1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

115 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Tác giả Bùi Đăng Vương
Người hướng dẫn PGS-TS Nguyễn Cửu Việt
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Vi phạm hành chính trong hoạt động của luật sƣ (11)
    • 1.1.1. Luật sư và hoạt động hành nghề của luật sư (11)
      • 1.1.1.1. Khái niệm “luật sư” (11)
      • 1.1.1.2. Hoạt động hành nghề luật sư (12)
    • 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (14)
      • 1.1.2.1. Khái niệm vi phạm hành chính (14)
      • 1.1.2.2. Khái niệm vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (17)
      • 1.1.2.3. Đặc điểm các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính (18)
  • 1.2. Những vấn đề chung về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề của luật sƣ (23)
    • 1.2.1. Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (23)
    • 1.2.2. Mục đích xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (25)
    • 1.2.3. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (27)
    • 1.2.4. Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (28)
    • 1.2.5. Chủ thể có quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (32)
    • 1.2.6. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (36)
    • 1.2.7. Thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (37)
      • 1.2.7.1. Thủ tục đơn giản (38)
      • 1.2.7.2. Thủ tục lập biên bản (39)
    • 1.3.1. Quá trình phát triển của pháp luật về luật sư và về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (43)
      • 1.3.1.1. Giai đoạn trước năm 1945 (43)
      • 1.3.1.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1987 (43)
      • 1.3.1.3. Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2001 (44)
      • 1.3.1.4. Giai đoạn từ năm 2006 đến nay (47)
    • 1.3.2 Nhận xét, đánh giá (47)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH (11)
    • 2.1. Vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sƣ (51)
      • 2.1.1. Tình hình vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư ở một số địa phương (51)
        • 2.1.1.1. Tình hình vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư tại tỉnh Quảng Ngãi (51)
        • 2.1.1.2. Tình hình vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư tại tỉnh Đồng Nai (54)
        • 2.1.1.3. Tình hình vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư tại Thành phố Hồ Chí Minh (55)
      • 2.1.2. Nguyên nhân và hậu quả của tình hình vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (56)
    • 2.2. Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sƣ (59)
      • 2.2.1. Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (59)
      • 2.2.2. Thực trạng tổ chức của các chủ thể có quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư ở Bộ Tư pháp và ở một số địa phương (0)
      • 2.2.4. Thực trạng thực hiện thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (68)
      • 2.2.5. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (68)
      • 2.2.6. Đánh giá chung (71)
        • 2.2.6.1. Những mặt làm được và hạn chế (71)
        • 2.2.6.2. Nguyên nhân của những hạn chế (74)
    • 2.3. Một số kiến nghị hoàn thiện hoạt động xử lý vi phạm hành chính (0)
      • 2.3.1. Hoàn thiện pháp luật về luật sư (75)
      • 2.3.2. Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (78)
      • 2.3.3. Kiện toàn những tổ chức có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư (89)
      • 2.3.4. Củng cố và kiện toàn tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư (91)
  • KẾT LUẬN (94)

Nội dung

Vi phạm hành chính trong hoạt động của luật sƣ

Luật sư và hoạt động hành nghề của luật sư

Khái niệm luật sư tại Việt Nam lần đầu tiên được đề cập trong Pháp lệnh luật sư năm 2001, nhưng chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều ý kiến tranh luận về định nghĩa này Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh, luật sư là người đủ điều kiện hành nghề theo quy định pháp luật, tham gia hoạt động tố tụng, tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch vụ pháp lý khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Luật luật sư năm 2006 đưa ra định nghĩa “Luật sư” tại Điều 2 như sau:

Luật sư là người đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, đảm bảo thực hiện dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp Họ cung cấp các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là khách hàng), nhằm hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng trong các công việc liên quan đến pháp luật.

Luật luật sư kế thừa quy định của Pháp lệnh nhưng đã được điều chỉnh, sửa đổi một số từ ngữ để phù hợp hơn Theo đó, tiêu chuẩn hành nghề luật sư được quy định tại Điều 10 của Luật luật sư, gồm các tiêu chí về phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn và sức khỏe, như: "Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư." Người đáp ứng các tiêu chuẩn này mong muốn hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư theo quy định tại Điều 11 của Luật luật sư để đủ điều kiện hành nghề hợp pháp.

Luật sư là người có tư cách pháp lý độc lập, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề luật theo quy định của pháp luật Họ cung cấp các dịch vụ pháp lý đa dạng như tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trước tòa án, cơ quan nhà nước và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật.

Luật sư và Luật gia là hai thuật ngữ khác nhau phản ánh các vai trò pháp lý khác nhau Luật sư (Lawyer) là người am hiểu pháp luật, có kỹ năng hành nghề và được cơ quan có thẩm quyền công nhận, cấp chứng chỉ hành nghề để cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 Luật luật sư năm 2006 Trong khi đó, Luật gia (Jurist) là người có kiến thức pháp luật, có thể tốt nghiệp đại học luật hoặc không có bằng cử nhân luật nhưng có kinh nghiệm công tác trong các cơ quan pháp luật, được xem là chuyên gia pháp lý.

Mặc dù chưa có văn bản pháp luật nào chính thức định nghĩa về Luật gia, nhưng theo Điều 1 của Điều lệ Hội Luật gia Việt Nam, Luật gia là những người am hiểu pháp luật, không nhất thiết phải có bằng cử nhân luật hoặc qua đào tạo nghề luật như luật sư Hội Luật gia Việt Nam tập hợp rộng rãi các Luật gia làm công tác pháp luật trong nhiều lĩnh vực như cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức văn hóa, giáo dục, cơ quan vũ trang nhân dân, hoạt động vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân Trong khi luật sư là người đủ điều kiện tham gia Hội Luật gia, thì không phải tất cả các Luật gia đều đáp ứng các điều kiện để trở thành luật sư.

1.1.1.2 Hoạt động hành nghề luật sư

Theo Điều 23 Luật Luật sư năm 2006, luật sư có quyền hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư bằng cách thành lập hoặc tham gia vào các công ty luật, nhằm đảm bảo hoạt động pháp lý chuyên nghiệp và hiệu quả Việc này giúp luật sư thực hiện đúng quy định của pháp luật và nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý cho khách hàng.

Học viện Tư pháp (2011) trong Tập bài giảng Luật sư và nghề Luật sư đề cập đến việc lập tổ chức hành nghề luật sư và quy định về việc luật sư làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hoặc hành nghề với tư cách cá nhân.

Hình thức hành nghề luật sư được quy định chi tiết tại phụ lục số 02 của Thông tư số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ Tư pháp về việc

Hướng dẫn về các quy định của Luật luật sư, Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật luật sư, cùng với Nghị định số 131/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 hướng dẫn thi hành các quy định của Luật luật sư về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Luật sư Các hoạt động hành nghề của luật sư được quy định rõ ràng qua các hình thức khác nhau, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và chuyên nghiệp trong lĩnh vực pháp lý.

- Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

- Công ty Luật Hợp danh;

- Chi nhánh văn phòng luật sư;

- Chi nhánh công ty Luật hợp danh;

- Chi nhánh công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

- Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;

- Chi nhánh công ty Luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;

- Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân

Luật sư hoạt động theo các lĩnh vực quy định tại Điều 22 của Luật luật sư, bao gồm nhiều hoạt động pháp lý đa dạng nhằm phục vụ nhu cầu của khách hàng Các lĩnh vực hành nghề của luật sư đã được quy định rõ ràng để đảm bảo tính chuyên nghiệp và pháp lý trong quá trình tư vấn, tranh tụng, đại diện và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác Việc tuân thủ các quy định này giúp luật sư đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho khách hàng và duy trì uy tín của nghề nghiệp.

