1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án môn học kinh tế thương mại thương mại việt nam sau năm gia nhập tổ chức thương mại quốc tế thực trạng và giải pháp phát triển

74 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thương Mại Việt Nam Sau 2 Năm Gia Nhập WTO. Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Thương Mại
Thể loại Đề Án Môn Học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 137,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá về năng lực hoạt độmh thương mại dich vụ của các doanh nghiệp nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế……….47 a Khái quát tình hình phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam...47 b

Trang 1

ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI

Tên đề tài:

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO THỰC

TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

Hà nội 5 /2009

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 5

1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề thương mại 5

a Thương mại là gì 5

b Bản chất và vai trò của Thương mại trong nền kinh tế thị trường 7

c Các mục tiêu và quan điểm phát triển thương mại 8

2 Nội dung của thương mại, các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế và các tổ chức kinh tế quốc tế 9

Nội dung của thương mại 9

Quan niệm về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế 10

Nội dung của hội nhập bao gồm hai quá trình: 10

Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế 10

Các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt nam có tham gia 11

3 Tiến trình hình thành và phát triển thương mại Việt nam 14

a Mục tiêu, thuận lợi và thách thức trong quá trình hội nhập của Việt nam 14

Mục tiêu: 14

Thuận lợi 14

Các thách thức 14

b Tiến trình hội nhập 15

Việt nam hội nhập ASEAN và tham gia AFTA 15

Tiến trình Việt nam tham gia APEC 16

Việt nam gia nhập WTO 17

Chương II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ THƯƠNG MẠI VÀ HỘI NHẬP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA 19

1 Đặc điểm và quá trình phát triển của thương mại Việt nam sau 2 năm gia nhập WTO……… 19

2 Thực trạng về thương mại của một số ngành nghề và doanh nghiệp của Việt nam 30

Ngành Dệt may Việt nam 30

Trang 3

Ngành Du lịch Việt nam 34

Ngành Thủy sản Việt nam 40

Ngành ngân hàng 43

3 Đánh giá về năng lực hoạt độmh thương mại dich vụ của các doanh

nghiệp nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế……….47

a) Khái quát tình hình phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam 47

b) Những vấn đề doanh nghiệp thương mại phải đối mặt trong quá trình

………… 50

Chương III: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ GIÚP

DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HỘI NHẬP TỐT……… 54

1 Phương hướng phát triển hệ thống các doanh nghiệp ở nước ta…… 54

2 Giải pháp phát triển thương mại của các doanh nghiệp .59

3 Giải pháp cho một số ngành cụ thể từ phía quản lý Nhà nước và doanh

nghiệp 66

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng

mạnh mẽ, mỗi quốc gia cần phải tích cực và chủ động tham gia để đạt tới vị trí

thuận lợi trong nền kinh tế thế giới Việt nam những năm đầu thế kỷ 21 vừa

qua, đã tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới với tốc độ cao Từ việc tham

gia và hội nhập kinh tế khu vực Đông Nam Á đến tham gia diễn đàn kinh tế

châu Á Thái bình dương APEC và gần đây nhất là được kết nạp vào Tổ chức

thương mại thế giới WTO Khi hội nhập với nền kinh tế thế giới, chúng ta có

thể tìm thấy và gặt hái ở đó nhiều lợi ích to lớn mà với một nền kinh tế đóng

không bao giờ có được Nhưng khi hội nhập, chúng ta cũng phải đối mặt với

nhiều thách thức, sức ép của thị truờng ngày càng tăng theo tiến trình hội nhập

Nền kinh tế được mở cửa để tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong

nước và doanh nghiệp nước ngoài Để thu được thành quả từ quá trình hội nhập

chứ không phải là bị tiêu diệt, các doanh nghiệp thương mại Việt nam cần phải

không ngừng nâng khả năng thâm nhập vào thị trường tự do thương mại đó

Đây là một công việc giành được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều cá

nhân, cơ quan, tổ chức của Nhà nước và của các doanh nghiệp

Được sự giúp đỡ của các giáo viên bộ môn kinh tế và kinh doanh thương

mại, em viết đề án môn học có tên là "THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SAU 2

NĂM GIA NHẬP WTO THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN" với

mục đích tìm hiểu vấn đề đang rất được quan tâm này Trong quá trình viết đề

án, em đã lấy tư liệu từ các giáo trình của Trường Đại học kinh tế quốc dân, từ

các bài giảng của các giáo viên, và từ nguồn thông tin trên báo chí và Internet

Em xin được đặc biệt cảm ơn GS.TS Đặng Đình Đào đã hướng dẫn em tận

tình để em có thể hoàn thành bản đề án môn học này

SINH VIÊN VIẾT ĐỀ ÁN

Trang 5

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI VÀ HỘI NHẬP KINH

TẾ QUỐC TẾ

1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề thương mại

a) Thương mại là gì*

Thương mại, tiếng Anh là Trade, vừa có ý nghĩa là kinh doanh , vừa có ý

nghĩa là trao đổi hàng hóa dịch vụ Ngoài ra, tiếng Anh còn dùng một thuật ngữ

nữa la Bussiness hoặc Commerce với nghĩa là buôn bán hàng hóa, kinh doanh

hàng hóa hay là mậu dịch Tiếng Pháp cũng có từ ngữ tương đương là

Commerce hay như tiếng La tinh là “Commercium” đều có nghĩa tương đương

với từ Bussiness, Trade của tiếng Anh Như vậy, Khái niệm thương mại cần

được hiểu cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị

trường Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu như là các hoạt động

kinh tế nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị trường

Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại, ngày 25 tháng 5 năm 2003 thì hoạt động

thương mại là việc thực hiên một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ

chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại

diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thêu; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ

thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò khai thác; vận

chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt,

đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật

Theo nghĩa hẹp, thương mại là qúa trình mua bán hàng hóa dịch vụ trên thị

trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa Nếu hoạt động trao đổi

hàng hóa vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi đó là ngoại thương

( kinh doanh quốc tế) Với cách tiếp cận này, theo Luật Thương mại- 1998, thì

các hành vi thương mại bao gồm: mua bán hàng hóa; đại diện cho thương nhân;

môi giới thương mại; ủy thác mua bán hàng hóa; gia công thương mại; đấu giá

hàng hóa; đấu thầu hang hóa; dịch vụ giám định hàng hóa; khuyến mại; quảng

cáo thương mại; trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội chợ triển lãm thương mại

Trên thực tế, thương mại có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức

GS.TS Đặng Đình Đào giáo trình kinh tế thương mại

Trang 6

khác nhau như: theo phạm vi hoạt động, theo đặc điểm và tính chất của sản

phẩm trong quá trình tái sản xuất xã hội, theo các khâu của quá trình lưu thông

hàng hóa, theo mức độ can thiệp của Nhà nước vào quá trình thương mại, theo

kỹ thuật giao dịch

Việc xem xét thương mại theo các góc độ như vậy tuy mang tính tương đối

nhưng có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt trong việc hình

thành các chính sách và biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện, bền

vững thương mại

Điều kiện lịch sử của thương mại

Các ngành ra đời và phát triển trong nền kinh tế quốc dân là do sự phân

công lao động xã hội Chuyên môn hóa sản xuất đã làm tăng thêm lực lượng

sản xuất xã hội và là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế

và tiến bộ khoa học kỹ thuật Chính yếu tố chuyên môn hóa sản xuất đã đặt ra

sự când thiết phải trao đổi trong xã hội các sản phẩm giữa người sản xuất và

người tiêu dùng Mối quan hệ trao đổi hàng tiền đó chính là lưu thông hàng

hóa Mối quan hệ này đã có ngay từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ thay cho chế độ

cộng sản nguyên thủy Trong thời kỳ này, xã hội đã có sự phân công giữa chăn

nuôi và trồng trọt và những người chủ nô khác nhau chiếm hữu sản phẩm thặng

dư của những người nô lệ làm ra đã bắt đầu có những sản hẩm thừa Sự trao đổi

này bắt đầu với tính chất ngẫu nhiên, dần dần nó phát triển đi đôi với sự phát

triển của sản xuất hàng hóa Khi trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ đã

xuất hiện tiền tệ làm chức năng phương tiện lưu thông thì trao đổi hàng hóa

được gọi là lưu thông hàng hóa

Quá trình trao đổi hàng hóa tất yếu đòi hỏi một sự hao phí lao động nhất

định trong quan hệ trao đổi hàng hóa trực tiếp giữa người sản xuất và người

tiêu dùng và trong cả những việc thực hiện những hoạt động mua-bán giữa họ

với nhau Lao động đó cần thiết và ích lợi cho xã hội Cũng giống như lao động

ở các lĩnh vực khác, lao động trong lưu thông hàng hóa luôn đòi hỏi được

chuyên môn hóa cao Nếu như mọi chức năng lưu thông do chính người sản

xuất và người tiêu dùng sản phẩm thực hiện thì việc chuyên môn hóa lao động

xã hội rất bị hạn chế Việc phân công lao động xã hội không cụ thể, chi tiết

ngay từ đầu giữa các tập đoàn sản xuất dẫn tới hậu quả là ăng xuất lao động sẽ

rất thấp, hiệu quả không cao Sự xuất hiện mối quan hệ tổng hợp đó trong các

doanh nghiệp, các hộ tiêu dùng dẫn tới sự ra đời các ngành lưu thông hàng

Trang 7

hóa-các ngành thương mại- dịch vụ Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội

và tiến bộ khoa học kỹ thuật, các ngành thương mại- dịch vụ phát triển hết sức

đa dạng và phong phú

b) Bản chất và vai trò của thương mại trong nền kinh tế thị trường *

Là một ngàng của nền KTQD, thương mại có vai trò quan trọng trong nền

kinh tế thị trường ở nước ta Xác định rõ vai trò của thương mại cho phép tác

động đúng hướng và tạo được những điều kiện cho thương mại phát triển Vai

trò của thương mại một mặt được thể trong quá trình thực hiện các chức năng

và nhiệm vụ sau:

Một là, thực hiện chức năng tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ

trong nước và ngoài nước đây là chức năng xã hội của thương mại do vậy

ngàng thương mại phải nghiên cứu và nắm vững nhu cầu thị trường hàng hóa,

dịch vụ; huy động và sử dụng hợp lý các nguồn hàng nhằm thỏa mãn tốt mọi

nhu cầu của xã hội; thiết lập hợp lý các mối quan hệ kinh tế trong nền KTQD

và thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ trong quá trình kinh doanh

