1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiệp vụ ngân hàng trung ương nghiệp vụ ngân hàng trung ương

17 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiệp vụ ngân hàng trung ương nghiệp vụ ngân hàng trung ương
Tác giả Thái Thị Diệu Thu
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Ngân hàng, Kinh tế vĩ mô
Thể loại Bài báo nghiên cứu
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 31,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT Khái niệm lạm phát Lạm phát là sự gia tăng phổ biến và với thời gian dài tổng mức giá cả được đo bằng chỉ số giá của nhóm hàng hóa dịch vụ cơ bản rổ hàng hóa..

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

“Lạm phát luôn luôn và mọi nơi là vấn đề thuộc về tiền tệ”- đó là nhận định của nhà kinh tế học nổi tiếng Milton Friedman Cũng chính Friedman từng phát biểu rằng: “Trong mọi trường hợp mà tỉ lệ phát của một nước là cực kì cao trong bất cứ thời kì kéo dài nào, thì tỉ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ đặt ra là cực kì cao”

Từ đầu năm 2004, tại Việt Nam, chỉ giá tiêu dùng trong nước không ngừng tăng đã khiến cho vấn đề lạm phát sau nhiều năm vắng bóng trên các diễn đàn kinh tế nay lại được hết sức quan tâm Vậy thực chất của vấn đề này là ở đâu, do nguyên nhân nào và đâu là biện pháp để giải quyết và giải quyết như thế nào?

Trong bài viết này em chỉ xin đề cập về những vấn đề nêu trên dưới một góc nhìn còn nhiều hạn chế Rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn để em có thể có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội tháng 11 năm 2004 Sinh viên thực hiện

Thái Thị Diệu Thu

Trang 2

LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT Khái niệm lạm phát

Lạm phát là sự gia tăng phổ biến và với thời gian dài tổng mức giá cả được đo bằng chỉ số giá của nhóm hàng hóa dịch vụ cơ bản (rổ hàng hóa)

Sự gia tăng liên tục của giá cả làm suy yếu sức mua của đồng tiền và các tài sản tài chính khác có giá trị cố định, gây ra những méo mó nghiêm trọng và tạo ra tình trạng không chắc chắn trong môi trường kinh tế vĩ mô và vi mô

Lạm phát xảy ra khi các áp lực kinh tế thực sự và các dự đoán về các

xu hướng phát triển trong tương lai gây ra tình trạng nhu cầu về hàng hóa vượt khả năng cung ứng với mức giá cả hiện tại, hay khi sản lượng hiện có

bị thu hẹp lại do năng suất giảm và thị trường bị co lại Khi xu hướng tăng giá diễn ra từ từ và không đều, trung bình khoảng 1-2%/năm thì mức lạm phát chậm đó được xem là không đe dọa tới sự phát triển kinh tế - xã hội Điều đáng lo ngại chính là khi tình trạng lạm phát ở mức 2,3 con số Tình hình lạm phát kinh niên có xu hướng trở thành thường xuyên và đạt tới mức cao hơn khi các méo mó về kinh tế và những sự đoán tiêu cực tăng lên Khi các Chính phủ cố gắng tài trợ cho các chương trình chi tiêu lớn bằng cách tăng lượng tiền cung ứng, việc tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách bằng biện pháp gây lạm phát càng làm đảo lộn sự ổn định kinh tế, xã hội và chính trị

Mặc dù lạm phát có thể xuất hiện khi có sự tăng giá của một số mặt hàng, song không hẳn mọi sự tăng giá của một số mặt hàng đều đồng nghĩa với lạm phát Nếu như giá tăng do chí phí sản xuất thực tế tăng,ví dụ do tình hình khai thác khó khăn của ngành than, hay các khoáng sản khác thì việc tăng giá này không thể coi là lạm phát

Đo lường lạm phát

Lạm phát thường được đo lường bởi các chỉ số sau:

Trang 3

 Chỉ số giá tiêu dùng xã hội- CPI

Trong thực tế tốc độ tăng giá của các hàng hóa khác nhau là không giống nhau do đó việc tính giá bình quân thông qua chỉ số giá được sử dụng Trên cơ sở tính được chỉ số giá tiêu dùng bình quân, tỉ lệ lạm phát phản ánh

sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước được tính theo công thức:

Mức giá năm hiện tại – Mức giá năm trước

Tỷ lệ lạm phát = x 100% Mức giá năm trước

Cách đo lường này cho phép so sánh sự biến động mức giá tiêu dùng theo thời gian nhưng không phản ánh được cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia đình

 Chỉ số tổng giảm phát tổng sản phẩm quốc nội –GDP:

Chỉ số này đo lường mức giá bình quân của tất cả các hàng hóa và dịch vụ tạo nên tổng sản phẩm quốc nội:

GDP danh nghĩa

Chỉ số giảm phát GDP= x100%

GDP thực tế

Trong đó GDP danh nghĩa đo lường sản lượng theo giá trị tiền tệ năm hiện tại, GDP thực tế đo lường sản lượng năm hiện tại theo giá năm được chọn làm gốc

Các loại lạm phát:

 Lạm phát vừa phải: Lạm phát vừa phải xảy ra khi tốc độ tăng giá chậm ở mức 1 con số Trong điều kiện lạm phát vừa phải, giá cả tăng chậm thường xấp xỉ bằng mức tăng tiền lương hoặc cao hơn chút ít, do vậy giá trị tiền tệ tương đối ổn định tạo thuận lợi cho môi trường kinh tế xã hội Tác hại của loại lạm phát này không đáng kể

Trang 4

 Lạm phát phi mã: xảy ra khi giá cả bắt đầu tăng ở mức hai, ba con số như 20%,100% hoặc 200%/năm Nguyên nhân cuối cùng của loại lạm phát cao

và kéo dài này là do sự tăng lên của khối lượng tiền trong lưu thông Khi giá

cả hàng hóa biến động mạnh, giá trị tiền tệ giảm qua các thời kì, tiền giấy bắt đầu bị từ chối trong thanh toán Dân chúng không dám giữ tiền dưới mọi hình thức và bắt đầu hoạt động đầu cơ tích trữ hàng hóa Trong thời kì lạm phát phi mã, sản xuất không phát triển, hệ thống tài chính tín dụng bị tàn lụi

 Siêu lạm phát: Xảy ra khi tốc độ tăng giá vượt xa mức lạm phát phi mã

có thể lên tới hàng nghìn tỉ lần

Nguyên nhân

Về mặt lí thuyết có 2 nguyên nhân gây ra lạm phát: lạm phát do sức mua của nền kinh tế tăng (lạm phát cầu kéo: do chi tiêu của Chính phủ tăng lên, chi dùng của các hộ gia đình tăng lên, nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp tăng, do chính sách tiền tệ mở rộng và do các yếu tố liên quan đến nhu cầu của nước ngoài ) và lạm phát do chi phí sản xuất tăng (lạm phát chi phí đẩy:

do tăng tiền lương vượt quá mức năng suất lao động, sự tăng lên của mức lợi nhuận ròng của người sản xuất đẩy giá cả hàng hóa tăng lên)

Việc phân tích nguyên nhân lạm phát chỉ ra rằng, giá cả có thể bị đẩy lên do những đột biến về phía cầu hoặc cú sốc của cung nhưng sự tăng giá

đó chỉ mang tính chất tạm thời nếu không có sự tác động của chính sách làm tăng tổng cầu Sự tăng lên liên tục của tổng cầu xuất phát từ lí do duy nhất là lượng tiền cung ứng tăng lên Vì thế nếu quan niệm lạm phát là sự tăng giá liên tục với mức độ cao( hơn 1%/ tháng) thì nó luôn luôn và mọi nơi là vấn

đề thuộc về tiền tệ

TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA-DIỄN BIẾN VÀ NGUYÊN NHÂN

Tình hình lạm phát ở Việt Nam thời gian qua

Trang 5

Theo các nguồn tin chính thức, tháng 6 năm 2004, chỉ số giá tiêu thụ trực tiếp CPI ở Việt Nam tăng 0.8% so với tháng 5 năm 2004, tăng 8.3% so với cùng kì năm 2003 và tăng 7.2% so với tháng 12 năm 2003 Chín tháng đầu năm 2004 chỉ số giá tiêu dùng của nước ta tăng ở mức 8.6% Việc tăng chỉ số giá ở Việt Nam chủ yếu là do giá lương thực thực phẩm tăng tới 13.7%( trong đó giá lương thực tăng 11.2% và giá thực phẩm tăng 15.4%), trong khi chỉ số giá bình quân của 9 nhóm hàng tiêu dùng còn lại trong kì hầu như chỉ tăng nhẹ ở mức 1 con số, không cao quá mức 5%( riêng giá hàng hóa dịch vụ nhóm dược phẩm y tế tăng 7.7% do phải nhập tới 60% nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh; trong khi chỉ số giá nhóm giáo dục lại giảm nhẹ 2.7%) Nếu so với cùng kì năm 2003 thì chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam trong tháng 7 năm 2004 đã tăng 9.1%/năm- mức tăng cao nhất trong hơn 5 năm qua( lần cuối gần đây nhất CPI của Việt Nam cũng đã tăng 9.1%/năm là vào tháng 1 năm 99) chủ yếu do giá lương thực- thực phẩm tăng mạnh với mức 15.5% trong cùng kì Theo dự đoán của Bộ Tài chính,