Tham gia tố tụng với vai trò người bào chữa bảo vệ quyền lợi của bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án hình sự.

Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện tư vấn pháp luật

- Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật

- Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật luật sư.

Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

1.1.2.1 Khái niệm vi phạm hành chính

Trước tiên chúng ta phải làm rõ khái niệm vi phạm hành chính nói chung

Vi phạm vi cảnh là khái niệm chỉ các hành vi vi phạm pháp luật chưa đến mức xử lý trách nhiệm hình sự Theo Điều 2 Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm Nghị định 143 ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ, vi phạm vi cảnh bao gồm những hành vi xâm phạm trật tự an toàn xã hội có tính chất đơn giản, rõ ràng, hậu quả không nghiêm trọng, chưa đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác.

Khái niệm vi phạm hành chính lần đầu tiên được quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, có hiệu lực từ ngày 01/01/1990 Theo đó, vi phạm hành chính được định nghĩa là hành vi do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện, nhằm cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước nhưng không thuộc phạm vi tội phạm hình sự, và theo pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

Một số ý kiến đồng tình với quan điểm định nghĩa về vi phạm hành chính đã nêu trên, xem đây là cách hiểu phù hợp để xác định hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, vẫn còn những quan điểm trái chiều cho rằng khái niệm này cần được xem xét lại để phản ánh chính xác hơn các đặc điểm của vi phạm hành chính trong thực tiễn.

Theo PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, định nghĩa về vi phạm hành chính không chính xác khi sử dụng công thức “xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước,” vì thực chất các quy tắc này là pháp luật Trong đó, “quy tắc quản lý nhà nước” theo nghĩa rộng chính là hệ thống pháp luật, còn theo nghĩa hẹp thì chỉ là các quy định cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý.

Các nguồn tài liệu của Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Huế đều đề cập đến giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, nhưng vẫn chưa xác định rõ tính chất của vi phạm hành chính Do đó, công thức này vẫn chỉ mô tả đặc điểm trái pháp luật của vi phạm hành chính, phản ánh tính chất trái pháp luật trong các hành vi vi phạm.

Theo tác giả Ngô Tử Liễn, việc xác định khách thể của vi phạm hành chính là các quy tắc quản lý nhà nước dễ gây nhầm lẫn với khách thể của vi phạm kỷ luật, nhưng không bao gồm các quan hệ xã hội liên quan đến sở hữu nhà nước, quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân.

Các Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, 2002 không trực tiếp định nghĩa khái niệm “vi phạm hành chính”, mà chỉ quy định về “xử phạt vi phạm hành chính”, gây ra thiếu sót trong nhận thức về khái niệm này So với Pháp lệnh năm 1989, cách thể hiện chưa hợp lý do không định nghĩa trực tiếp “vi phạm hành chính”, mà chỉ định nghĩa “xử phạt vi phạm hành chính”, nhấn mạnh vào hành vi hơn là khái niệm “hành vi” vi phạm hành chính Vi phạm hành chính là một khái niệm rất quan trọng trong hệ thống pháp luật, nhưng trong các Pháp lệnh này lại chưa quy định rõ, dẫn đến thiếu sót lớn Đến Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, khái niệm này được giải thích rõ ràng tại khoản 1 Điều 2, định nghĩa “vi phạm hành chính” là hành vi có lỗi, do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định pháp luật về quản lý nhà nước và không phải là tội phạm, theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Khái niệm vi phạm hành chính thể hiện sự sao chép định nghĩa từ các pháp lệnh trước đây, khi vẫn coi đây là “vi phạm quy định của pháp luật về hành chính.” Việc hiểu chính xác về vi phạm hành chính giúp nâng cao nhận thức về pháp luật và đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của Nhà nước Hiểu rõ khái niệm này là nền tảng quan trọng để xử lý các hành vi vi phạm hành chính một cách đúng đắn và hiệu quả.

3 Nguyễn Cửu Việt (2009), “Một số vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay”, Nghiên cứu lập pháp,(01), tr 18-27

Ngô Tử Liễn (1994) đã nghiên cứu về cơ sở của trách nhiệm hành chính và đề xuất sửa đổi Điều 1 của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cập nhật pháp luật để đáp ứng yêu cầu thực tiễn Bài viết phân tích các khía cạnh pháp lý liên quan để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của các quy định xử phạt, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật hành chính của Nhà nước và pháp luật.

Trong nội dung "Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam" của Nguyễn Cửu Việt (2008), tác giả nhấn mạnh rằng quản lý nhà nước không phải là tội phạm, tuy nhiên, việc quy định như vậy vẫn chưa chặt chẽ và khoa học do những lý do nhất định Điều này cho thấy cần phải hoàn thiện các quy định pháp luật để đảm bảo rõ ràng, minh bạch và phù hợp với thực tiễn pháp lý hiện hành, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hạn chế những sai phạm.

Thứ nhất, thuật ngữ “quản lý nhà nước” được dùng trong định nghĩa nên được hiểu ở phạm vi nào, nếu được hiểu ở nghĩa hẹp thì đồng nghĩa với

Quản lý hành chính nhà nước hay hoạt động chấp hành, điều hành là những khía cạnh trọng yếu của quản lý nhà nước Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước còn bao gồm hoạt động lập pháp, hành chính nhà nước và tư pháp, phản ánh phạm vi đặc thù của chức năng nhà nước trong việc duy trì trật tự và phát triển xã hội Việc hiểu rõ phạm vi này không phụ thuộc vào quyết định của người áp dụng pháp luật, mà dựa trên những tiêu chí chính thống và nguyên tắc chung của hệ thống pháp lý.

Việc giải thích “mà không phải là tội phạm” bằng phương pháp loại trừ nhằm xác định rõ các vi phạm hành chính, tuy nhiên, dễ dẫn đến hiểu nhầm rằng các hành vi không được quy định trong Bộ luật Hình sự sẽ tự động trở thành vi phạm hành chính Đồng thời, công thức này còn khiến người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính tự ý đánh giá hành vi trái pháp luật là tội phạm hoặc vi phạm hành chính mà bỏ qua các dấu hiệu pháp lý quan trọng khác.

Từ những phân tích trên cho thấy định nghĩa vi phạm hành chính quy định tại Pháp lệnh năm 1989, định nghĩa gián tiếp trong các Pháp lệnh năm

1995, 2002 và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 vẫn còn một số hạn chế nhất định như nêu trên

Thứ ba, các định nghĩa trên thiếu dấu hiệu quan trọng là năng lực trách nhiệm hành chính của chủ thể vi phạm

Thứ tư, các định nghĩa về vi phạm hành chính cần bổ sung yếu tố khách thể, tức là những quan hệ xã hội bị xâm phạm bởi hành vi vi phạm hành chính Yếu tố khách thể đóng vai trò quan trọng trong việc xác định phạm vi và tính chất của vi phạm hành chính, giúp nâng cao hiệu quả xử lý và xử phạt Việc làm rõ yếu tố này giúp toàn diện hơn trong việc nhận diện và áp dụng các quy định pháp luật phù hợp.

Thứ Năm, quan niệm sai lầm về công thức "bị xử phạt vi phạm hành chính" cần được sửa đổi, vì "xử phạt" chỉ là một biện pháp trách nhiệm hành chính trong hệ thống xử lý vi phạm Ngoài hình phạt, còn có các biện pháp khắc phục hậu quả hoặc các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật Việc hiểu đúng về các phương thức xử lý vi phạm giúp nâng cao ý thức và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong chấp hành pháp luật.