Hai là, thông qua quá trình lưu thông hàng hóa, thương mại thực hiện chức

năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông như: vận chuyển hàng

hóa, tiếp nhận, bảo quản, phân loại và ghép động bộ hàng hóa…

Ba là, thông qua hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa trong và ngoài nước

cũng như thực hiện các dịch vụ, thương mại làm chức năng gắn sản xuất với thị

trường và gắn nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách

mở cửa nền kinh tế

Bốn là, chức năng thực hiện giá trị hàng hóa, dịch vụ qua đó thương mại

đáp ứng tốt mọi nhu cầu của sản xuất và đời sống Chuyển hóa hình thái giá trị

của hàng hóa là chức năng quan trọng của thương mại mà thông qua nó thương

mại tích cực phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo lưu thông thông

suốt, là thực hiện mục tiêu của quá trình kinh doanh thương mại dịch vụ

Năm là, thương mại có nhiệm vụ nâng cao hiệu quả của hoạt động thương

mại dịch vụ, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Sáu là, nhiệm vụ phát triển thương mại dịch vụ, bảo đảm lưu thông hàng

GS.TS Đặng Đình Đào giáo trình kinh tế thương mại

Trang 8

hóa thông suốt, dễ dàng trong cả nước, đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của đời

sống

Bảy là, nhiệm vụ góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội quan

trọng của đất nước: vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng có hiệu quả các nguồn

lực trong nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực thương mại nói riêng

Tám là, nhiệm vụ chống trốn thuế, lậu thuế, lưu thông hàng hóa giả, hàng

kém phẩm chất, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, xã hội và

người lao động

Chín là, nhiệm vụ đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong

hoạt động thương mại đặc biệt trong lĩnh vực thương mại quốc tế

Ngoài ra, vai trò của thương mại còn được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thương mại là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển Thông

qua hoạt động thương mại trên thị trường, các chủ thể kinh doanh mua bán

được các hàng hóa, dịch vụ Điều đó đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội

được tiến hành bình thường, lưu thông hàng hóa thông suốt

Thông qua việc mua bán hàng hóa dịch vụ trên thị trường , thương mại có

vai trò quan trọng trong việc mở rộngkhả năng tiêu dùng, nâng cao mức hưởng

thụ của cá nhân và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất và mở rộng phân

công lao động xã hội

c) Các mục tiêu và quan điểm phát triển thương mại**

Mục tiêu :

- Phát triển mạnh thương mại, nâng cao nâưng lực và chất lượng hoạt động

để mở rộng giao lưu hàng hóa trên tất cả các vùng, đẩy mạnh xuất khẩu nhằm

đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

- Hoạt động thương mại, trước hết là thương mại nhà nước, hướng vào

phục vụ các mục tiêu kinh tế-xã hộicủa đất nước trong từng thời kỳ, phải coi

trọng cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội

- Xây dựng nền thương mại phát triển lành mạnh trong trật tự, kỷ cương,

** GS.TS Đặng Đình Đào giáo trình kinh tế thương mại

Trang 9

kinh doanh theo đúng luật pháp, thực hiện văn minh thương mại, từng bước

tiến lên hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa Phấn đấu đưa toàn bộ các

hoạt động dịch vụ tính theo giá trị gia tăng đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân

7-8%/ năm và đến năm 2010 chiếm 42-43% GDP và 26-27% tổng số lao động

Quan điểm:

- Phát triển nền thương mại nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, phát

huy và sử dụng tốt khả năng, tính tích cực của các thành phần kinh tế trong

phát triển thương mại- dịch vụ, đi đôi với việc xây dựng thương mại nhà nước,

hwpj tác xã mua bán, nhằm giữ vững vai trò chủ đạo của thương mại Nhà nước

trên những lĩnh vực, địa bàn và mặt hàng quan trọng

-Phát triển đồng bộ các thị trường hàng hóa và dịch vụ, phát huy vai trò

nòng cốt, định hướng và điều tiết của Nhà nước trên thị trường Việc mở rộng

thị trường ngoài nước phải gắn với việc phát triển ổn định thị trường trong

nước, lấy thị trường trong nước làm cơ sở, dặt hiệu quả kinh doanh thương mại

trong hiệu quả kinh tế- xã hội của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

- Đặt sự phát triển của lưu thông hàng hóa và hoạt động của các doanh

nghiệp dưới sự quản lý của Nhà nước, khuyến khích, phát huy mặt tích cực,

đồng thời có biện pháp hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo dảm

tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường

trong từng bước phát triển

- Việc phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững nền thương mại Việt nam

gắn liền với việc thực hiện các hoạt động thương mại phải theo đúng quy tắc

của thị trường, đồng thời có biện pháp đổi mới cơ chế, chính sách, hoàn thiện

hệ thống luật pháp nhằm đưa hoạt động của mọi doanh nghiệp, mọi công dân

kinh doanh theo các hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ phải theo

đúng quy tắc đó

1 Nội dung của thương mại, các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế và

các tổ chức kinh tế quốc tế

Nội dung của thương mại**

- Là quá trình điều tra, nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường về các

loại hàng hóa, dich vụ Đây là khâu đầu tiên trong quá trình hoạt động kinh

đâu?

Trang 10

- Là quá trình huy động và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên để thỏa

mãn các nhu cầu của xã hội Trong điều kiện cạnh tranh và hàng hóa kinh tế,

việc tạo nguồn để đáp ứng các nhu cầu và nâng cao được năng lực cạnh tranh là

khâu công việc hết sức quan trọng

- Là quá trình tổ chức các mối quan hệ kinh tế thương mại

- Là quá trình tổ chức hợp lý các kênh phân phối và tổ chức chuyển giao

hàng hóa dịch vụ

- Là quá trình quản lý hàng hóa ở các doanh nghiệp và xúc tiến mua bán

hàng hóa Với các doanh nhgiệp thương mại, đây là nội dung công tác quan

trọng kết thúc quá trình kinh doanh hàng hóa.doanhthương mại- dịch vụ nhằm

trả lời các câu hỏi: cần kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gi? chất lương ra sao? số

lượng bao nhiêu? mua bán lúc nào và ở

Quan niệm về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

Hội nhập khu vực và quốc tế là sự tham gia của một quốc gia hoặc một

vùng lãnh thổ vào các tổ chức khu vực, các tổ chức quốc tế Các nước không

phân biệt trình độ phát triển, chế độ chính trị xã hội… đều tìm thấy lợi ích của

dân tộc mình khi tham gia hội nhập

Nội dung của hội nhập bao gồm hai quá trình:

Tham gia các tổ chức khu vực và thế giới, chấp nhận các quy tắc của các tổ

chức đó

Tiến hành các công việc nội bộ như điều chỉnh chính sách, điều chỉnh cơ

chế kinh tế, cơ cấu xã hội, đào tạo nguồn nhân lực…

Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế:

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình tham gia các hình thức liên kết kinh tế

quốc tế Các hình thức liên kết đó có các mức độ khác nhau từ đơn giản đến

phức tạp, từ lỏng lẻo đến chặt chẽ Hiện nay có các hình thức như sau:

Thỏa thuận mậu dịch ưu đãi (Preferential trade arrangerments):

Đây là hình thức hội nhập kinh tế lỏng lẻo và mức độ thấp Ở đây các nước

thành viên thỏa thuận giành cho nhau ưu đãi mức thuế quan giữa các nước

thành viên được giảm thấp hơn so với các nước không phải là thành viên

Trang 11

Khu vực mậu dịch tự do (Free trade area):

Đây là hình thức liên kết kinh tế mà các nước tham gia thỏa thuận: các

hàng rào mậu dịch thuế quan và phi thuế quan sẽ được bãi bỏ dần giữa các

nước thành viên, còn với các nước không phải thành viên thì mỗi nước thành

viên vẫn duy trì các hàng rào mậu dịch với các mức độ khác nhau

Liên hiệp thuế quan (Customs Union):

Ngoài nội dung như Khu vực mậu dịch tự do, trong hình thức này các nước

thành viên còn thống nhất một mức thuế quan chung giữa các nước thành viên

để đánh ra bên ngoài với các nước không thành viên

Thị trường chung (Common market):

Ngoài những nội dung như liên hiệp thuế quan, trong hình thức này, lao

động và tư bản được di chuyển tự do giữa các nước thành viên Các nước thành

viên còn thành lập các cơ quan siêu quốc gia và ban hành các chính sách hài

hòa cơ cấu thị trường bên trong và bên ngoài

Liên hiệp kinh tế (Economic union)

Đây là hình thức liên kết cao nhất Ngoài nội dung như thị trường chung,

các thành viên còn liên kết về tài chính, chính trị, văn hóa, giáo dục Mức độ

thống nhất gần như một quốc gia

Loại bỏ thuế quan trong nhóm

Thuế quan chung đối với ngoài nhóm

Dịch chuyển tự

do lao động và vốn trong nhóm

Chính sách kinh tế chung và đồng tiền chung

Các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt nam có tham gia:

Hiệp hội các nước Đông nam Á (ASEAN)

Trang 12

ASEAN được thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967 ban đầu với 5 thành

viên, cho đến nay đã đầy đủ 10 quốc gia Đông nam Á

Mục tiêu của ASEAN như sau: Tuyên bố ngày 8/8/1967 nêu 2 mục tiêu:

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong

khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm

tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các quốc gia Đông nam Á hòa bình và

thịnh vượng

Thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực bằng việc cam kết tôn trọng công lý

và pháp quyền trong quan hệ giữa các nước trong vùng và tuân thủ các nguyên

tắc của Hiến chương LHQ

Kế hoạch thực hiện thành lập khu vực mậu dich tự do và chương trình

cắt giảm thuế quan của ASEAN (AFTA/CEPT)

Bước 1: Các nước thành viên xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối

với nhau, trước hết là thực hiện chương trình CEPT - giảm mức thuế đối với

hàng nhập khẩucòn từ 0-5% Tuy nhiên vẫn có thể duy trì mức ưu đãi riêng của

mình đối với các nước không phải là thành viên

Bước 2: Hòa hợp những chuẩn mực giữa những nước thành viên hay còn gọi là

thể thức công nhận lẫn nhau theo sản phẩm (các bên thỏa thuận, công nhận,

đánh giá thống nhất về các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm) nhằm tạo điều

kiện thuận lợi cho phát triển buôn bàn, thương mại

Bước 2: sau khi các bên đã thống nhất về các chuẩn mực trong buôn bán, viêc

thừa nhận lẫn nhau sẽ được thể hiện thông qua những quy định cụ thể để các

nước thành viên công nhận công tác kiểm tra và cấp chứng nhận lẫn nhau: Các

doanh nghiệp phải xuất trình giấy chứng nhậ xuất xứ loại D khi làm thủ tục

nhập khẩu hàng hóa

Bước 4: Xóa bỏ các quy định hạn chế đầu tư nước ngoài bằng các biện pháp

tăng cường haọt động tư vấn về kinh tế vĩ mô và dựa vào nguyên tắc canh tranh

bình đẳng và khuyến khích vốn kinh doanh

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái bình dương (APEC)

