Khái quát v ề tiếp nhận pháp luật nước ngo ài 7 1 Thu ật ngữ v à khái ni ệm 7 Thu ật ngữ 7 1.2 Khái ni ệm 10 2 Các h ọc thuyết chính v ề tiếp nhận pháp luật nước ngo ài trên th ế giới 11 2.1 H ọc thuyết của Alan Watson 11
1.1.1 Thuật ngữ và khái niệm:
“Tiếp nhận pháp luật nước ngoài” là một hiện tượng gây tranh cãi gay gắt trong giới nghiên cứu quốc tế Các cuộc tranh luận không ngừng diễn ra về cách gọi tên thống nhất cho hiện tượng này, một vấn đề quan trọng cần được làm rõ Thuật ngữ “tiếp nhận pháp luật nước ngoài” được sử dụng phổ biến tại Việt Nam để mô tả hiện tượng “di chuyển của một quy tắc hoặc hệ thống pháp luật từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc từ dân tộc này đến dân tộc khác,” theo định nghĩa của nhà nghiên cứu Alan Watson.
Trong khoa học pháp lý, hiện tượng này còn được gọi với nhiều thuật ngữ khác nhau, bắt đầu từ khái niệm “legal transplant” do nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật và luật học so sánh Alan Watson đề xuất Tuy nhiên, khái niệm của Alan Watson nhanh chóng gặp phải sự phản đối và chỉ trích từ các nhà nghiên cứu khác Các học giả đã đề xuất các thuật ngữ mới, phù hợp hơn, như “legal formants” của Rodolfo Sacco và “legal irritants” của Gunther, nhằm mô tả rõ hơn về hiện tượng này trong lĩnh vực pháp lý.
9 Nguyễn Đức Lam, chú thích số 4, trang 6
10 Alan Watson, “Legal Transplants: An Approach to Comparative Law” (Ti ế p nh ậ n pháp lu ật nướ c ngoài:
Transplanting legal systems involves the transfer of a rule or a system of law from one country to another or from one people to another According to Thi Mai Hanh Do in her article "Transplanting Common Law Precedents: An Appropriate Solution for Defects of Legislation in Vietnam," this concept addresses the challenges faced by legal systems when borrowing established legal principles to address legislative shortcomings (European Scientific Journal, 11/2011, p 52)
11 Ph ạ m Tr ọ ng Ngh ĩa, chú thích s ố 5, trang 14.
Holger Fleischer's article, "Legal Transplant in European Company Law: The Case of Fiduciary Duties," explores how legal principles from different jurisdictions are integrated into European company law The study specifically examines the concept of fiduciary duties and their adaptation through legal transplants across European countries Fleischer emphasizes the significance of this process in shaping uniform corporate governance standards within the European Union His analysis highlights the role of legal transplant as a mechanism for harmonizing fiduciary obligations and ensuring consistency in corporate responsibility Overall, the article offers valuable insights into how external legal traditions influence European company law, fostering a cohesive regulatory framework.
13 Rodolfo Sacco, “Legal Formants: A Dynamic Approach to Coparative law” (Những thành tố pháp luật: Một cách tiếp cận năng động luật so sánh), 39 Am J Comp L 1 (1991)
Các nhà nghiên cứu đã thống kê một số thuật ngữ liên quan đến quá trình tiếp nhận pháp luật như legal transfer, legal borrowing, legal harmonization và legal adaption, nhằm mô tả các khía cạnh khác nhau của hiện tượng này Mỗi thuật ngữ phản ánh một góc độ riêng biệt trong quá trình tiếp nhận pháp luật, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các phương thức và đặc điểm của quá trình này Việc phân biệt các thuật ngữ này rất quan trọng trong nghiên cứu pháp lý quốc tế và thúc đẩy quá trình hợp nhất pháp luật giữa các quốc gia.
Trong bài viết “Contemporary legal transplants- legal families and the diffusion of (corporate) law”, tác giả Holger Spamann đã ưu tiên sử dụng thuật ngữ
Thuật ngữ “diffusion” thường được sử dụng thay thế cho “legal transplants”, nhưng việc này không nhằm phân biệt rõ ý nghĩa của hai thuật ngữ, vì chính tác giả đã thừa nhận điều này trong bài viết của mình Đây chỉ đơn thuần là cách dùng từ riêng của người viết để thể hiện ý tưởng về quá trình lan truyền hoặc chuyển giao luật pháp mà thôi.