6 Nguyễn Thị Thiện Trí (2012), “Góp ý dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính”, Khoa học pháp lý,(02), tr 58

7 Nguyễn Cửu Việt (2010), “Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam”, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, tr 555-558

Biện pháp thay thế xử lý hành chính là biện pháp mang tính giáo dục, được áp dụng để thay thế cho hình thức xử phạt vi phạm hành chính hoặc các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm, bao gồm các biện pháp như nhắc nhở và quản lý tại gia đình, nhằm mục đích giáo dục và giúp họ sửa đổi hành vi trong cộng đồng.

Từ các phân tích trên, tác giả hoàn toàn thống nhất với định nghĩa khái niệm vi phạm hành chính sau đây:

Những vấn đề chung về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề của luật sƣ

Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

Hiện nay, việc phân biệt giữa “xử lý vi phạm hành chính” và “xử phạt vi phạm hành chính” còn chưa rõ ràng trong pháp luật Pháp lệnh năm 1989 lấy tên là Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, trong khi các Pháp lệnh năm 1995 và 2002 đều gọi là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, còn Luật năm 2012 gọi là Luật xử lý vi phạm hành chính Sự thay đổi này xuất phát từ quy định của Pháp lệnh năm 1995, trong đó “xử lý vi phạm hành chính” không chỉ bao gồm “xử phạt vi phạm hành chính” mà còn mở rộng để bao gồm “các biện pháp hành chính khác”, dẫn đến sự nhầm lẫn và chưa chính xác trong việc sử dụng các khái niệm này trong pháp luật.

Tác giả đồng tình với nhận định rằng, quan niệm này không có cơ sở khoa học rõ ràng và không phù hợp với các nguyên tắc trong khoa học pháp lý cũng như Luật hành chính Đây được xem là một trong những sửa đổi lớn chưa từng được thực hiện ở bất kỳ quốc gia nào, thể hiện tính đột phá và chưa có tiền lệ trong hệ thống pháp luật Về nguồn gốc và bản chất pháp lý của vấn đề, các ý kiến đều nhấn mạnh rằng việc áp dụng những sửa đổi này cần dựa trên những căn cứ vững chắc để đảm bảo tính hợp pháp và phù hợp với thực tiễn pháp luật hiện hành.

Phần "Các biện pháp xử lý hành chính khác" đã nhận được sự quan tâm phân tích của nhiều tác giả trong lĩnh vực luật hành chính Việt Nam, trong đó có tác giả Nguyễn Cửu Việt trong giáo trình "Luật Hành chính Việt Nam" xuất bản năm 1997.

Các biện pháp này về cơ bản không phải là biện pháp xử lý vi phạm hành chính, mà có bản chất rất khác so với chúng, vì:

- Đối tượng bị áp dụng rất đa dạng, thậm chí có cả trẻ em chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hành chính và hình sự trách nhiệm

Hành vi của các đối tượng này rất đa dạng, chủ yếu là vi phạm hình sự hoặc có dấu hiệu của vi phạm hình sự nghiêm trọng Tuy nhiên, nhiều đối tượng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý, làm phức tạp quá trình xử lý các hành vi vi phạm.

11 Nguyễn Cửu Việt, tlđd số 3

12 Nguyễn Cửu Việt (1997), “Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr 345

Các biện pháp xử lý có tính chất rất khắc nghiệt, thậm chí còn nghiêm khắc hơn các hình phạt dành cho các tội phạm nhẹ, nhằm xâm phạm quyền tự do của công dân mà không cần thông qua thủ tục xét xử của Tòa án, làm nổi bật tính chất nghiêm trọng của các biện pháp này trong hệ thống pháp luật.

Pháp lệnh 1995 và Pháp lệnh 2002 quy định năm biện pháp xử lý hành chính khác, bao gồm:

1 Giáo dục tại xã phường, thị trấn;

2 Đưa vào Trường giáo dưỡng;

3 Đưa vào cơ sở giáo dục;

4 Đưa vào cơ sở chữa bệnh;

5 Quản chế hành chính Đến Pháp lệnh 2007 đã bỏ biện pháp quản chế hành chính

Rõ ràng rằng, ngoài biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn, thì ba biện pháp còn lại đều mang tính chất “cưỡng chế hành chính đặc biệt” và phần lớn trong số đó có bản chất là biện pháp tư pháp hình sự Do đó, tác giả không coi “xử lý vi phạm hành chính” theo quy định của pháp luật mà theo quan điểm hợp lý đã được phân tích trong giáo trình, nhằm làm rõ tính chất và bản chất của các biện pháp này trong bối cảnh pháp luật hình sự và hành chính.

Các Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định rõ ràng rằng ngoài việc áp dụng các biện pháp xử phạt, các đối tượng vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Trong pháp luật, các biện pháp này được gọi với các tên khác nhau, và về mặt bản chất pháp lý, biện pháp phạt khác với biện pháp khắc phục hậu quả về mục đích và cách thức thực hiện.

Trước khi ra quyết định áp dụng các chế tài xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả, quá trình xử lý đã sử dụng nhiều biện pháp cưỡng chế như buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm và thực hiện các biện pháp đảm bảo thi hành quyết định xử lý để đảm bảo hiệu quả của quá trình xử lý vi phạm.

Khái niệm xử lý vi phạm hành chính cần được hiểu bao gồm việc áp dụng các biện pháp xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm xử lý vi phạm hiệu quả Đồng thời, việc thực hiện các biện pháp này còn nhằm đảm bảo quá trình xử lý vi phạm được thực hiện đúng quy định và thúc đẩy việc thi hành các quyết định xử lý một cách nghiêm túc và hiệu quả.

13 Nguyễn Cửu Việt (2010), “Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr.565

Xử lý vi phạm hành chính có nội hàm rộng hơn so với khái niệm xử phạt vi phạm hành chính, nhằm đảm bảo thực thi các quy định pháp luật về hành chính một cách hiệu quả Theo quyết định xử lý vi phạm hành chính tại số 9, trang 383-384 của Nguyễn Cửu Việt, các biện pháp xử lý không chỉ giới hạn ở hình phạt mà còn bao gồm nhiều hình thức xử lý khác nhằm duy trì trật tự và kỷ cương trong quản lý nhà nước.

Nghị định 60/2009/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tư pháp không giải thích khái niệm “vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư” cũng như “xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư” Thay vào đó, nghị định chỉ nêu các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử lý trong hoạt động hành nghề luật sư Do đó, “xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư” được hiểu là hoạt động của người có thẩm quyền dựa trên các quy định của pháp luật để áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả nhằm đảm bảo việc xử lý vi phạm và thi hành quyết định xử lý trong lĩnh vực này.

Mục đích xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

Việc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư nhằm mục đích răn đe, giáo dục để phòng ngừa các vi phạm pháp luật xảy ra trong lĩnh vực này Đồng thời, quy trình này còn nhằm trừng trị hành vi vi phạm và khôi phục lại trật tự pháp luật, góp phần duy trì sự công bằng và niềm tin vào hệ thống pháp lý.

Xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư nhằm mục đích răn đe, giáo dục, giúp người vi phạm nhận thức rõ hành vi vi phạm đã xâm phạm vào hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực luật sư, gây khó khăn cho cơ quan Nhà nước và làm thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức và cá nhân Ví dụ, luật sư xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc khiếu nại trái pháp luật, điều này làm cản trở việc giải quyết vụ việc của các cơ quan Nhà nước Bên cạnh đó, việc tiết lộ thông tin khách hàng trong quá trình hành nghề cũng gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho khách hàng, làm rõ vai trò của việc xử lý vi phạm nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong hoạt động luật sư.

Xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư nhằm mục đích giáo dục, răn đe để đảm bảo遵守 pháp luật của các luật sư, từ đó phòng ngừa những vi phạm có thể xảy ra trong tương lai Việc này có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm của luật sư, góp phần duy trì trật tự và đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực luật pháp Trừng phạt phù hợp không chỉ nhằm xử lý vi phạm mà còn hướng tới việc nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, bảo vệ quyền lợi của khách hàng và củng cố niềm tin của xã hội vào hệ thống pháp luật.

