KHÁI QUÁT VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM
Khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
Hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự quan trọng trong đời sống hàng ngày, từ những giao dịch nhỏ như mua bán rau đến những hợp đồng lớn như chuyển nhượng đất đai Nó là công cụ hiệu quả giúp các chủ thể đạt được lợi ích mong muốn, miễn là các điều khoản trong hợp đồng thực sự được thực hiện trong thực tế, ví dụ như người bán nhận tiền và người mua sở hữu hàng hóa Để đảm bảo các quyền lợi này, hợp đồng cần có hiệu lực pháp lý bắt đầu từ thời điểm có hiệu lực, đây chính là mốc thời gian quyết định hiệu quả của hợp đồng trong giao dịch.
Luật Dân sự năm 2005 không quy định rõ khái niệm về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, chỉ nêu rằng hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ khi có thỏa thuận hoặc quy định pháp luật khác Điều 405 BLDS đề cập đến các mốc thời gian hợp đồng có hiệu lực, nhưng không trình bày một cách tổng thể nội dung của thời điểm này Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng điều luật này quá ngắn gọn, thiếu các thông tin cần thiết để xác định chính xác thời điểm hợp đồng có hiệu lực.
Thời điểm là khoảng thời gian cực ngắn được xác định chính xác như một điểm trên trục thời gian, ví dụ tại thời điểm 9 giờ 30 phút Hợp đồng có hiệu lực được định nghĩa là giá trị pháp lý của hợp đồng phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên, đồng thời tạo ra giá trị pháp lý ràng buộc các bên phải tuân thủ và thực hiện nghiêm túc Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định chính xác thời điểm bắt đầu hiệu lực để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên.
Lê Minh Hùng trong nghiên cứu tổng quát về những bất cập và định hướng hoàn thiện các quy định chung về hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2005 đã chỉ ra những hạn chế cần được sửa đổi để phù hợp với thực tiễn phát triển của pháp luật Việt Nam Các nội dung chính bao gồm việc nhận diện các điểm cần cải thiện nhằm tăng cường tính rõ ràng, minh bạch và công bằng trong các quy định về hợp đồng, từ đó góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Nghiên cứu cũng đề xuất các hướng hoàn thiện dựa trên kinh nghiệm nước ngoài và các bài học rút ra từ quá trình sửa đổi Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005.
2 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển T iếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2005, tr 956
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa chỉ đào tạo luật uy tín tại Việt Nam Theo giáo trình "Pháp luật Hợp đồng và Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" do Nhà xuất bản Hồng Đức và Hội Luật gia Việt Nam phát hành năm 2013, trang 246, việc hiểu rõ các quy định về hợp đồng và bồi thường thiệt hại là điều kiện cần thiết để nâng cao kiến thức pháp luật trong lĩnh vực này Các nội dung trong giáo trình giúp sinh viên và nhà nghiên cứu hiểu rõ các nguyên tắc pháp luật liên quan, từ đó áp dụng đúng đắnr vào thực tiễn giải quyết các tranh chấp hợp đồng và thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trang 6 như “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là mốc để xác định thời điểm khởi lưu của hiệu lực hợp đồng.” 4 hay “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm mà kể từ đó các bên trong hợp đồng buộc phải thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết” 5 Những ý kiến này đều có điểm chung là khi xem xét thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chính là lúc các bên trong hợp đồng chịu sự ràng buộc với những thỏa thuận mà họ đã thống nhất
Về mặt pháp lý, hợp đồng chỉ có hiệu lực khi tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về hợp đồng, và thời điểm hiệu lực chính là thời điểm pháp luật công nhận hợp đồng đó, đồng thời xác nhận ràng buộc pháp lý giữa các bên Ví dụ, ngày 15/01/2014, A và B thống nhất chuyển nhượng 500m² quyền sử dụng đất, lập hợp đồng bằng văn bản và thống nhất ngày 01/02/2014 là ngày hợp đồng có hiệu lực Tuy nhiên, theo Điều 692 Bộ luật Dân sự và Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai, việc chuyển quyền sử dụng đất chỉ có hiệu lực khi được đăng ký theo quy định của pháp luật về đất đai, nghĩa là quyền sử dụng đất sẽ chính thức có hiệu lực sau khi đăng ký đúng quy định của pháp luật.
Từ năm 2013, quy định nêu rõ rằng việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai để có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính Trong ví dụ về hợp đồng giữa A và B, nếu hợp đồng chỉ lập bằng văn bản mà chưa công chứng, chứng thực và chưa đăng ký vào sổ địa chính thì hợp đồng đó chưa có hiệu lực pháp luật về mặt đất đai Do đó, để hợp đồng có hiệu lực pháp lý phù hợp quy định của Luật đất đai, các bên cần thực hiện đầy đủ các thủ tục đăng ký đất đai theo quy định tại Điều phù hợp.
