Khi con người nhận thức được rõ hơn rằng hoạt động sản xuất của nền kinh tế thế giới đang ngày càng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến điều kiện sống của toàn nhâ
Trang 1_
VÕ TRUNG TÍN
NGUYÊN TẮC NGƯỜI GÂY Ô NHIỄM PHẢI TRẢ TIỀN
THEO PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 2VÕ TRUNG TÍN
NGUYÊN TẮC NGƯỜI GÂY Ô NHIỄM PHẢI TRẢ TIỀN
THEO PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 9.38.01.07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 3liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận án là trung thực, có trích
dẫn rõ ràng Nếu có sự gian dối, tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm
Tác giả luận án
Võ Trung Tín
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 18
1.1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 23
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận đề tài 25
1.2.1 Cơ sở lý thuyết 25
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 26
1.2.3 Giả thuyết nghiên cứu 26
1.2.4 Phương pháp tiếp cận đề tài 27
Kết luận Chương 1 28
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC NGƯỜI GÂY Ô NHIỄM PHẢI TRẢ TIỀN 29
2.1 Cơ sở hình thành và quá trình phát triển của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền 29
2.2 Nội dung của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền 40
2.3 Mục đích và yêu cầu của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền 51
2.4 Mối liên hệ giữa nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền với các nguyên tắc khác của luật môi trường 57
Kết luận Chương 2 72
Chương 3 THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC NGƯỜI GÂY Ô NHIỄM PHẢI TRẢ TIỀN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 73
3.1 Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thông qua pháp luật về thuế bảo vệ môi trường 73
3.1.1 Khái niệm về thuế bảo vệ môi trường 73
Trang 53.1.2 Nội dung pháp luật về thuế bảo vệ môi trường 76
3.1.3 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế bảo vệ môi trường 82
3.2 Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thông qua pháp luật về thuế tài nguyên 86
3.2.1 Khái niệm về thuế tài nguyên 86
3.2.2 Nội dung pháp luật về thuế tài nguyên 90
3.2.3 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế tài nguyên 94
3.3 Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thông qua pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 98
3.3.1 Khái niệm về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 98
3.3.2 Nội dung pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 100
3.3.3 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 103
3.4 Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thông qua pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra 111
3.4.1 Khái niệm về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra 111
3.4.2 Nội dung pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra 115
3.4.3 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra 121
3.5 Bảo đảm thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thông qua các quy định pháp luật có liên quan và thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo dục 129
3.5.1 Bảo đảm thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thông qua pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường 129
3.5.2 Bảo đảm thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thông qua pháp luật về xử lý hình sự đối với các tội phạm liên quan đến ô nhiễm môi trường 134
3.5.3 Bảo đảm thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo dục 137
Kết luận Chương 3 144
Trang 6Chương 4
NHU CẦU, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM NHẰM ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGUYÊN
TẮC NGƯỜI GÂY Ô NHIỄM PHẢI TRẢ TIỀN 145
4.1 Nhu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật môi trường Việt Nam nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền 145
4.1.1 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật môi trường Việt Nam nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền 145
4.1.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật môi trường Việt Nam nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền 148
4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật môi trường Việt Nam nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền 151
4.2.1 Sửa đổi các quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường 151
4.2.2 Sửa đổi các quy định pháp luật về thuế tài nguyên 155
4.2.3 Sửa đổi các quy định pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 157
4.2.4 Sửa đổi các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 159
4.2.5 Các giải pháp khác 162
Kết luận Chương 4 170
KẾT LUẬN 171 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT
QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Compensation and Liability Act (Đạo luật về Trách nhiệm pháp lý, Bồi Thường và Phản ứng toàn diện về môi trường)
Development (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế)
phải trả tiền)
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, ở Việt Nam, luật môi trường xuất hiện muộn Vấn đề bảo vệ môi trường thực sự được quan tâm bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ XX, đánh dấu bằng việc ghi nhận một cách chính thức trong Hiến pháp năm 1992 Sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 với tư cách
là một đạo luật độc lập về môi trường tiếp tục khẳng định sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam đối với việc bảo vệ môi trường 1
So với một số lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật môi trường được coi là lĩnh vực pháp luật còn mang nhiều tính hình thức Một số quy định không khả thi và khó triển khai trên thực tế do thiếu các thiết chế đảm bảo thực thi, cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra chưa phù hợp, các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về môi trường còn chưa thực sự hiệu quả…
Trong giai đoạn gần đây, giai đoạn 2011- 2015, công tác bảo vệ môi trường có nhiều khởi sắc theo chiều hướng tích cực Tuy nhiên, sức ép từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội cùng với những tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai đã và đang tiếp tục làm gia tăng nhiều áp lực đối với môi trường, gây ra không ít vấn đề bức xúc về môi trường, tác động tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng và làm thiệt hại đến kinh tế, làm gia tăng các xung đột liên quan đến môi trường trong xã hội Trong vài năm trở lại đây, vấn đề ô nhiễm bụi và tiếng ồn tại các đô thị lớn, các trục giao thông trọng điểm tiếp tục có những diễn biến phức tạp2 Nhiều “điểm nóng môi trường” cần được xử lý3, tiêu biểu là sự cố môi trường biển miền Trung do nước thải công nghiệp của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (công ty
1 Võ Trung Tín (2017), “Một số đánh giá về pháp luật môi trường Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
số 08 (336), tr.15
2 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Báo cáo môi trường quốc gia giai đoạn 2011-2015, tr.235
3 Như hiện tượng cá nuôi lồng bè chết hàng loạt tại khu vực biển thuộc xã Nghi Sơn, Tĩnh Gia, Thanh Hóa; Công
ty TNHH Chin Well Fasteners Việt Nam tại tỉnh Đồng Nai chôn lấp bùn thải trái phép; Công ty Cổ phần DAP Đình Vũ, Hải Phòng thải chất thải rắn thạch cao chứa photpho cực độc với khối lượng lớn, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; Công ty TNHH Gạch men Hoàng Gia tại KCN Mỹ Xuân A, xã Mỹ Xuân, huyện Tân Thành có hành vi thải khói, bụi gây ô nhiễm môi trường không khí kéo dài, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân trong khu vực; cơ sở tái chế nhựa trái phép tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng gây ô nhiễm môi trường; Công ty TNHH Nhà nước một thành viên xử lý và chế biến chất thải Phú Thọ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; tình trạng ô nhiễm môi trường do các trang trại chăn nuôi trong khuôn viên đất Tiểu đoàn 26 và Trung đoàn 916 tại huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội; Công ty TNHH MTV Dịch vụ Môi trường Ánh Dương
(Đà Nẵng) chôn lấp chất thải trái phép (Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017), Báo cáo tổng kết công tác tình
hình thực hiện nhiệm vụ năm 2016 và kế hoạch công tác năm 2017 của ngành Tài nguyên và Môi trường)
Trang 9Formosa) gây ra vào tháng 4 năm 2016 Vụ gây ô nhiễm môi trường biển do công ty Formosa “lộ ra” từ hiện tượng cá chết ngày 6 tháng 4 năm 2016 trên vùng biển cảng Vũng Áng thuộc địa phận thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh Hiện tượng thủy sản chết lan trên diện rộng, bắt đầu từ vùng ven biển Hà Tĩnh, lan tiếp dọc ven biển các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế Sự cố này đã gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, xã hội và môi trưởng, trong đó chịu ảnh hưởng nặng nhất là ngành thủy sản, tiếp đến là hoạt động kinh doanh, dịch vụ, du lịch và đời sống sinh hoạt của ngư dân Nguyên nhân được xác định do công ty Formosa gây ra trong quá trình vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy, đã có những vi phạm và để xảy ra sự cố, dẫn tới nước thải có chứa độc tố phenol, xyanua chưa được xử lý đạt chuẩn xả ra môi trường Công ty Formosa đã nhận trách nhiệm, xin lỗi Chính phủ, nhân dân và bồi thường 500 triệu USD4
Pháp luật môi trường Việt Nam hiện nay chưa ghi nhận đầy đủ và chính xác các chủ thể gây ra ô nhiễm môi trường (tác nhân chính dẫn đến thực trạng môi trường đáng báo động), cũng như chưa ràng buộc đầy đủ nghĩa vụ của các chủ thể này; dẫn đến việc xem nhẹ các quy định pháp luật môi trường hoặc sẵn sàng đánh đổi theo quan điểm “phát triển bằng mọi giá”, kể cả hy sinh những lợi ích về môi trường cho các hoạt động phát triển kinh tế Điều này đặt ra nhu cầu cần xây dựng các quy định pháp luật môi trường theo hướng tác động tương xứng vào lợi ích kinh
