Trong xã hội hiện nay, với tư cách là một phương tiện đo lường, tích luỹ và trao đổi, đồng tiền đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội và các mối quan hệ giữa con ng
Trang 1ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
KHOA XÃ HỘI HỌC
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TỐT NGHIỆP HỌC LÝ THUYẾT
VÀ LỊCH SỬ XÃ HỘI HỌC
*************
MỘT SỐ BÀI ĐỌC THAM KHẢO VỀ LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ XÃ HỘI HỌC
thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN
Số 10 - Tháng 3/2007
Đồng tiền và xã hội Việt Nam ngày nay
Trần Hữu Quang
TP Hồ Chí Minh
Trang 2Để tìm hiểu đặc trưng ứng xử của con người trong đời sống kinh doanh nói riêng hay đời sống xã hội nói chung của một cộng đồng hay một xã hội nào đó, thì có lẽ một trong những lối tiếp cận có triển vọng là tìm hiểu xem cộng đồng hay xã hội ấy quan niệm thế nào về đồng tiền Trong xã hội hiện nay, với tư cách
là một phương tiện đo lường, tích luỹ và trao đổi, đồng tiền đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội và các mối quan hệ giữa con người với nhau Trong khuôn khổ bài viết này, tiền tệ và các quan hệ tiền tệ được hiểu không phải với tư cách là một sự kiện kinh tế xét về mặt kinh tế học, mà là một
sự kiện xã hội-kinh tế-văn hóa tổng thể xét về mặt xã hội học.[1] Cái nhìn của con người về đồng tiền và về các quan hệ tiền tệ có thể biểu hiện những đặc trưng của một nhân sinh quan lẫn của cả một hệ thống xã hội Bài này thử khảo sát quan niệm về đồng tiền của người Việt Nam, nhằm qua đó góp phần giải thích định kiến tiêu cực đối với đồng tiền, đối với kinh doanh cũng như đối với thị trường vốn có nơi xã hội Việt Nam
Quan niệm về đồng tiền
Người Việt Nam có cái nhìn thế nào về đồng tiền? Nói chung cho đến nay
người Việt Nam chúng ta có một đặc điểm dễ thấy là thường ngại nói chuyện tiền
bạc Lẽ tất nhiên không kể những lúc giao dịch làm ăn buôn bán, còn trong
những quan hệ riêng tư hàng ngày, mỗi khi cần bàn đến tiền nong, người ta thường tỏ ra khá ngại ngùng, lúng túng, và luôn phải rào trước đón sau rồi mới nói chứ ít ai dám nói ngay và đề cập thẳng đến chuyện tiền Quan hệ gia đình thân thuộc, quan hệ thầy trò, hay quan hệ bằng hữu được coi là những quan hệ tình nghĩa, và vì thế ở đó không có chỗ cho chuyện tiền bạc; đụng đến tiền bạc ở đây là điều hết sức tế nhị và đôi khi gần như cấm kỵ vì dễ chạm đến tự ái, xúc
Trang 3phạm đến sĩ diện, danh dự Người ta thường e ngại nghĩ rằng một khi đã đặt vấn
đề “tiền” ra với nhau thì có nguy cơ sứt mẻ tình cảm và e khó nhìn lại mặt nhau! Khi nói ai làm điều gì đó “vì tiền” hay “chỉ biết có tiền”, người ta thường có
ý nói rằng người đó chẳng còn màng gì tới nhân nghĩa Người ta cũng hay coi thái độ “sòng phẳng” về tiền bạc là hành vi trơ trẽn, và đặc biệt là không thể chấp nhận trong những mối liên hệ thầy trò, cha con, vợ chồng hay bạn bè; nói “tiền trao cháo múc” là để phê phán trong những trường hợp này Chuyện tính toán tiền nong thường được coi là chuyện tầm thường, có cái gì đó không xứng đáng, không thanh nhã, cao thượng Trong những mối quan hệ mang tính chất tình cảm, người ta coi thái độ “tính toán”, nhất là tính toán tiền bạc hay vật chất, là điều phải tránh Vì thế, khi nói ông A hay bà B là người “hay tính toán” thì rõ ràng hàm ý chê bai và trách móc
Nói tóm lại, tiền bạc thường được coi là không đi đôi với tình nghĩa Thậm
chí có những trường hợp đối lập với nhân nghĩa và đạo lý, đến mức mà người ta
nghĩ rằng tiền bạc có thể là căn nguyên dẫn đến tội lỗi Chúng ta có thể tìm được