Xử lý vi phạm hành chính không chỉ nhằm răn đe và giáo dục mà còn có mục đích trừng phạt người vi phạm, với mức độ nhẹ hơn so với hình phạt hình sự do hành vi vi phạm có tính nguy hiểm thấp hơn Người vi phạm hành chính không mất quyền tự do thân thể hay bị ghi vào lý lịch tư pháp, tuy nhiên, trong hoạt động hành nghề luật sư, họ có thể bị phạt tiền, tước giấy phép, tịch thu tang vật hoặc phương tiện vi phạm, và buộc khắc phục hậu quả Những hình thức xử phạt này mang tính chất trừng phạt, gây thiệt hại về kinh tế và tinh thần cho người vi phạm, qua đó góp phần răn đe và phòng ngừa các vi phạm pháp luật Việc áp dụng các biện pháp xử lý nhằm mục đích khôi phục lại trật tự pháp luật, duy trì sự công bằng xã hội.

Trật tự pháp luật phản ánh trạng thái của hệ thống các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi pháp luật, trong đó hành vi của các chủ thể pháp luật phải hợp pháp Khôi phục trật tự pháp luật có nghĩa là đưa các quan hệ xã hội bị xâm phạm trở lại trạng thái ban đầu, buộc người vi phạm tuân thủ đúng các quy định pháp luật Các mục đích của việc duy trì trật tự pháp luật gồm răn đe, giáo dục, trừng phạt và phòng ngừa chung, trong đó, các biện pháp này không chỉ nhằm xử lý vi phạm mà còn góp phần gián tiếp khôi phục trật tự pháp luật trong xã hội.

Trong quá trình xử lý các vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, người vi phạm sẽ bị xử phạt tiền, phạt bổ sung và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm khôi phục trật tự, kỷ cương pháp luật Ví dụ, nếu tổ chức luật sư không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định, biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tổ chức đó phải mua bảo hiểm đúng quy định Ngoài ra, hành vi của luật sư sách nhiễu, lừa dối hoặc ép khách hàng đưa thêm tiền hoặc lợi ích vật chất ngoài hợp đồng sẽ bị xử lý nghiêm để đảm bảo quyền lợi khách hàng và trật tự pháp luật được duy trì.

Theo Nguyễn Cửu Việt (2003), trong "Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật", pháp lý quy định rằng luật sư có nghĩa vụ khắc phục hậu quả bằng cách buộc phải hoàn trả số lợi bất hợp pháp thu được.

Các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư đóng vai trò quan trọng trong việc khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm phạm Những quy định này giúp đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các luật sư và giữ gìn an toàn pháp lý trong hoạt động nghề nghiệp Từ đó, hệ thống pháp luật đã được củng cố, tạo sự tin tưởng và ổn định trong xã hội.

Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính theo Điều 3 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 quy định rằng mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và bị đình chỉ ngay lập tức Việc xử lý vi phạm hành chính cần được thực hiện một cách nhanh chóng, minh bạch và triệt để để đảm bảo tính hiệu quả của công tác xử lý Mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà nước và lợi ích cộng đồng Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đặt ra những nguyên tắc cốt lõi này nhằm đảm bảo công tác xử lý vi phạm hành chính luôn minh bạch, đúng luật và mang lại công bằng cho mọi đối tượng.

Năm 2012, Điều 3 của Luật xử lý vi phạm hành chính vẫn quy định các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính như trong Pháp lệnh trước đây Tuy nhiên, luật này đã bổ sung nguyên tắc mới yêu cầu “người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính,” nhằm tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong xử lý vi phạm.

Trong trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh rằng mình không vi phạm hành chính This ensures legal protection and fair treatment under the law, giving individuals the opportunity to clarify and defend their innocence Việc này không những bảo vệ quyền lợi của cá nhân mà còn đảm bảo quy trình xử lý hành chính minh bạch, đúng quy định pháp luật.

Dưới quy định tại Điều 3 Nghị định 60/2009/NĐ-CP, nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư được thực hiện theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính cũng như Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ Các quy định này hướng dẫn chi tiết cách xử lý các vi phạm hành chính, đảm bảo tính thống nhất và minh bạch trong quá trình xử lý vi phạm của luật sư.

Chỉ những cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư mới bị xử phạt theo quy định Các hành vi vi phạm này phải phù hợp với những nội dung đã được quy định trong Nghị định 60/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật sư và hoạt động hành nghề luật sư.

Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần để đảm bảo tính công bằng và tránh trùng lặp trong xử lý vi phạm Khi hành vi vi phạm đã được người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt hoặc lập biên bản xử phạt, không được lập biên bản hoặc ra quyết định xử phạt tiếp, nhằm tránh làm quá trình xử lý trở nên chồng chéo và đảm bảo tính minh bạch trong quản lý nhà nước.

16 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm

Năm 2008, quy định về xử phạt lần thứ hai đối với cùng hành vi vi phạm được nhấn mạnh, đặc biệt khi hành vi vẫn tiếp tục diễn ra sau quyết định đình chỉ của cơ quan có thẩm quyền, sẽ bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định của pháp luật Ví dụ, nếu Chánh Thanh tra Sở Tư pháp ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về việc luật sư không thông báo đầy đủ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm nghề nghiệp cho khách hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý, cơ quan vẫn không lập biên bản hoặc xử phạt hành vi này nữa sau khi đã ra quyết định đình chỉ.

Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

Trong hoạt động hành nghề luật sư, nếu nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính, từng người vi phạm đều bị xử phạt phù hợp với hành vi của họ Người có thẩm quyền xử phạt căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân của người vi phạm, cũng như các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để ra quyết định xử phạt phù hợp đối với từng cá nhân cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính.

Khi một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính, họ sẽ bị xử phạt đối với từng hành vi riêng biệt Ví dụ, nếu một luật sư phạm nhiều hành vi vi phạm trong hoạt động hành nghề, thì mỗi hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt riêng theo quy định của pháp luật Đây là nguyên tắc cơ bản trong xử lý các hành vi vi phạm hành chính, đảm bảo công bằng và rõ ràng trong xử lý các trường hợp vi phạm.

1.2.4 Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư được quy định tại Điều 5 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP, bao gồm các hình thức xử phạt chính như: ban hành cảnh cáo, phạt tiền, tước giấy phép hành nghề, đình chỉ hoạt động hành nghề luật sư và thu hồi thẻ luật sư Các biện pháp xử lý này nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các luật sư và nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý Việc áp dụng xử phạt phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy ý thức trách nhiệm nghề nghiệp và duy trì trật tự, kỷ cương trong hoạt động hành nghề luật sư.

Điều 17 của Nghị định 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008 Nghị định này hướng dẫn cụ thể các quy trình, thủ tục và hình thức xử lý vi phạm hành chính, đảm bảo thống nhất, chặt chẽ trong việc thực thi pháp luật Việc ban hành Nghị định nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác xử lý vi phạm hành chính, góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Trong trường hợp xử phạt tiền theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, mức phạt tiền cụ thể đối với một vi phạm hành chính không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ được quy định rõ ràng tại Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định mức phạt trung bình trong khung tiền phạt, có thể điều chỉnh theo các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng Khi vi phạm có tình tiết giảm nhẹ, mức phạt có thể giảm xuống nhưng không dưới mức tối thiểu của khung, còn nếu có tình tiết tăng nặng, mức phạt có thể tăng lên nhưng không vượt quá mức tối đa của khung Trong trường hợp vi phạm có cả tình tiết tăng nặng lẫn giảm nhẹ, người có thẩm quyền sẽ quyết định mức phạt phù hợp dựa trên tính chất và mức độ của các tình tiết này, có thể áp dụng mức phạt cao hơn, thấp hơn hoặc bằng mức trung bình của khung tiền phạt.