Hợp đồng giữa A và B chưa đủ điều kiện để có hiệu lực theo quy định của Luật Dân sự năm 2005 Dù hai bên đã thực hiện các phần công việc theo thỏa thuận từ ngày 01/02/2014, pháp luật chưa công nhận thời điểm đó là thời điểm hợp đồng có hiệu lực Do đó, hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực pháp lý vì chưa đáp ứng các điều kiện cần thiết để tạo ra sự ràng buộc pháp lý giữa các bên.
Thời điểm hợp đồng có hiệu lực là khi hợp đồng trở thành giá trị pháp lý, từ đó phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự Đây là thời điểm các bên phải tuân thủ và thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng Việc xác định chính xác thời điểm hợp đồng có hiệu lực là rất quan trọng để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên được thực thi đúng quy định pháp luật.
4 Lê Minh Hùng, Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sỹ, năm 2011, tr.85
5 Phạm Văn Tuyết, “Các thời điểm trong hợp đồng dân sự”, Tạp chí Luật học số 5/2011, tr.50
Theo định nghĩa trên, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch Tuy nhiên, để xác định chính xác thời điểm hợp đồng có hiệu lực trong từng trường hợp cụ thể, cần dựa vào các quy định về thời điểm có hiệu lực do Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định Điều này giúp đảm bảo tính rõ ràng và đúng pháp luật trong quá trình thực thi hợp đồng.
Các thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005
Theo Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2005, hợp đồng hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ khi có thỏa thuận khác hoặc quy định pháp luật khác Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định dựa trên ba mốc quan trọng: thời điểm ký kết hợp đồng, thời điểm thực hiện nghĩa vụ hoặc theo các quy định cụ thể trong hợp đồng Việc hiểu rõ các thời điểm này giúp đảm bảo tính pháp lý và hiệu lực của các giao dịch dân sự.
+Thời điểm hợp đồng được giao kết;
+ Thời điểm do các bên thỏa thuận;
+ Thời điểm theo quy định của pháp luật
Thời điểm giao kết là một trong ba mốc thời gian quan trọng xác định hiệu lực của hợp đồng Để xác định thời điểm này, cần đáp ứng hai điều kiện chính: thứ nhất, các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không quy định gì khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng; thứ hai, hợp đồng phải được giao kết hợp pháp Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa có quy định rõ ràng về việc hợp đồng được xem là hợp pháp, tuy nhiên, trên cơ sở pháp lý, hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự, và việc xác định hợp đồng có hợp pháp hay không có thể dựa vào các điều kiện hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Để một giao dịch dân sự có hiệu lực, người tham gia cần có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, mục đích và nội dung của giao dịch phải không vi phạm pháp luật hay đạo đức xã hội, và họ phải hoàn toàn tự nguyện tham gia giao dịch Ngoài ra, hình thức của giao dịch dân sự cũng là điều kiện bắt buộc để đảm bảo hiệu lực của giao dịch nếu pháp luật quy định Đặc biệt, để hợp đồng có hiệu lực, các yếu tố về năng lực chủ thể và nội dung của hợp đồng phải được đảm bảo phù hợp theo quy định của pháp luật.
6 Đối với vấn đề này, tác giả sẽ đi nghiên cứu sâu ở những phần 1.2.1 và 1.2.3
7 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia
Hợp đồng hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện về hiệu lực theo quy định của Bộ luật Dân sự, được xác định dựa trên các tiêu chuẩn về giao dịch dân sự Các điều kiện này đảm bảo tính hợp pháp và phù hợp với quy định pháp luật để hợp đồng có giá trị thực thi Việc xác định hợp đồng có hiệu lực còn liên quan đến các yếu tố như chủ thể, nội dung, nguyên tắc tự do thỏa thuận và không vi phạm điều cấm của pháp luật, như đã đề cập trong tài liệu của TP.HCM năm 2007.
Trang 8 đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; người tham gia hợp đồng tự nguyện trong giao kết và đáp ứng yêu cầu hình thức khi pháp luật quy định và khi đáp ứng những điều kiện này thì hợp đồng được giao kết hợp pháp Như vậy, “kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng giao kết và nếu vào thời điểm đó mà hợp đồng thỏa mãn các điều kiện về hiệu lực hợp đồng, thì hợp đồng có giá trị ràng buộc các bên nếu không có thỏa thuận khác” 8
Giao kết hợp đồng là bước đầu tiên trong quá trình xác lập quan hệ hợp đồng, mặc dù Bộ luật dân sự năm 2005 không đưa ra định nghĩa cụ thể về quá trình này Theo Từ điển luật học, giao kết hợp đồng được định nghĩa là việc các bên thể hiện ý chí để cùng nhau xác lập hợp đồng qua quá trình bàn bạc, thương lượng theo các nguyên tắc và trình tự do luật định nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Để hợp đồng trở thành hợp pháp, quá trình giao kết yêu cầu hai bước chính: đề nghị giao kết và chấp thuận đề nghị đó, trong đó thời điểm hợp đồng được coi là đã giao kết là thời điểm các bên hoàn thành các trình tự, thống nhất các điều khoản và đi đến thỏa thuận cuối cùng, theo quy định tại Điều 404 của Bộ luật dân sự năm 2005.