không ít bằng chứng minh hoạ cho quan niệm “trọng nghĩa khinh tài” này trong các tác phẩm văn chương, thi phú, tuồng chèo… trong quá khứ cũng như trên sách vở và báo chí hiện nay, kể cả qua nhiều cuộc hội thảo và diễn văn
Qua phản ánh trên báo chí, chúng ta thấy người ta thường gán nguyên nhân của các hành vi tham nhũng và phạm pháp là do mù quáng “chạy theo đồng tiền”,
bị “mờ mắt” vì đồng tiền Nạn chạy chọt, lo lót, vòi vĩnh, mãi lộ, cũng như nạn mua quan bán tước, phần lớn đều được coi là do mãnh lực và sự “cám dỗ” của đồng tiền “tác oai tác quái” Người ta nói “nén bạc đâm toạc tờ giấy” Người ta
nhìn đồng tiền gần như thể tự nó là một sức mạnh, là một ma lực có thể làm cho
nhiều cán bộ bị tha hoá, biến chất, hư hỏng, làm xói mòn và phá hoại nền tảng
Trang 4đạo đức và truyền thống của dân tộc…[2] Có tờ báo còn mở ra một mục diễn đàn lấy tên là “Giữa vòng xoáy đồng tiền”[3]
Điều đáng chú ý là cái nhìn về đồng tiền ấy thường được đi kèm bởi định kiến về lợi nhuận[4] , về chuyện kinh doanh, buôn bán cũng như định kiến về thị trường – mặc dù nhiều năm đã trôi qua kể từ khi có chính sách đổi mới và thoát
ra khỏi thời kỳ quan liêu bao cấp Người ta thường giải thích nguyên do của tình trạng tham ô hay phạm pháp hiện nay là do “mặt trái của cơ chế thị trường”, do
xu hướng thực dụng “chạy theo lợi nhuận”, do xu hướng “thương mại hoá”[5] …
Theo một cuộc điều tra nơi dân cư thành phố Hồ Chí Minh mà chúng tôi tiến hành vào năm 2003, có đến 51% trong mẫu điều tra đồng ý với mệnh đề cho rằng
“đồng tiền là nguồn gốc sinh ra tội lỗi”, 36% đồng ý rằng “sống theo nhân nghĩa thì khó mà làm giầu được”, và 32% đồng ý rằng “người kinh doanh là người chỉ biết chạy theo đồng tiền”[6]
Từ đâu mà lại có quan niệm mang tính chất đạo đức về đồng tiền và về thị
trường như vậy?
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo
Theo tư tưởng Nho giáo phong kiến thời xưa, tam cương (bao gồm các quan
hệ vua tôi, cha con, và vợ chồng) và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) chính là giềng mối của toàn xã hội Khổng Tử coi chữ “nhân” là quan trọng nhất, về sau Mạnh Tử đưa thêm vào đó chữ “nghĩa” Với quan niệm nhân nghĩa này, tư tưởng Nho giáo có đặc điểm là nhấn mạnh lên hàng đầu lĩnh vực đạo đức, và xem nhẹ lĩnh vực luật pháp, coi trọng nhân trị hay đức trị hơn là pháp trị.[7]
Trang 5Quan niệm đạo đức dựa trên căn bản nhân nghĩa trong Nho giáo cho rằng người quân tử không được “mưu lợi”, vì khái niệm “lợi” là một thứ đặc biệt bị tẩy chay trong hệ thống tư tưởng này Giáo sư Cao Xuân Huy phân tích như sau:
“Xã hội phong kiến Trung Quốc và Việt Nam còn bảo lưu nhiều tàn tích thị tộc
và tông pháp, do đó càng chèn ép cá nhân, ngăn cản sự phát triển ý thức cá nhân Quyền lợi tinh thần hay vật chất của cá nhân đều bị hạn chế gắt gao Vì vậy nếu chữ lợi là một vật húy kỵ đối với Nho gia, thì cũng là đương nhiên mà thôi Trong Nho giáo, ‘nhân nghĩa’ và ‘lợi’ là những phạm trù không thể lưỡng lập, mà bài trừ lẫn nhau một cách tuyệt đối”.[8]
Mạnh Tử từng nói rằng “Vi nhân bất phú, vi phú bất nhân”, nghĩa là muốn giữ đức nhân thì đừng ham giàu, mà hễ làm giàu thì coi như bỏ đức nhân Cái nhìn coi khinh đồng tiền chính là một thái độ điển hình phản ánh cái quan niệm coi khinh chữ “lợi” trong đạo đức Nho giáo.[9]
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng thái độ thành kiến này không phải chỉ xuất phát từ tư tưởng Nho giáo, mà đã có sẵn mầm mống hình thành từ ngay trong lòng một xã hội nông nghiệp tự cấp tự túc cổ truyền Đây chính là cơ sở kinh