Đây là tổ chức được thành lập tháng 11năm 1989, hiện nay có 21 thành

viên Việt nam tham gia năm 1998 Dân số năm 2006 là 2,6 tỷ người, chiếm

41,2% dân số thế giới Tổng sản phẩm nội đại là 20 960 tỷ USD năm 2005

Trang 13

chiếm 58% thế giới Thương mại năm 2005 chiếm 50% thế giới Có 7 nước

thành viên có GDP lớn hơn 500 tỷ USD

Mục tiêu hoạt động của APEC:

Biến cộng đồng châu Á - Thái bình dươngthành một nguồn động lực cho

sự phát triển kinh tế, tăng cường hợp tác vì sự thịnh vượng chung của các nước

trong khu vực; thành lập khu vực thương mại và đầu tư tự do, rộng mở; trong

đó hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư và cả con người được phép giao lưu, qua lại

tự do

Hoàn thành tiến trình tự do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực vào

năm 2010 với các quốc gia phát triển và 2020 đối với các quốc gia diễn đàn

đang phát triển

Thuận lợi hóa thương mại và đầu tư đối vớicác quốc gia trong khu vực

Châu Á - Thái bình dương

Phấn đấu đạt sự bền vững và ổn định và cân đối của tất cả các quốc gia

trong khu vực Châu Á - Thái bình dương thông qua các chương trình hợp tác

kinh tế và kỹ thuật

Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

WTO được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1995 kế tục và mở rộng phạm vi

điều tiết của Hiệp định chung về Thương mại và thuế quan (GATT)

Tính đến năm 2006 Ngân sách của WTO có 164 triệu franc Thụy Sĩ (125

triệu USD), thành viên 151 nước và vùng lãnh thổ (21 quan sát viên), dân số

3,661 tỷ người (64% dân số thế giới), GDP 23.736 tỷ USD (93% GDP thế

giới), kim ngạch thương mại năm 2005 7.969 tỷ USD (97% kim ngạch mậu

dịch thế giới)

Nguyên tắc hoạt động của WTO:

Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): Nếu một quốc gia dã giành cho

một quốc gia thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì quốc gia này cũng

phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả cácquốc gia thành viên khác

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT): Nguyên tắc này được hiểu là hàng hóa

nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không

kém thuận lợi hơn so với hàng hóa cùng loại trong nước

Trang 14

Nguyên tắc tiếp cận thị trường: nguyên tắc này thực chất là việc mở cửa thị

trường hàng hóa dịch vụ và đầu tư nước ngoài cho các quốc gia khác trong

khối Các hàng rào thương mại dần được gỡ bỏ Mức độ cắt giảm bảo hộ thông

qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương

Nguyên tắc cạnh tranh công bằng, bình đẳng giữa các thành viên trong

thương mại

Nguyên tắc dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi

2 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam

a Mục tiêu, thuận lợi và thách thức trong quá trình hội nhập của Việt

nam

Mục tiêu:

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ

thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiẹp hóa - hiện

đại hóa theo định hướng XHCN, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công

bằng, dân chủ, văn minh (Nghị quyết 07 của Bộ chính trị, 11/2001)

Thuận lợi

Việt nam có lợi thế về lao động, tài nguyên: với nguồn lao động dồi dào,

chi phí lao động thấp và tài nguyên tự nhiên phong phú

Lợi thế tiếp theo là về vị trí địa lý của Việt nam: là đầu mối các tuyến giao

thông quan trọng nối liền Đông bắc á và Đông nam Á, nằm trong khu vực phát

triển kinh tế năng động của Thế giới

Môi trường kinh tế xã hội ổn định cũng là một lợi thế không nhỏ

Khi hội nhập, Việt nam sẽ có nhiều cơ hội để phát triển: Chúng ta có thể

học hỏi, rút kinh nghiệm, từ đó tìm ra con đường phát triển phù hợp, tận dụng

các nguyên tắc thương mại quốc tế dành cho ta khi tham gia hiệp định thương

mại, và thông qua hội nhập Việt nam có cơ hội hoàn thiện thể chế, cải cách

kinh tế - xã hội

Trang 15

Thách thức

Nền kinh tế dễ gặp rủi ro trước những biến độnh kinh tế thế giới do điểm

xuất phát thấp và chênh lệch trình độ khi tham gia hội nhập, tiềm lực khoa học

và công nghệ yếu, chất lượng của nguồn nhân lực không cao

Khả năng rủi ro còn có thể đến do năng lực cạnh trnah của nền kinh tế còn

thấp, thiếu nền tảng cạnh tranh vì kinh tế nhỏ, kém phát triển, từ đó dẫn đến các

thua thiệt trong cạnh tranh

Việt nam còn đứng trước một thách thức về sự phát triển không bền vững

b Tiến trình hội nhập 1

Việt nam hội nhập ASEAN và tham gia AFTA

Ngày 15/12/1995 Việt nam chính thức ký kết nghị định thư tham gia hiệp

định về CEPT (tham gia AFTA) và ngày 1/1/1996 chính thức được công nhận

tham gia AFTA Lộ trình thực hiện CEPT của Việt nam:

Trước hết phải thực hiện chương trình giảm thuế nhanh (0-5%) đối với 15

loại mặt hàng

Sắp xếp, hệ thống lại và xây dựng lộ trình giảm thuế nhập khẩu đối với

2800 nhóm mặt hàng thuộc phạm vi của AFTA

Chấp nhận áp dụng quy chế MFN cho các nước bạn hàng là thành viên

ASEAN với mức thuế thấp nhất có thể đuợc

Quy định các biện pháp hạn chế định lượng xuất khẩu một mặt hàng sẽ

được dỡ bỏ khi thuế suất của mặt hàng đó đã được cắt giảm xuống dưới 20%

và các hàng rào phi thuế quan khác sẽ được loại bỏ dần trong các năm liên tiếp

theo nhưng không muộn hơn 2006

Các mặt hàng giảm thuế của Việt nam được chia thành 4 nhóm danh mục

theo quy định của hiệp định CEPT

Danh mục IL: Kế hoạch giảm thuế đối với những mặt hàng này bắt đầu từ

1996: Việt nam phải hoàn thành việc cắt giảm để thuế suất chỉ còn 0-5% đối

với 6200 mặt hàng vào ngày 1/1/2006 (đạt tỷ lệ 51,6% tổng số mặt hàng trong

biểu thuế nhập khẩu)

1 ThS Lê Thanh Ngọc, Bài giảng Kinh tế thương mại I

Trang 16

Đối với các mặt hàng thuộc TEL: (với 1317 nhóm mặt hàng, chiếm 40,9%

tổng số nhóm mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu) là những mặt hàng có thuế

suất trên 20% và một số mặt hàng cần bảo hộ bằng thuế nhập khẩu, hoặc các

biện pháp phi thuế quan… trong vòng 5 năm kể từ ngày 1/1/1999 phải chuyển

từ TEL sang IL để thực hiện giảm thuế xuống 0-5% vào năm 2006, mỗi năm

phải chuyển 20% trong số này vào IL (cứ 2-3 năm giảm 1 lần; mức giảm thuế

suất mỗi lần = 5%)

Nhóm SL: Việt nam đưa ra danh mục này bao gồm 26 nhóm mặt hàng, chỉ

chiếm 0,8% tổng số nhóm mặt hàng của biểu thuế nhập khẩu… các mặt hàng

đang được bảo hộ bằng cách áp dụng các biện pháp phi thuế quan như quản lý

theo quota, chịu sự quản lý của Bộ chuyên ngành… bắt đầu thực hiện giảm

thuế từ 1/1/2004 - kết thức vào năm 2013 và sẽ đạt mức thuế 0-5%

Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) của Việt nam bao gồm 213 nhóm mặt

hàng (kể cả những mặt hàng Việt nam đang nhập khẩu từ các nước ASEAN mà

Việt nam chưa có khả năng sản xuất và đang có mức thuế cao trong biểu thuế

nhập khẩu như thuốc lá, rượu, bia thành phẩm, xăng dầu (trừ dầu thô), ôtô dưới

16 chỗ ngồi…) chiếm 6,6% tổng số nhóm mặt hàng của biểu thuế nhập khẩu

Việt nam tham gia APEC

Ngày 15/6/1996: Việt nam nộp đơn xin tham gia APEC

Tháng 10/1998: Việt nam đệ trình chương trình hành động riêng và chương

trình hành động tập thể lên APEC

Tháng 11/1998 được kết nạp cùng lúc với Peru và Nga

Việt nam cam kết hoàn thành chương trình tự do hóa thương mại và đầu tư

vào năm 2020; tiếp đó đề xuất nhiều sáng kiến: Lập quỹ hỗ trợ các doanh

nghiệp siêu nhỏ; Đào tạo thế hệ trẻ hướng tới nhền kinh tế tri thức; dự án xây

dựng khuôn khổ pháp lý hướng dẫn thực hiện thương mại điện tử; Tăng cường

hợp tác chuyển giao công nghệ sau thu hoạch…

Tại Hội nghị cấp cao APEC 12 (2005) Việt nam chính thức nhận đồng Chủ

tịch chủ trì sáng kiến về quản lý ngân sách (cùng với Úc và Indonexia) Sau hội

nghị này, Việt nam đăng cai chủ trì hội nghị Bộ trưởng APEC 13 vào năm

2006

Quan hệ kinh tế của Việt nam với APEC

Trang 17

Giá trị xuất nhập khẩu của Việt nam với các thành viên trong khối APEC

chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt nam

Thống kê những năm gần đây cho thấy:

+ Xuất khẩu của Việt nam sang thị trường APEC (với 2,5 tỷ dân) chiếm tỷ

trọng lớn nhất trong tổng giá trị xuất khẩu sang các khu vực trên thế giới

(chiếm 72,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt nam)

+ Hàng xuất khẩu vào Việt nam từ APEC cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất với trên

25 tỷ USD (năm 2004), chiếm 79,2% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt nam

