dụng từ tháng 7/2000. Sau hơn 6 năm hoạt động, công cụ này chưa thực sự phát huy được hiệu quả trong điều hành chính sách tiền tệ Vì vậy trong thời gian tới phải tập trung hoàn thiện và phát triển công cụ này, đưa nó dần trở thành công cụ quan trọng bậc nhất trong điều hành chính sách tiền tệ, thực hiện mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền, tiến tới kiểm soát lạm phát Để nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ thị trường mở trong việc kiểm soát lạm phát cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau :

- Hoàn thiện và phát triển thị trường liên ngân hàng.

- Tăng cường hàng hoá cho thị trường mở

- Xác định lãi suất trên thị trường mở

Lãi suất hình thành trên thị trường mở nằm giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất liên ngân hàng, phản ánh mức độ cung cầu của thị trường tiền tệ Trong trường hợp khối lượng mua bán lớn khiến lãi suất thị trường vượt quá giới hạn cho phép, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể điều chỉnh khối lượng giao dịch để duy trì ổn định lãi suất Kết quả của các phiên đấu giá sẽ xác định mức lãi suất cụ thể, qua đó định hướng các lãi suất khác trong nền kinh tế, đảm bảo sự thống nhất trong chính sách tiền tệ Ngoài ra, lãi suất cơ bản và lãi suất tái chiết khấu được xác định dựa trên lãi suất liên ngân hàng, giúp duy trì sự phù hợp và đồng bộ giữa các loại lãi suất trong điều hành chính sách tiền tệ.

Phát triển nghiệp vụ thị trường mở phù hợp với xu thế và đòi hỏi sự quan tâm, đầu tư thích đáng từ NHNN Trước mắt, công tác tập trung phát triển thị trường liên ngân hàng bao gồm các mặt hàng của thị trường và số lượng thành viên tham gia, vì đây là yếu tố quyết định phạm vi và quy mô của thị trường Khi thị trường liên ngân hàng hoạt động sôi động, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nghiệp vụ thị trường mở hiệu quả.

Để phát huy hiệu quả vốn có của nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ, cần đổi mới và hoàn thiện các công cụ chính sách như công cụ tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc, lãi suất và các điều kiện thúc đẩy phát triển thị trường liên ngân hàng Việc này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các công cụ nhằm nâng cao năng lực điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Bằng cách này, NHNN có thể điều hành chính sách tiền tệ một cách đồng bộ và hiệu quả hơn, từ đó đạt được các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.

3.2.2 Đối với công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc có lợi thế lớn trong việc kiểm soát cung tiền tệ bằng cách tác động đồng đều đến tất cả các ngân hàng và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lượng tiền cung ứng Nó là công cụ hỗ trợ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt khi các công cụ khác như chính sách tái chiết khấu không còn hiệu quả hoặc khi kinh tế gặp phải biến động lớn Tỷ lệ dự trữ bắt buộc giúp Ngân hàng Trung ương kiểm soát nhanh chóng vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng theo ý muốn của chính sách tiền tệ Tuy nhiên, khi dự trữ không được trả lãi, chúng có thể coi như một loại thuế, gây ra tình trạng phi trung gian hóa và làm giảm tính linh hoạt của công cụ này Thay đổi lớn và thường xuyên về mức dự trữ bắt buộc cũng có thể gây ra sự hỗn loạn và tổn thất cho các ngân hàng thương mại, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động ngân hàng và ổn định kinh tế.

Việc duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc là cần thiết nhằm hỗ trợ các công cụ chính sách tiền tệ khác trong việc đối phó với các biến động lớn của nền kinh tế Để tối ưu hóa hiệu quả của công cụ này, cần chú trọng đến một số vấn đề quan trọng như xác định mức dự trữ phù hợp, cân nhắc tác động đến thanh khoản ngân hàng, và đảm bảo sự linh hoạt trong điều chỉnh tỷ lệ dự trữ theo tình hình kinh tế thực tế Bên cạnh đó, việc duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đúng mức giúp ổn định thị trường tài chính, hạn chế rủi ro ngân hàng, đồng thời góp phần kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững của đất nước.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định như nhau đối với tiền gửi cùng kỳ hạn, điều này nhằm đảm bảo sự công bằng trong hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, với mục tiêu thúc đẩy đầu tư dài hạn tại Việt Nam, việc áp dụng dự trữ bắt buộc đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn dài có thể gây cản trở Chính sách này cần được điều chỉnh phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư lâu dài, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Tất cả các tổ chức tín dụng đều phải thực hiện dự trữ bắt buộc với tỷ lệ thống nhất nhằm đảm bảo sự công bằng trong hoạt động ngân hàng Việc áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đồng bộ giúp ngân hàng Nhà nước thuận lợi hơn trong quản lý cung ứng tiền tệ và duy trì ổn định hệ thống tài chính Chính sách dự trữ bắt buộc đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát và duy trì sự cân đối của nguồn cung tiền trên thị trường Thực hiện dự trữ bắt buộc một cách đồng nhất còn góp phần nâng cao tính minh bạch và uy tín của ngành ngân hàng Việt Nam.