Năm 2005 quy định các thời điểm giao kết hợp đồng dân sự như sau: hợp đồng được xem là đã giao kết khi bên đề nghị nhận được câu trả lời chấp nhận; nếu bên đề nghị im lặng sau khi hết thời hạn trả lời, hợp đồng vẫn được coi là đã giao kết nếu có thỏa thuận về việc im lặng là sự chấp nhận; thời điểm giao kết bằng lời nói là khi các bên đã thống nhất về nội dung hợp đồng; và thời điểm giao kết bằng văn bản là khi bên sau cùng ký vào tài liệu hợp đồng.
1.2.2.1 Thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị giao kết
Theo khoản 1 Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2005, thời điểm giao kết hợp đồng là khi bên đề nghị nhận được phản hồi chấp nhận đề nghị giao kết Nội dung phản hồi này cần phản ánh sự chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị để xác định chính xác thời điểm hợp đồng được hình thành.
8 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Sdđ, tr.388
9 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Từ điển Luật học, Nxb Khoa học pháp lý- Nxb Từ điển bách khoa, 2006, tr.276
Đặng Thị Diệu Vân nhấn mạnh rằng việc giao kết hợp đồng bằng văn bản theo quy định của pháp luật hiện hành là yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch Khóa luận còn phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quá trình hình thành hợp đồng bằng văn bản, nhằm nâng cao hiệu quả pháp lý và tránh rủi ro pháp lý Việc tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hợp đồng giúp đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia ký kết Đồng thời, nghiên cứu cũng đề cập đến những thách thức và giải pháp trong việc thực thi hợp đồng bằng văn bản trong thực tiễn hiện nay.
Trang 9 dung đề nghị của bên đề nghị Quy định về thời điểm giao kết đã thể hiện, BLDS Việt Nam cũng như một số nước thuộc hệ thống pháp luật Châu âu lục địa, xem hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị giao kết Trong khi đó, các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ theo “thuyết tống phát”- coi thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng gửi chấp nhận đề nghị đi Chẳng hạn, Điều 526 BLDS Nhật Bản quy định: “Hợp đồng được ký kết giữa những người vắng mặt có hiệu lực từ thời điểm thông báo chấp nhận đã được gửi đi” Ví dụ, ngày 5/1/2014, A gửi đề nghị bán cho B một lô hàng Ngày 10/1/2014, B gửi thư qua bưu điện cho A về việc đồng ý mua lô hàng mà A đã đề nghị Ngày 13/1/2014, A mới nhận được thư chấp nhận của B Theo quy định của BLDS năm 2005 thì thời điểm giao kết là ngày 13/1/2014, đây là một quy định phù hợp vì việc áp dụng nguyên tắc “nhận” thích hợp hơn so với nguyên tắc “gửi” là do rủi ro trong quá trình truyền đạt thông tin thường xảy ra đối với người nhận hơn là người đưa ra đề nghị Đối với vấn đề này, một chuyên gia đã nhận định về quy định thời điểm giao kết này “BLDS năm 2005 xác định thời điểm giao kết hợp đồng trên cơ sở công nhận hiệu lực của cam kết, thỏa thuận giữa các bên, không phụ thuộc vào hình thức, thủ tục của hợp đồng Xuất phát từ đó, BLDS quy định nguyên tắc chung đó là hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết” 11 Như vậy, các bên giao kết có quyền lựa chọn bất kỳ hình thức giao kết nào xem là phù hợp để tiến hành giao kết hợp đồng vì “hình thức của hợp đồng được hiểu là phương thức ký kết, phương tiện ghi nhận nội dung thỏa thuận của các bên Nó có thể là thủ tục ký kết hợp đồng hoặc hình thức thể hiện thỏa thuận của các bên” 12 Tuy nhiên, quy định thời điểm giao kết hợp đồng dựa trên hình thức đôi khi đem lại kết quả không như mong muốn
1.2.2.2 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói
Khoản 3 Điều 404 đã quy định thời điểm giao kết bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung hợp đồng Tuy nhiên, khi nào thì đã thỏa thuận nội dung của hợp đồng Điều 402 BLDS năm 2005 đã đưa ra bảy nội dung cơ bản của hợp đồng Ngoài bảy nội dung này, hợp đồng có thể thỏa thuận thêm những nội dung khác,
“nhưng có điều lưu ý là, quy định tại Điều 402 BLDS năm 2005 chỉ mang tính hướng
11 Đinh Trung Tụng (chủ biên), Bình luận những nội dung mới của BLDS năm 2005, Nxb Tư pháp, 2005, tr 62
12 Phạm Hoàng Giang, “Ảnh hưởng điều kiện hình thức hợp đồng đến hiệu lực hợp đồng”, Tạp chí Nhà nước &