chỉ số lạm phát chung của Việt Nam trong cả năm 2004 sẽ là 9% Giá tiêu

dùng tăng cao có ảnh hưởng không tốt đến thu nhập và đời sống của đại bộ phận dân cư Đó là chưa kể đến giá cả của các loại nguyên vật liệu thiết yếu cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệp ở Việt Nam đều đã tăng rất cao từ đầu năm 2004 đến nay do phải phù thuộc nặng nề vào nguồn nhập khẩu như xăng và các sản phẩm dầu phải nhập khẩu 100%, phân đạm 90%, phôi thép 75% và thép thành phẩm 65%… hệ quả là khi các mặt hàng nguyên vật liệu này trên thị trường thế giới tăng cao thì giá nhập khẩu chúng vào Việt Nam cũng phải tăng theo rất mạnh nếu ngân sách Nhà nước không đủ khả năng

bù lỗ Tính ra trong 6 tháng đầu năm 2004, giá cả của hầu hết nguyên,nhiên liệu thiết cho sản xuất công –nông nghiệp như xăng dầu, sắt thép… đều tăng nhanh đột biến lần lượt với các mức 23.6% và 48% so với cùng kì năm trước

Trang 6

chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ rất mạnh của 2 nền kinh tế khổng lồ trên thế giới

là Mỹ và Trung Quốc còn giá phân bón thì tăng 5.7% so với cuối năm 2003 Giá cả trên thị trường thế giới tăng cao đã gây tác động trở lại làm gia tăng đáng kể lạm phát ở ngày càng nhiều nước trên thế giới từ các nước công nghiệp tiên tiến như Mỹ( CPI đã tăng từ 1.7%/năm trong tháng 2 năm 2004 lên tới 5.1%/ năm trong tháng 5 năm 2004), các nước khu vực EURO( chỉ số CPI từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2004 đã tăng từ 1.65%/ năm lên 2.5%/năm-cao vượt mức trần mục tiêu 2%/năm)…

Về yếu tố tiền tệ, tổng phương tiện thanh toán bao gồm tiền mặt trong

lưu thông, tiền gửi tại ngân hàng thương mại và TCTD và ngoại tệ trong 6 tháng đầu năm nay tăng 7.26%, thấp hơn mức tăng cùng kì năm 2003 là 8.28% Tiền gửi 6 tháng đầu năm 2004 tăng 8.28% và cùng kì năm 2004 là 10.5%, còn dư nợ cho vay lần lượt là 11.81% và 14.2% Năm 1998, tổng phương tiện tăng thấp nhất trong nhiều năm, chỉ có 20.33%, nhưng chỉ số giá tiêu dùng lại tăng tới 9.2%/ năm Trong năm nay có một thực tế dễ hiểu

đó là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của khu vực

Về nhân tố ngoại hối, trong 6 tháng đầu năm nay, tỉ giá giữa đồng

Việt Nam và Đô la Mỹ chỉ tăng có 0.2%, trong nhiều tháng qua mức tỉ giá này chỉ dao động quanh con số 15745-15765 VND/USD Giá vàng trong 6 tháng giảm 0.9%, trung tuần tháng 1 năm 2004 còn ở mức 800.000VND /1 chỉ vàng SJC, hiện nay dao động quanh mức 760.000đ đến 770.000đ/ 1 chỉ Thực trạng này khẳng định chỉ số tăng giá hàng tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm 2004 khác cơ bản so với lạm phát ở nước ta trong các năm cuối thập kỉ

80 và đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước, khi đó giá vàng và USD đều tăng cao

so với VND Điều đó có nghĩa là sức mua của đồng Việt Nam ở giai đoạn đó giảm mạnh