tế của các chủ thể, từ đó định hướng hành vi xử sự của họ theo hướng có lợi cho môi trường
Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” (hoặc “người gây ô nhiễm phải trả giá”, “người gây ô nhiễm phải trả” – Polluter Pays Principle), đã trở nên phổ biến tại nhiều nước trên thế giới trong những năm gần đây, khi vấn đề môi trường đang ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với sự phát triển bền vững của hầu hết các quốc gia Khi con người nhận thức được rõ hơn rằng hoạt động sản xuất của nền kinh tế thế giới đang ngày càng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến điều kiện sống của toàn nhân loại, thì nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được xem như là một nguyên tắc thể hiện việc áp dụng công cụ kinh tế để quản lý và giải quyết các vấn đề môi trường
Trong tổng thể sự phát triển bền vững của một quốc gia, chính sách môi
4 “Formosa đứng đầu các vụ gây ô nhiễm năm 2016”, nhiem-nam-2016-1351267.htm (truy cập ngày 26/12/2017)
Trang 10https://tuoitre.vn/formosa-dung-dau-cac-vu-gay-o-trường và chính sách kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ Ở các nước, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được sử dụng là một công cụ chính thức để kiểm soát các hoạt động ảnh hưởng tới môi trường của các chủ thể Ở Việt Nam, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền cũng được xem xét và áp dụng trong việc quản
lý môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của các chủ thể vào môi trường Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu một cách khoa học và có hệ thống các vấn đề lý luận của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, các quy định pháp luật thể hiện và thực hiện nguyên tắc, từ đó tìm ra giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật môi trường và cơ chế triển khai thực hiện có hiệu quả
nguyên tắc này ở Việt Nam là rất cần thiết Vì thế, tác giả chọn đề tài “Nguyên tắc
người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam” làm Luận án
tiến sĩ luật học trong chương trình đào tạo nghiên cứu sinh của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, tác giả đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của nguyên tắc người gây ô nhiễm
phải trả tiền; phân tích mối quan hệ giữa nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền với các nguyên tắc khác của luật môi trường
Thứ hai, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật thể hiện và thực hiện
nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền ở Việt Nam
Thứ ba, đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm
thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền ở Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Trang 113.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền có thể được tiếp cận ở nhiều góc
độ Trong khuôn khổ Luận án thuộc ngành luật học, tác giả tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý của nguyên tắc này Với cách tiếp cận này, đối tượng nghiên cứu của Luận án là những vấn đề lý luận của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về môi trường liên quan đến nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và thực tiễn áp dụng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các văn bản pháp luật của Việt Nam về môi trường hiện nay rất rộng, liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau Trong khuôn khổ Luận án, tác giả khai thác các văn bản nguồn của luật môi trường từ cách tiếp cận về đối tượng điều chỉnh của luật môi trường (là những quan hệ phát sinh trực tiếp trong việc khai thác, quản lý và bảo vệ môi trường) Do vậy, các văn bản nguồn này bao gồm các văn bản về bảo vệ môi trường và các văn bản về khai thác, quản lý các yếu tố môi trường 5, bắt đầu từ Luật Bảo vệ môi trường năm 19936 Trong một số nội dung, tác giả có so sánh với quy định pháp luật một số nước
Nội dung cơ bản của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền là các hình thức thực hiện nguyên tắc này, nói cách khác, đó là tiền phải trả của chủ thể gây ô nhiễm Các nước trên thế giới áp dụng nhiều hình thức thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Trong Luận án, tác giả chọn các hình thức: thuế bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường để phân tích Đây cũng chính là những hình thức thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền mà Việt Nam đã và đang áp dụng Nhiều nước trên thế giới cũng đã có nhiều kinh nghiệm thực hiện các hình thức này Do đó, tác giả có thể liên hệ với việc thực hiện ở một số nước để có sự so sánh Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập một số quy định nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền như các quy định về tuyên truyền, giáo dục; chế tài hành chính; chế tài hình sự
5 Bao gồm “các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người
và sinh vật” Đó là các yếu tố “đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác” (khoản 1, khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014) Các yếu tố tinh thần không được đề cập
trong phạm vi Luận án này
6 Đây là đạo luật đầu tiên của Việt Nam về bảo vệ môi trường Luật này sau đó được thay thế bằng Luật Bảo
vệ môi trường năm 2005 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để giải quyết các vấn đề về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, đảm bảo tiến bộ xã hội, giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng; mối quan hệ giữa nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền với các nguyên tắc khác của pháp luật môi trường; sự ra đời và phát triển của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; vai trò của pháp luật môi trường trong việc thể hiện và thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Đồng thời, Luận án cũng dựa trên cơ sở các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững, về bảo vệ môi trường, về đường lối phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế triển khai thực hiện pháp luật
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch
sử cụ thể, đặc biệt là phương pháp phân tích quy phạm pháp luật
Để thực hiện đề tài luận án, tác giả sử dụng kết hợp giữa các phương pháp trong từng nội dung của Luận án, cụ thể:
Chương 1, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp hệ thống hóa và tổng hợp nhằm hệ thống hóa các nội dung chính về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền dưới khía cạnh kinh tế – môi trường và pháp lý từ các công trình trước đó của Việt Nam và nước ngoài
Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp để trình bày và làm rõ các nguyên tắc của luật môi trường Phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh và tổng hợp cũng được sử dụng nhằm làm rõ bản chất của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, mối liên hệ giữa nguyên tắc này với các nguyên tắc khác của luật môi trường
Chương 3, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và đánh giá các quy định pháp luật thực định của Việt Nam liên quan đến nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và thực tiễn thực hiện, có liên hệ với kinh nghiệm ở một số nước Trong chương này, tác giả cũng sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để thu
Trang 13nhận các ý kiến về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Chương 4, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp hệ thống để đề xuất những nhu cầu, định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật môi trường Việt Nam nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu ở Việt Nam, là Luận án tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu dưới góc độ pháp lý về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Kết quả nghiên cứu của Luận án cung cấp các nội dung quan trọng, đáng tin cậy, có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật môi trường Việt Nam Luận án có giá trị tham khảo, phục vụ cho công việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn học Luật môi trường, Chính sách môi trường
Luận án đề xuất giải pháp để hoàn thiện và tiếp tục xây dựng các quy định pháp luật môi trường nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Ở góc độ này, Luận án có thể đóng góp về mặt thực tiễn trong việc áp dụng các biện pháp sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường
6 Những đóng góp mới của Luận án
Thứ nhất, Luận án là công trình khoa học độc lập đánh giá được tình hình
nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Trên cơ sở đó đề ra được mục đích và phạm vi nghiên cứu hợp lý nhằm giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền mà các công trình trước đó chưa nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ
Thứ hai, Luận án phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề của nguyên tắc người gây ô
nhiễm phải trả tiền từ bối cảnh ra đời, nội dung đến mục đích, yêu cầu của nguyên tắc Đây là cơ sở lý luận để phân tích, đánh giá việc áp dụng nguyên tắc người gây ô
nhiễm phải trả tiền ở Việt Nam
Thứ ba, Luận án phân tích, làm rõ bản chất nguyên tắc người gây ô nhiễm phải
trả tiền đặt trong mối liên hệ với các nguyên tắc khác của luật môi trường Mỗi nguyên tắc quy định và thể hiện ở những phương diện, lĩnh vực và phạm vi khác nhau tạo nên hệ thống các nguyên tắc của luật môi trường
Trang 14Thứ tư, Luận án phân tích các hình thức chủ yếu thực hiện nguyên tắc người
gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam, có so sánh với một