Rodolfo Sacco đề xuất sử dụng thuật ngữ “legal formants” thay cho “legal transplants” trong bài viết “Legal Formants: A dynamic approach to comparative law”, vì thuật ngữ này phản ánh rõ hơn các yếu tố xã hội, kinh tế, chính trị và học thuyết của một hệ thống pháp luật riêng biệt Ông tin rằng “legal formants” giúp nắm bắt được những đặc điểm đa dạng và phức tạp của các hệ thống pháp luật trong bối cảnh xã hội và môi trường cụ thể Việc lựa chọn thuật ngữ này còn nhằm làm rõ sự khác biệt giữa các phương pháp tiếp cận so sánh pháp luật truyền thống và cách tiếp cận động của “legal formants” Do đó, “legal formants” mang ý nghĩa thể hiện tính linh hoạt và thích nghi của pháp luật trong các hệ thống pháp luật khác nhau, phù hợp với quan điểm nghiên cứu của Sacco về sự đa dạng và biến đổi của pháp luật.
Trong khi đó, Gunther Teubner đề ra thuật ngữ “Legal irritant” trong tác phẩm
“Legal Irritants: Good Faith in British Law or How Unifying Law Ends Up in New Divergences” 20
Thuật ngữ “tiếp nhận pháp luật nước ngoài” vẫn chưa có một tên gọi quốc tế mang tính học thuật thống nhất, như đã thể hiện qua một số ví dụ.
Gunther Teubner's article "Legal Irritants: Good Faith in British Law or How Unifying Law Ends Up in New Divergences" explores the complexities of legal unification and the role of good faith within British law He argues that attempts to create a cohesive legal system can inadvertently lead to new legal divergences, highlighting the paradoxes inherent in legal integration Teubner emphasizes that despite efforts to unify law, cultural and procedural differences often result in unforeseen legal discrepancies, which challenge the notion of a truly harmonized legal framework This insightful analysis sheds light on the tensions between legal uniformity and pluralism in modern legal systems, making it a valuable resource for understanding the dynamic nature of legal evolution.
15 Ph ạ m Tr ọ ng Ngh ĩa, chú thích s ố 5, trang 14.
Holger Spamann's discussion on contemporary legal transplants highlights how legal families influence the diffusion of corporate law globally His analysis emphasizes the importance of understanding legal transplantation processes and their impact on legal evolution across jurisdictions According to Spamann, the adoption of legal principles from one system to another shapes the development and harmonization of corporate legal frameworks worldwide This research, published in the Harvard Law School Discussion Paper Series, provides valuable insights into the mechanisms behind legal convergence and diversification.
Holger Spamann emphasizes the importance of contextualizing the analysis within existing research on legal diffusion or "legal transplants" in comparative law The author's annotation clearly demonstrates this approach, highlighting the significance of situating new studies within the broader scholarly conversation This positioning allows for a more comprehensive understanding of how legal concepts spread and are adapted across different legal systems.
18 Rodolfo Sacco, “Legal Formants: A Dynamic Approach to Coparative law”, 39 Am J Comp L 1 (1991)
Laura-Cristiana Spătaru-Negură's article, "Exporting Law or the Use of Legal Transplants," explores how legal systems borrow and adapt laws across different jurisdictions, highlighting the impacts and challenges of legal transplants in global legal integration The author examines whether importing legal norms supports harmonization or risks undermining local legal traditions, offering a nuanced analysis of the benefits and drawbacks associated with legal transplantation This scholarly work underscores the importance of understanding cultural, social, and institutional factors when transferring legal frameworks internationally, providing valuable insights for legal scholars and practitioners engaged in comparative law and legal reform efforts.
Thuật ngữ “legal transplants” do Alan Watson đề xuất vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thể phản ánh toàn diện bản chất của hiện tượng cũng như vai trò văn hóa trong quá trình tiếp nhận pháp luật Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò tiên phong của khái niệm này trong việc thúc đẩy nghiên cứu về hiện tượng tiếp nhận pháp luật và khởi xướng các cuộc tranh luận chưa từng có trong lịch sử về đặc điểm của hiện tượng pháp luật vừa cũ, vừa mới này.