Trang 10 dẫn thuần túy mà thôi” 13 Như vậy, khi thỏa thuận xong tất cả các nội dung thì hợp đồng mới có hiệu lực hay chỉ khi đã thỏa thuận các nội dung các bên cho là cần thiết Cách diễn đạt ở khoản 3 Điều 404 sẽ khó thống nhất về cách hiểu Nhìn lại khoản 2 Điều 14 của Pháp lệnh hợp đồng 1991 đã quy định cụ thể hơn BLDS năm 2005: “Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là thời điểm các bên thoả thuận về nội dung chủ yếu của hợp đồng” Pháp lệnh này đưa ra thời điểm giao kết hợp đồng là khi thỏa thuận về nội dung chủ yếu chứ không phải thỏa thuận nội dung một cách chung chung như BLDS năm 2005 Có thể làm rõ vấn đề này thông qua ví dụ sau: Bình có ý định bán một con bò, Nam biết được và hẹn Bình gặp để xem bò và thỏa thuận Ngày 1/2/2014, hai bên gặp nhau, Nam đồng ý mua con bò của Bình với giá 15 triệu đồng Ngày 5/2/2014, Nam gọi điện cho Bình để hỏi chi tiết về việc giao tiền và nhận bò Trong trường hợp này thời điểm giao kết hợp đồng là ngày 1/2/2014 khi các bên thống nhất mua bán con bò hay ngày 5/2/2014 khi các bên trao đổi chi tiết về vấn đề thực hiện hợp đồng Thiết nghĩ, thời điểm giao kết hợp đồng giữa Bình và Nam là ngày 1/2/2014 Ngày các bên thỏa thuận xong những nội dung cần thiết đối với các bên để giao kết hợp đồng Theo như một quan điểm nhận định về sự quan trọng của nội dung chủ yếu: “Nếu như chỉ thiếu một vài điều khoản tại Điều 402 BLDS năm 2005 nhưng điều khoản đó là thuộc nội dung chủ yếu của hợp đồng (như điều khoản về đối tượng hợp đồng chẳng hạn) thì không thể hình thành hoặc giao kết hợp đồng” 14 Vì vậy, thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói nên được xem là thời điểm các bên thỏa thuận nội dung chủ yếu của hợp đồng theo ý kiến của một chuyên gia “khi các bên chưa nói chi tiết về phương thức cụ thể của việc thực hiện hợp đồng và các phương thức này có pháp luật quy định thì coi như hợp đồng đã được giao kết tại thời điểm các bên đã thỏa thuận những nội dung cơ bản của hợp đồng chứ không phụ thuộc vào thời điểm các bên nêu chi tiết các phương thức thực hiện hợp đồng” 15
1.2.2.3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản
Khi giao kết hợp đồng bằng văn bản, thời điểm giao kết được xác định là khi bên sau cùng ký vào văn bản theo khoản 4 Điều 404 Tuy nhiên, quy định này còn thiếu rõ ràng, gây ra những hiểu biết khác nhau khi áp dụng Do đó, cần làm rõ hơn về thời điểm giao kết hợp đồng để đảm bảo quá trình thực hiện đúng quy định pháp luật và tránh tranh chấp phát sinh.
13 Nguyễn Ngọc Khánh, “Những điểm mới cơ bản về hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2005”, Tạp chí Kiểm sát số/2006, tr.22
14 Nguyễn Ngọc Khánh, Sdđ, tr.22
15 Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, Nxb CTQG, 2011, tr.22
Trang 11 nhất, thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản chỉ được áp dụng với trường hợp mà quy định pháp luật bắt buộc loại hợp đồng đó phải lập thành văn bản Điều này có nghĩa các loại hợp đồng mà hình thức không bắt buộc lập thành văn bản thì không dùng điều khoản này để xác định thời điểm giao kết hợp đồng Ví dụ, hợp đồng thuê nhà ở dưới 6 tháng phải lập thành văn bản Trong trường hợp này, thời điểm nào bên sau cùng ký vào hợp đồng thuê nhà sẽ được xem là thời điểm giao kết hợp đồng Cách hiểu thứ hai, không phân biệt loại hợp đồng có bắt buộc bằng văn bản hay không, mà phụ thuộc vào hình thức của lời đề nghị do người đề nghị đưa ra Nếu người đề nghị đưa ra đề nghị bằng văn bản cho người được đề nghị, thì hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản Tuy nhiên, xét với thực tế thì cách hiểu này không hợp lý Bởi vì, đôi khi bên đưa ra đề nghị bằng văn bản Ngược lại, người nhận được đề nghị có thể vì sự thuận tiện đã thể hiện sự chấp nhận bằng một cuộc điện thoại thể hiện sự chấp nhận giao kết của mình mà không phải trả lời bằng văn bản cho bên đề nghị Hơn nữa, có thể bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị dưới hình thức bằng văn bản như qua email hay tin nhắn trên điện thoại mà không phải là ký vào văn bản do bên đề nghị đưa ra Nếu đối chiếu với khoản 4 Điều 404 thì trong trường hợp này, hợp đồng chưa được giao kết Mặc dù, ý chí của hai bên đã thống nhất trong việc giao kết hợp đồng Trong khi khoản 1 Điều 404 khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị thì từ thời điểm đó hợp đồng được giao kết Điều này sẽ tạo nên sự mâu thuẫn trong cùng một Điều luật.