Theo quy định tại mục 6 của Nghị định 60/2009/NĐ-CP, mức phạt tiền thấp nhất đối với hoạt động hành nghề luật sư là 500.000 đồng, trong khi mức cao nhất lên đến 20 triệu đồng Tuy nhiên, tác giả nhận định rằng mức phạt này còn thiếu nghiêm khắc, chưa phản ánh đúng tính chất vi phạm và lợi ích mà luật sư có thể thu lợi từ hành vi vi phạm Do đó, các khoản xử phạt hiện tại không đủ tính răn đe, phòng ngừa hành vi vi phạm của luật sư Vì vậy, cần xem xét điều chỉnh lại mức phạt tối đa phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 24 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

2012 với mức phạt tối đa trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là 50.000.000 đồng b Hình thức xử phạt bổ sung:

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau:

- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc không thời hạn

Theo Điều 21 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đã được bổ sung hai hình thức xử phạt chính gồm tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hành nghề có thời hạn, và tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính Hai hình thức này có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình phạt chính, do đó cần sửa đổi Nghị định 60/2009/NĐ-CP để phù hợp hơn theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đảm bảo sự nhất quán và rõ ràng trong chế độ xử phạt hành chính.

Trong trường hợp cá nhân hoặc tổ chức vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, họ có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng chứng chỉ, giấy phép hành nghề, giấy đăng ký hoạt động hoặc giấy phép thành lập Khi bị tước quyền này, cá nhân hoặc tổ chức không được phép tiếp tục hành nghề hoặc hoạt động trong thời gian bị tước quyền sử dụng Việc tước quyền sử dụng các giấy tờ này nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động hành nghề luật sư và có tác dụng nâng cao ý thức chấp hành của các cá nhân, tổ chức.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được phép thực hiện các hoạt động ghi trong giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề Đây là biện pháp xử lý nhằm đảm bảo thực thi các quy định pháp luật và đúng quy trình quản lý nhà nước Đồng thời, các biện pháp khắc phục hậu quả cũng được quy định rõ nhằm đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức vi phạm.

Tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm, cá nhân hoặc tổ chức vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư có thể bị xử lý bằng nhiều biện pháp khắc phục hậu quả khác nhau Trong trường hợp vi phạm hành chính đã quá thời hiệu xử phạt khi phát hiện, không áp dụng hình phạt, nhưng người có thẩm quyền có thể yêu cầu hoàn trả lợi bất hợp pháp hoặc buộc luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định Ngoài ra, các biện pháp khác bao gồm bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định của luật, hoặc buộc trả lại số tiền thu không hợp lệ, như thù lao luật sư trái phép hoặc thu phí dịch vụ pháp lý không đúng quy định.

Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 không quy định nguyên tắc chung về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, nhưng dựa trên các quy định riêng lẻ, có thể suy ra rằng các biện pháp này thường đi kèm với hình phạt Tuy nhiên, có hai trường hợp đặc biệt cho phép áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả độc lập: khi hết thời hiệu xử phạt và khi quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính, trong đó người có thẩm quyền xử phạt không còn quyền ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp xử phạt trục xuất.

18 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr 537-538

Theo quy định tại Điều 28 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đa dạng hơn so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, nhằm đảm bảo xử lý vi phạm một cách toàn diện và hiệu quả hơn.

Luật quy định nguyên tắc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính Ngoài việc xử phạt, cá nhân và tổ chức vi phạm còn có thể bị buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 1 Điều này, tạo điều kiện đa dạng trong xử lý vi phạm Điểm tiến bộ của Luật là cho phép áp dụng đồng thời nhiều biện pháp khắc phục hậu quả để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa vi phạm Trong các trường hợp không quyết định xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng một cách độc lập theo quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, góp phần nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quá trình xử lý vi phạm hành chính.

- Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;

- Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng;

- Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;

- Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng;

Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính và chưa đủ tuổi để bị xử phạt vi phạm hành chính, do đó không chịu trách nhiệm pháp lý trong các trường hợp vi phạm này.

- Không xác định được đối tượng vi phạm hành chính;

Chủ thể có quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

Theo quy định tại Thông tư số 21/2010/TT-BTP ngày 01/12/2010 của Bộ Tư pháp, luật sư hướng dẫn bị xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư phải chờ ít nhất một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt mới được tiếp tục hướng dẫn tập sự hành nghề luật sư Điều này đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến xử phạt hành chính trong lĩnh vực tư pháp theo Nghị định số 60/2009/NĐ-CP.

Trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư, việc xử lý vi phạm hành chính chỉ áp dụng các biện pháp như cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, và tịch thu giấy tờ giả mạo dùng làm vi phạm Ngoài ra, còn có các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc hoàn trả lợi bất hợp pháp thu được và yêu cầu thực hiện đúng quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm.

1.2.5 Chủ thể có quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

Không phải cán bộ, công chức nào cũng có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, có đến 74 chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung năm 2008 đã bổ sung thêm 13 chức danh Đến Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, các chức danh này vẫn được kế thừa từ các văn bản trước, đồng thời có bổ sung các chức danh mới như Trưởng phòng quản lý xuất nhập cảnh, Trưởng phòng an ninh chính trị nội bộ, Trưởng phòng an ninh kinh tế, Trưởng phòng an ninh văn hóa tư tưởng, Trưởng phòng an ninh thông tin, và Người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành.

Nghị định 60/2009/NĐ-CP không quy định riêng thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, mà quy định thẩm quyền xử phạt chung cho các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp Các chủ thể có thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực tư pháp gồm các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

- Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp (Sau đây gọi tắt là UBND)

- Lực lượng thanh tra chuyên ngành tư pháp, gồm:

1 Thanh tra viên chuyên ngành tư pháp đang thi hành công vụ;

2 Chánh thanh tra Sở Tư pháp;

3 Chánh thanh tra Bộ Tư pháp Để tránh tình trạng chồng chéo trong xử lý, pháp luật còn phân định rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp của từng chủ thể, chỉ được xử lý theo thẩm quyền quy định Các điều 45, điều 46 Nghị định 60/2009/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp tỉnh và lực lượng thanh tra chuyên ngành

- Về Chủ tịch UBND cấp tỉnh:

Chỉ Chủ tịch UBND cấp tỉnh mới có thẩm quyền xử lý các vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư Theo quy định tại Khoản, nhiệm vụ này được giao riêng cho lãnh đạo cấp tỉnh để đảm bảo sự chặt chẽ và đúng quy định của pháp luật Việc phân cấp rõ ràng giúp nâng cao tính chính xác và hiệu quả trong xử lý các vi phạm liên quan đến hoạt động luật sư.

4 Điều 83 Luật Luật sư năm 2006 đã được sửa đổi bổ sung tại Khoản 32 Điều

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư quy định rõ ràng về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động của luật sư, trong đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến tổ chức và hoạt động của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, cùng các tổ chức và hoạt động của luật sư nước ngoài tại địa phương Tuy nhiên, luật này không quy định ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra hoặc xử phạt vi phạm hành chính về tổ chức và hoạt động của luật sư, dẫn đến việc các cấp huyện và xã không có thẩm quyền trong lĩnh vực này theo quy định mới.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp theo Điều 45 Nghị định 60/2009/NĐ-CP là quy định chung về thẩm quyền của Chủ tịch UBND trong các lĩnh vực tư pháp Tuy nhiên, không có quy định rõ ràng phân biệt thẩm quyền của từng cấp (huyện, xã) đối với từng lĩnh vực cụ thể, khiến nhiều người dễ nhầm lẫn rằng Chủ tịch UBND cấp huyện và xã cũng có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư Chính vì vậy, việc xác định rõ thẩm quyền xử phạt cần dựa trên các quy định pháp luật chuyên ngành để tránh hiểu lầm không đáng có.

Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp chưa rõ ràng, dẫn đến thực tiễn tại nhiều địa phương giao cho Chủ tịch UBND cấp huyện xử lý vi phạm của luật sư, gây trái quy định pháp luật Ví dụ, UBND TP Hồ Chí Minh đã ban hành Chỉ thị số 25/2007/CT-UBND yêu cầu phòng Tư pháp các quận, huyện thực hiện xử phạt hoặc đề nghị xử phạt vi phạm của luật sư, điều này không phù hợp với quy định của pháp luật về luật sư.

Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt cảnh cáo, phạt tiền tối đa đến 30 triệu đồng theo Nghị định 60/2009/NĐ-CP, trong đó mức xử phạt tối đa đối với hoạt động hành nghề luật sư là 20 triệu đồng Ngoài ra, còn có quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại chương II của Nghị định 60/2009/NĐ-CP.

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định thẩm quyền xử phạt dựa trên tỷ lệ phần trăm (%) so với mức phạt tối đa được quy định tại Điều 24, thay vì áp dụng mức phạt tiền cố định cho từng chức danh Chính sách này cho phép có nhiều mức phạt tối đa khác nhau tùy theo nhóm hành vi vi phạm, từ đó tạo ra sự linh hoạt trong việc quy định thẩm quyền xử phạt Đồng thời, luật cũng giới hạn mức phạt tiền tối đa nhằm đảm bảo tính công bằng và kiểm soát trong xử lý vi phạm hành chính.

Lực lượng thanh tra chuyên ngành:

Thanh tra viên chuyên ngành Tư pháp có quyền thực hiện các hình thức xử phạt như cảnh cáo, phạt tiền tối đa 500.000 đồng và tịch thu tang vật phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính Ngoài ra, họ còn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Chương II Nghị định 60/2009/NĐ-CP, bao gồm buộc hoàn trả lợi bất hợp pháp thu được và yêu cầu thực hiện đúng các quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm.

Theo quy định hiện hành, thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính không có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động tư pháp, bao gồm cả lĩnh vực hành nghề luật sư Thay vào đó, họ chỉ có quyền kiến nghị để các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm.

Theo quy định tại Nghị định 60/2009/NĐ-CP, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, dẫn đến một bất cập so với Luật Thanh tra năm 2010 Cụ thể, điểm m khoản 1 Điều 53 của Luật Thanh tra 2010 quy định rằng Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành có quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhưng Nghị định 60/2009/NĐ-CP lại không đề cập đến quyền này, gây khó khăn trong thực tiễn Mặc dù theo nguyên tắc pháp luật, các văn bản có hiệu lực cao hơn, như Luật Thanh tra, phải được áp dụng, tuy nhiên thực tế, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành vẫn không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư.

Theo quy định tại Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm

Năm 2012, quy định bổ sung những đối tượng có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, bao gồm Thanh tra viên chuyên ngành đang thi hành công vụ, Trưởng đoàn thanh tra cấp bộ và cấp sở, cũng như Trưởng đoàn thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước Tuy nhiên, Nghị định 60/2009/NĐ-CP cần được sửa đổi, bổ sung để mở rộng phạm vi thẩm quyền này cho các đối tượng nói trên trong lĩnh vực tư pháp và hoạt động hành nghề luật sư, nhằm đảm bảo hiệu quả trong công tác xử lý vi phạm hành chính.

Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

1.2.6 Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính là khoảng thời gian luật quy định để người có thẩm quyền thực hiện việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm Đây là giới hạn pháp lý đảm bảo quyền và trách nhiệm trong công tác xử lý vi phạm hành chính Việc xác định đúng thời hiệu giúp nâng cao hiệu quả xử lý và đảm bảo tính công bằng trong quá trình xử lý các vi phạm hành chính.

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 60/2009/NĐ-CP, thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư là một năm, tính từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện Nếu quá thời hạn này mà vi phạm vẫn chưa bị phát hiện, cơ quan chức năng sẽ không tiến hành xử phạt, nhưng vẫn áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc hoàn trả lợi ích bất hợp pháp thu được hoặc thực hiện các biện pháp theo đúng quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm.

Quy định này nhấn mạnh tính nghiêm minh của pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư Theo đó, không tiến hành xử phạt khi quá thời hiệu xử lý, nhưng người có thẩm quyền vẫn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm Điều này thể hiện rõ ràng sự đảm bảo công bằng và hiệu quả trong việc xử lý các vi phạm liên quan đến hoạt động luật sư.

Thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

Theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được tính dựa trên trạng thái của hành vi vi phạm Cụ thể, đối với các vi phạm đã kết thúc, thời hiệu bắt đầu tính từ thời điểm hành vi vi phạm chính thức chấm dứt Trong khi đó, đối với các vi phạm đang trong quá trình thực hiện, thời hiệu được xác định từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.

Quy định về thời hiệu đã phần nào khắc phục được những điểm yếu đã nêu Tuy nhiên, để đảm bảo tính chính xác và phù hợp, cần thiết phải quy định lại cách tính thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đặc biệt trong hoạt động hành nghề luật sư.

1.2.7 Thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

Quy định về thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp được quy định chung tại Chương IV Nghị định 60/2009/NĐ-CP, dựa trên cơ sở cụ thể hoá các quy định tại Chương VI Pháp lệnh 2002 và Chương IV Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ.

19 Điểm b khoản 1 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

CP) Thủ tục này quy định chung cho việc xử lý vi phạm chính trong các lĩnh vực tư pháp, trong đó có lĩnh vực luật sư

Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc nhận được báo cáo và biên bản liên quan đến vi phạm trong lĩnh vực tư pháp, đặc biệt là lĩnh vực luật sư, người có thẩm quyền xử phạt phải tiến hành kiểm tra, xác minh chính xác Sau đó, họ có trách nhiệm ra quyết định đình chỉ ngay hành vi vi phạm để đảm bảo xử lý kịp thời và chính xác theo quy định pháp luật.

Thủ tục xử phạt chia thành hai loại: Thủ tục đơn giản và thủ tục lập biên bản

Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được quy định rõ ràng, kế thừa từ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, với hai hình thức chính là thủ tục có lập biên bản và thủ tục không lập biên bản hồ sơ vụ việc Tuy nhiên, thủ tục không lập biên bản được áp dụng đối với những trường hợp phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền tối đa 250.000 đồng cho cá nhân và 500.000 đồng cho tổ chức, đồng thời mức phạt cao hơn so với quy định cũ Trong những trường hợp vi phạm được phát hiện qua phương tiện hoặc thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ, cơ quan chức năng bắt buộc phải lập biên bản để đảm bảo tính xác thực hồ sơ.

Thủ tục đơn giản là thủ tục xử phạt tại chỗ, không phải lập biên bản vi phạm hành chính mà chỉ ra quyết định xử phạt trực tiếp

Theo Điều 52 Nghị định 60/2009/NĐ-CP, người có thẩm quyền đang thi hành nhiệm vụ, công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính, trừ trường hợp xử phạt bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền tối đa 200.000 đồng Thủ tục này nhằm đảm bảo quy trình xử lý vi phạm rõ ràng và minh bạch trong lĩnh vực tư pháp chung cũng như trong hoạt động hành nghề luật sư.