Tại Việt Nam, thuật ngữ “legal transplant” thường được các học giả gọi là “tiếp nhận pháp luật” Thuật ngữ này đề cập đến quá trình chuyển giao hệ thống pháp luật từ quốc gia này sang quốc gia khác, nhằm thích ứng với các điều kiện đặc thù của từng nền pháp luật Một số học giả tin rằng, thuật ngữ “tiếp nhận pháp luật” phản ánh chính xác hơn quá trình này, giúp làm rõ sự tương tác và biến đổi của các quy phạm pháp luật khi được chuyển giao giữa các hệ thống pháp luật khác nhau.
Trong bài viết, thuật ngữ “cấy ghép pháp luật” được mô tả như một quá trình gồm sự tham gia của “bên cho”, “bên nhận” và “bên thứ ba”, nhấn mạnh mối quan hệ tương tác không thể tách rời giữa các bên liên quan Trong khi đó, thuật ngữ “tiếp nhận pháp luật” chỉ phản ánh hiện tượng từ góc độ của quốc gia tiếp nhận mà chưa thể hiện rõ mối liên hệ với quốc gia gốc cũng như vai trò của các bên thứ ba trong quá trình này Để minh họa, nhóm tác giả so sánh quá trình này với hình ảnh cấy ghép trong y học, trong đó sự thành công phụ thuộc vào tính tương thích giữa cơ thể bên nhận và bộ phận được cấy ghép của bên cho, từ đó khẳng định tính liên kết chặt chẽ giữa “bên cho” và “bên nhận” trong hiện tượng legal transplant.
Tình hình ti ếp nhận pháp luật nước ngo ài t ại Việt Nam 13 1 Sơ lược lịch sử v ề tiếp nhận pháp luật nước ngo ài t ại Việt Nam 13 2 M ột số trường hợp điển h ình v ề tiếp nhận pháp luật nước ngo ài 16 t ại Việt Nam 2.1 Tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong luật Doanh nghiệp 17 2.2 Ti ếp nhận pháp luật nước ngo ài trong lu ật B ảo vệ 30
1.2.1 Sơ lược lịch sử về tiếp nhận pháp luật nước ngoài tại Việt Nam:
37 Nguy ễn Đức Lam, chú thích số 4, trang 6.
38 Thi Mai Hanh Do, chú thích số 24, trang 60.
39 Thi Mai Hanh Do, chú thích số 24, trang 58.
40 Ph ạ m Duy Ngh ĩa, chú thích s ố 6, trang 43.
41 Thi Mai Hanh Do, chú thích s ố 24, trang 62.
Lịch sử pháp luật Việt Nam kéo dài hàng nghìn năm, phản ánh quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong suốt hàng thiên niên kỷ, Việt Nam đã tiếp nhận và chỉnh lý pháp luật nước ngoài, bắt đầu từ quá trình tiếp nhận pháp luật Trung Hoa gần hai thiên niên kỷ dưới ách đô hộ phong kiến phương Bắc Trong thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ, các bộ luật của Việt Nam như Luật Hồng Đức thể hiện khả năng tiếp nhận chọn lọc, thể hiện ý thức dân tộc mạnh mẽ, trong khi Bộ luật Gia Long lại chủ yếu sao chép luật nhà Thanh, bỏ qua những yếu tố nhân đạo và tinh thần dân tộc, nhằm củng cố vương quyền của các vua triều Nguyễn.
Trong giai đoạn tiếp theo, Việt Nam bắt đầu tiếp nhận pháp luật phương Tây theo hình thức bắt buộc do sự xâm lược của đoàn quân viễn chinh Pháp Quá trình này nhằm phục vụ cho mục đích cai trị nhằm thiết lập hệ thống pháp luật mới phù hợp với quyền lực thực dân Việc áp dụng pháp luật phương Tây đã ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống pháp luật truyền thống của Việt Nam, mở ra nhiều thay đổi lớn trong các lĩnh vực hành chính, tư pháp và xã hội.