Hiện nay, việc đề nghị, trao đổi, thỏa thuận giữa các chủ thể chủ yếu diễn ra qua các phương tiện điện tử như fax, email, tin nhắn nhằm tiết kiệm chi phí và thời gian khi các bên có thể ở xa nhau Giao kết hợp đồng bằng phương thức điện tử ngày càng phổ biến và tuân thủ theo quy định của Luật Giao dịch điện tử 2005, dù Điều 404 của Bộ luật Dân sự 2005 không đề cập rõ về thời điểm giao kết hợp đồng điện tử Theo Điều 36 của Luật Giao dịch điện tử 2005, đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể thực hiện qua thông điệp dữ liệu trừ khi các bên có thỏa thuận khác Thông báo qua thông điệp dữ liệu trong hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý tương đương thông báo truyền thống, và thời điểm nhận thông điệp được xác định khi người nhận đã chỉ định hệ thống thông tin để nhận thông điệp.
So sánh thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS năm
1995 với BLDS năm 2005 Điều 404, Điều 405 BLD năm 2005 và Điều 403, Điều 404 của BLDS năm
Năm 1995 đánh dấu các điều luật liên quan đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, tạo nền tảng pháp lý cho quá trình thực thi hợp đồng Mặc dù có các trường hợp cụ thể quy định điểm có hiệu lực của hợp đồng nằm rải rác trong các điều khoản của hợp đồng thông dụng, nhưng quy định chung vẫn đặt ra nguyên tắc cơ bản Các điều luật này xác định rõ ràng thời điểm hợp đồng bắt đầu có hiệu lực để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên được thực thi đúng pháp luật.
Trang 23 điều luật nêu trên nên tác giả chỉ tập trung so sánh các Điều luật này để thấy được điểm giống và khác về quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, từ đó, làm rõ sự thay đổi về việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong BLDS năm 2005
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được BLDS năm 1995 quy định tại Điều
Hợp đồng dân sự có hiệu lực bắt buộc đối với các bên khi được giao kết hợp pháp, như quy định tại Điều 404, khoản 1 Hiệu lực của hợp đồng bắt đầu kể từ thời điểm giao kết, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc quy định của pháp luật, theo Điều 404, khoản 3 Đồng thời, hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc huỷ bỏ nếu có thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật, theo Điều 404, khoản 2 Các quy định này nhằm đảm bảo tính rõ ràng và pháp lý của hợp đồng dân sự khi được hình thành.
Thời điểm giao kết hợp đồng dân sự được xác định khi các bên đã thống nhất về nội dung chính hoặc khi bên đề nghị nhận được phản hồi chấp nhận hoặc khi hết thời hạn phản hồi mà không có phản hồi, theo thỏa thuận về việc im lặng là sự chấp thuận Hợp đồng miệng được coi là đã giao kết khi các bên đã trực tiếp thỏa thuận về nội dung chủ yếu, còn hợp đồng bằng văn bản được coi là đã hoàn tất khi bên sau cùng ký vào văn bản Đối với các hợp đồng cần công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép, thời điểm giao kết là khi các thủ tục này đã được thực hiện thành công.
Theo BLDS năm 2005, hiệu lực của hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 405, nêu rõ rằng: "Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác." Thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo quy định tại Điều 404 của Bộ luật này.
Hợp đồng dân sự được xem là đã được giao kết khi bên đề nghị nhận được phản hồi chấp nhận hoặc khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận vẫn im lặng theo thỏa thuận về việc im lặng là chấp nhận Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là khi các bên đã thống nhất về nội dung hợp đồng.
4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản”
Nhìn chung, từ các quy định trên của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, chúng ta có thể thấy rằng:
Năm 2005, Bộ luật Dân sự (BLDS) vẫn quy định hai điều khoản riêng về thời điểm giao kết và có hiệu lực của hợp đồng Tuy nhiên, các quy định này đã được rút gọn trong BLDS hiện hành khi loại bỏ khoản 5 Điều 403 và khoản 2, khoản 3 Điều 404, góp phần đơn giản hóa nội dung pháp luật liên quan đến hiệu lực của hợp đồng.
1995 nên quy định tại Điều 405 BLDS năm 2005 gần như tương ứng với khoản 3 Điều
Năm 1995, Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định tại Điều 404 về nghĩa vụ và quyền của các bên trong hợp đồng, trong đó không đặt ra thời điểm các bên hoàn tất các nội dung thỏa thuận Tuy nhiên, đến năm 2005, BLDS không quy định rõ về thời điểm các bên thỏa thuận xong toàn bộ nội dung hợp đồng tại khoản 1 Điều 404, khác với quy định tại khoản 1 Điều 403 của BLDS năm 1995.