Trang 7

Về nhân tố lãi suất của hệ thống ngân hàng: Từ đầu tháng 6 năm

2004 đến nay, hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần đô thị đều tăng lãi suất huy động vốn của mình, với mức tăng 0.01-0.02%/tháng đối với lãi suất tiền gửi nội tệ, tăng 0.1-0.2%/ năm đối với lãi suất tiền gửi USD Đối với khối ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng No và PTNT Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam tăng nhẹ ở loại huy động vốn trung dài hạn đồng Việt Nam, tập trung ở lãi suất phát hành kì phiếu và Chứng chỉ tiền gửi, với mức tăng 0.02-0.04%/tháng so với lãi suất tiền gửi thông thường Lãi suất tiền gửi USD của một số ngân hàng cũng chỉ tăng 0.1-0.2%/ năm Lãi suất trên thị trường tiền tệ, tập trung là thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc Nhà nước cũng tăng nhẹ với mức tăng 0.05%/ năm Lãi suất trúng thầu trong phiên đấu thầu thứ 22 ngày 21/6/2004 lên tới 5.85%/ năm Lãi suất cơ bản vẫn là 7.5%/ năm, lãi suất TCV 5%/ năm, lãi suất CK 3%/ năm

Về nhân tố tài chính- ngân sách: tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng

đầu năm đạt trên 77.217 tỉ đồng, bằng 50% dự toán cả năm, tăng 12.5% so với cung kì năm trước; tổng chi đạt 82.033 tỉ đồng bằng 43.7% dự toán cả năm Như vậy thu ngân sách tăng trưởng khá, nhưng số tiền chi ra từ ngân sách Nhà nước vẫn thấp so với dự toán cả năm Nguồn tiền từ ngân sách Nhà nước chi ra không có gì đáng lo ngại

Như vậy có thể khẳng định lạm phát trong 6 tháng đầu năm 2004 không phải là lạm phát tiền tệ mà là lạm phát giá cả, có thể thấy rõ qua phân tích cơ cấu các mặt hàng tăng giá trong 6 tháng đầu năm 2004

Những nguyên nhân gây ra hiện tượng lạm phát tăng ở Việt Nam:

 Nguyên nhân trực tiếp:

- Giá cả nhóm lương thực, thực phẩm tăng cao…

Trang 8

- Chi phí sản xuất tăng do giá sắt thép và một số VLXD liên tục tăng cao Do vậy đã gây áp lực lên ngân sách của Việt Nam khi mà Nhà nước chịu bù lỗ để giữ giá cho thị trường xăng dầu ổn định, nhưng cuối cùng, vào cuối tháng 5 năm 2004, chính phủ Việt Nam vẫn phải tăng giá xăng dầu bình quân lên khoảng 17%, khi thị trường trong nước đẩy giá xăng dầu lên cao dẫn tới chi phí sản xuất sẽ tăng lên (do phải chịu chi phí chuyên chở, chi phí dịch vụ và chi phí tinh lọc từ dầu thô thành dầu thương phẩm… )

-Việt Nam đồng trong những năm 1999 đến nay, được điều chỉnh biên

độ trượt giá ổn định, trong khi cơ chế tỉ giá hối đoái hiện hành khi biên độ giao dịch ngày càng được quản lí chặt chẽ, so với một số đồng tiền chủ chốt như đồng USD, Euro,Yen làm cho hàng xuất cảng của Việt Nam rẻ và dễ cạnh tranh hơn các mặt hàng cùng loại của các nước trên thị trường quốc tế Nhưng đồng thời cũng làm cho giá hàng Việt Nam nhập cảng tăng theo( Việt Nam chủ yếu khẩu nguyên liệu thô và nhập khẩu hàng tinh chế, trang thiết bị và công nghệ…) trong khi Việt Nam vẫn đang trong tình trạng nhập siêu mặc dù mức nhập siêu này thấp hơn 6 tháng năm 2003 là 0.3 tỉ USD, chiếm ở mức cao tới hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu

- Do đà tăng trưởng kinh tế hàng năm GDP của Việt Nam luôn đạt mức tăng trưởng cao (chỉ đứng sau Trng Quốc) với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 7%, năm 2003 đạt 7.14%, 6 tháng đầu năm 2004 đạt 7.03% dẫn tới mức tín dụng tăng cao(năm 2002 mức tín dụng chiếm 45%, 2003 là 28%, 2004 dự tính tăng 25%/ năm ) Do tăng trưởng tín dụng có tác động mạnh đến đà tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời tăng trưởng tín dụng cũng ảnh hưởng tới sự gia tăng của lạm phát