tế-xã hội sâu xa của quan niệm coi khinh tiền bạc và chữ lợi
Căn nguyên từ cơ sở kinh tế-xã hội
Đối với những tác giả cổ điển trong lĩnh vực khoa học xã hội như Karl Marx, Max Weber hay Georg Simmel, đồng tiền được nhìn nhận như một trong những
Trang 6nhân tố nổi bật trong quá trình lý tính hóa và hiện đại hóa xã hội, đặc biệt là trong khuôn khổ phát triển của chủ nghĩa tư bản
Mặc dù tiền tệ đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, nhưng theo Karl Marx và Friedrich Engels, quyền lực của tiền tệ chỉ thực sự bắt đầu lớn mạnh kể từ khi ra đời giai cấp thương nhân trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản Marx gọi tiền
tệ là “tồn tại vật chất của của cải trừu tượng”,[10] là “cái cấu thành tiền đề cho xã hội tư sản hiện đại”.[11] Thế lực của đồng tiền giống như “cái bùa”, theo cách nói của Engels, cái bùa này có thể hóa phép thành mọi thứ mà người ta muốn, “hễ ai
có cái bùa đó là chi phối được thế giới sản xuất”, và người có cái bùa đó trước tiên chính là thương nhân.[12]
Marx coi đồng tiền là sợi dây ràng buộc con người với xã hội, là “sợi dây của
mọi sợi dây”, nó là “phương tiện phổ biến để chia rẽ” xã hội, nhưng đồng thời nó cũng là “phương tiện liên hợp thật sự, [nó] là lực lượng hoá học [phổ biến] của
xã hội”[13] (những chỗ nhấn mạnh là do Marx) Marx cho rằng tiền có thuộc tính
là “vạn năng”, nó “có thể mua được tất cả, có thể chiếm hữu mọi vật, [nó] là vật
coi như là sự chiếm hữu tối cao.”[14]
Marx phân tích ý nghĩa triết học và xã hội học của đồng tiền như sau: “Cái,
nhờ có tiền, mà tồn tại đối với tôi, cái mà tôi có thể trả tiền, nghĩa là cái mà tiền
có thể mua được, bản thân tôi là cái ấy, tôi, người sở hữu tiền Sức mạnh của tôi cũng lớn như sức mạnh của tiền (…) Cho nên tôi là gì và tôi có thể làm gì, điều
đó hoàn toàn không phải là do cá tính của tôi quy định Tôi là người xấu xí,
nhưng tôi có thể mua cho tôi một người vợ tuyệt đẹp Do đó tôi không xấu, vì tác dụng của sự xấu xí, sức mạnh đáng ghê tởm của nó, đã bị tiền làm tiêu tan mất
rồi (…) Tôi là người xấu, không chân thật, không có lương tâm, ngu ngốc,
nhưng tiền được tôn thờ thì người có tiền cũng được tôn thờ; (…) tôi là người
Trang 7không có trí tuệ, nhưng tiền là trí tuệ hiện thực của mọi sự vật, thế thì làm thế
nào mà kẻ chiếm hữu tiền lại không có trí tuệ được? (…) Tiền biến mỗi lực lượng bản chất ấy thành một cái gì vốn không phải là lực lượng ấy, nghĩa là thành cái
đối lập với nó (…) Vì tiền, với tính cách là khái niệm đang tồn tại và đang biểu
hiện của giá trị, làm lẫn lộn và trao đổi mọi sự vật, cho nên nó là sự lẫn lộn phổ biến và sự thay thế phổ biến mọi sự vật, nghĩa là thế giới lộn ngược, là sự lẫn lộn
và sự thay thế tất cả những phẩm chất tự nhiên và có tính người” [những chỗ nhấn mạnh là do Marx].[15]
Mấy đoạn trích dẫn Marx trên đây là những ý tưởng có thể phần nào giải thích được nguồn gốc của quan niệm nghi kỵ đồng tiền và thương nhân trong xã hội Việt Nam Trong bối cảnh của một xã hội nông nghiệp tự cấp tự túc phải đối diện với sự phát triển của các quan hệ tiền tệ, quan niệm coi khinh đồng tiền, theo chúng tôi, là một thứ phản ứng tự vệ của cộng đồng, nhằm chống lại những sự thay đổi, những sự đảo lộn của cái “thế giới lộn ngược” còn lạ lẫm đối với họ, trong đó đại biểu đầu tiên mà họ bắt gặp là tầng lớp thương nhân, để bảo vệ và duy trì cái thế giới làng xã cổ truyền vốn dĩ quen thuộc của họ và an toàn đối với