Xem xét từng Điều tương ứng về nội dung của BLDS năm 2005 và BLDS năm
Năm 1995, các quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng đều được xác định dựa trên ba mốc chính: thời điểm giao kết, thời điểm thỏa thuận hoặc thời điểm theo quy định của pháp luật Cả hai Bộ luật dân sự năm 1995 và 2005 đều không có sự khác biệt đáng kể trong quy định về thời điểm giao kết, trong đó BLDS 2005 giữ nguyên quy định về việc hợp đồng dân sự xem như giao kết khi bên nhận đề nghị im lặng sau khi hết thời hạn trả lời, nếu có thỏa thuận về im lặng là chấp nhận Tuy nhiên, điểm nổi bật của BLDS 2005 là đã bổ sung quy định về giao dịch qua phương tiện điện tử, xem như giao dịch bằng văn bản tại khoản 1 Điều 124, tăng cường khả năng pháp lý của các hợp đồng điện tử Dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng, Điều 404 của BLDS 2005 cần được bổ sung rõ ràng về thời điểm giao kết trong trường hợp này để xác định chính xác hơn thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Mặc dù giữ lại một số quy định của BLDS 1995, BLDS 2005 đã có những sửa đổi đáng kể nhằm hoàn thiện các quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nhằm phù hợp với bối cảnh pháp lý mới.
Hợp đồng dân sự theo Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991 quy định rằng hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ khi các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định khác Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là khi các bên đồng ý về nội dung chính của hợp đồng, trong khi hợp đồng bằng văn bản được xem là đã giao kết khi các bên ký vào đó Đặc biệt, nếu hợp đồng yêu cầu chứng thực của cơ quan công chứng Nhà nước, thì thời điểm giao kết là khi cơ quan này thực hiện chứng thực hợp đồng.
Thứ nhất, Điều 404 BLDS năm 2005 đã có một số thay đổi so với BLDS năm
Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định nguyên tắc chung về thời điểm giao kết hợp đồng, trong đó khoản 1 đưa ra nguyên tắc chung, còn khoản 2 trở đi quy định các trường hợp cá biệt Việc giữ lại đoạn “khi các bên đã thoả thuận xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng” không phù hợp với quy định trong khoản 3 của điều luật, vì khoản này xác định rõ thời điểm giao kết hợp đồng miệng là khi các bên đã thỏa thuận xong nội dung của hợp đồng Do đó, khoản 1 Điều 404 BLDS năm 2005 không quy định về thời điểm giao kết “khi các bên đã thoả thuận xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng”, phù hợp với nguyên tắc chung về thời điểm giao kết hợp đồng theo luật pháp Việt Nam.
Năm 2005, Bộ luật Dân sự (BLDS) không quy định rõ ràng về thời điểm giao kết hợp đồng có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký Điều này tạo ra sự khác biệt so với các quy định trước đó của BLDS, qua đó ảnh hưởng đến tính pháp lý và hiệu lực của các hợp đồng dân sự Việc bỏ qua quy định cụ thể về thời điểm giao kết trong BLDS năm 2005 yêu cầu các bên cần thực hiện các thủ tục phù hợp để đảm bảo tính hợp pháp của hợp đồng Đây là điểm cần lưu ý trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng để đảm bảo quyền và nghĩa vụ rõ ràng cho các bên liên quan.
Trong bài viết, có ý kiến cho rằng việc bỏ qua quy định về thời điểm giao kết hợp đồng trong BLDS năm 2005 xuất phát từ bản chất của hợp đồng dân sự là sự thống nhất ý chí tự nguyện và bình đẳng của các bên, ngay sau khi các bên đạt được thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện bằng lời nói hoặc ký vào văn bản, hợp đồng đã hình thành bất chấp thủ tục công chứng, chứng thực hay đăng ký Thời điểm này được xem như là thời điểm hợp đồng lập thành văn bản, đặc biệt khi các thủ tục này chỉ diễn ra sau, kéo dài và có thể gây ảnh hưởng đến quyền dân sự của các bên hoặc gây khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp Vì vậy, trong trường hợp hợp đồng có xác nhận của công chứng hoặc đăng ký, thời điểm giao kết được xác định là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản, như một đặc thù của hợp đồng văn bản phù hợp với quy định của pháp luật dân sự.
Điều 405 BLDS năm 2005 không quy định rõ về giá trị hiệu lực của hợp đồng, khác với Điều 1995 quy định rằng hợp đồng hợp pháp có hiệu lực bắt buộc với các bên và không thể thay đổi hay hủy bỏ nếu không có thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật Nếu xem xét tiêu đề của điều luật là “Hiệu lực của hợp đồng dân sự”, tương tự như Điều 404 của BLDS năm 1995, thì ý nghĩa về hiệu lực của hợp đồng dân sự vẫn cần được làm rõ để đảm bảo tính pháp lý chặt chẽ và phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
Năm 1995, quy định về hiệu lực hợp đồng thể hiện rõ hơn mối liên hệ giữa tiêu đề và nội dung điều luật Điều luật này nhấn mạnh tính ràng buộc của các bên đối với những gì đã thống nhất và thỏa thuận, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan được thực thi đúng pháp luật Việc này góp phần nâng cao tính minh bạch, chính xác và sự phù hợp giữa nội dung hợp đồng với quy định pháp luật, tạo nền tảng vững chắc cho các giao dịch dân sự.