APEC hiện là khu vực đầu tư trực tiếp lớn nhất vào VIệt nam: trong giai

đoàn 1998 đến hết tháng 7/2005 có 5.354 dự án với tổng vốn 35,3 tỷ USD

(chiếm 65,6% tổng vốn đầu tư vào Việt nam)

APEC cũng là khu vực có lượng vốn ODA lớn nhất cho Việt nam, trong đó

Nhật bản luôn là đối tác chiếm tỷ trọng tài trợ lớn nhất

Việt nam gia nhập WTO

Ngày 7/11/2006 Việt nam được chính thức công nhận là thành viên thứ 150

của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Một số cam kết của Việt nam khi gia nhập

Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ

Cam kết chung cho các ngành dịch vụ: Về cơ bản như hiệp định BTA,

trước hết, công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt nam dưới hình

thức chi nhánh, trừ một số ngành cụ thể (mà những ngành như thế là không

nhiều) Ngoài ra các công ty tuy đượ phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại

Việt nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là Việt nam Tổ

chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt

nam nhưng tỷ lệ phải phù hợp với mức mở của của thị truờng ngành đó

Dịch vụ khai thác hỗ trợ khác: Các doanh nghiệp nước ngoài được thành

lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập để đáp ứng các

dịch vụ tài trợ khai thác dầu khí Tuy nhiên ta còn giữ nguyên quyền quản lý

các hoạt động trên biển, thềm lục địa và quyền quy định các công ty thăm dò

khai thác tài nguyên Ta cũng bảo lưu được một danh mục các dịch vụ dành

riêng cho các doanh nghiệp Việt nam như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp trang

thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ…

Trang 18

Dịch vụ viến thông: Cho phép thành lập liên doanh đa số vốn nước ngoài

để cung cấp dịch vụ viễn thông không gắn với hạ tầng mạng (phải thuê mạng

do doanh nghiệp Việt nam nắm quyền kiểm soát) và nới lỏng một chút cung

cấp dịch vụ qua biên giới áp dụng cho viễn thông có gắn với hạ tầng mạng

Dịch vụ phân phối: trước hết, về thời điểm cho phép thành lập doanh

nghiệp 100% vốn nước ngoài vào 1/1/2009 Thứ hai ta không mở của thị

trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá,

đường và kim loại quý cho nước ngoài Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt,

thép, xi măng, phân bón… ta chỉ mở cửa sau 3 năm

Quan trọng nhất, ta hạn chế khá chặt chẽ khả năng mở điểm bán lẻ của

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mở điểm bán lẻ từ thứ hai trở đi phải

được ta cho phép từng trường hợp cụ thể

Dịch vụ bảo hiểm: đồng ý cho Mỹ thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân

thọ sau 5 năm kể từ ngày gia nhập

Dịch vụ ngân hàng: cho phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước

ngoài không sớm hơn 1/4/2007 Ngân hàng con được thành lập chi nhánh tại

Việt nam nhưng không được phép mở chi nhánh phụ và vẫn phải chịu hạn chế

về huy động tiền gửi bằng VNĐ từ thể nhân Việt nam trong vòng 5 nămkể từ

khi ta gia nhập WTO

Dịch vụ chứng khoán: Ta cho phép thành lập công ty chứng khoán 100%

vốn nước ngoài với chi nhánh sau 5 năm kể từ ngày gia nhập WTO

Trang 19

Chương II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO VÀ HỘI NHẬP CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP

1 Đặc điểm và quá trình phát triển của thương mại Việt nam sau 2

năm gia nhập WTO

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương

mại Thế giới (WTO) vào ngày 7-11-2006

là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước

ta Những thành tựu đạt được trong hai năm qua cho thấy, việc Việt Nam tham

gia vào WTO là phù hợp với thực tế khách quan và xu thế hợp tác, hội nhập

kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trên thế giới hiện

nay Trên tinh thần chủ động hội nhập, cùng với việc tham gia Khu vực

Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Thỏa thuận ASEAN - Trung Quốc,

ASEAN - Hàn Quốc, thực hiện các thỏa thuận song phương như Hiệp định

Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện với Nhật

Bản, tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế liên khu vực ASEM, APEC, Việt

Nam đã thật sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới

Ngay sau khi gia nhập WTO, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng Chiến

lược hội nhập kinh tế quốc tế Ngày 5-2-2007, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp

hành Trung ương Ðảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/T.Ư về

"Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững

khi Việt nam là thành viên của WTO"

Ðể thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh

chính sách thương mại theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn, ban hành

nhiều luật và các văn bản dưới luật để thực hiện các cam kết đa phương, mở

cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ

trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong quá trình

hội nhập

Trong những năm qua vị trí xếp hạng cạnh tranh của Việt nam trên thị

trường quốc tế được thể hiện:

Bảng 1 Vị trí xếp hạng của Việt nam:

Trang 20

Thái Lan(34)

TrungQuốc (46)Chỉ số xếp hạng môi trường kinh tế vĩ mô 58 23 24

Trang 21

Bảng 4 So sánh các chỉ tiêu bất lợi của nước ta:

Chỉ số NLCT tăng trưởng

ViệtNam

TháiLan

TrungQuốc

Môi trường kinh tế vĩ mô

Các thể chế công

Chi tiền ngoài pháp luật trong sử dụng các dịch vụ

Chất lượng cạnh tranh trong dịch vụ cung cấp Internet

Mặc dù thời gian hai năm chưa đủ để có thể đánh giá toàn diện những tác

động kinh tế - xã hội của việc gia nhập WTO, nhưng chúng ta cũng có thể thấy

một số kết quả tích cực như sau:

Trang 22

Thứ nhất, việc gia nhập WTO đã góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên

trường quốc tế về kinh tế, chính trị, ngoại giao, Các đối tác kinh tế, thương

mại đánh giá Việt Nam như là một đối tác quan trọng và giàu tiềm năng của

khu vực Ðông - Nam Á Vai trò của nước ta trong các hoạt động của WTO,

ASEAN, APEC, ASEM và các tổ chức quốc tế ngày càng được nâng cao Ðặc

biệt, việc trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm

kỳ 2008 - 2009 đã chứng tỏ uy tín quốc tế ngày càng cao của Việt Nam

Thứ hai, việc điều chỉnh thể chế kinh tế, hoàn thiện từng bước khung pháp

lý, xóa bỏ các rào cản và nâng cao tính minh bạch trong chính sách kinh tế,

thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh đã làm tăng hiệu quả và thúc đẩy

kinh tế phát triển bền vững hơn Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài

chính, tiền tệ toàn cầu, nhưng GDP năm 2008 của nước ta vẫn tăng trưởng ở

mức 6,23%, xuất khẩu vẫn bảo đảm nhịp độ tăng trưởng khá: Năm 2007, tổng

kim ngạch xuất khẩu đạt 48,56 tỷ USD, tăng 21,9% so với năm 2006; Năm

2008, dù đa số các thị trường lớn rơi vào suy thoái nhưng kim ngạch xuất khẩu

của Việt Nam vẫn rất đáng khích lệ, ước tính đạt khoảng 63 tỷ USD, tăng

29,5% so với năm 2007 Thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã đa dạng hơn và

hàng hóa của Việt Nam đã thâm nhập tốt hơn, đứng vững hơn trong các thị

trường lớn như Hoa Kỳ, EU,

Thứ ba, do việc điều chỉnh chính sách kinh tế theo các cam kết quốc tế,

môi trường kinh doanh và đầu tư trở nên thông thoáng và minh bạch hơn, dẫn

đến việc gia tăng luồng vốn FDI vào Việt Nam Năm 2007, Việt Nam đã thu

hút trên 20,3 tỷ USD, tăng 69,2% so với năm 2006 Sang năm 2008, dù tình

hình kinh tế thế giới xấu đi, nhưng vốn FDI cam kết đã đạt hơn 64 tỷ USD, gấp

gần ba lần năm 2007 Ðiều này phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư nước

ngoài vào tiến trình hội nhập, mở cửa thị trường, cũng như vào triển vọng và

tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam, tin tưởng vào sự ổn định chính trị,

xã hội và những quyết sách tích cực và hiệu quả của Chính phủ Việt Nam trong

việc đối phó với cơn khủng hoảng tài chính hiện nay

Thứ tư, việc mở cửa thị trường dịch vụ theo cam kết WTO góp phần phát

triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nâng cao trình độ công nghệ cho các nhà sản xuất,

dẫn tới việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài Mặt khác, thông qua việc

liên doanh, hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam cũng được

tăng cường thêm về vốn, trình độ quản lý, nhân sự và phát triển công nghệ

Trang 23

Thứ năm, ngành công nghiệp Việt Nam đã phát triển theo hướng tích cực,

sản xuất công nghiệp đạt năng suất tương đối cao: Năm 2007 giá trị sản xuất

công nghiệp đạt trên 574 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với 2006; Năm 2008