Nội dung quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải được ghi rõ theo đúng mẫu quy định Trong đó, mẫu quyết định xử phạt theo thủ tục đơn giản, được ban hành kèm theo Nghị định số 60/2009/NĐ-CP, gồm các mẫu số 05 và 06 Việc tuân thủ đầy đủ mẫu quyết định giúp đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong xử lý vi phạm hành chính.

20 Điều 51 Nghị định 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp

Trong hoạt động hành nghề luật sư, thủ tục xử phạt đơn giản chỉ quy định hình thức cảnh cáo, còn không áp dụng xử phạt bằng tiền Theo quy định tại Điều 23 đến Điều [số điều], mức phạt tiền dành cho luật sư bị xử lý vi phạm không được áp dụng, chỉ giới hạn ở hình thức cảnh cáo để đảm bảo tính minh bạch và đúng quy trình.

Theo Nghị định 60/2009/NĐ-CP, mức xử phạt hành chính đối với lĩnh vực luật sư có mức thấp nhất là 500.000 đồng, cao nhất lên đến 20.000.000 đồng Do đó, không thể áp dụng thủ tục xử phạt đơn giản trong các trường hợp này, mà cần tuân thủ quy định pháp luật chặt chẽ để đảm bảo đúng quy trình và quyền lợi của các bên liên quan.

Tác giả đồng tình với ý kiến cho rằng mức phạt tiền 200.000 đồng theo thủ tục đơn giản còn quá thấp, nhiều trường hợp vi phạm chưa thể bị xử phạt theo hình thức này do mức xử phạt quá nhẹ Hơn nữa, xu hướng chung của các Nghị định quy định về xử phạt là nâng mức phạt tiền, khiến mức 200.000 đồng trở nên không còn phù hợp và thiếu ý nghĩa trong thực tiễn xử lý vi phạm.

1.2.7.2 Thủ tục lập biên bản

Người có thẩm quyền thi hành nhiệm vụ công vụ cần lập biên bản vi phạm hành chính kịp thời, trừ trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 200.000 đồng Thủ tục này áp dụng chung cho các lĩnh vực tư pháp, bao gồm cả lĩnh vực luật sư, nhằm đảm bảo tính minh bạch và đúng quy trình xử lý vi phạm.

Việc lập biên bản vi phạm hành chính theo Điều 52 Nghị định 60/2009/NĐ-CP quy định rõ người có thẩm quyền lập biên bản trong lĩnh vực tư pháp Cụ thể, người có thẩm quyền bao gồm các cán bộ, công chức, công chứng viên, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và người thi hành án trong lĩnh vực tư pháp Những đối tượng này đều có nhiệm vụ thi hành công vụ theo đúng quy định pháp luật.

Quy định hiện hành chưa cụ thể hóa thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với hoạt động hành nghề luật sư, dẫn đến những bất cập do tính chất chung cho tất cả các lĩnh vực tư pháp Theo quy định này, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính là các cán bộ, công chức đang thi hành nhiệm vụ, công vụ trong lĩnh vực tư pháp, bao gồm cả những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật sư Tuy nhiên, các cơ quan như Thi hành án hay Công chứng viên không thuộc đối tượng có thẩm quyền này.

21 Trương Khánh Hoàn (2011), “Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính”, Nghiên cứu lập pháp,(20), tr 31

Điều 52 của Nghị định 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp, trong đó người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động nghề luật sư phải tuân thủ đúng quy định Việc lập biên bản vi phạm hành chính phải thực hiện theo quy định tại Điều 55 của Pháp lệnh 2002 và Điều 22 của Nghị định số 128/2008/NĐ-CP nhằm đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong xử lý vi phạm hành chính.

Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính, tương tự như Điều 55 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 Tuy nhiên, luật còn bổ sung quy định: trong trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính, biên bản sẽ được gửi cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của họ để đảm bảo quyền giám hộ và xử lý phù hợp. -Cần viết lại bài về Luật xử lý vi phạm hành chính? Chúng tôi giúp bạn tóm tắt chính xác và chuẩn SEO, nhanh chóng!

Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 (Sau đây gọi tắt là Pháp lệnh

2002), Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Sau đây gọi tắt là Luật

Quá trình phát triển của pháp luật về luật sư và về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư

1.3.1.1 Giai đoạn trước năm 1945 Ở Việt Nam từ năm 1930 trở về trước, các luật sư người Pháp độc quyền làm nghề bào chữa Sắc lệnh ngày 25/5/1930 thực dân Pháp mới cho tổ chức Hội đồng luật sư ở Hà Nội và Sài Gòn có người Việt Nam tham gia, nhưng phải tuân theo các điều kiện sau:

- Phải tốt nghiệp đại học luật khoa;

Để trở thành luật sư thực thụ, người luật sư cần phải trải qua quá trình tập sự tại một văn phòng biện hộ trong vòng 5 năm dưới sự hướng dẫn của luật sư chính thức Sau đó, họ phải tham gia sát hạch và được Hội đồng luật sư công nhận mới có quyền mở văn phòng riêng và tiếp nhận khách hàng Trước khi chính thức trở thành luật sư thực thụ, người luật sư phải tuyên thệ trước Tòa án thực dân cam kết không làm điều gì trái pháp luật và trung thành hoàn toàn với chế độ thực dân.

1.3.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1987

Chỉ hơn một tháng sau khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 để tổ chức đoàn thể luật sư Sắc lệnh này giữ nguyên tổ chức luật sư cũ, đồng thời có một số sửa đổi phù hợp với tình hình mới, trong đó đáng chú ý là quy định về điều kiện công nhận luật sư Người muốn được ghi tên vào danh sách luật sư phải đáp ứng các điều kiện nhất định để đảm bảo tiêu chuẩn hành nghề và năng lực chuyên môn.

- Có quốc tịch Việt Nam, bất luận nam hay nữ;

- Có bằng cử nhân luật;

- Đã làm luật sư trong 3 năm (kể từ ngày tuyên thệ) ở một văn phòng luật sư thực thụ trong nước Việt Nam;

- Được bằng chứng rằng đã hết thời hạn tập sự và đủ tư cách làm luật sư thực thụ

Vào ngày 22/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 217/SL, cho phép các Thẩm phán đệ nhị cấp (tỉnh và khu) có bằng luật khoa cử nhân được bổ nhiệm sau ngày 19/8/1945 có thể hành nghề luật sư mà không cần tập sự tại văn phòng luật sư Sắc lệnh này ra đời nhằm thích nghi với tình hình thực tế, khi số lượng luật sư ở nước ta lúc đó rất ít và các văn phòng luật sư hầu như đều ngưng hoạt động do chiến tranh.

Năm 1972, Ủy ban pháp chế của Chính phủ được thành lập, đến năm

Năm 1974, Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao công tác quản lý văn phòng Luật sư cho ủy ban pháp chế của Chính phủ theo Nghị định 190/CP ngày 09/12/1972 của Hội đồng Chính phủ Việc này nhằm mục đích thống nhất công tác pháp chế của Hội đồng Chính phủ, đảm bảo quản lý chặt chẽ và hiệu quả các hoạt động pháp lý liên quan đến luật sư và văn phòng luật sư trong toàn quốc.

Năm 1981 Bộ Tư pháp được tái lập và ngày 31/10/1983 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 691/QLTPK hướng dẫn về công tác bào chữa

Trong giai đoạn này, pháp luật chưa có quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với luật sư

1.3.1.3 Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2001

Trong giai đoạn này, nhà nước ta ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của luật sư, nổi bật là hai pháp lệnh luật sư năm 1987 và năm 2000, nhằm hoàn thiện hệ thống luật pháp về nghề luật sư Các pháp lệnh này đã đặt nền móng cho việc quy định rõ ràng về quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của luật sư, góp phần nâng cao vai trò của luật sư trong hệ thống pháp luật Việt Nam Việc ban hành các văn bản pháp luật mới cũng giúp thể chế hóa các nguyên tắc nghề nghiệp, tăng cường công nhận và bảo vệ quyền lợi của luật sư trong thực thi chức năng của mình.