30 Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, Nxb CTQG, 2009, tr.235
31 Hoàng Thế Liên, Sđd, tr.235
So sánh thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 với pháp luật nước ngoài
sự năm 2005 với pháp luật nước ngoài
Ngày nay, hầu hết các quốc gia đã thừa nhận tầm quan trọng của việc áp dụng các tư tưởng lập pháp tiến bộ để nâng cao hiệu quả xây dựng pháp luật quốc gia Việc tiếp thu và học hỏi pháp luật nước ngoài giúp xác định những ưu điểm và hạn chế của các quy định, từ đó so sánh với điều kiện trong nước để rút ra bài học kinh nghiệm Điều này không chỉ mang lại lợi ích lớn về mặt tiết kiệm ngân sách, do hoạt động lập pháp tiêu tốn nhiều chi phí về tài chính, nhân lực và thời gian, mà còn giúp giảm thiểu xung đột pháp luật trong các quan hệ đa chủ thể, đặc biệt khi liên quan đến các quan hệ hợp đồng giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài.
Pháp luật hợp đồng là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật, quy định rõ ràng về các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Các quy định này nhằm đảm bảo sự công bằng, minh bạch và ổn định trong các giao dịch dân sự và thương mại Thông qua pháp luật hợp đồng, các bên có thể xác định rõ các điều khoản, điều kiện thực hiện hợp đồng, đồng thời hạn chế tranh chấp phát sinh Việc nắm vững pháp luật hợp đồng giúp những người tham gia có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả.
Trang 27 ước quốc tế dành riêng cho hợp đồng như Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc, đến những quy định hợp đồng trong BLDS của Pháp, Liên bang Nga hay Nhật Bản, một số nước còn quy định về hợp đồng trong luật chuyên biệt như Luật Hợp đồng của Trung Quốc… So sánh quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong BLDS năm 2005 với pháp luật nước ngoài để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật nước ta với pháp luật nước ngoài qua đó, phần nào nhận thấy cái được và chưa được trong quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng của BLDS năm 2005 để có định hướng hoàn thiện trong tương lai, tạo nên “sự thay đổi của pháp luật quốc gia theo hướng phù hợp với sự thay đổi của pháp luật quốc tế” 32
1.4.3 Với Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế (Unidroit)
Theo Điều 2.1.1 và khoản 2 Điều 2.1.6 của Bộ nguyên tắc Unidroit, hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm bên đề nghị nhận được lời chấp nhận đề nghị giao kết, tương tự như quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 của Việt Nam Bên cạnh đó, cả hai văn bản pháp luật này đều xác định thời điểm hợp đồng có hiệu lực là thời điểm các bên đã thống nhất và bên đề nghị đã nhận được lời chấp nhận Tuy nhiên, ngoài những điểm tương đồng, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ nguyên tắc Unidroit cũng có những quy định khác nhau về một số điều kiện và thủ tục để hình thành hợp đồng.
Thứ nhất, Bộ Nguyên tắc Unidroit không có quy định tương tự như BLDS năm
Năm 2005, Luật Việt Nam xác định rõ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thông qua quy định tại Điều 405 và Điều 404 Cụ thể, thời điểm hợp đồng có hiệu lực được xác định dựa trên cách thức chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Khi bên đề nghị chấp nhận đề nghị, theo quy định này, thời điểm hợp đồng trở nên có hiệu lực sẽ được xác định dựa trên hình thức và thời điểm chấp nhận đó Đây là một quy phạm riêng biệt nhằm làm rõ các yếu tố quyết định sự có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật Việt Nam.
Lời nói, văn bản hoặc các hành vi cụ thể của bên được đề nghị thể hiện sự đồng ý với lời đề nghị giao kết, và do đó được coi là chấp nhận giao kết hợp đồng Trong khi đó, im lặng hoặc không hành động không thể coi là sự chấp nhận tự nhiên của bên đề nghị, vì chúng không thể hiện rõ ý muốn đồng ý.