ước đạt 650 nghìn tỷ đồng tăng 14,6% so với năm 2007; Các ngành sản xuất sử

dụng nhiều lao động như thủy sản, may mặc, giày dép, đồ nội thất, thủ công

cũng có tốc độ tăng trưởng cao

Hai năm gia nhập WTO càng làm rõ thêm những thời cơ và thách thức mà

Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X đã chỉ ra, đặc

biệt là những tác động không thuận đối với nước ta do những biến động của

nền kinh tế thế giới bởi vậy cần có một tư duy mới phù hợp với sân chơi

thương mại toàn cầu

Thương mại không chỉ đơn thuần là việc mua bán, trao đổi hàng hóa, mà

đó còn là niềm kiêu hãnh, là sự tự chủ và phát triển của mỗi quốc gia; và ba học

thuyết quan trọng thể hiện tư duy này là biên giới mềm, chuỗi giá trị toàn cầu,

quyền lực mềm Thương mại có vững mạnh thì sản xuất, tiêu dùng, văn hóa,…

mới có thể tự chủ và phát triển được Với tư duy mới đó, thương mại Việt Nam

phải là sự nghiệp của toàn dân, chứ không của riêng Bộ Thương mại và các

doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này

Trong thời gian vừa qua, Chính phủ, đặc biệt có vai trò quan trọng của bộ

thương mại, và các phương tiện thông tin đại chúng đã tạo ra một làn sóng

thông tin tích cực và đa chiều nâng cao nhận thức của cộng đồng về WTO, về

thương mại Tuy nhiên, bên cạnh những biểu hiện tích cực ban đầu đó còn tồn

tại rất nhiều hành động đi ngược với tư duy đúng, gây cản trở cho thương mại

Chính sách ưu tiên phát triển thương mại trong nước chưa được đi vào thực tế

Nhiều địa phương vì chạy theo thành tích thu hút đầu tư, đã ưu tiên các địa

điểm kinh doanh đẹp cho các dự án thương mại nước ngoài, thay vì phải ưu

tiên cho trong nước Nâng cấp các cửa hàng tạp hóa lên các hình thức bán lẻ

hiện đại hơn là một việc làm sống còn, cần được khuyến khích, nhưng trên thực

tế các cửa hàng dạng này ngay lập tức phải chịu áp một mức thuế cao hơn Xét

về tổng thể, ngành thương mại vô cùng lẻ loi, không được sự phối hợp, giúp

sức, cộng hưởng hiệu quả từ các ngành văn hóa, ngoại giao, giáo dục và đào

tạo, khoa học, nghệ thuật Những biểu hiện thiếu nhất quán như trên còn tồn tại

rất nhiều

Trang 24

Cần thống nhất tư duy mới về thương mại để hoạch định nên chiến lược

cho thương mại nội địa và thương mại quốc tế, cũng như mô hình và các nguồn

lực để thực thi Với thương mại nội địa, trước sức ép ngày càng lớn của sự cạnh

tranh, chúng ta phải để ra những giải pháp để ổn định hệ thống trong nước

trước sự đổ bộ của các đại gia bán lẻ hàng đầu thế giới Dù theo lộ trình cam

kết, Việt Nam vẫn còn một khoảng thời gian cho đến thời điểm mở cửa hoàn

toàn ngành bán lẻ, nhưng với thực trạng yếu kém, manh mún, phân tán (đối với

bán lẻ truyền thống) và thiếu tính công nghệ, thiếu kinh nghiệm (đối với bán lẻ

hiện đại) như hiện nay, nếu chúng ta không đoàn kết và quyết liệt thực thi

những giải pháp chuyển đổi, nâng cấp hệ thống hiện tại thì chắc chắn chúng ta

không thể cạnh tranh nổi với các đại gia có kinh nghiệm bán lẻ hiện đại hàng

trăm năm của thế giới

Việt Nam cần nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc - đã "chiến thắng"

các đại gia bán lẻ hàng đầu thế giới như Walmart, hay Trung Quốc - đã giành

lại sự tự chủ và phát triển mạnh trong lĩnh vực bán lẻ Bài học rút ra chỉ nằm ở

các vấn đề: có tư duy đúng và chính sách phù hợp, các doanh nghiệp đoàn kết,

người tiêu dùng ý thức được tinh thần và sự tự chủ quốc gia khi ủng hộ doanh

nghiệp nội địa Người Hàn đã làm được, người Trung Quốc đã làm được, chẳng

lẽ Việt nam chúng ta lại không thể?

Cần ưu tiên cho thương mại quốc tế với tư tưởng "lấy công làm thủ", bởi

chiến thắng trong cạnh tranh của sân chơi WTO dành cho những ai có thể khai

thác nhiều thị trường hơn trong tổng thể thị trường thế giới Chúng ta phải trăn

trở với tình trạng "càng xuất khẩu càng thua thiệt" như đại đa số các hàng hóa

của chúng ta hiện nay, đặc biệt là các hàng hóa nông sản, khoáng sản Chúng ta

phải tạm thời chấp nhận nghịch lý này vì nền kinh tế có điểm xuất phát thấp khi

bước vào cạnh tranh, nhưng phải nhanh chóng và kiên quyết thay đổi, tham gia

vào các phân khúc tạo giá trị gia tăng cao hơn nếu chúng ta không muốn mãi

mãi bị tụt hậu so với thế giới

Cần ý thức về "quyền lực mềm" trong phát triển thương mại Đó là sức hấp

dẫn về văn hóa, tư tưởng, và chính sách của một quốc gia để tạo nên tầm ảnh

hưởng có lợi cho quốc gia đó tới các quốc gia khác Trong thế giới hiện nay,

quyền lực mềm có hiệu quả hơn nhiều so với sử dụng quyền lực cứng - sức

mạnh về quân sự và kinh tế đơn thuần Chúng ta nên học hỏi sự ảnh hưởng của

văn hóa đại chúng Mỹ tới tiêu dùng toàn cầu thông qua Hollywood, tác dụng

Trang 25

phim ảnh Hàn Quốc với làn sóng hàng hóa - thương hiệu của quốc gia này, sức

ảnh hưởng của Trung Quốc đối với toàn bộ thế giới khi hàng hóa và văn hóa

hiện diện tại khắp nơi Chúng ta hoàn toàn có thể xác lập và phát triển quyền

lực mềm Việt Nam, vừa đóng góp vào sự đa dạng và phát triển bền vững của

thế giới, vừa để tạo ra các chính sách phát triển bền vững cho quốc gia, xây

dựng các mô hình phát triển kiểu mẫu, cụ thể hóa thành các thương hiệu đẳng

cấp thế giới

Chúng ta đang thiếu trầm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng nguồn nhân

lực cần thiết cho ngành thương mại từ quản lý chung, luật pháp quốc tế, hậu

cần và kho vận, công nghệ thông tin, ý tưởng và thiết kế, đến xây dựng thương

hiệu,… Nhưng đây cũng sẽ là khâu đột phá nếu chúng ta giải quyết được, vì

yếu tố con người là yếu tố quyết định nhất Tin tưởng rằng, với truyền thống

cần cù, thông minh, sáng tạo của người Việt, cộng với sức ép cạnh tranh bên

ngoài và sự đoàn kết bên trong của ngành thương mại, chúng ta sẽ sớm đào tạo

ra được một đội ngũ doanh nhân Việt nam, công nhân Việt nam đủ tầm

Cuối cùng, cần đổi mới việc xúc tiến thương mại, có tầm nhìn và hiệu quả,

không bao cấp, không hoạt động đơn lẻ Hợp tác với các đối tác hàng đầu trên

thế giới là cần thiết, nhưng luôn phải giữ vững tâm thế tự chủ để tránh bị kiểm

soát và bị thôn tính

Ở nước ta hiện nay, hệ thống các doanh nghiệp và hệ thống thị trường vẫn

còn một số vấn đề như sau:

Chưa hoàn thành quá trình cải cách theo kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa Các thị trường cơ bản chưa thiết lập và hoạt động đồng bộ, các

nguyên tắc của kinh tế thị trường chưa được vận hành Thị trường chứng khoán

là thị trường cao cấp, phát triển chưa bền vững

Tàn dư và quán tính của kinh tế kế hoạch hoá tập trung còn nặng nề (quy

hoạch, độc quyền)

Nhà nước còn can thiệp quá nhiều vào kinh doanh Tham nhũng, các biểu

hiện tư lợi ngày càng bộc lộ gay gắt Năm 1999 và 2003, Việt Nam luôn xếp

9/10 ở Đông Nam A về tham nhũng Môi trường đầu tư kém thuận lợi, chậm

được cải cách

Tư duy về mô hình phát triển chậm thay đổi, chưa theo kịp thế giới: thiếu

vốn nhưng chưa sử dụng hết và có hiệu quả số vốn hiện có, kinh tế tự lực tự

Trang 26

cường, kinh tế quốc doanh là nền tảng; chưa gắn kết với kinh tế khu vực trong

một chuỗi giá trị; giáo dục, đào tạo chưa phát huy nguồn nhân lực

Hội nhập còn chậm

Cải cách có biểu hiện trì trệ trên nhiều lĩnh vực vì lợi ích cục bộ: (Nghi

quyết IX của BCH TW Đảng và việc cải cách doanh nghiệp nhà nước.)

Bảng 5: So sánh một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Việt Nam và Trung Quốc

Quốc

Tỉnh QuảngĐôngGDP trên đầu người

Kim ngạch xuất khẩu công

(năm 1999, USD)

FDI đầu người

Ghi Chú: (1) Kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của Việt Nam gồm vải vóc, may

mặc,giầy dép và hàng điện tử

(2) FDI của TQ và VN là kim ngạch theo dự án cấp giấy phép, của tỉnh Quảng

Đông là theo vốn thực hiện Riêng tỉnh Quảng Đông là thống kê bình quân năm

1999-2002

Nguồn: Tác giả tính từ thống kê của Ngân hàng Thế giới, Liên Hiệp Quốc, Trung

Quốc và Việt Nam

Trang 27

Tiếp tục phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường, với phương châm

chủ động, hiệu quả và linh hoạt, phát huy những thành tựu đã đạt được trong

hai năm qua, chúng ta tự tin và năng động vượt qua mọi thách thức, phấn đấu

giành những thắng lợi mới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, làm cho

dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đóng góp xứng

đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bước vào năm 2009, Chính phủ đã đề ra năm nhóm giải pháp để ngăn chặn

và đẩy lùi suy giảm kinh tế, trong đó biện pháp quan trọng hàng đầu là đẩy

mạnh sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu Việc thực hiện cam kết với WTO và

điều chỉnh chính sách theo các cam kết quốc tế phải bám sát và hỗ trợ những

nhiệm vụ cấp bách mà Chính phủ đã đề ra

Trong thời gian tới, trước mắt là năm 2009, Việt nam cần tập trung giải

quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục thay đổi một cách sâu sắc nhận thức và tư duy trong

xây dựng chính sách và điều hành quản lý nhà nước theo hướng từ trực tiếp,

hành chính, mệnh lệnh sang gián tiếp thông qua việc xây dựng các văn bản quy

phạm pháp luật, tiêu chí và các đòn bẩy kinh tế

Thứ hai, để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, cần áp dụng các chính sách để

hạn chế nhập siêu và thâm hụt thương mại, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập

khẩu, khuyến khích việc sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước

Ăn uống Giấy

Sản phẩm kim loại

K/L (1,000 đô la Mỹ/lao động)

Tỉ lệ xuất khẩu (%)

Hình 2 Tương quan giữa tỉ lệ xuất khẩu và hàm lượng lao động (K/L)

Chú: Tỉ lệ xuất khẩu = Xuất khẩu/Doanh thu; K/L là lượng tư bản trên một lao động.

Tư liệu: Tác giả tính từ nguồn tư liệu gốc của Bộ Kế hoạch Đầu tư.