Để giảm thiểu tình trạng ngoại tệ hoá trong nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cần áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao hơn đối với các loại tiền gửi ngoại tệ, từ đó kiểm soát tốt hơn lượng ngoại tệ lưu thông Việc này giúp hạn chế việc sử dụng ngoại tệ trong hoạt động thanh toán và tích trữ, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của tiền tệ nội địa Quy định này là một biện pháp hiệu quả để duy trì ổn định tỷ giá và tăng cường kiểm soát chính sách tiền tệ quốc gia.

Trong điều kiện kinh tế ổn định, nên giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm thiểu rủi ro và duy trì khả năng thanh khoản cho hệ thống ngân hàng Một tỷ lệ dự trữ nhỏ góp phần bảo vệ ngân hàng khỏi rủi ro tài chính và đảm bảo sự ổn định kinh tế Chỉ trong những trường hợp đặc biệt, khi cần điều chỉnh lượng tiền trong hệ thống, Ngân hàng Nhà nước mới sử dụng công cụ này như một phần trong các biện pháp hỗ trợ tiền tệ.

3.2.3 Với công cụ tái cấp vốn ( tái chiết khấu )

Công cụ tái cấp vốn đóng vai trò quan trọng trong việc tác động vào tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế thông qua dự trữ của hệ thống ngân hàng Được điều chỉnh dựa trên nhu cầu tăng giảm dự trữ và quản lý dự trữ trong kỳ hạn, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định lãi suất tái cấp vốn thống nhất trên toàn hệ thống ngân hàng Để nâng cao hiệu quả, công cụ tái cấp vốn cần được hoàn thiện nhằm thực hiện chức năng như một công cụ cấp tín dụng ngắn hạn, cung cấp phương tiện thanh toán cho các ngân hàng thương mại và thực hiện vai trò "người cho vay cuối cùng" Quy chế tái cấp vốn cũng cần tiếp tục được hoàn thiện với các quy định rõ ràng về hình thức tái cấp vốn như tái chiết khấu, chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn, và các khoản vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn.

Ngày đăng: 14/08/2023, 08:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Nguyễn Hữu Tài (Chủ biên), 2002, Giáo trình Lý thuyết Tài chính- Tiền tệ, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
Nhà XB: NXB Thống Kê
2. Hoàng Xuân Quế, 2004, Bàn về các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Xuân Quế
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2004
3.Hoàng Xuân Quế, 2003, Nghiệp vụ ngân hàng trung ương, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng trung ương
Nhà XB: NXB Thống Kê
4. Trần Trọng Độ, 2004, Thị trường mở- từ lý luận đến thực tiễn, NXB Công An Nhân Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường mở- từ lý luận đến thực tiễn
Nhà XB: NXB Công An Nhân Dân
5. TS. Lê Quốc Lý, Lạm phát- hành trình và giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát- hành trình và giải pháp chống lạm phát ởViệt Nam
Nhà XB: NXB Tài Chính
6. PTS. Nguyễn Võ Ngoạn, 1996, Hệ thống các công cụ chính sách tiền tệ Quốc gia trong nền kinh tế thị trường, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các công cụ chính sách tiền tệQuốc gia trong nền kinh tế thị trường
Nhà XB: NXB Tài Chính
7. TS. Phí Trọng Hiển, 2005, "Kiểm soát lạm phát : cần có một chiến lược trong tương lai" , Tạp chí Ngân Hàng, Số 3 /2005, tr. 12-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát lạm phát : cần có một chiến lượctrong tương lai
8. Nguyễn Khắc Trung, 2006, "Hoàn thiện cơ chế truyền dẫn - nâng cao hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam", Tạp chí Ngân hàng, số 17, tháng 9/2006, tr 1-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế truyền dẫn - nâng caohiệu lực điều hành chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
9. Trang web của Bộ Tài Chính: www. mof.gov.vn Link
10. Trang web của Ngân Hàng Nhà Nước : www.sbv.gov.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w