2 Hợp đồng có hiệu lực khi bên đề nghị giao kết nhậnđược sự chấp thuận lời đề nghị giao kết.
3 Mặc dù vậy, nếu lời đề nghị giao kết hay qui ước đã được xác lập giữa đôi bên hoặc tập quán có quy định khác, bên nhận đề nghị có thể bày tỏ sự chấp nhận
32 Nguyễn Trung Tín, “Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa luật quốc tế và luật quốc gia trong bối cảnh hội nhập”, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 10/2006, tr.67
Theo Điều 2.1.1 của Bộ Nguyên tắc Unidroit, hợp đồng có thể được hình thành thông qua việc chấp nhận đề nghị hoặc qua hành vi thể hiện đầy đủ nội dung thỏa thuận của các bên Điều này nhấn mạnh rằng, hợp đồng không nhất thiết phải được ký kết bằng văn bản mà có thể dựa trên hành động minh chứng cho sự đồng thuận của các bên Việc hiểu rõ nguyên tắc này giúp đảm bảo tính linh hoạt và minh bạch trong quá trình giao kết hợp đồng theo luật quốc tế.
Trang 28 bằng việc thực hiện một công việc mà không cần phải thông báo cho bên đề nghị giao kết biết, sự chấp nhận có hiệu lực khi công việc đó được thực hiện” 34 Điều 2.1.6 đã đưa ra hai thời điểm xem như hợp đồng được giao kết dựa trên sự chấp nhận giao kết là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị từ bên được đề nghị hoặc thời điểm bên được đề nghị thực hiện hành vi thể hiện sự chấp nhận đề nghị Đối chiếu với Điều 404 BLDS năm 2005 ta thấy, Điều 404 đưa ra những thời điểm cụ thể đối với từng hình thức hợp đồng như hợp đồng giao kết bằng văn bản thì thờiđiểm giao kết thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản,…
Điều 404 BLDS năm 2005 không quy định người đề nghị có thể thể hiện sự chấp nhận của mình qua hành động cụ thể, và không có quy định tương tự tại khoản 3 Điều 2.1.6 của Bộ Nguyên tắc Unidroit về việc chấp nhận qua đề nghị giao kết, tập quán hoặc quy ước Theo Bộ Nguyên tắc Unidroit, bên chấp nhận có thể thể hiện bằng hành động, lời nói, cử chỉ hoặc văn bản tùy lựa chọn, phù hợp với tinh thần tự do của các bên trong đàm phán hợp đồng, đặc biệt trong các hợp đồng phức tạp và kéo dài Trong hoạt động thương mại, các bên có thể xác nhận rằng hợp đồng chưa được giao kết cho đến khi đạt được thỏa thuận rõ ràng về hình thức hợp đồng, và Bộ Nguyên tắc này quy định rằng thời điểm giao kết hợp đồng xảy ra bất kể hình thức nào, kể cả bằng hành vi cụ thể.
Theo quy định của BLDS năm 2005, thời điểm giao kết hợp đồng dựa trên hình thức hợp đồng và không phải lúc nào cũng là thời điểm hợp đồng có hiệu lực Nếu các bên thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực hoặc pháp luật có quy định khác, thì phải dựa vào những căn cứ đó để xác định ngày hiệu lực của hợp đồng Bộ nguyên tắc Unidroit chỉ đưa ra quy định rằng hợp đồng có hiệu lực khi bên đề nghị giao kết nhận được sự chấp thuận của lời đề nghị, do đó, thời điểm nhận được sự chấp thuận chính là thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực.
BLDS năm 2005 và Bộ nguyên tắc Unidroit đều quy định về việc im lặng trong quá trình chấp nhận hợp đồng Tuy nhiên, BLDS năm 2005 nhấn mạnh rằng im lặng có thể được xem là chấp nhận hợp đồng khi bên được đề nghị không phản hồi sau hết thời hạn quy định Điều này thể hiện rõ vai trò của im lặng như một hình thức chấp nhận hợp đồng trong một số trường hợp pháp lý nhất định.
34 Điều 2.1.6 Bộ nguyên tắc Unidroit
Trang 29 im lặng nếu có sự thỏa thuận giữa các bên im lặng là chấp nhận giao kết và thời điểm giao kết hợp đồng trong trường hợp này là thời điểm hết hạn trả lời đề nghị giao kết
Bộ nguyên tắc Unidroit quy định rằng, tại khoản 1 Điều 2.1.6, sự im lặng không thể được xem là sự chấp nhận hợp đồng, phản ánh quan điểm khác biệt so với các quy định khác Đồng thời, Bộ nguyên tắc này không đề cập đến các trường hợp khi các bên thỏa thuận rằng im lặng là dấu hiệu thể hiện sự chấp nhận, cũng như thời điểm áp dụng trong những trường hợp này Chỉ có khoản 3 Điều 2.1.6 đề cập đến việc người đề nghị thể hiện sự chấp nhận qua hành vi cụ thể, làm rõ cách thể hiện hành vi chấp nhận trong quy trình hợp đồng.
1.4.2 Với Công ước Viên 1980 (CISG)
CISG là Công ước quốc tế được áp dụng phổ biến để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, giúp thúc đẩy thương mại xuyên biên giới Hiện tại, Việt Nam đang trong quá trình xem xét gia nhập Công ước Viên và chưa trở thành thành viên chính thức của CISG Công ước này chứa đựng các quy phạm thực chất, quy định một cách chi tiết và cụ thể các vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt động thương mại toàn cầu.