- Cuối tháng 6 năm 2004, NHTW Mỹ (FED) đã tăng lãi suất tiền gửi USD thêm 0.25% làm cho giá trị đồng USD tăng theo làm tăng áp lực tỉ giá giữa VND và USD cho nên để ổn định tỉ giá, lãi suất tiền gởi bằng VND

Trang 9

cũng sẽ tăng theo Sự giảm giá của đồng nội tệ lặp đi lặp lại dẫn đến rủi ro của đồng nội tệ được xác định ở mức cao Sự bất ổn lớn về tỉ giá hối đoái sẽ gây ra những ảnh hưởng dây chuyền đối với giá cả trong nước và fcó thể gây bất ổn cho tình hình tài chính trong nước

Những nguyên nhân gián tiếp: Do việc chậm cổ phần hóa của các

doanh nghiệp Nhà nước đồng thời ngân sách cũng phải chịu áp lực thâm thủng lớn khi mà các khoản thu từ thuế phải giảm nhiều theo các Hiệp định thương mại AFTA, BTA nhiều danh mục mặt hàng thuế nhập khẩu giảm, chỉ còn từ 0% đến 5% Bên cạnh đó, cuối năm 2003 trên thế giới xuất hiện các nạn dịch như nạn bò điên ở Anh, Mỹ, bệnh lở mồm long móng ở lợn, dịch cúm gà…đã gây nên ảnh hưởng tâm lí không nhỏ đối với người tiêu dùng trong nước Cho nên đã gián tiếp đẩy giá tiêu dùng loại lương thực, thực phẩm an toàn trong nứớc tăng cao Năm 2003 cũng là năm gây ra cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng thương mại đã đẩy lãi suất huy động vốn lên cao đỉnh điểm với lãi suất tiền gửi vào các ngân hàng thương mại năm 2003 đạt 11.5%/ năm với mức lạm phát cả năm chỉ có 3%( tăng trưởng

dư nợ tín dụng quá nóng) Hiện nay lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đã giảm xuống còn khoảng 7.07-7.8%/ năm nhưng lạm phát lại đang ở mức cao(mức lạm phát ở Việt Nam 6 tháng đầu năm 2004 là 7.2%)

CÁC BIỆN PHÁP CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN TỚI

Mặc dù chỉ số giá cả hàng tiêu dùng trên thị trường xã hội đến nay tăng cao có nguyên nhân không phải do tiền tệ song để góp phần chủ động kiềm chế và kiểm soát lạm phát, Ngân hàng Nhà nước vẫn có giải pháp cụ thể trong điều hành chính sách tiền tệ của mình Thống đốc ngân hàng Nhà

Trang 10

nước vừa kí quyết định điều tăng tỉ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc của các TCTD gởi tại Ngân hàng Nhà nước Đây là giải pháp quan trọng của Ngân hàng Nhà nước phản ứng trước tình hình diễn biến chỉ số tăng giá và tâm lí lo ngại lạm phát hiện nay, cũng như một số khuyến nghị được đề xuất Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục thực hiện biện pháp này như là biện pháp chủ yếu để kiềm chế lạm phát Mục đích của tăng tỉ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc lần này là nhằm hạn chế hệ số nhân tiền, kiềm chế mức độ tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế của ngân hàng thương mại Dự trữ bắt buộc là một công cụ truyền thống trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước nhằm tác động vào mức độ tăng tiên, tác động vào kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kì tùy theo diễn biến của các chỉ số kinh tế vĩ mô Mục đích điều chỉnh tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc lần này nhằm đạt được yêu cầu nói trên, nhằm rút bớt khối lượng trong lưu thông về Ngân hàng Nhà nước, với mức độ thu hút

về gấp 2 lần so với mức trước đó Riêng đối với tiền gửi ngoại tệ, tỉ lệ dự trữ bắt buộc tăng cao, còn nhằm không khuyến khích các ngân hàng thương mại tăng lãi suất và không khuyến khích tăng cường huy động vốn ngoại tệ, hạn chế tình trạng đô la hóa tài sản nợ trong hệt thống ngân hàng