số nước Từ đó, chỉ ra những điểm mạnh và những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật môi trường Việt Nam liên quan đến các hình thức thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Thứ năm, Luận án đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật môi
trường nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Những giải pháp được đưa ra đảm bảo tính khoa học và có giá trị tham khảo về lý luận và thực tiễn Đặc biệt là việc ghi nhận nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền trong Luật Bảo vệ môi trường, tiến tới xây dựng Bộ luật Môi trường, giao thẩm quyền quản lý chuyên ngành về tài nguyên và môi trường cho Bộ Tài nguyên và Môi trường một cách rõ ràng, minh định
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của Luận án bao gồm 4 Chương sau đây:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài Trong chương này, tác giả liệt kê và đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến luận án Chương 1 cũng đề cập cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và phương pháp tiếp cận đề tài
Chương 2: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Trong chương này, tác giả tập trung phân tích các vấn đề lý luận về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền như: cơ sở hình thành và phát triển, nội dung, mục đích và yêu cầu của nguyên tắc, mối liên hệ với các nguyên tắc khác của luật môi trường
Chương 3: Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật Việt Nam Chương 3 phân tích các quy định pháp luật Việt Nam (có so sánh với một số nước) về các hình thức thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
và các quy định đảm bảo thực hiện như: thuế bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra, phạt vi phạm hành chính, xử lý hình sự về ô nhiễm môi trường, hoạt động tuyên truyền, giáo dục
Chương 4: Nhu cầu, định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật môi trường
Trang 15Việt Nam nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Chương 4 phân tích các nhu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật môi trường Việt Nam nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Trên
cơ sở đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu dưới góc độ kinh tế - môi trường
Sách Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế do Nhà xuất bản Lao động xuất
bản năm 2006 của tác giả Trần Thanh Lâm Trong công trình này, tác giả đã tập trung phân tích tổng quan về quản lý môi trường bằng CCKT và các giải pháp có tính khả thi cao trong việc áp dụng công cụ này ở tầm vi mô và vĩ mô Tác giả cũng
đề cập một số vấn đề về môi trường toàn cầu, khu vực và Việt Nam; hiện trạng quản
lý môi trường bằng CCKT
Sách chuyên khảo Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường: Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2011 (Phạm Văn Lợi chủ biên)
Sách được xuất bản trong khuôn khổ hợp tác giữa Tổng cục Môi trường, Viện Khoa học Quản lý môi trường và Hợp phần Kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực đông dân nghèo Cuốn sách nêu khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc và nội dung của kinh tế hóa lĩnh vực môi trường, đồng thời làm rõ những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai, để từ đó có thể kiến nghị, đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường
Sách Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường – kinh nghiệm quốc tế và
thực tiễn áp dụng ở Việt Nam do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2011 (Đỗ
Nam Thắng chủ biên) Sách được xuất bản trong khuôn khổ hợp tác giữa Tổng cục Môi trường, Viện Khoa học quản lý môi trường và Bộ Môi trường Nhật Bản Cuốn sách chủ yếu đề cập các CCKT trong quản lý ô nhiễm, trong bảo tồn đa dạng sinh học, phân tích mối quan hệ kinh tế - môi trường: mô hình đầu vào và đầu ra; chi phí – lợi ích; hiệu quả của việc áp dụng các CCKT
Giáo trình Kinh tế môi trường của Hoàng Xuân Cơ, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản năm 2010; Giáo trình Kinh tế môi trường do Nguyễn Mậu Dũng,
Vũ Thị Xuân Thụy chủ biên, Nhà xuất bản Tài chính xuất bản năm 2010; Giáo trình
Kinh tế môi trường do Lê Quốc Lý chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự
thật xuất bản năm 2014 Nội dung của các giáo trình này bao gồm những kiến thức
Trang 17cơ bản về kinh tế học trong lĩnh vực môi trường, tài nguyên, về ÔNMT, về vai trò,
vị trí của tài nguyên thiên nhiên, các quan điểm về phát triển bền vững, và các quy tắc ứng xử với môi trường, tài nguyên Các tác giả đã trình bày về ÔNMT dưới góc
độ kinh tế, CCKT giải quyết ÔNMT, tính toán chi phí thiệt hại do ô nhiễm, mô hình khai thác tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo, định giá môi trường và tác động của môi trường, tiếp cận phân tích định giá tài nguyên, quản lý môi trường và những biện pháp, công cụ để quản lý môi trường Các nội dung này đã phần nào lý giải được các nguyên nhân kinh tế của ô nhiễm và suy thoái môi trường, qua đó đề
ra những biện pháp kinh tế nhằm làm chậm lại, chấm dứt hoặc đảo ngược tình trạng
ô nhiễm, suy thoái môi trường
Bài viết “Áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường” của tác giả Nguyễn Thế Chinh trong Tuyển tập các Báo cáo khoa học tại Hội nghị Môi trường
toàn quốc năm 2005 Bài viết nêu những kết quả đạt được của kinh tế - xã hội và
kinh tế thị trường đang đặt ra những thách thức cho quản lý môi trường ở nước ta Ngoài những biện pháp mang tính hành chính, biện pháp giáo dục tuyên truyền và
sự tham gia của cộng đồng thì CCKT là một trong những biện pháp hành động phù hợp trong bối cảnh hiện nay và đảm bảo tính hiệu quả Bài viết cũng phân tích các CCKT đang được sử dụng ở Việt Nam trong quản lý môi trường và khẳng định việc
áp dụng các biện pháp kinh tế trong BVMT là giải pháp phù hợp cho bối cảnh của kinh tế thị trường, đảm bảo PPP
Bài viết “Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường” của tác giả Vũ Đình
Nam trên Tạp chí Môi trường số 7/2007 Bài viết đã nêu một cách khái quát về quản
lý nhà nước đối với hoạt động BVMT Theo tác giả, để thực hiện vai trò quản lý của mình, Nhà nước đã sử dụng nhiều loại công cụ quản lý khác nhau như kế hoạch, chính sách, pháp luật, CCKT Trong đó, tác giả khẳng định các CCKT có một số lợi thế như: xúc tiến các biện pháp chi phí hiệu quả để đạt được các mức ô nhiễm có thể chấp nhận được, kích thích sự phát triển công nghệ và tri thức chuyên sâu về kiểm soát ô nhiễm trong khu vực tư nhân, cung cấp nguồn thu nhập cho Chính phủ để hỗ trợ cho các chương trình kiểm soát ô nhiễm, cung cấp tính mềm dẻo trong công nghệ kiểm soát ô nhiễm đối với đơn vị xả thải… hơn những công cụ quản lý khác
Từ đó, tác giả cũng nêu lên sự cần thiết của việc áp dụng các CCKT trong BVMT vì việc sử dụng các công cụ này trong công tác BVMT đã đem lại những kết quả mong
Trang 18muốn Tác giả cũng đề cập các loại CCKT có thể sử dụng trong quản lý môi trường, trong BVMT
Bài viết “Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế - kinh nghiệm quốc tế” của
tác giả Trần Thanh Lâm trên Tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 6/2009 Bài viết
khẳng định Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế thế giới Trong bối cảnh ấy, việc phải đối mặt với nhiều thách thức về môi trường đòi hỏi cần áp dụng nhiều loại công cụ để quản lý và BVMT hiệu quả CCKT là một trong những công cụ hiện đang được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới Bài viết tập trung làm rõ một số CCKT trong quản lý môi trường, giới thiệu những kinh nghiệm quốc tế qua thực tiễn áp dụng các công cụ này và từ đó rút ra một số bài học cho Việt Nam
Bài viết “Áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam” của
Trần Thanh Lâm trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 12/2009 Tác giả làm rõ
những diễn biến chính gây bất lợi cho môi trường toàn cầu; phân tích hiện trạng môi trường đất, nước, không khí, môi trường biển và ven bờ, môi trường đô thị và khu công nghiệp, nông thôn, đa dạng sinh học và môi trường xã hội ở Việt Nam; xem xét việc sử dụng một số CCKT đang áp dụng trong quản lý môi trường ở Việt Nam và qua đó đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh việc áp dụng những công cụ này trong thời gian tới
1.1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp lý
a Nhóm công trình chung liên quan đến nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Giáo trình Luật thuế của Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh năm 2012 đề
cập khái quát các nội dung liên quan đến thuế tài nguyên và thuế BVMT (cùng với một số loại thuế khác) như: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, quản lý thuế… trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành về 2 loại thuế này Các nội dung được đề cập trong giáo trình có ý nghĩa tham khảo cho Luận
án khi đề cập các vấn đề lý luận và luật thực định về thuế tài nguyên và thuế BVMT dưới góc độ là hình thức thực hiện PPP
Giáo trình Luật môi trường của các Trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Huế; Giáo trình Luật môi trường Việt Nam của Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột, Tập bài giảng Luật môi trường của Khoa Luật Thương Mại – Trường Đại
học Luật TP Hồ Chí Minh đề cập khái quát về PPP trong nội dung các nguyên tắc
Trang 19của LMT Các nội dung này có ý nghĩa tham khảo về mặt lý luận cơ bản cho Luận
án về nội hàm các nguyên tắc cơ bản của LMT
Tập bài giảng Pháp luật môi trường trong kinh doanh của Trường Đại học
Luật Hà Nội năm 2013 đề cập đến những vấn đề lý luận về pháp luật môi trường trong kinh doanh (quan hệ giữa hoạt động kinh doanh và vấn đề môi trường, BVMT trong kinh doanh, pháp luật môi trường trong kinh doanh), pháp luật về CCKT trong quản lý và BVMT, pháp luật về môi trường trong các lĩnh vực cụ thể liên quan đến kinh doanh như: biến đổi khí hậu, sản xuất công nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, hoạt động xuất – nhập khẩu, du lịch Các nội dung được viết trong Tập bài giảng mặc dù cung cấp các kiến thức cơ bản cho người học nhưng là sự nghiên cứu giao thoa giữa góc độ kinh tế và pháp lý nên có giá trị tham khảo tốt cho Luận án