Trang 28

Thứ ba, tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trên cả ba

cấp độ nhà nước, doanh nghiệp và ngành hàng Phát huy nội lực, bảo vệ thị

trường trong nước, xây dựng chiến lược và quy hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh

tế phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh vận động các nước công nhận Việt Nam có nền

kinh tế thị trường, tham gia tích cực vào vòng đàm phán Ðô-ha, tiếp tục thực

thi đầy đủ các cam kết gia nhập WTO, tận dụng tốt những quyền lợi mà thành

viên WTO được hưởng, xử lý hài hòa, thống nhất mối quan hệ giữa cam kết gia

nhập WTO với khuôn khổ pháp lý hiện hành, tạo nhiều thuận lợi cho các doanh

nghiệp và nhà đầu tư

Thứ năm, thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với bảo đảm an

sinh xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; xây dựng, hoàn thiện

các cơ chế, chính sách an sinh xã hội, giảm khoảng cách giàu - nghèo trong quá

trình hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ sáu, các bộ, ngành và các địa phương cần nâng cao chất lượng nội

dung các Chương trình hành động sau khi gia nhập WTO, xác định rõ nguồn

lực cần thiết để bảo đảm cho việc triển khai thực hiện những nhiệm vụ đề ra;

xử lý hài hòa các vấn đề có tính chất liên ngành, liên vùng như chiến lược, quy

hoạch phát triển của địa phương, bảo đảm hiệu quả đầu tư, phát triển cơ sở hạ

tầng; bảo vệ môi trường sinh thái, ; xây dựng thể chế và cơ chế theo dõi, kiểm

tra, giám sát, đánh giá và điều chỉnh việc triển khai Chương trình hành động

của Chính phủ và các chương trình hành động của bộ, ngành và địa phương sao

cho thiết thực, hiệu quả và phù hợp với thực tế của bộ, ngành và địa phương

Thứ bảy, tăng cường công tác đào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ quản lý,

công chức, viên chức, các doanh nhân và người lao động, đáp ứng nhu cầu

ngày càng cao của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

YẾU KÉM, TỒN TẠI CỦA DNNN

- Những hạn chế, yếu kém “ có mặt rất nghiêm trọng”: quy mô còn nhỏ

( 65,4% dưới 5 tỷ, tại 14 tỉnh, thành phố số này >90% ), bình quân chỉ 21tỷ Cơ

cấu dàn trải, chưa tập trung vào những ngành then chốt, chồng chéo, trùng lắp

- Hiệu quả, năng lực cạnh tranh kém: lao động quá đông , lên 1,7 triệu

người , bằng 1992 40% chưa có hiệu quả, 20% lỗ, chỉ có 14,2% thu ngân sách

từ thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 29

- Nợ 199.060 tỷ, chiếm 74,8% tổng số nợ xấu của ngân hàng Nợ phải trả

lên đến 352.000 tỷ, nợ phải thu 187.000 tỷ Tỷ lệ nợ khó đòi lớn

Cơ cấu xuất khẩu 2003

Cơ cấu sản phẩm nhập khẩu 2003

Cơ cấu xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2008 (Nguồn: Tổng cục thống kê)

Thuy san 16%

Da giay

16%

gao 5%

che 0,4%

ca phe 3%

Hat tieu 1%

Phoi thep 5%

Thep 17%

xang dau 26%

soi 3%

bong 1%

Trang 30

3 Thực trạng về thương mại dịch vụ của một số ngành nghề và doanh

nghiệp Việt nam

Thực trạng ngành dệt may Việt Nam

Ngành dệt may đã có sự tăng trưởng vượt bậc sau 2 năm Việt nam gia nhập

WTO, cho dù bị cạnh tranh gay gắt. Việt Nam gia nhập vào tổ chức WTO đã

tạo nên một cơ hội rất lớn để ngành dệt may phát triển; kim ngạch xuất khẩu

trong 4 tháng đầu năm 2007 của cả nước đạt 2.198 triệu USD, là một trong hai

ngành có kim ngạch xuất khẩu vượt mức 2 tỷ USD trong 4 tháng đã nói lên

điều này Trong đó, riệng Tp HCM đã có mức đóng góp khoảng 30% vào tổng

năng lực của toàn ngành Tuy nhiên, để tiếp tục duy trì tốc độ phát triển bền

vững và tạo công ăn việc làm cho trên 2 triệu lao động trong cả nước, ngành

dệt may Việt Nam cũng còn rất nhiều vấn đề trăn trở và phải tốn nhiều công

sức để vượt qua Chúng ta cần quan tâm tới :

Chất lượng nguồn nhân lực bởi Ngành Dệt May sử dụng nhiều lao động, do

vậy chất lượng của nguồn lực lao động là một nhân tố mang tính sống còn cho

ngành Việc nâng cao chất lượng lao động, đặc biệt là lực lượng quản lý cấp

trung sẽ góp phần hết sức quan trọng trong việc nâng cao được giá trị gia tăng,

cải thiện mức thu nhập cho người lao động Ngoài ra, việc nâng cao chất lượng

nguồn lực lao động này còn giúp ngành dệt may đối phó với tình trạng thiếu

hụt lao động, góp phần thoát khỏi tình trạng thâm dụng lao động, chỉ dựa vào

nguồn lao động giá rẻ Trong điều kiện hiện nay, những trung tâm tư nhân, hoạt

động tự cân đối thu chi và phải tự đầu tư mọi chi phí không khỏi gặp khó khăn

do chi phí hoạt động cao trong khi đó mức phí đào tạo lại phải thấp để cho các

doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ có thể tham gia Đây là một điều khiến tôi

thật sự lo lắng về khả năng tiếp tục công việc đào tạo nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực cho ngành dệt may

Ngành dệt may đã có sự tăng trưởng vượt bậc sau 2 năm Việt Nam gia

nhập WTO, cho dù bị cạnh tranh gay gắt Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt

trên 7,8 tỷ USD, gấp 2,2 lần so với năm 2004 và chiếm tới 15% tổng kim ngạch

xuất khẩu của cả nước Kết quả này đã đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 9

trong các nước xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới Đà tăng trưởng này tiếp

tục được duy trì trong 10 tháng của năm 2008 với tổng kim ngạch xuất khẩu

đạt 7,64 tỷ USD, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước; dự kiến cả năm sẽ đạt

khoảng 9,5 tỷ USD Hiện, Hoa Kỳ đang là thị trường xuất khẩu của Việt Nam,

Trang 31

chiếm tới 57% thị phần xuất khẩu, vượt xa so với thị trường tiềm năng khác là

EU chiếm 18%, Nhật Bản 9% Để có thể duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành

trong những năm tới, cần phải xây dựng thương hiệu mạnh để khẳng định vị

thế của mình trên thị trường nội địa và từng bước chiếm lĩnh thị trường thế

giới Ngoài ra, nhà nước cần có chính sách ổn định về giá, về thời gian cung

cấp điện Tình trạng cắt cúp điện như trong thời gian qua đã gây thiệt hại lớn

cho doanh nghiệp Bên cạnh việc mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước,

ngành dệt may Việt Nam còn góp phần vào giải quyết việc làm cho người lao

động Hiện cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực

dệt may với trên 2 triệu lao động Theo bà Đinh Thị Ty, đại diện Hiệp hội Dệt

may Việt Nam: để đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 12 tỷ USD vào năm

2010, các doanh nghiệp cần xác định chiến lược kinh doanh phù hợp để hạn

chế tác động bất lợi và khai thác triệt để những lợi thế cạnh tranh Hiệp hội sẽ

phối hợp với cơ quan chức năng xây dựng chiến lược phát triển ngành, tăng

cường hợp tác quốc tế và hoạt động xúc tiến thương mại để xây dựng và quảng

bá rộng rãi hơn những sản phẩm mang nhãn hiệu “made in Việt Nam” trên thị

trường quốc tế

Qua phân tích trên Việt nam cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ đầu

tư nhiều hơn vào công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may, đặc biệt

là đào tạo trong lĩnh vực thiết kế, điều hành sản xuất, marketing để nâng cao

năng suất lao động và sản xuất ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn

Ngày 7/11/2006 là ngày cả nước vui mừng với sự gia nhập của Việt nam vào tổ

chức WTO, nhưng cũng là ngày Chính phủ Hoa kỳ chính thức triển khai

chương trình giám sát hàng dệt may xuất khẩu từ Việt Nam Đây là một

chương trình đang tạo nên một sự lo lắng lớn cho cả ngành dệt may Việt nam

Chương trình này có nhiều điều vô lý như sau:

- Ngành dệt may Việt Nam chỉ mới đứng thứ 9 về số lượng và thứ 6 về giá

trị, trong khi đó, trừ Trung quốc là nước xuất khẩu lớn nhất vào Hoa kỳ đang bị

áp đặt chính sách tự vệ, tất cả các nước xuất khẩu vào Hoa kỳ nhiều hơn Việt

Nam đều không bị bất kỳ sự giám sát nào

- Với mức giá bình quân qui ra mét vuông nhập khẩu từ Việt Nam trong

năm 2006 là 2,96 USD/m2, cao hơn nhiều so với mức giá nhập khẩu bình quân

là 1,79 USD/m2, và cao hơn nhiều nước có mức xuất khẩu lớn vào Hoa kỳ như

Trung quốc với 1,55; Ấn độ với 1,98; Bangladesh với 2,01; Indonesia với 2,44;

Trang 32

Mexico với 1,84; Honduras với 2,14; Canada với 1,02… Như vậy, Việt Nam

không thể xem là nước có khả năng bán phá giá

- Với tỷ trọng trên 3% trong tổng trị giá hàng dệt may nhập khẩu vào Hoa

kỳ, ngành dệt may Việt Nam không thể nào đủ sức tạo nên một ảnh hưởng, lại

càng không thể là mối nguy cơ làm hại đến nền công nghiệp dệt may của Hoa

kỳ

- Ngoài ra, trên 95% hàng xuất khẩu vào Hoa kỳ là hàng may sẵn là dòng

sản phẩm mà các nhà máy công nghiệp tại Hoa kỳ đã không còn sản xuất trong

nhiều năm qua do chi phí cao và thiếu lao động Tuy vô lý nhưng chương trình

này đã và đang tạo ra nhiều tác hại trực tiếp và lâu dài đến ngành dệt may Việt

Nam Nhiều khách hàng đã giảm bớt đơn hàng cũng như chuẩn bị rút khỏi Việt

Nam trong trường hợp Bộ Thương mại Hoa kỳ đưa ra những nhận xét bất lợi

trong đợt giám sát đầu tiên, dự kiến vào tháng 8/2007 Điều đó sẽ đẫn tới có

trên một triệu lao động trong ngành và nhiều triệu thân nhân của họ sẽ lâm vào

cảnh đói nghèo nếu Bộ Thương mại Hoa kỳ đơn phương đưa ra một cuộc điều

tra chống bán phá giá như đã cam kết với hai Thượng nghị sĩ Dole và Graham

của hai bang Bắc và Nam Carolina Việc dừng lại chương trình này không

những giúp cho ngành dệt may Việt Nam có điều kiện tiếp tục phát triển mà

còn góp phần duy trì công ăn việc làm cho trên dưới 2 triệu lao động đang làm

việc trong ngành, mang một ý nghĩa nhân đạo hết sức to lớn

Ngành dệt may tại Việt nam không thể tiếp tục phát triển theo cách hiện

nay là dựa vào nguồn nhân công rẻ, tay nghề khéo léo mà phải chuyển sang

giai đọan mới là khai thác phần giá trị tăng thêm trong sản phẩm Một trong

những cách khai thác tốt nhất giá trị tăng thêm là phải tự thiết kế sản phẩm, xây

dựng thương hiệu và tổ chức bán hàng và các dịch vụ về thời trang, từ đó biến

ngành dệt may thành một ngành công nghiệp thời trang đúng nghĩa Vì vậy nhà

nước cần phải:

- Nên có hỗ trợ đào tạo ban đầu cho các chuyên viên thiết kế trong nước,

đặc biệt là mời những chuyên gia thiết kế có tiếng trên thế giới để các nhà thiết

kế trong nước có điều kiện tiếp cận trực tiếp với yêu cầu của thị trường quốc tế

và biến những sản phẩm được thiết kế ra có khả năng chào bán; hơn là chỉ nặng

về trình diễn như hầu hết các sản phẩm được thiết kế hiện nay

Trang 33

- Bố trí cho ngành những địa điểm thường xuyên tổ chức trình diễn thời

trang, từ đó xây dựng địa điểm này thành một tụ điểm của các nhà thiết kế, các

nhà kinh doanh, các nhà phê bình nghệ thuật và cả công chúng yêu thời trang

Đây sẽ là một điểm để trao đổi, phát triển kỹ năng, kiến thức cũng như tạo nên

một môi trường giao dịch thuận lợi cho ngành công nghiệp thời trang.Cung với

sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế nhằm giúp cho ngành dệt may Việt Nam nâng

cao được sức cạnh tranh của mình thông qua việc tìm hiểu luật pháp quốc tế,

tìm hiểu thị trường thế giới

Trong những năm qua, dệt may Việt Nam được đánh giá là ngành có bước

phát triển mới, đóng góp lớn vào sự phát triển nền kinh tế của đất nước Tuy

nhiên, sau hơn 2 năm gia nhập WTO, ngành Dệt may vẫn còn nhiều tồn tại

Phần lớn doanh nghiệp (DN) tập trung thực hiện các hợp đồng gia công xuất

khẩu, chưa chú trọng xây dựng thương hiệu, thị trường tiêu dùng nội địa Trong

khi đó, thời trang hóa là yếu tố quan trọng tạo ra thương hiệu cho ngành Dệt

may, đồng thời cũng mang lại nhiều lợi ích và giá trị hơn so với làm gia công

Hiệp hội Dệt may và nhiều nhà sản xuất cho rằng, ngành này chủ yếu làm

công ăn lương vì làm ra giá trị gia tăng quá thấp Đơn cử, về làm áo sơ mi xuất

khẩu và bán nội địa, nếu các DN trong nước đầu tư mạnh hơn vào sáng tạo,

thiết kế, phân phối sản phẩm sẽ thu lại hiệu quả cao gấp 50-70 lần so với làm

gia công Nhưng, hiện nay tiêu thụ sản phẩm nội địa mới chiếm chưa đến 20%

doanh số bán hàng của các DN, còn xuất khẩu vẫn chiếm tới 80% Gần đây,

một số DN trong nước như May 10, Việt Tiến cũng đi theo hướng phát triển

thương hiệu Tuy nhiên, đến nay sản phẩm thương hiệu cao cấp của Việt Nam

còn rất ít Chỉ một vài DN có đủ điều kiện cạnh tranh với sản phẩm cao cấp

nước ngoài Công ty Việt Tiến tuy đứng đầu về doanh thu nội địa, nhưng thị

trường nội địa chỉ chiếm 25% Công ty May Phương Đông với thương hiệu

F-House cũng nhắm vào thị trường thời trang trong nước nhưng vẫn chưa tạo

được thương hiệu trên thị trường nội địa, đặc biệt là trang phục dành cho giới

trẻ, mẫu mã còn đơn điệu, không cạnh tranh được với hàng nước ngoài Bên

cạnh đó, Tập đoàn đã và đang "gọi" các tập đoàn kinh tế mạnh trên thế giới tiếp

tục đầu tư vào sản xuất vải, nhuộm hoàn tất, xơ sợi tổng hợp Hiệp hội cũng

khuyến cáo các nhà sản xuất cần tìm hiểu thị hiếu người tiêu dùng, thích mặc

gì, loại vải nào, màu sắc ra sao để từ đó có định hướng đầu tư và phát triển cho

phù hợp với yêu cầu của thị trường Thực tế là Việt Nam luôn đi sau các nước

trong khu vực, các nhà quản lý chưa mạnh dạn xúc tiến thị trường trong nước

Trang 34

Trong các cuộc thi collection, nhiều nhà thiết kế đã thành danh, độc lập phát

triển bán hàng trong nước, nhưng số này không nhiều Đội ngũ thiết kế còn

mang nặng "tính sân khấu", chưa gắn kết với đời sống xã hội Chu kỳ sống của

sản phẩm dệt, may là rất ngắn, do vậy nhà thiết kế cần năng động, thường

xuyên thay đổi mẫu mã sản phẩm để được xã hội chấp nhận Để thời trang hóa

ngành Dệt may Việt Nam rất cần nhiều yếu tố như nguồn nhân lực, sản xuất,

thương mại, du lịch, văn hóa Song, vai trò của các ngành chức năng rất quan

trọng, nếu từng DN tự làm sẽ không giải quyết được những vấn đề lớn, mang

tính tổng thể

Ngành du dich Việt nam sau hội nhập WTO

Trong tiến trình hội nhập toàn cầu, ngành du lịch Việt Nam mới bắt đầu hội

nhập và vừa hợp tác vừa tìm hiểu cơ chế và luật chơi quốc tế, nên khả năng chủ

động đưa ra các dự án hợp tác còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, những yếu tố

như dịch vụ chưa đa dạng, cơ sở hạ tầng chưa theo kịp tốc độ phát triển, chất

lượng dịch vụ thấp, giá cả cao, sản phẩm chưa phong phú cũng là những

thách thức lớn đối với ngành du lịch nói chung và đối với các doanh nghiệp du

lịch nói riêng Thực tế này dẫn tới năng lực cạnh tranh thấp

Trong thời gian tới, vấn đề cạnh tranh trong ngành sẽ rất gay gắt Hiện tại,

nguồn khách quốc tế do các công ty lữ hành quốc tế lớn chi phối, bởi họ có

năng lực tài chính mạnh và khả năng khai thác thị trường trên toàn cầu Những

công ty này sẽ tạo ra sức ép rất lớn đối với các công ty lữ hành trong nước

Năm 2005, ngành du lịch phấn đấu thu hút 3,2 triệu lượt khách quốc tế và 15

triệu lượt khách nội địa Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hơn trong thời gian

tới, ngành du lịch phải đối mặt với những thách thức rất lớn

Làm thế nào để nâng cao vị thế của du lịch Việt Nam trong khu vực và thế giới,

và chuẩn bị cho hội nhập kinh tế quốc tế, ngành du lịch đã triển khai những

công tác gì? Tiến sĩ Phạm Từ, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch cho biết:

Du lịch Việt Nam đã ký 24 hiệp định hợp tác du lịch song phương cấp Chính

phủ với các nước trong và ngoài khu vực, thiết lập quan hệ với trên 1.000 hãng

du lịch của 50 quốc gia và vùng lãnh thổ Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

(ASEAN) là khu vực mà du lịch Việt Nam hợp tác sâu rộng và toàn diện nhất

Du lịch Việt Nam đã tham gia hiệu quả vào các diễn đàn hợp tác quốc tế và khu

Trang 35

vực, như Tổ chức Du lịch thế giới (WTO), hợp tác du lịch ASEAN, Hiệp hội

Du lịch châu Á - Thái Bình Dương (PATA), chương trình phát triển du lịch

Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, hợp tác hành lang Đông -Tây, hợp tác du

lịch sông Mekong - sông Hằng Gần đây nhất, Việt Nam lần đầu tiên phối hợp

với WTO tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng du lịch khu vực châu Á

-Thái Bình Dương và được bạn bè quốc tế đánh giá cao

Ngành du lịch nước ta có bước chuyển mới kể từ khi nước ta chính thức gia

nhập tổ chức thương mại thế giới WTO ngày 17/1/2007 và Du lịch là một trong

những ngành dịch vụ hội nhập sâu và sớm nhất so với các ngành khác trong

nền kinh tế nước ta Khi là thành viên của tổ chức WTO nền kinh tế nước ta nói

chung và ngành du lịch nói riêng gặp phải nhiều khó khăn ban đầu nhưng cũng

có nhiều cơ hội cho nền kinh tế cũng như ngành du lịch phát triển mạnh mẽ

hơn Theo như kế hoạch dự báo của Tổng cục Du lịch dự báo đến năm 2010 có

thể đạt tới 6,5 triệu đến 7 triệu lượt khách du lịch quốc tế Doanh thu từ du lịch

ước tính năm 2010 đạt 4 tỷ đến 4,5 tỷ USD (chiếm 6% GDP) Tốc độ tăng bình

quân của doanh thu du lịch bình quân đạt 12% năm Những dự báo trên có thể

đạt được trên cơ sơ thực tế nguồn tài nguyên du lịch của nước ta rất phong phú,

đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, xúc tiến quảng bá và đào tạo du lịch mà Chính

phủ và ngành Du lịch nước ta đó và đang thực hiện cùng với sự phát triển của

các doanh nghiệp du lịch nước ta

Không chỉ được tự nhiên ưu ái một vị trí địa lý thuận lợi và thiên nhiên tươi

đẹp với nhiều khu thắng cảnh nổi tiếng, Việt Nam còn có một hệ thống các khu

di tích lịch sử đồ sộ và truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc từ Bắc vào