Lạm phát ở nước ta là lạm phát giá cả, không liên quan đến tiền tệ và ngân sách nhưng để chủ động góp phần vào kiềm chế lạm phát, giải pháp điều hành chính sách tiền tệ đã được đưa ra Nhưng về cơ bản Việt Nam cần tiệm cận phương pháp tính toán chỉ số lạm phát theo thông lệ quốc tế, NHNN và các bộ ngành liên quan cần có nhận thức đúng về chỉ số giá cả hàng tiêu dùng hiện nay phối hợp với Tổng cục thống kê để tính mức độ lạm phát cơ bản trong thời gian qua, số liệu về lạm phát cơ bản sẽ là cơ sở định lượng quan trọng cho các quyết định của NHNN Đồng thời, để không tạo ra

Ngày đăng: 14/08/2023, 07:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Các biện pháp kiểm soát tín dụng nền kinh tế nhằm kiềm chế lạm phát và hạn chế rủi ro tín dụng”- ThS. Nguyễn Thị Kim Thanh, Thị trường tài chính tiền tệ 1.9.2003, trang 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp kiểm soát tín dụng nền kinh tế nhằm kiềm chế lạm phát và hạn chế rủi ro tín dụng
Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Nhà XB: Thị trường tài chính tiền tệ
Năm: 2003
2. “ Lạm phát và thực tiễn hiện nay ở Việt Nam” –TS. Lê Xuân Hiếu, Tạp Chí Ngân hàng, số 10 năm 2004, trang 22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát và thực tiễn hiện nay ở Việt Nam
Tác giả: TS. Lê Xuân Hiếu
Nhà XB: Tạp Chí Ngân hàng
Năm: 2004
3. “Lạm phát hiện nay nguyên nhân và giải pháp kiềm chế”- PGS., TS Ngô Hướng, Tạp Chí ngân hàng số 11 năm 2004, trang 1-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát hiện nay nguyên nhân và giải pháp kiềm chế
Tác giả: PGS., TS Ngô Hướng
Nhà XB: Tạp Chí ngân hàng
Năm: 2004
4. “ Vấn đề lạm phát của Việt Nam một số nguyên nhân và giải pháp” - ThS. Nguyễn Đức Hưởng, Thị trường tài chính tiền tệ, 1.7.2004, trang 16-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề lạm phát của Việt Nam một số nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: ThS. Nguyễn Đức Hưởng
Nhà XB: Thị trường tài chính tiền tệ
Năm: 2004
5. “Nhìn nhận lạm phát ở Việt Nam trong thời kì hộ nhập và toàn cầu hóa”- TS Dương Hồng Phương, Tạp Chí ngân hàng số 8 năm 2004, trang 9-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn nhận lạm phát ở Việt Nam trong thời kì hộ nhập và toàn cầu hóa
Tác giả: TS Dương Hồng Phương
Nhà XB: Tạp Chí ngân hàng
Năm: 2004
6. Giáo trình “Lí thuyết tiền tệ ngân hàng”- Học Viện Ngân hàng, NXB Thống kê 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí thuyết tiền tệ ngân hàng
Nhà XB: NXB Thống kê 2001
7. “Lạm phát ở Việt Nam”, Vũ Quang Việt, Zdfree.free.fr/diendan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Quang Việt

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Diễn biến chỉ số giá CPI những năm gần đây - Nghiệp vụ ngân hàng trung ương nghiệp vụ ngân hàng trung ương
Bảng 1 Diễn biến chỉ số giá CPI những năm gần đây (Trang 12)
Bảng 2: Tốc độ tăng giảm giá tiêu dùng của một số mặt hàng và dịch vụ - Nghiệp vụ ngân hàng trung ương nghiệp vụ ngân hàng trung ương
Bảng 2 Tốc độ tăng giảm giá tiêu dùng của một số mặt hàng và dịch vụ (Trang 12)
Đồ thị 1: Quan hệ giữa CPI- tăng trưởng tín dụng theo quý từ năm 1999 đến nay - Nghiệp vụ ngân hàng trung ương nghiệp vụ ngân hàng trung ương
th ị 1: Quan hệ giữa CPI- tăng trưởng tín dụng theo quý từ năm 1999 đến nay (Trang 13)
Bảng 4: Những thống kê về kinh tế Việt Nam - Nghiệp vụ ngân hàng trung ương nghiệp vụ ngân hàng trung ương
Bảng 4 Những thống kê về kinh tế Việt Nam (Trang 14)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w