Thông tin Khoa học pháp lý số chuyên đề Thực trạng pháp luật môi trường
Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế của Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư Pháp (2003)
tập hợp các bài viết đánh giá về thực trạng pháp luật về môi trường Việt Nam; tổng quan pháp luật quốc tế về môi trường; mối quan hệ giữa pháp luật môi trường và pháp luật hành chính, hình sự, thương mại trong quá trình điều chỉnh pháp luật; một
số kiến nghị về hoàn thiện khung pháp luật về môi trường ở Việt Nam hiện nay… Đây là tài liệu có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về môi trường của Việt Nam
Sách chuyên khảo Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt
Nam hiện nay do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản năm 2017 của
tác giả Bùi Đức Hiển Nội dung cuốn sách đề cập những vấn đề lý luận chung và pháp luật về kiểm soát ÔNMT không khí, phân tích thực trạng pháp luật về kiểm soát ÔNMT không khí ở Việt Nam hiện nay và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ÔNMT không khí ở Việt Nam Sách có giá trị tham khảo đối với Luận án về một số gợi mở hoàn thiện pháp luật môi trường liên quan đến PPP
Tài liệu tập huấn Tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường do tác giả Nguyễn
Đức Thùy chủ biên (2012), đề cập đến các nội dung về môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam; mối quan hệ giữa môi trường và quyền con người; pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền con người đối với môi trường; vai trò của các tổ chức xã hội trong việc giám sát, BVMT; bảo đảm quyền tiếp cận tư pháp
Trang 20trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam Các nội dung trong tài liệu có ý nghĩa tham khảo đối với Luận án về mặt lý luận của việc đảm bảo quyền con người được sống trong một môi trường trong lành
Kỷ yếu hội thảo khoa học Đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực
kinh tế của Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2012),
bao gồm các bài viết về quyền tiếp cận các nguồn lực phát triển của nhà đầu tư trong các lĩnh vực: kinh tế, tài chính – ngân hàng, đất đai – môi trường Các tham luận đã đề cập đến những khía cạnh cơ bản nhất của quyền tiếp cận thông tin với tư cách là một quyền cơ bản của con người được ghi nhận tại nhiều điều ước quốc tế, được nhiều cơ chế pháp luật quốc tế đảm bảo Ở Việt Nam, quyền được thông tin cũng là một trong các quyền cơ bản của công dân, đã và đang được nhiều văn bản pháp luật khác nhau cụ thể hóa Các bài viết trong kỷ yếu hội thảo đã có nhiều ý kiến đóng góp cho hoạt động lập pháp trong vấn đề đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, trong đó có lĩnh vực môi trường
Kỷ yếu hội thảo khoa học Quyền tiếp cận các nguồn lực phát triển của nhà
đầu tư của Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2014)
bao gồm các bài viết về quyền tiếp cận các nguồn lực phát triển của nhà đầu tư trong các lĩnh vực: kinh tế, tài chính – ngân hàng, đất đai – môi trường Các bài tham luận trong kỷ yếu hội thảo thảo tập trung làm rõ các khái niệm “nguồn lực phát triển”, “nhà đầu tư” để có sự thống nhất trong việc xác định nội hàm của các khái niệm này; hướng tiếp cận các đối tượng nghiên cứu từ góc độ quyền con người Các tham luận đã tập trung phân tích nội dung pháp luật về quyền tiếp cận thông tin, bao gồm các nội dung về quyền bình đẳng của các chủ thể trong việc tiếp cận các nguồn lực phát triển; cơ chế, phương thức tiếp cận nguồn lực; phân tích cơ chế đảm bảo thực thi các quyền này trên thực tế; phân tích được thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật nhằm đảm bảo cho nhà đầu tư tiếp cận các nguồn lực phát triển Kỷ yếu hội thảo có ý nghĩa tham khảo đối với Luận án về mặt lý luận của việc đảm bảo quyền tiếp cận các thông tin môi trường
Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế Môi trường và nhà nước pháp quyền: Tăng
cường thực thi pháp luật về môi trường ở khu vực Đông Nam Á của Viện Nhà nước
và Pháp luật phối hợp với Chương trình pháp quyền châu Á của KAS - Konrad Adenauer Stiftung (2014) Các bài viết tập trung vào các vấn đề: các cơ chế tăng cường thực thi pháp luật về môi trường trong nhà nước pháp quyền; môi trường và
Trang 21nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; cơ chế hợp tác quốc tế nhằm phòng chống tội phạm môi trường xuyên quốc gia; thực thi pháp luật về môi trường tại khu vực Đông Nam Á Các bài viết trong Kỷ yếu hội thảo có ý nghĩa tham khảo đối với Luận án trong việc thực thi PPP với điều kiện đặc thù của Việt Nam
Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế Bảo vệ môi trường với ổn định chính trị, xã
hội và phát triển kinh tế - những vấn đề pháp lý đặt ra của Trường Đại học Luật TP
Hồ Chí Minh (2017) Các bài viết tập trung vào các vấn đề liên quan đến tác động của môi trường đến ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế như: nhận diện nguy cơ đe doa an ninh môi trường ở Việt Nam hiện tại và trong tương lai, kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới trong việc giải quyết các vấn đề môi trường liên quan đến biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, chất thải nguy hại, ÔNMT biển, quản lý việc nhập khẩu các giống loài ngoại lai xâm hại Các bài viết còn đề cập đến các quy định của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin môi trường ở Việt Nam và vai trò của chúng trong việc BVMT sống, trách nhiệm của các công ty kinh doanh đối với thiệt hại về môi trường, cơ chế hòa giải đối với các tranh chấp môi trường tại Việt Nam Một số bài viết chia sẻ kinh nghiệm từ việc áp dụng pháp luật môi trường của các nước Úc, Nhật Bản, Indonesia, Singapore, Thái Lan Kỷ yếu có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc đảm bảo thực hiện PPP trên thực tế và nguy cơ dẫn đến an ninh môi trường bị ảnh hưởng nếu không có sự đảm bảo về mặt pháp lý
b Nhóm công trình về các hình thức trả tiền theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và sự đảm bảo thực hiện
Bài viết “Bàn về áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả trong chính
sách môi trường” của tác giả Lê Thị Kim Oanh trên Tạp chí Khoa học và công
nghệ, số 4(39)/2010 Trong bài viết, tác giả đã nghiên cứu về vai trò phân bổ chi phí
môi trường và đưa ra một số ý kiến bàn luận nhằm làm rõ bản chất và ý nghĩa của PPP Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích rõ những nội dung chi phí môi trường bao hàm trong phạm vi của PPP để việc sử dụng nguyên tắc này trong quá trình xây dựng và thực hiện các công cụ chính sách quản lý môi trường được hiệu quả hơn Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc đánh giá số tiền thu theo PPP
và chi cho hoạt động BVMT
Trang 22Bài viết “Sử dụng công cụ kinh tế và pháp lý trong quản lý, bảo vệ môi
trường” của nhóm tác giả Lê Thị Thảo và Nguyễn Quang Tuấn trên Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp số 194/2011 Bài viết khẳng định quản lý và BVMT luôn được xác
định là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để thực hiện mục tiêu về môi trường như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang triển khai thực hiện nhiều biện pháp thông qua việc tác động đến kinh tế và xây dựng các quy phạm pháp luật Các tác giả cũng trao đổi một số vấn đề liên quan đến thực trạng sử dụng CCKT và pháp lý trong quản lý, kiểm soát và BVMT ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, BVMT Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án trong mối tương quan giữa việc áp dụng các CCKT dưới khía cạnh pháp lý Bài viết “Thực hiện pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi
trường” của tác giả Nguyễn Ngọc Anh Đào trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 24
(232)/2012 Bài viết phân tích vấn đề thực thi các CCKT trong BVMT như: thuế BVMT, phí BVMT, ký quỹ môi trường, đặt cọc – hoàn trả, quỹ BVMT Bài viết cũng nêu lên những tác động tích cực về hiệu quả kinh tế, về mặt xã hội trong việc
sử dụng tốt các CCKT, đảm bảo được yêu cầu tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao khả năng tái chế, tái sử dụng chất thải Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc nhìn nhận các CCKT như một dạng nghĩa vụ tài chính của PPP cho hoạt động BVMT
Bài viết “Chính sách thuế bảo vệ môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” của tác giả Phạm Xuân Thắng trên Tạp chí Tài chính 6/2015 đề cập đến kinh nghiệm của chính phủ các nước đối phó với ÔNMT theo 2 hướng như sau: thứ nhất, Chính phủ không cần can thiệp và thứ hai, Chính phủ phải can thiệp bằng các chính sách khác nhau như: đánh thuế, trợ cấp hay ra các quy định Tác giả cũng phân tích các hình thức thuế ô nhiễm, trợ cấp, bán hạn ngạch ô nhiễm, ban hành các quy định hạn chế ô nhiễm và kinh nghiệm cho Việt Nam Bài viết có giá trị tham
khảo cho luận án trong việc đề xuất hoàn thiện thuế BVMT
Bài viết “Bảo vệ môi trường bằng công cụ thuế, phí môi trường và hiệu quả của giải pháp hiện nay ở Việt Nam” của tác giả Đinh Trọng Khang trên Tạp chí Giao thông vận tải 9/2016 đề cập đến một số công cụ BVMT Tác giả nhận định BVMT được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của các chủ thể có khả năng tác động tiêu cực đến môi trường, cũng như
Trang 23khắc phục các sự cố môi trường Việt Nam hiện đã ban hành Luật thuế môi trường