42 Trương Hữu Quýnh, Phan Đạ i Doãn, Nguy ễ n C ảnh Minh, “Đại cương lị ch s ử Vi ệ t Nam”, NXB Giáo d ụ c,
Ngay từ thời Văn Lang, nước ta đã có pháp luật điều chỉnh xã hội, phản ánh qua các ghi chép lịch sử như trong sách Hậu Hán thư của Trung Quốc Theo đó, luật Việt Nam khác biệt hơn luật Hán về ít nhất mười điểm, cho thấy nền pháp luật của nước ta từ lâu đời đã tồn tại và phát triển trước khi bị nhà Hán xâm lược hàng nghìn năm trước.
43 Bùi Xuân H ả i, chú thích s ố 2, trang 29.
Bài viết của Đào Trí Úc và Lê Minh Thông phân tích sự tiếp nhận các giá trị pháp lý phương Đông và phương Tây ảnh hưởng đến sự phát triển của tư tưởng pháp lý Việt Nam Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình hòa nhập này trong việc hình thành nền tư pháp Việt Nam hiện đại Thông qua đó, tác giả trích dẫn từ Bùi Xuân Hải để làm rõ hơn các quan điểm về ảnh hưởng của các hệ thống pháp lý khác nhau đối với sự phát triển của pháp luật Việt Nam.
Trong lịch sử pháp luật Việt Nam, các bộ luật Dân sự do thực dân Pháp ban hành tại cả ba miền đất nước chủ yếu dựa trên bộ luật của Napoleon, với một số điều chỉnh phù hợp thực tế nhưng không đáng kể Tuy nhiên, điểm yếu của các bộ luật này nằm ở việc chúng không phát huy hiệu quả do có nhiều điều khoản chép sao từ pháp luật Pháp và chính sách đô hộ tàn bạo của thực dân Pháp Trong đời sống hàng ngày, người dân chủ yếu sử dụng tập quán địa phương để giải quyết các vấn đề pháp lý Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chế độ thực dân Pháp bị xóa bỏ, nhưng những tinh hoa pháp lý của Pháp vẫn được tiếp nhận qua Hiến pháp 1946, trong đó mô hình chính thể kết hợp giữa nền Cộng hòa Tổng thống của Hoa Kỳ và các đặc điểm phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Cộng hoà lưỡng tính của nước Pháp” 47
Sau Hiệp định Giơnevơ, Việt Nam đã tiếp nhận tự nguyện các tư tưởng, học thuyết và quy định pháp luật của Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, việc áp dụng máy móc các quy định pháp luật lỗi thời, không phù hợp với tình hình xã hội Việt Nam đã dẫn đến nhiều bất cập, đặc biệt là việc ban hành Hiến pháp 1980, khiến đất nước rơi vào tình trạng khó khăn nghiêm trọng.
Trước thời khắc cam go của lịch sử, Đảng và Nhà nước đã kịp thời ban hành đường lối Đổi mới bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng, mở ra cơ hội tự làm mới đất nước thông qua tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế, kể cả với các quốc gia tư bản Đường lối đổi mới đã giúp Việt Nam hội nhập toàn diện vào cộng đồng quốc tế, tiếp nhận và học hỏi những giá trị tiến bộ từ các nền kinh tế phát triển trên thế giới, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
Thái Vĩnh Thắng trong bài viết "Văn hóa pháp luật Pháp và những ảnh hưởng tới pháp luật ở Việt Nam" trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp phân tích cách thức văn hóa pháp luật của Pháp đã ảnh hưởng sâu rộng đến hệ thống pháp luật Việt Nam Bài viết nhấn mạnh rằng, các yếu tố văn hóa pháp luật của Pháp, như tư duy pháp lý, phương pháp lập pháp và thực thi pháp luật, đã góp phần hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu biết nguồn gốc văn hóa pháp luật để thúc đẩy quá trình cải cách và hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam phù hợp với bối cảnh địa phương.