họ Hệ quả lô-gích của cái nhìn về đồng tiền là dẫn tới thái độ miệt thị những người làm ăn buôn bán, coi khinh doanh lợi và nghề thương buôn mà người ta thường mô tả là cái nghề “một vốn bốn lời”, nghi kỵ và căm ghét những người giầu có, “trọc phú”.[16] Vì các quan hệ tiền tệ là biểu hiện tập trung nhất của kinh
tế thị trường, cho nên chính cái quan niệm kỳ thị đồng tiền và thương buôn cũng
là một biểu hiện điển hình của tình trạng xung đột và trăn trở trong tâm thức của dân cư trong quá trình giải thể của nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc
Trong một công trình mà gần đây giới nghiên cứu mới khám phá trở lại mang
tên là Triết học về đồng tiền (Philosophie des Geldes) (1900), nhà xã hội học
người Đức Georg Simmel đã phân tích ý nghĩa xã hội học của đồng tiền và của
Trang 8các quan hệ tiền tệ Ông cho rằng đồng tiền, ngoài giá trị khách quan của nó là giá trị kinh tế, còn có giá trị chủ quan xét về mặt xã hội Theo Simmel, việc phân tích về giá trị xã hội của đồng tiền có thể giúp chúng ta hiểu được suy nghĩ của các cá nhân, ý nghĩa của các hoạt động tương tác, và hình dung ra được những nguyên tắc thống trị chi phối đời sống của một xã hội
Simmel đặc biệt đào sâu sự phân tích về ý nghĩa của đồng tiền trong quá trình hiện đại hóa xã hội Khi hình thức giao dịch bằng tiền tệ thay thế dần những hình thức trao đổi bằng hiện vật, thì lúc đó diễn ra nhiều sự thay đổi trong các hình thức quan hệ tương tác giữa các chủ thể trong xã hội Vì tiền tệ là một vật có thể
đo đếm được một cách chính xác và sử dụng dễ dàng trong việc trao đổi những thứ hàng hóa hết sức khác biệt nhau, nên nó trở thành một phương tiện trao đổi
phi cá nhân (impersonal) mà những vật trao đổi ngang giá trước nó như cái cồng
hay vỏ sò chẳng hạn không thể nào có được Do đó, nó góp phần thúc đẩy sự tính
toán (calculation) trong các hoạt động giao dịch giữa con người với nhau, và thúc
đẩy quá trình lý tính hóa (rationalization) – khái niệm mà nhà xã hội học Max
Weber đặc biệt nhấn mạnh khi nói tới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và quá trình hiện đại hoá xã hội Theo Max Weber, đồng tiền là phương tiện tính toán kinh tế hoàn hảo nhất, là phương tiện thuần lý nhất xét về mặt hình thức có chức năng hướng dẫn một hoạt động kinh tế.[17] Simmel cho rằng khi tiền tệ trở thành sợi dây liên hệ chủ yếu giữa con người với nhau, thì nó thay thế những mối quan
hệ ràng buộc cá nhân vốn thường bao hàm tình cảm hay cảm xúc, bằng những mối liên hệ phi cá nhân hướng đến một mục tiêu nhất định nào đó Hệ quả là sự
tính toán trừu tượng thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống, kể cả lĩnh vực quan hệ gia đình thân tộc hay lĩnh vực thưởng ngoạn nghệ thuật vốn trước đó là những lĩnh vực mà người ta chỉ có thể đánh giá chủ yếu một cách định tính hơn là định lượng Theo Simmel, chính vì tiền bạc làm cho người ta có
Trang 9thể giới hạn một hành vi giao dịch nào đó vào một mục tiêu nhất định, nên nó cho phép người ta có nhiều tự do cá nhân hơn và thúc đẩy quá trình phân công lao
động xã hội cũng như quá trình biệt dị hóa xã hội (social differentiation) Tiền tệ
đã thay thế những nhóm xã hội “tự nhiên” bằng những nhóm xã hội tự nguyện, vốn được hình thành theo những mục đích duy lý nhất định Quan hệ tiền bạc lan tới đâu, thì nó giải thể những mối liên kết dựa trên quan hệ huyết thống, thân tộc hoặc quan hệ trung thành tới đó Nói chung, đồng tiền là một phương tiện và là
cái mốc thay đổi từ phương thức đánh giá định tính sang phương thức đánh giá
định lượng trong nhận thức xã hội.