và hệ thống phí BVMT đối với một số loại hàng hóa gây ô nhiễm Tuy nhiên, do chưa có nghiên cứu đầy đủ về các CCKT trước khi ban hành nên quá trình triển khai còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả về mặt môi trường chưa cao Bài viết giới thiệu thực trạng việc áp dụng công cụ thuế, phí BVMT tại Việt Nam, các hạn chế và kiến nghị một số giải pháp khắc phục Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án trong thực tiễn áp dụng các hình thức thực hiện PPP tại Việt Nam
Bài viết “Thuế bảo vệ môi trường: kinh nghiệm quốc tế và những khuyến nghị
với Việt Nam” của nhóm tác giả Vương Thị Thu Hiền, Phạm Xuân Thắng trên Tạp
chí Tài chính 11/2017 đề cập đến chính sách thuế BVMT ở một số nước và một số
khuyến nghị đối với chính sách thuế BVMT ở Việt Nam Bài viết có giá trị tham khảo cho luận án trong việc đề cập đến thuế BVMT – một hình thức thực hiện có hiệu quả PPP – cũng như những kinh nghiệm của các nước, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về loại nghĩa vụ tài chính này
Bài viết “Bất cập trong các quy định về phương thức tính phí bảo vệ môi
trường đối với nước thải công nghiệp” của tác giả Lê Thị Thu Hằng trên Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật 4/2018 phân tích một số bất cập về phương thức tính phí
BVMT đối với nước thải công nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện Bài viết có giá trị tham khảo cho luận án về một hình thức thực hiện PPP dưới khía cạnh kinh tế - kỹ thuật
Luận văn thạc sĩ luật học Pháp luật môi trường Việt Nam trong xu hướng
thương mại hóa môi trường của tác giả Phan Thỵ Tường Vi (2006) Đề tài đề cập về
cơ sở xác lập của xu hướng thương mại hóa những vấn đề môi trường, khái niệm
"thương mại hóa những vấn đề môi trường”, ý nghĩa – mục đích của xu hướng thương mại hóa những vấn đề môi trường, một số CCKT chủ yếu thể hiện xu hướng thương mại hóa những vấn đề môi trường, thực trạng pháp luật môi trường Việt Nam trước xu hướng thương mại hóa những vấn đề môi trường và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật môi trường theo xu hướng thương mại hóa những vấn đề môi trường PPP được đề cập một cách gián tiếp trong luận văn như là một nguyên tắc của CCKT Luận văn có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc tiếp cận vấn đề môi trường dưới góc độ kinh tế và những yêu cầu đặt ra liên quan đến PPP
Luận văn thạc sĩ luật học Pháp luật về chi trả dịch vụ môi trường rừng của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2014) Đề tài đề cập đến những vấn đề lý luận về chi trả
Trang 24dịch vụ môi trường rừng, nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, phân tích và đánh giá những quy định pháp luật Việt Nam
về chi trả dịch vụ môi trường rừng, kinh nghiệm thực hiện ở một số nước, đưa ra một số đề xuất Luận văn có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc mở rộng việc thu tiền đối với người gây ô nhiễm bên cạnh tiền đánh vào hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên
Luận văn thạc sĩ luật học Pháp luật về đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường
của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thủy (2014) Đề tài đề cập về cơ sở lý luận của đối tượng chịu thuế BVMT, thực trạng pháp luật về đối tượng chịu thuế BVMT và giải pháp hoàn thiện Đây là đề tài nghiên cứu hẹp về một hình thức thực hiện PPP, có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc xác định đối tượng phải trả tiền thông qua một hình thức cụ thể của PPP
Luận án tiến sĩ luật học Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ
môi trường hiện nay ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Ngọc Anh Đào (2013) Luận
án đề cập những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện Luận án nghiên cứu về CCKT như công cụ chính sách do pháp luật quy định, được sử dụng tác động tới chi phí của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thường xuyên tác động tới môi trường nhằm thay đổi hành vi của con người theo hướng có lợi cho môi trường Trong Luận án, PPP được đề cập như là một trong những nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT Đề tài có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc tiếp cận đa chiều về PPP, cũng như hình thức thực hiện nguyên tắc
Bài viết “Trách nhiệm pháp lý về môi trường ở một số nước” của tác giả Trần
Thắng Lợi trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 3 (2005) Bài viết tập trung phân
tích trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm pháp luật môi trường tại một số quốc gia như: Nhật Bản, Singapore và Trung Quốc Đồng thời, sau quá trình nghiên cứu, so sánh tác giả đưa ra những ưu điểm, hạn chế đối với các từng biện pháp trách nhiệm pháp lý, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện về thẩm quyền xử phạt VPHC, hình thức xử phạt, trách nhiệm hình sự của pháp nhân…trong pháp luật BVMT tại Việt Nam Bài viết có giá trị tham khảo cho Luận án về cơ chế đảm bảo thực hiện PPP Bài viết “Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường” của tác giả
Vũ Thu Hạnh trên Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3 (40)/2007 Bài viết đề cập quan
Trang 25niệm về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường, cách xác định thiệt hại, trách nhiệm BTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường như là cách “hiện thực hóa”7 PPP – một nguyên tắc được xem là đặc trưngcủa lĩnh vực môi trường Mặc dù các văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết đã hết hiệu lực, nhưng bài viết có giá trị tham khảo về các vấn đề lý luận BTTH do ÔNMT, về một nội dung cụ thể nhằm thực hiện PPP
Báo cáo nghiên cứu về Quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi vi
phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam Cơ sở pháp lý và quy trình thực hiện của
tác giả Vũ Thu Hạnh và các đồng nghiệp Trường Đại học Luật Hà Nội (2009) Các kết quả nghiên cứu trong Báo cáo dựa trên việc rà soát các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về quyền khởi kiện đòi BTTH do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên (đến thời điểm 2009) Từ đó xác định những bất cập của chính pháp luật thực định ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền khởi kiện đòi BTTH do hành vi làm ÔNMT trên thực tế Báo cáo cũng dẫn chứng một số vụ việc giải quyết yêu cầu đòi BTTH do hành vi làm ÔNMT gây nên tại một số địa phương trong thời gian qua
để nhấn mạnh những vướng mắc trong quá trình giải quyết các tranh chấp, xung đột trong lĩnh vực này Báo cáo giới thiệu quy trình thực hiện quyền khởi kiện đòi BTTH do hành vi làm ÔNMT, cùng với các hướng dẫn kỹ thuật về chủ thể tiến hành, các bước tiến hành và thời gian tiến hành Trên cơ sở tổng hợp phân tích, đánh giá những nội dung trên, báo cáo đề xuất cải thiện các quy định về quyền khởi
kiện đòi BTTH do hành vi làm ÔNMT với hai nhóm giải pháp chính như sau: (i)
hoàn thiện các quy định về xác định thiệt hại, thời hiệu khởi kiện, nghĩa vụ chứng
minh, cách thức giải quyết việc BTTH; và (ii) thiết lập và hoàn chỉnh các thiết chế
nhà nước, xã hội trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến thực hiện quyền đòi BTTH do hành vi làm ÔNMT gây ra Báo cáo có giá trị tham khảo cho Luận án trong việc xác định cách thức đảm bảo thực hiện quyền của người bị ô nhiễm khi có hành vi vi phạm pháp luật môi trường
Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi
trường, kinh nghiệm Hoa Kỳ và gợi mở cho Việt Nam, do Vụ Chính sách pháp luật,
Viện Chiến lược, chính sách TN&MT cùng EPA của Hoa Kỳ tổ chức (2017) Các bài viết tập trung vào các chủ đề như: cơ sở pháp lý để yêu cầu BTTH về môi trường, thực trạng và đề xuất cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường ngoài tòa án ở
7 Cụm từ tác giả Vũ Thu Hạnh sử dụng trong bài viết
Trang 26Việt Nam, kinh nghiệm của Hoa Kỳ về bảo hiểm trách nhiệm môi trường, BTTH và những thiệt hại về tài nguyên thiên nhiên, BTTH do ô nhiễm từ sự cố tràn dầu, biện pháp khắc phục hậu quả được sử dụng trong các vụ thi hành pháp luật môi trường Các bài viết của Hội thảo có giá trị tham khảo cho Luận án trong nội dung liên quan đến BTTH do ÔNMT, đặc biệt từ cách tiếp cận của một quốc gia phát triển như Hoa
Kỳ
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu dưới góc độ kinh tế - môi trường
Một công trình tiếp cận dưới góc độ kinh tế có giá trị tham khảo lớn là cuốn
sách Economic instrument in Environmental policy: Lessons from OECD,
experience and relevance to Economies in transition của tác giả Jean-Philippe,
Barde Research programme on: Environmental Management in Developing Countries, OECD (93)193, năm 1994 Đây là cuốn sách đề cập nhiều nội dung lý luận quan trọng và hiện đại về các CCKT trong BVMT của các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development - OECD) Nội dung của cuốn sách đề cập đến việc áp dụng các CCKT trong các chính sách môi trường của các nước thành viên OECD ngày càng được áp dụng một cách rộng rãi Trong hoạt động đầu tư, kinh doanh, các nước không chỉ quan tâm đến những lợi ích, thu nhập mà còn phải có những chính sách cải tạo môi trường Cuốn sách đã chỉ ra rằng các nước đang phát triển cần phải học hỏi kinh nghiệm từ OECD và việc áp dụng các CCKT trong BVMT thường phải đối mặt với những thách thức, cũng như mở ra những cơ hội nhất định trong việc áp dụng các công cụ đó Tác giả cũng khẳng định, trong BVMT các nước OECD áp dụng PPP, phát triển và triển khai "công cụ chính sách" để thực hiện và thực thi chính sách về môi trường
Cuốn sách Economic instruments in environmental policy and law with a sort
review of Serbia and Montenegro của Assistant Professor Dragoljub Todic, PhD,