47 PGS- TS Thái Vĩnh Thắng, chú thích số 46.
48 Bùi Xuân H ả i, chú thích s ố 2, trang 30.
Trong kỳ họp thứ VI của Đảng diễn ra từ ngày 15 đến 18/12/1986, Trung ương Đảng đã thông qua “Báo cáo chính trị” và “Báo cáo về phương hướng, mục tiêu, chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm (1986-1990)”, đề ra đường lối đổi mới Những nội dung này góp phần xây dựng hệ thống pháp luật mới, hiện đại, hiệu quả và hội nhập cao hơn, thể hiện rõ qua việc ban hành nhiều bộ luật và đạo luật từ những năm đầu của dự án Đổi mới, đặc biệt từ năm 2005 trở đi, khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO.
Ra đời trong giai đoạn này, Luật doanh nghiệp 2005 (tiền thân là Luật công ty 1990 và Luật doanh nghiệp 1999) cùng với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 đã được các nhà nghiên cứu đánh giá là có nhiều tiến bộ so với các văn bản pháp luật trước đó Những đạo luật này đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự hình thành và phát triển của hàng ngàn doanh nghiệp mới, tạo nền tảng vững chắc cho nền kinh tế Việt Nam.
Việt Nam đã nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhờ vào việc ban hành các luật mới với nhiều quy định tiến bộ phù hợp với tình hình đất nước Nhiều quy định này được học hỏi và tiếp nhận từ các hệ thống pháp lý phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Đức, giúp hoàn thiện khung pháp lý nội địa Các phần tiếp theo của luận văn sẽ nghiên cứu quy trình tiếp nhận pháp luật và giá trị pháp lý mà các nhà lập pháp Việt Nam học hỏi, so sánh với các quốc gia phát triển khác, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm và nâng cao hiệu quả hoạt động tiếp nhận pháp luật trong tương lai.
1.2.2 Một số trường hợp điển hình về tiếp nhận pháp luật nước ngoài tại Việt Nam:
Trong phần tiếp theo, tác giả trình bày hai ví dụ tiêu biểu về việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài tại Việt Nam, gồm Luật doanh nghiệp và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Luật doanh nghiệp được xem là ví dụ thành công nhất trong quá trình hội nhập pháp luật quốc tế, phản ánh sự phát triển và thích nghi của hệ thống pháp luật Việt Nam Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp không chỉ phản ánh sự sung túc và thịnh vượng của quốc gia mà còn góp phần nâng cao hình ảnh đất nước qua các thương hiệu lớn trên thị trường quốc tế.
50 Ph ạ m Tr ọ ng Ngh ĩa, chú thích số 5, trang 16
51 Bùi Xuân Hải, chú thích số 2, trang 31
Việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các văn bản luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam, như luật độc lập đầu tiên tập trung vào việc nâng cao khả năng và cơ hội của người tiêu dùng trong cơ chế pháp lý (Nguồn: Nguyễn Đức Lam, 2009) Trước khi có luật này, quyền lợi của người tiêu dùng chưa được quan tâm đúng mức, do đó luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là văn bản luật tiên phong trong nỗ lực bảo vệ người tiêu dùng hiện nay Việc nghiên cứu quá trình tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong Luật doanh nghiệp và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình này và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam phù hợp với xu hướng quốc tế.
1.2.2.1 Tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong Luật doanh nghiệp:
Trước khi quân Pháp xâm lược, Việt Nam chưa có khái niệm về Luật doanh nghiệp hay luật công ty Những quy định đầu tiên về luật công ty tại nước ta đều xuất phát từ bộ luật Dân sự Bắc kỳ và Trung kỳ, dựa trên sự tiếp nhận từ luật công ty của pháp luật Pháp.
Trước công cuộc Đổi mới, Việt Nam thiếu một đạo luật riêng về doanh nghiệp, gây ra những rào cản lớn cho sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế Sau khi bắt đầu Đổi mới, lãnh đạo đất nước tập trung thúc đẩy lĩnh vực doanh nghiệp, điển hình là việc ban hành Luật Công ty năm 1990 Tiếp theo đó, Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời, ngày càng hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của doanh nghiệp Việt Nam.
53 Hoàng Anh Tuấn, “Chuyển đổi hình thức công ty theo pháp luật Việt Nam”, Lu ậ n án ti ế n s ĩ ng ành Lu ậ t kinh t ế, ĐH Luậ t Hà N ộ i, b ả o v ệ năm 2012, trang 1