Theo Simmel, trong xã hội hiện đại, đồng tiền, ngoài các chức năng kinh tế của nó, còn là biểu tượng của óc duy lý, óc tính toán, óc trừu tượng, và tính chất
phi cá nhân (impersonality) Vì thế, nó là cơ chế chủ yếu thúc đẩy quá trình
chuyển đổi từ một xã hội cổ truyền mang tính chất “cộng đồng” (Gemeinschaft) sang một xã hội hiện đại mang tính chất “xã hội” (Gesellschaft) theo ý nghĩa mà
Ferdinand Tönnies từng đề cập.[18]
Xã hội Việt Nam truyền thống vốn dĩ mang đặc trưng là trọng nhân trị hay đức trị hơn là pháp trị, cư xử theo tình hơn là theo lý, đề cao các quan hệ tình nghĩa hơn là các quan hệ chức năng và phi cá nhân Lối tư duy chủ yếu đặt nền tảng trên kinh nghiệm thực tiễn hơn là dựa trên cơ sở tư biện thuần lý, thuận theo đạo lý và tình cảm hơn là theo lý tính Trong lịch sử, khi thị trường dần dà phát triển đến mức từng bước phá vỡ khuôn khổ nền kinh tế tự cấp tự túc, lúc đầu người ta khó mà thích ứng kịp thời với sự chuyển đổi của phương thức sản xuất
Vì chưa thay đổi được từ lối tư duy kinh nghiệm và cảm tính sang lối tư duy suy
lý và tính toán trừu tượng, vì chưa hiểu nổi tại sao các quan hệ tiền tệ lại thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực đời sống, kể cả những lĩnh vực như đời sống gia đình hay đời sống văn hóa, cho nên người ta cảm thấy như các giá trị trong xã hội
Trang 10truyền thống của họ đang bị đảo lộn Hầu hết các mối quan hệ xã hội đều không còn như trước, đều bị thay đổi bởi những quan hệ tiền tệ, ngoại trừ quan hệ gia đình và quan hệ bè bạn Họ cảm thấy cuộc sống an toàn trước đây của họ như đang bị đe dọa tận gốc rễ
Trong bối cảnh đó, phản ứng tâm lý tự nhiên là phải tìm cho ra một nguyên
nhân hay đúng hơn là một thủ phạm để qui tội cho tình trạng xáo trộn hay đảo lộn này “Thủ phạm” dễ thấy nhất, mà thực ra cũng là trừu tượng nhất, chính là tiền
tệ Chính vì thế mà người ta coi đồng tiền là nguồn gốc sinh ra sự hư hỏng, là
biểu tượng của tội lỗi, chứ họ không thể thấy được rằng, thực ra, những quan hệ
xã hội đang thay đổi đằng sau các quan hệ tiền tệ mới thực sự là điều đáng quan tâm Và vì người ta không thể cưỡng lại các quan hệ tiền tệ đang dần dà lan tràn bằng bất cứ một biện pháp kinh tế nào, nên người ta buộc phải tìm cách bảo vệ cái thế giới truyền thống của mình bằng cách dựa vào những giá trị đạo lý để làm
vũ khí đương đầu với sức mạnh của đồng tiền Lúc này, người ta bắt gặp những trào lưu tư tưởng thích hợp và đồng cảm với họ, đặc biệt là Nho giáo với quan niệm đạo đức đề cao chữ nhân và coi khinh chữ lợi, hay trong chừng mực nào đó
kể cả nơi những tư tưởng Lão giáo, Phật giáo hay Ki-tô giáo.[19]
Một khi đồng tiền đã trở thành biểu tượng của tội lỗi, thì hầu như phần lớn những gì dính dáng tới đồng tiền đều mặc nhiên ít nhiều mang tính chất phi nhân, phi nghĩa Chính vì thế mà thành kiến đối với đồng tiền cũng luôn luôn được thể hiện thông qua thành kiến đối với lợi nhuận, đối với thương nhân cũng như đối với thị trường
Nguyên nhân gần