Geoeconomics Faculty, Megatrend University of Applied Sciences, Belgrade, Megatrend Review, vol 2(1) 2005 Cuốn sách nêu các chi phí ô nhiễm được coi là một phần của chi phí sản xuất, đó đã là một quy tắc quốc tế được chấp nhận ở các nước phát triển Tuy nhiên, việc áp dụng các CCKT trong thực tế đã bị giới hạn bởi các nước có nền kinh tế kém phát triển và khoa học công nghệ chưa phát triển Tác giả đã liệt kê một số CCKT trong BVMT như là một hệ thống pháp lý và chính trị
Trang 27của cộng đồng quốc tế Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên cách tiếp cận, phân tích thành tựu trong lĩnh vực môi trường, áp dụng đồng bộ các CCKT trong BVMT Bài viết “Economic instruments of environmental management” của Firuz Demir Yasamis Istanbul Aydin, University Turkey trong kỷ yếu hội thảo
Proceedings of the International Academy of Ecology and Environmental Sciences,
2011, 1(2):97-111 Bài viết đề cập quản lý môi trường có hai mục tiêu chính: để kiểm soát số lượng, mức độ ô nhiễm và nâng cấp chất lượng môi trường đến một mức độ chấp nhận được Cho đến nay, những mục tiêu đang cố gắng để đạt được chủ yếu là thông qua hai chiến lược khác nhau trong quản lý: chỉ huy và điều khiển công cụ Từ thập niên 1990, bản chất của tư duy quản lý môi trường đã chứng kiến một biến đổi lớn Chi phí đáng kể tạo ra lợi thế của thi hành các quy tắc về môi trường và quy định thông qua các CCKT như “mệnh lệnh - kiểm soát” đã mở ra một chân trời mới cho nhà hoạch định chính sách môi trường Nó được chia sẻ bởi đa số các nhà hoạch định chính sách môi trường và các tổ chức môi trường công cộng mà theo họ chi phí khi sử dụng CCKT là ít hơn so với chi phí của việc thực hiện các biện pháp “mệnh lệnh - kiểm soát” và có sự khác biệt lớn giữa chiến lược “mệnh lệnh - kiểm soát” và các CCKT Trong khi công cụ “mệnh lệnh - kiểm soát” sẽ gửi tín hiệu trực tiếp thay vì đơn đặt hàng cho thị trường để đảm bảo chi phí môi trường
và đầu tư thì các CCKT gửi tín hiệu gián tiếp để chỉ ra độ ưa thích của hành vi cho
cả người tiêu dùng và nhà sản xuất
1.1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp lý
Công trình công bố từ rất sớm liên quan đến PPP là cuốn sách The Polluter
Pays Principles: Definition, Analysis, Implementation, một ấn phẩm của Tổ chức
Hợp tác và Phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development – OECD) năm 1975 Cuốn sách cho rằng PPP là một nguyên tắc cơ bản của chi phí phân bổ nguồn lực môi trường OECD quan niệm người gây ô nhiễm nên được tính phí với chi phí phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm PPP không phải là sự vi phạm nếu chi phí được chuyển vào giá cả Vì vậy, người gây ô nhiễm phải là người đầu tiên thanh toán, để anh ta có thể tính toán trong quá trình ra quyết định của mình đến yếu tố kinh tế và tổng chi phí môi trường PPP không phải là nguyên tắc bồi thường cho thiệt hại gây ra bởi ô nhiễm, cũng không có nghĩa là kẻ gây ô nhiễm chỉ đơn thuần phải trả chi phí của các biện pháp để ngăn ngừa ô nhiễm Người gây ô nhiễm phải bị tính phí dùng để áp dụng các biện pháp phòng ngừa và
Trang 28kiểm soát ô nhiễm được xác định bởi các cơ quan công quyền, cho dù các biện pháp phòng ngừa, phục hồi, hoặc kết hợp cả hai Nói cách khác PPP tự nó không phải là một nguyên tắc nhằm nội lực hoá hoàn toàn các chi phí ô nhiễm PPP cũng có một
số ngoại lệ, Hội đồng OECD đã ban hành một khuyến nghị được thiết kế đặc biệt để xác định các giới hạn của những ngoại lệ này Cuốn sách phân tích nền tảng kinh tế của PPP và những tác động có thể có của việc áp dụng nguyên tắc Đồng thời, cuốn sách cũng đề cập đến các công cụ có thể áp dụng PPP và sự đảm bảo thực hiện
Cuốn sách Sourcebook on environmental law của Maurice Sunkin, David M
Ong, và Robert Wight (2002) đề cập đến các nội dung: nguồn và các nguyên tắc của luật quốc tế về môi trường, luật quốc tế và pháp luật các nước về ô nhiễm không khí
và bầu khí quyển, ô nhiễm nước và vùng biển, bảo vệ các loài hoang dã tự nhiên, quyền con người và cộng đồng trong việc tham gia các vấn đề môi trường… Theo các tác giả, môi trường mang tính không biên giới, các hiện tượng suy giảm tầng ô-zôn, biến đổi khí hậu, sự suy giảm tính đa dạng sinh học… đều có mối liên hệ và cần có sự hợp tác giữa các quốc gia để giải quyết những vấn đề môi trường mang tính toàn cầu Các tác giả cũng chỉ ra rằng pháp luật không đặt riêng lẽ mà có mối quan hệ mật thiết giữa các vấn đề về chính trị, kinh tế, môi trường… Trong đó, phần các nguyên tắc của luật quốc tế về môi trường, các tác giả đề cập đến mối liên hệ cơ bản giữa các nguyên tắc của luật quốc tế về môi trường Đối với PPP, các tác giả cho rằng nguyên tắc này được hiểu là các chi phí của ÔNMT cần được chi trả bởi những người chịu trách nhiệm vì hoạt động đã gây ô nhiễm Có thể xem xét việc áp dụng các nguyên tắc này ở cả cấp độ chung và cụ thể Ở cấp độ cụ thể, PPP xác định người gây ô nhiễm phải được yêu cầu phải trả toàn bộ chi phí của cải của bất
kỳ suy thoái môi trường đã xảy ra như là kết quả của các hoạt động của họ Việc áp dụng PPP theo cách này là biểu hiện trong quy định quản lý nhà nước và trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại về môi trường do hoạt động độc hại Ở mức độ tổng quát hơn, hành vi gây ô nhiễm phải trả theo PPP có thể được hiểu rằng tất cả các hoạt động kinh tế của con người, trong đó có ảnh hưởng tới môi trường, nên được hạch toán đầy đủ vào hệ thống giá cả kinh tế của các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bởi hoạt động như vậy
Cuốn sách Principle of international environmental law của Philippe Sands,
Jacqueline Peel, Adriana Fabra, và Ruth MacKenzie (2012) cung cấp một cách toàn diện và bình luận những nội dung quan trọng của luật quốc tế về môi trường; trong
Trang 29đó phần thứ II, mục 6 đề cập đến các nguyên tắc của luật quốc tế về môi trường PPP được nhắc đến là chi phí phải trả cho hành vi gây ô nhiễm được gánh chịu bởi những người chịu trách nhiệm như nguyên nhân dẫn đến ÔNMT Các tác giả chỉ ra rằng PPP đã thu hút được sự ủng hộ rộng rãi và có liên quan chặt chẽ đến các quy định về trách nhiệm bồi thường dân sự của nhà nước khi có các thiệt hại về môi trường Trong cuốn sách, các tác giả cũng đề cập đến kinh nghiệm áp dụng nguyên tắc này trong các nước OECD, Cộng đồng Châu Âu
Bài viết “The effects of environmental taxes - An empirical study of water and solid waste levies in Flanders” của C Coeck, R S'Jegers, A Verbeke và W
Winkelmans (1995) trong quyển Annals of Public and Cooperative Economics Bài
viết đề cập đến các các CCKT và thị trường tích hợp đang ngày càng được sử dụng làm phương án thay thế cho các công cụ chính sách môi trường truyền thống Bài viết xác định hiệu quả thực tế của thuế môi trường đối với mức độ ô nhiễm Trong một số trường hợp cụ thể, các tác giả nghiên cứu trường hợp về thuế môi trường đối với nước và ô nhiễm chất thải rắn Dựa trên các nghiên cứu tương tự, các tác giả đã phân tích chính sách môi trường của Hà Lan để đưa ra một số kết luận về mối quan
hệ trực tiếp dự kiến giữa tăng thuế và giảm ô nhiễm Nhìn chung, các công ty công nghiệp không quan niệm hệ thống thuế hiện tại là một biện pháp hợp pháp nhằm thay đổi các hoạt động gây ô nhiễm của họ Kết quả là việc áp dụng công nghệ sạch hạn chế và thuế môi trường được xem xét bởi phần lớn các công ty như là một loại thuế thu nhập doanh nghiệp chứ không phải là một để tạo chuyển đổi từ ô nhiễm sang hành vi không gây ô nhiễm
Bài viết “Environmental taxation: The European experience” của tác giả Agnieszka Laskowska và Frank Scrimgeour - Department of Economics University
of Waikato (1999) Bài viết khẳng định thuế môi trường là thành phần trong BVMT
và được nhiều nước trên thế giới áp dụng trong quản lý BVMT Thuế môi trường từ lâu đã được sử dụng ở Đông Âu và trong thập kỷ qua, đã được sử dụng rộng rãi ở Tây Âu Bài viết cung cấp một số ý kiến sơ bộ về tầm quan trọng của việc áp dụng thuế môi trường ở các nước Châu Âu và nêu lên những kinh nghiệm của Châu Âu trong việc thực hiện thuế môi trường đối với năng lượng và nhiên liệu, thuế vận tải, các loại thuế liên quan đến nước và các loại thuế sinh thái khác Ngoài ra, bài viết cung cấp thông tin mô tả về mức độ doanh thu tăng từ thuế môi trường và loại thuế
Trang 30này đã được sử dụng như là một phần của một chương trình cải cách thuế môi trường
Phần nội dung “The taxation of natural resources” (Chương 8) của Terry
Heaps và John F Helliwell (1985) trích từ quyển Handbook of Public Economics,
vol I, biên tập bởi A.J A Uerbach và M Feldstein Chương này thảo luận các vấn
đề chính phát sinh trong việc đánh thuế và các quy định về tài nguyên thiên nhiên Các tác giả cho rằng tài nguyên thiên nhiên thường được sở hữu hoặc do các chính phủ kiểm soát, cũng như chịu sự điều chỉnh của nhiều thuế, phạm vi của chương phải mở rộng ra ngoài các hình thức thuế thông thường Vì tài nguyên thiên nhiên
có sự tác động qua lại lẫn nhau và tính không biên giới, nên chịu sự tác động không chỉ của một chính phủ Sau khi phân tích một số hạn chế về lý thuyết và thực tiễn thực hiện, các tác giả đưa ra một vài ví dụ về việc áp dụng đối với những nguồn tài nguyên điển hình như khai thác cá, thủy điện, kim loại để minh chứng về sự cân bằng không thể tránh khỏi giữa thu và hiệu quả kinh tế
Bài viết “The polluter pays principle: A proper guide for environmental
policy” của tác giả Roy E Cordato (2001) được viết trên cơ sở tiếp cận mang tính
phương châm của Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc là: “nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả được xác định là bất cứ ai có trách nhiệm về những thiệt hại đối với môi trường phải chịu chi phí liên quan với nó" Bài viết tập trung giải quyết
4 câu hỏi: i) Ô nhiễm được tạo ra từ đâu? ii) Ai là người gây ra ô nhiễm? iii) Người gây ô nhiễm phải trả bao nhiêu? và iv) Họ phải trả như thế nào?