Nam Những yếu tố ấy đều góp phần tạo nên sức mạnh và tiềm năng cho ngành

du lịch Việt Nam Vị trí cửa ngõ của bán đảo Đông Dương tạo thuận lợi cho du

khách quốc tế du lịch vào Việt Nam bằng bất cứ hình thức nào, kể cả đường bộ,

đường thủy và đường không Hiện nay, cả nước có hơn 100 vườn quốc gia, khu

bảo tồn thiên nhiên, các khu danh thắng nổi tiếng như: Vịnh Hạ Long, Vườn

Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới

và khoảng 40.000 di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, trong đó trên 2.800 di

tích được xếp hạng quốc gia Các di sản văn hóa thế giới như: Cố đô Huế, Di

tích Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Nhã Nhạc Cung Đình Huế, Không gian văn hoá

Cồng chiêng Tây Nguyên là niềm tự hào đồng thời cũng là những báu vật vô

giá của dân tộc ta Đường bờ biển dọc theo chiều dài đất nước với khí hậu ấm

nóng quanh năm từ miền Trung trở vào là điều kiện vô cùng thuận lợi cho du

Trang 36

lịch biển ở bất cứ thời gian nào trong năm Ngoài những di sản thiên nhiên và

văn hóa, một loạt hệ thống vui chơi - giải trí nhân tạo cũng được xây dựng

nhằm thu hút du khách trong và ngoài nước như xây dựng các khu resort, khu

du lịch sinh thái, khu du lịch biển, du lịch làng nghề, khách sạn nghỉ dưỡng

Các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh với bề dày lịch sử oai hùng

cũng là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch

Hiện tại, đôla Mỹ cũng như các ngoại tệ mạnh khác đang tăng giá so với

đồng Việt Nam Điều này là một thuận lợi cho khách du lịch quốc tế vào Việt

Nam do khách có thể đổi được nhiều tiền VND hơn, du khách tiêu đồng nội tệ

sẽ có cảm giác dễ chịu hơn Mặc dù lạm phát vẫn còn cao, nhưng lượng du

khách đổ dồn về các khu du lịch vẫn không hề giảm và còn tăng rất nhiều Các

doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch và giải trí cho thấy doanh thu liên

tục tăng cho dù nền kinh tế đang gặp khó khăn về lạm phát và nguồn tín dụng

đang bị thắt chặt

Công ty cổ phần Du lịch và Thương mại Vinpearl (MCK: VPL) là một ví

dụ Vinpearl là một trong những công ty có quy mô tiên phong - đã khẳng định

thương hiệu của mình trong làng du lịch giải trí với các khu du lịch, khu vui

chơi giải trí, khách sạn, nhà hàng Vinpearl đã có kết quả kinh doanh thật ấn

tượng trong những năm gần đây và mã cổ phiếu VPL đã trở thành bluechip trên

thị trường chứng khoán Việt Nam Tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận của

Vinpearl hàng năm đều ở mức rất cao So với năm 2006, năm 2007 lợi nhuận

ròng của Vinpearl tăng gấp gần 30 lần (2.955%)

Kết quả kinh doanh của Vinpearl các năm :

DT

(Tr đ)

Tăng trưởng DT

Lợi nhuận gộp (Tr đồng)

Tăng trưởng LNG

Lợi nhuận ròng (Tr đồng)

Tăng trưởng LNR P/E

Quý I

(2008) 119,023.9 38,109 9,745 137.4

2007 398,115 195.3% 134,563 268.2% 82,940 2,954.9%

2006 134,837 34.0% 36,547 150.7% 2,715 -116.0%

Tiềm năng đầu tư vào các dự án kinh doanh du lịch là rất lớn và thu hút

sự chú ý của nhiều tập đoàn trong và ngoài nước Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

Trang 37

hiện vốn đầu tư FDI vào lĩnh vực xây dựng khách sạn, kinh doanh du lịch

chiếm khoảng trên 10% tổng vốn FDI đăng kí Theo Tổng cục Du lịch (Bộ Văn

hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, nếu như năm 2006, chỉ có 17 dự án đầu tư

vào lĩnh vực du lịch với số vốn chưa đầy 600 triệu thì năm 2007, số dự án đã là

47 dự án FDI được cấp phép với tổng số vốn đăng ký lên đến 1.863 triệu USD,

do hệ thống luật pháp và chính sách mở cửa, khuyến khích đầu tư nước ngoài

sau khi đất nước đã ra nhập WTO Sự bắt tay của các tập đoàn lớn vào lĩnh vực

du lịch trong những năm gần đây cho thấy tiềm năng phát triển ổn định và lợi

nhuận của ngành công nghiệp này là rất lớn Bên cạnh đó, Chính phủ cũng

dành rất nhiều ngân sách và ưu tiên cho việc phát triển du lịch Tính riêng năm

2007, Nhà nước đã hỗ trợ đầu tư 750 tỷ đồng cho 59 tỉnh, thành phố phát triển

hạ tầng du lịch và từ năm 2001 tới nay, Nhà nước hỗ trợ trên 4100 tỷ cho việc

đầu tư vào cơ sở hạ tầng đáp ứng cho sự phát triển của ngành du lịch Những

ưu tiên của Chính phủ là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp hay cá nhân

đầu tư vào ngành du lịch có thể tận dụng Không những thế, mức sống của

người dân trong nước cũng ngày một cải thiện nên nhu cầu vui chơi giải trí

ngày càng lớn Có thể quan sát thấy trong mùa hè năm nay, mặc dù tốc độ tăng

thu nhập của người lao động không đáng kể (thậm chí giữ nguyên hoặc giảm)

trong khi lạm phát vẫn ở mức cao, nhưng những đoàn khách du lịch vẫn đổ về

các trung tâm vui chơi giải trí nườm nượp, thậm chí không có đủ tàu xe trong

những dịp nghỉ lễ đặc biệt Ngoài những điều kiện về kinh tế, luật pháp và đầu

tư, yếu tố anh ninh xã hội cũng được du khách rất quan tâm khi đi du lịch Điều

thuận lợi và may mắn cho ngành công nghiệp du lịch nước ta đó là môi trường

chính trị và xã hội rất ổn định Chính vì những yếu tố thuận lợi trên, ngành du

lịch chứng tỏ một tiềm năng vô cùng to lớn

Lượng khách du lịch đến Việt nam qua các năm

* Trong tháng 5/2008 lượng khách quốc tế đến Việt nam ước đạt

382.000 lượt Tổng cộng trong 5 tháng/2008 lượng khách quốc tế ước

đạt 2.078.954 lượt, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2007

* Trong tháng 12/2007 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt

354.000 lượt Tổng cộng trong cả năm 2007 lượng khách quốc tế ước

đạt 4.171.564 lượt, tăng 16,0% so với năm 2006

* Trong tháng 12/2006 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt

324.625 lượt Tổng cộng trong 12 tháng lượng khách quốc tế ước đạt

Ngày đăng: 14/08/2023, 07:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS. Đặng Đình Đào, TS. Trần Văn Bão, Giáo trình Kinh tế thương mại, NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế thương mại
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
2. TS.Trần Văn Hòe, TS. Nguyễn Văn Tuấn, Giáo trình Thương mại quốc tế, NXB Đại học kinh tế quốc dân (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân (2007)
3. ThS. Lê Thanh Ngọc, Bài giảng Kinh tế thương mại I 4. Thương mại Việt nam sau WTO,http://ftuforum.net/forums/showthread.php?t=20227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kinh tế thương mại I"4. "Thương mại Việt nam sau WTO
8. Lê Thị Thúy Sen - Lời giải nào cho thách thức ngành ngân hàng khi Việt nam là thành viên của wto,Tạp chí Cộng sản số 12/2007,http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=5755383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giải nào cho thách thức ngành ngân hàng khi Việt nam là thành viên của wto
11. Quốc hội khóa XI, Nghị quyết sô 56/2006/QH11, Về kế hoach phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 -2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội khóa XI, Nghị quyết sô 56/2006/QH11
12. Nguyễn chu Hồi, Cơ hội và thách thức của ngành thủy sản khi Việt nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới,http://www.thaibinhtrade.gov.vn/default.aspx?ID=16&LangID=1&NewsID=355 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội và thách thức của ngành thủy sản khi Việt namlà thành viên của tổ chức thương mại thế giới
13. Nguyễn Thủy Nguyên, WTO thuận lợi và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thủy Nguyên
6. Bài viết của ông Phạm Gia Khiêm, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế quốc tế Việt Nam sau 2 năm gia nhập tổ chức WTO ;http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/nr040807105001/ns090113094909 Link
7. Sở Thương mại Thái bình , Xuất khẩu thủy sản Việt nam nhanh chóng vượt mức kế hoạch 2007, http://www.thaibinhtrade.gov.vn/default.aspx?ID=16&LangID=1&NewsID=355 Link
9. ngành Dệt may Việt Nam trong bối cảnh Việt Nan gia nhập WTO, http://www.hca.org.vn/tin_tuc/vde_qtam/nam2007/thang6/DDDN_Vietnam/Bai_1.pdf Link
10. Nguyễn Thế Nghĩa, Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Cộng sản điện tử (24/12/2007) , http://www.tapchicongsan.org.vn/print_preview.asp?Object=4&news_ID=241236348#04 Link
5. TS Trần Kim Hào,Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - Tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện hội nhập WTO Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. So sánh các yếu tố của GCI - Đề án môn học kinh tế thương mại thương mại việt nam sau năm gia nhập tổ chức thương mại quốc tế thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 3. So sánh các yếu tố của GCI (Trang 20)
Bảng 2. So sánh vị trí xếp hạng chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI với Thái Lan và Trung Quốc - Đề án môn học kinh tế thương mại thương mại việt nam sau năm gia nhập tổ chức thương mại quốc tế thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 2. So sánh vị trí xếp hạng chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI với Thái Lan và Trung Quốc (Trang 20)
Bảng 4. So sánh các chỉ tiêu bất lợi của nước ta: - Đề án môn học kinh tế thương mại thương mại việt nam sau năm gia nhập tổ chức thương mại quốc tế thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 4. So sánh các chỉ tiêu bất lợi của nước ta: (Trang 21)
Bảng 5:    So sánh một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Việt Nam và Trung Quốc Việt Nam Trung - Đề án môn học kinh tế thương mại thương mại việt nam sau năm gia nhập tổ chức thương mại quốc tế thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 5 So sánh một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Việt Nam và Trung Quốc Việt Nam Trung (Trang 26)
Hình  2      Tương quan giữa tỉ lệ xuất khẩu và hàm lượng lao động (K/L) - Đề án môn học kinh tế thương mại thương mại việt nam sau năm gia nhập tổ chức thương mại quốc tế thực trạng và giải pháp phát triển
nh 2 Tương quan giữa tỉ lệ xuất khẩu và hàm lượng lao động (K/L) (Trang 27)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w