Năm 2001 có hai văn bản quan trọng điều chỉnh hoạt động hành nghề của luật sư Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 đã thiết lập cơ sở pháp lý vững chắc cho sự hình thành và phát triển đội ngũ luật sư Để hướng dẫn thi hành pháp lệnh này, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành "Quy chế Đoàn luật sư" kèm theo Nghị định 15/HĐBT ngày 21/02/1989 Bộ Tư pháp cũng đã ban hành Thông tư 313/TT/LS ngày 15/4/1989 để hướng dẫn thực hiện quy chế này, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp lý cho hoạt động nghề luật sư tại Việt Nam.

Vào ngày 27/5/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 143-CP về điều lệ phạt vi cảnh nhưng không quy định các hành vi vi phạm và xử phạt trong hoạt động của luật sư Đến ngày 06/7/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 200-HĐBT về sửa đổi, bổ sung điều lệ phạt vi cảnh, nhưng vẫn thiếu quy định về hành vi vi phạm và xử phạt trong hoạt động hành nghề của luật sư.

Pháp lệnh Luật sư năm 1987 hiện tại chưa quy định rõ về hành vi vi phạm và các biện pháp xử lý đối với luật sư phạm luật Thay vào đó, luật chỉ đề cập đến việc khen thưởng và kỷ luật đối với Đoàn Luật sư và luật sư thông qua Quy chế Đoàn Luật sư Điều này cho thấy cần có các quy định rõ ràng hơn để xử lý các hành vi vi phạm của luật sư nhằm đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật và nâng cao đạo đức nghề nghiệp luật sư.

Ngày 08/7/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 42/CP quy định về hoạt động tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời xác định các hành vi vi phạm hành chính của luật sư và tổ chức luật sư nước ngoài hoạt động tại quốc gia này Theo nghị định này, mức xử phạt hành chính đối với vi phạm có thể từ 2.000 USD đến 20.000.000 USD, thể hiện sự nghiêm minh trong việc quản lý và bảo vệ hoạt động hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam.

Bộ Tư pháp có thẩm quyền xử phạt tiền từ 5.000 USD trở lên, áp dụng biện pháp đình chỉ hành nghề có thời hạn đối với chi nhánh của tổ chức luật sư nước ngoài và luật sư nước ngoài, đồng thời thu hồi giấy phép đối với chi nhánh của tổ chức luật sư nước ngoài, cũng như cấm hành nghề đối với luật sư nước ngoài Trong khi đó, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền phạt tiền dưới 5.000 USD đối với các vi phạm theo quy định của Nghị định này.

Sau 3 năm triển khai thực hiện Nghị định 42/CP năm 1995 đã bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với tình hình thực tế nên ngày 10/11/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 92/1998/NĐ-CP quy định về hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam thay thế cho Nghị định 42/CP Trong Nghị định đã không còn quy định thẩm quyền xử phạt bằng tiền của Bộ Tư pháp mà Bộ Tư pháp chỉ được áp dụng hình thức đình chỉ hành nghề có thời hạn, cấm hành nghề tư vấn pháp luật tại Việt Nam đối với luật sư nước ngoài và tước quyền sử dụng Giấy phép đặt chi nhánh của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam theo đề nghị của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 25

UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền xử phạt vi phạm, bao gồm cảnh cáo và phạt tiền với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng Ngoài ra, cơ quan này còn đề nghị Bộ Tư pháp tước quyền sử dụng giấy phép đặt chi nhánh, có thể tước có thời hạn hoặc không thời hạn, theo quy định tại Điều 43 Nghị định 92/2008/NĐ-CP.

24 Điều 24 Pháp lệnh tổ chức Luật sư năm 1987

Theo Điều 42 Nghị định 92/1998/NĐ-CP ngày 10/11/1998 của Chính phủ, tổ chức luật sư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam phải tuân thủ quy định pháp luật về hành nghề tư vấn pháp luật Ngày 30/11/1989, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, có hiệu lực từ ngày 01/01/1990, quy định về nguyên tắc, hình thức xử lý, thẩm quyền và thủ tục xử lý vi phạm hành chính Tuy nhiên, pháp luật này chỉ mang tính chất quy định chung, còn thẩm quyền quy định hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và các hình thức xử lý được giao cho Hội đồng Bộ trưởng Hiện tại, chưa có văn bản nào quy định rõ các hình thức, biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hoạt động hành nghề của luật sư, dẫn đến việc chưa thực hiện xử lý vi phạm trong thực tế.

Sau gần 6 năm thực hiện, Pháp lệnh năm 1989 ngày càng không còn phù hợp với thực tiễn phát triển, dẫn đến việc ngày 06/7/1995, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh mới nhằm thay thế và điều chỉnh những quy định cũ, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế của thời kỳ đó.

THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Ngày đăng: 14/08/2023, 06:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Nghị định số 87/2003/NĐ-CP ngày 22/7/2003 của Chính phủ quy định về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 87/2003/NĐ-CP
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2003
22. Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 76/2006/NĐ-CP
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2006
23. Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật luật sư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 28/2007/NĐ-CP
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2007
24. Nghị định số 131/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính Phủ hướng dẫn thi hành các quy định của Luật luật sư về tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 131/2008/NĐ-CP
Nhà XB: Chính Phủ
Năm: 2008
27. Nghị định số 05/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2012/NĐ-CP
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2012
32. Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
34. Quyết định số 1747/QĐ-BTP ngày 09/7/2009 của Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1747/QĐ-BTP
Nhà XB: Bộ Tư pháp
Năm: 2009
36. Chỉ thị số 16/2010 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về tăng cường thực hiện Nghị định số 60/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp;II. Sách báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 16/2010 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về tăng cường thực hiện Nghị định số 60/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp
37. Nguyễn Hoàng Anh (2007), Quy định xử lý vi phạm hành chính phải phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi, Nghiên cứu lập pháp, (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định xử lý vi phạm hành chính phải phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2007
38. Nguyễn Thanh Bình (2006), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Đại học Huế, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Đại học Huế
Năm: 2006
39. C.Mác-Ph.Ăng-ghen(1980), Tuyển tập, tập I, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập I
Tác giả: C.Mác-Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1980
40. Trần Minh Hương (2008), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam
Tác giả: Trần Minh Hương
Nhà XB: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2008
41. Học viện Tư pháp (2010), Tập bài giảng nghiệp vụ luật sư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng nghiệp vụ luật sư
Tác giả: Học viện Tư pháp
Năm: 2010
42. Nguyễn Đăng Dung (2011), Về pháp luật xử lý hành chính của Việt Nam, Nghiên cứu lập pháp (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về pháp luật xử lý hành chính của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2011
43. Nguyễn Thanh Hà (2011), Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong dự án Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghiên cứu lập pháp (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong dự án Luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2011
44. Phan Trung Hoài (2004), Vấn đề hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam
Tác giả: Phan Trung Hoài
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
45. Phan Trung Hoài (2004), Sổ tay Luật sư, Nxb. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Luật sư
Tác giả: Phan Trung Hoài
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2004
46. Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Nghiên cứu lập pháp (21) tr.35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2011
47. Nguyễn Cảnh Hợp, Cao Vũ Minh (2011), Hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính từ kinh nghiệm của Liên bang Nga, Nghiên cứu lập pháp, (18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính từ kinh nghiệm của Liên bang Nga
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hợp, Cao Vũ Minh
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2011
48. Trương Khánh Hoàn (2011), Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong Dự án Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghiên cứu lập pháp,(20) tr.31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong Dự án Luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Trương Khánh Hoàn
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w