Bài viết “How efficient can international compensation regimes be in pollution
prevention? A discussion of the case of marine oil spills” của Julien Hay (2010) Bài
viết này nghiên cứu sự ảnh hưởng ngăn cản của chế độ trách nhiệm và bồi thường
cụ thể được xác định theo Công ước FUND trong lĩnh vực ô nhiễm dầu trên biển Các nghiên cứu của tác giả dựa trên một mô hình bắt nguồn từ việc phân tích kinh
tế của hiệp định môi trường quốc tế, áp dụng cho các trường hợp BTTH do ô nhiễm dầu Bài viết cũng phân tích về tác động tổng thể của một chế độ bồi thường quốc tế
tự ràng buộc khi phát sinh các điều khoản phòng ngừa sự cố ô nhiễm dầu
Bài viết “The polluter pays principle and land remediation: a comparison of the United Kingdom and Australian approaches” của tác giả Sally-Ann Joseph đăng trên Tạp chí Luật Môi Trường của Úc (2014) Bài viết đề cập đến PPP như là một
Trang 31thực tiễn được chấp nhận phổ biến khi mà các chi phí ô nhiễm sẽ do người gây ra chi trả PPP được công nhận là một nguyên tắc của LMT quốc tế và là một chính sách cơ bản của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, Liên minh Châu Âu cũng như các quốc gia thành viên Hệ thống thuế có thể được sử dụng để thực hiện kiểm soát ô nhiễm thông qua các khía cạnh của chính sách môi trường Cách này có thể
bị ảnh hưởng dưới dạng hỗ trợ tài chính thông qua các khoản trợ cấp (chẳng hạn như tín dụng xả thải cacbon) hoặc chi phí thuế Trong khi sự hỗ trợ như vậy đòi hỏi cần có sự giải thích nghiêm ngặt về PPP (vì nó liên quan đến chi phí cho tất cả người nộp thuế, không chỉ đối với người gây ô nhiễm) Bài viết phân tích sự tương đồng và khác biệt ở Anh và Úc trong việc áp dụng PPP vào những trường hợp cụ thể
Bài viết “An analysis of the polluter pays principle in Nigeria” của tác giả Gina Elvis-Imo đăng trên Tạp chí Luật học của Đại học Ibadan (2016) Bài viết đề cập đến PPP như là một nguyên tắc kinh tế dựa trên việc phân bổ các chi phí môi trường vào việc ra quyết định cho kế hoạch phát triển kinh tế và các chương trình,
dự án khác có khả năng ảnh hưởng đến môi trường Đây là nguyên tắc được sử dụng rộng rãi trong luật pháp quốc tế và hiện nay trở thành một trong những chỉ dẫn cho các nguyên tắc của LMT quốc tế Tuy nhiên, nguyên tắc này không trả lời những câu hỏi như ai là người gây ô nhiễm thực tế hoặc chi phí nào sẽ được chi trả Bài viết cũng giới thiệu việc thực thi PPP ở Nigeria và chỉ ra rằng áp dụng nguyên tắc này triệt để dựa trên việc trả lời một cách có hiệu quả các câu hỏi sau: Cái gì cấu thành ô nhiễm? Ai là người gây ô nhiễm? Họ phải trả bao nhiêu? Ai là người thụ hưởng?
1.1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.3.1 Nhận xét chung
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến Luận án, tác giả có một số nhận xét tổng quan về tình hình nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã phân tích
nhiều khía cạnh khác nhau về PPP dưới góc độ kinh tế - môi trường và pháp lý Các kết quả nghiên cứu nêu trên do mục đích và khuôn khổ nghiên cứu có khác nhau nên đề cập đến PPP ở nhiều cấp độ Có nhiều cách tiếp cận về PPP, nhưng những kết quả nghiên cứu đều cho thấy chủ thể gây ô nhiễm được hiểu là những chủ thể
Trang 32tác động đến môi trường và Nhà nước, cộng đồng là chủ thể thụ hưởng số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm Việc thực hiện PPP có nhiều hình thức khác nhau, trong đó, chủ yếu là thuế, phí và tiền bồi thường các thiệt hại về môi trường
Thứ hai, dưới góc độ kinh tế, các công trình khoa học nêu trên đã đề cập nội
hàm của PPP trong BVMT, với mục đích chính là đánh vào hành vi gây ô nhiễm của chủ thể gây ÔNMT để cân bằng lợi ích về mặt kinh tế khi có hành vi tác động đến môi trường Đây là cơ sở quan trọng cho tác giả đánh giá việc sử dụng PPP trong BVMT dưới góc độ pháp lý
Thứ ba, dưới góc độ pháp lý, các công trình và bài viết nêu trên đề cập đến
bản chất của PPP, việc thực hiện PPP như một nguyên tắc pháp lý ở một số nước Tuy nhiên, sự khác nhau trong cách hiểu về PPP cần có lý giải Kinh nghiệm về sử dụng các hình thức để thực hiện PPP ở các nước là những gợi mở tốt cho Việt Nam
Thứ tư, mặc dù việc áp dụng có khác nhau nhưng những công trình và bài viết
nước ngoài đều chỉ ra rằng, PPP được thừa nhận và áp dụng ở hầu hết các quốc gia
và được xem như một nguyên tắc pháp lý cần tuân thủ trong LMT
Thứ năm, ở góc độ luận án tiến sĩ, cho đến nay, ở nước ta chưa có công trình
nghiên cứu nào nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về PPP Chính vì vậy, có thể khẳng định, đây là luận án tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu về PPP dưới góc
độ pháp lý tại Việt Nam
1.1.3.2 Những vấn đề chưa được nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận án
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu đề cập đến PPP
gắn với điều kiện kinh tế - xã hội của từng (hoặc một số) quốc gia Các công trình nghiên cứu có sự so sánh với việc thực hiện PPP ở Việt Nam còn rất ít Vì vậy, Luận
án phân tích rõ hơn các bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện PPP ở một số quốc gia và gợi mở đối với Việt Nam
Thứ hai, một số vấn đề chưa được các tác giả của các công trình nghiên cứu
làm rõ (hoặc chưa đầy đủ) như: mục đích và yêu cầu của PPP, xác định đầy đủ chủ thể trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm, phân định chủ thể phải trả tiền theo PPP với các chủ thể gây ô nhiễm khác nhưng không phải trả tiền, nhất là gắn với quy định pháp luật Việt Nam Luận án tiếp tục làm rõ thêm những vấn đề lý luận về PPP trong việc xác định chi phí tối ưu mà người gây ô nhiễm bỏ ra dưới góc độ kinh tế
và số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm dưới góc độ pháp lý
Thứ ba, các công trình nghiên cứu hoặc đề cập khái quát về PPP, hoặc đề cập
Trang 33một hình thức trả tiền cụ thể theo PPP, chưa có công trình nghiên cứu nào vừa đề cập cách tiếp cận chung về PPP trong mối liên hệ cụ thể với các hình thức trả tiền nhằm thực hiện yêu cầu của PPP Luận án nghiên cứu cách tiếp cận chung về PPP cùng với sự thể hiện của nguyên tắc này thông qua các hình thức trả tiền phổ biến theo pháp luật Việt Nam
Thứ tư, nhiều công trình nghiên cứu trước thời điểm Luật BVMT năm 2014
có hiệu lực Việc áp dụng PPP ở Việt Nam tại thời điểm này chưa phổ biến Luận án phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành PPP ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Thứ năm, trong các công trình chưa chỉ rõ những bất cập trong việc thực hiện
PPP, chưa đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về PPP ở Việt Nam, trong đó
có pháp luật về môi trường và các lĩnh vực pháp luật liên quan Vì vậy, Luận án lý giải những rào cản trong việc ghi nhận PPP như là một nguyên tắc chính thức của LMT, đồng thời đưa ra các giải pháp giải quyết những hạn chế, rào cản nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả PPP
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận đề tài
Bên cạnh đó, môi trường trong trường hợp thỏa thuận thường là tài sản chung, tức là sự thỏa thuận chung giữa rất nhiều chủ thể, việc tìm ra chủ thể đại
Trang 34diện đứng ra thỏa thuận là rất khó Trong những trường hợp như vậy, cần có sự can thiệp của chính phủ như ban hành các quy định về tiêu chuẩn ô nhiễm hoặc thuế ô nhiễm dựa vào mức thiệt hại do ô nhiễm gây ra Lý thuyết về chi phí ô nhiễm của Arthur Cecil Pigou được sử dụng
- Lý thuyết về các nguyên tắc cơ bản điều hòa xung đột giữa phát triển kinh tế
và BVMT trong nền kinh tế thị trường, đó là PPP và nguyên tắc “người thụ hưởng
phải trả tiền” (BPP) Những nguyên tắc này thể hiện bản chất của quan hệ pháp lý trong lĩnh vực môi trường (mang tính bắt buộc hay tự nguyện; vai trò của Nhà nước, xã hội và doanh nghiệp)
- Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, trong đó nhấn mạnh mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, vai trò điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội trong xã hội
- Lý thuyết về phát triển bền vững và quan điểm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đảm bảo tiến bộ xã hội, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, trong đó có pháp luật môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập và thực hiện các cam kết quốc tế xuất phát từ các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Khi nghiên cứu về PPP, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
Thứ nhất, ô nhiễm theo cách hiểu của PPP và ô nhiễm theo pháp luật môi
trường Việt Nam có gì khác biệt? Sự khác biệt ở các cách tiếp cận có cần phải giải quyết để đảm bảo hiệu quả của hoạt động BVMT?
Thứ hai, pháp luật Việt Nam cần ghi nhận PPP như thế nào? Trong điều kiện
Việt Nam, để thực hiện tốt PPP cần những tiền đề gì?
Thứ ba, hoàn thiện các quy định pháp luật và đảm bảo thực thi trên thực tế về
PPP xuất phát từ các nhu cầu, định hướng nào và theo những nội dung nào?
1.2.3 Giả thuyết nghiên cứu
Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu của Luận án, các giả thuyết nghiên cứu bao gồm:
Thứ nhất, hoạt động phát triển kinh tế tác động rất lớn đến môi trường, gây ra
sự biến đổi xấu cho môi trường, ÔNMT Sự tác động đến môi trường có nhiều quy
Trang 35mô, hành vi gây tác động xấu đến môi trường cũng có nhiều cách tiếp cận Giả thuyết này sẽ đưa ra cách hiểu về ÔNMT và người gây ô nhiễm trong cách hiểu của nguyên tắc, để có sự phân định với cách tiếp cận trong các lĩnh vực khác Có nhiều nhóm hành vi gây ÔNMT, vì thế, tiền phải trả để thực hiện hành vi cũng rất đa dạng Cần xác định nhóm hành vi gây ô nhiễm theo nguyên tắc, từ đó xác định tiền phải trả theo nguyên tắc gắn liền với các nhóm hành vi này
Thứ hai, việc thực hiện PPP mang lại những tác động tích cực đến hoạt động
BVMT Những tác động này thật sự có hiệu quả khi thể hiện đúng bản chất của hành vi gây ô nhiễm (được mua) với tiền để thực hiện hành vi đó (phải trả) Mục đích của nguyên tắc là tạo nguồn thu cho hoạt động BVMT, tạo sự công bằng giữa các chủ thể và định hướng hành vi xử sự của các chủ thể Từ mục đích này, yêu cầu đặt ra là tiền đánh vào hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất, mức độ tác động xấu đến môi trường và đủ sức tác động đến lợi ích, hành vi của các chủ thể
Thứ ba, Việt Nam đã xây dựng được những quy định pháp luật nhằm thực
hiện PPP, nhưng những quy định đó chưa hoàn thiện, việc thực thi các quy định pháp luật về các hình thức thực hiện PPP chưa đồng bộ Cần phải tìm ra được những hạn chế, bất cập trong những quy định của pháp luật về các hình thức thực hiện PPP và những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện pháp luật về các hình thức thực hiện PPP, chỉ ra được những nguyên nhân của hạn chế, bất cập đó Tiền
đề đảm bảo thực hiện PPP không chỉ liên quan đến các nghĩa vụ tài chính đánh vào hành vi gây ô nhiễm mà còn cả chế tài hành chính, hình sự
Thứ tư, PPP được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước Có sự khác biệt trong việc
áp dụng nguyên tắc này giữa Việt Nam và các nước Đề cập quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới để gợi
mở cho Việt Nam trong việc áp dụng PPP
Thứ năm, hoàn thiện pháp luật và việc đảm bảo thực hiện các quy định pháp
luật về các hình thức thực hiện PPP phải dựa trên cơ sở những nhu cầu và định hướng nhất định Những giải pháp, kiến nghị cụ thể sẽ giúp hoàn thiện các quy định pháp luật và tăng cường hiệu quả việc thực hiện các quy định pháp luật về các hình thức thực hiện PPP
1.2.4 Phương pháp tiếp cận đề tài
Là luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế, hướng tiếp cận của đề
Trang 36tài xuất phát từ góc độ kinh tế để phân tích các nội dung về PPP Tác giả sẽ nhìn nhận việc phân tích pháp luật ở góc độ kinh tế, đặc biệt là các hình thức thực hiện PPP nhằm đảm bảo mục đích và yêu cầu cần hướng đến Ở góc độ này, phương pháp tiếp cận của Luận án là phương pháp tiếp cận đa lĩnh vực trên cơ sở kết hợp giữa kinh tế học với luật học (bao gồm luật kinh tế, luật thuế…)
Bên cạnh đó, những nghĩa vụ tài chính thực hiện PPP gắn liền với vấn đề môi trường nên hướng tiếp cận từ góc độ khoa học môi trường, LMT cũng được đề cập, trong đó, cách tiếp cận về phát triển bền vững được ưu tiên vì đó là sự kết hợp giữa phát triển kinh tế, BVMT và đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội Ở góc độ này, Luận
án có sự kết hợp giữa khoa học môi trường và LMT
Trang 37Kết luận Chương 1
Từ các kết quả nghiên cứu trong Chương 1, tác giả đưa ra các kết luận sau đây:
Thứ nhất, PPP được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau trong nước và ở
nước ngoài Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy việc áp dụng PPP trở nên phổ biến, đặc biệt tại các quốc gia phát triển, với nhiều hình thức thực hiện
và mang lại hiệu quả trong việc cân đối lợi ích của cộng đồng với người gây ô nhiễm, định hướng hành vi tác động đến môi trường của các chủ thể Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu chưa tập trung nhiều về khía cạnh lý luận của PPP, hoặc khai thác từ một (một vài) hình thức thực hiện nguyên tắc này Các công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp lý chủ yếu thông qua các bài viết chuyên ngành Những kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã phần nào khái quát được các vấn đề liên quan đến PPP dưới góc độ kinh tế - môi trường và pháp lý Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có luận án tiến sĩ luật học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, đầy đủ và có
so sánh các nội dung có liên quan trong pháp luật các nước về PPP tại Việt Nam
Thứ hai, trên cơ sở hệ thống hóa các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và
nước ngoài, Luận án đã nêu ra các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu mà các công trình trước đã đề cập, đồng thời chỉ ra các vấn đề cần được tiếp tục nghiên
cứu, bao gồm: (i) tiếp tục phân tích các vấn đề lý luận của PPP, liên quan đến mục đích, yêu cầu, nội dung của PPP; (ii) phân định chủ thể phải trả tiền theo PPP với
các chủ thể gây ô nhiễm khác nhưng không phải trả tiền, gắn với quy định pháp luật
Việt Nam; (iii) đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành PPP ở Việt Nam
hiện nay, phân tích rõ hơn các bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện PPP ở một
số quốc gia và gợi mở đối với Việt Nam; (iv) đề xuất kiến nghị và hoàn thiện pháp
luật về PPP ở Việt Nam, trong đó có pháp luật về môi trường và các lĩnh vực pháp luật liên quan
Thứ ba, những vấn đề này sẽ được giải quyết tốt nếu áp dụng các lý thuyết
nghiên cứu về kinh tế môi trường, đặc biệt là kinh tế ô nhiễm, lý thuyết về các nguyên tắc cơ bản điều hòa xung đột giữa phát triển kinh tế và BVMT trong nền kinh tế thị trường, lý thuyết về phát triển bền vững và quan điểm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phát triển bền vững Các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và phương pháp tiếp cận cũng được đề cập trong
Chương 1 Đây chính là cơ sở lý luận của Luận án này
Trang 38Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC NGƯỜI GÂY Ô NHIỄM PHẢI TRẢ TIỀN
Từ các đánh giá về tình hình nghiên cứu trong Chương 1, Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận về PPP, từ cơ sở hình thành, phát triển đến mục đích, yêu cầu của nguyên tắc này Nội dung của PPP được phân tích trên hai nhóm vấn đề chính là “người gây ô nhiễm” và “tiền” các chủ thể phải trả Các nội dung này được khai thác trên cơ sở tiếp cận ở các khía cạnh kinh tế, môi trường và pháp
lý Chương 2 cũng phân tích mối liên hệ giữa PPP với các nguyên tắc khác trong pháp luật môi trường Việt Nam, làm cơ sở cho việc hoàn thiện đồng bộ pháp luật liên quan đến PPP
2.1 Cơ sở hình thành và quá trình phát triển của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Phát triển là quy luật tất yếu của cuộc sống Hoạt động phát triển tạo ra của cải vật chất, giúp cải thiện chất lượng cuộc cống con người, đồng thời ảnh hưởng đến môi trường thông qua việc tác động đến các yếu tố môi trường Những hoạt động của con người như: khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm…
và hoạt động của thiên nhiên như: động đất, núi lửa, bão, lũ… làm cho môi trường biến đổi Các dạng biến đổi cơ bản là ÔNMT, suy thoái môi trường, sự cố môi trường
Xét về mặt kinh tế, ÔNMT phụ thuộc vào tác động của chất thải, đó là hiệu ứng vật lý đối với sinh vật như thay đổi giống loài, giảm sút năng suất sinh học; là phản ứng của con người đối với tác động đó như không hài lòng, buồn phiền, lo lắng, băn khoăn Có thể coi sự phản ứng của con người như là sự giảm phúc lợi Ví
dụ, khi sản xuất giấy có các khí thải như SO2, H2S, Cl… có nước thải lẫn axít HCl, các chất thải rắn như bùn, vôi, xơ sợi… làm chết một số thủy sinh vật, thay đổi năng suất lúa, cây trồng trong vùng Dân cư trong vùng chịu tác động của chất thải cũng
bị suy giảm sức khỏe, ốm đau… Các hiện tượng trên được gọi là ngoại ứng, là ảnh
hưởng của một hoạt động xảy ra bên trong một hệ sản xuất lên các yếu tố khác
và ngoại ứng tiêu cực (ngoại ứng âm) Ngoại ứng tích cực là những hoạt động đem
8 Lê Quốc Lý chủ biên (2014), Giáo trình kinh tế môi trường, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, tr.35
Trang 39lại phúc lợi cho người người tốt hơn, ngược lại, ngoại ứng âm là những hoạt động gây tác động xấu đến môi trường sống của con người Khi ngoại ứng tiêu cực gây tổn thất phúc lợi đối với các tác nhân khác, mà tổn thất phúc lợi đó không được đền
bù thì chính nó gây ra chi phí bên ngoài9 Ngoại ứng tiêu cực dẫn đến ô nhiễm nhưng không nhất thiết phải loại bỏ nó, bởi sản xuất là tất yếu của quá trình phát triển Theo quy luật nhiệt động học, không tồn tại sản phẩm mà không kèm theo phát thải chất ô nhiễm Muốn đạt mức ô nhiễm bằng 0, có nghĩa là không có hoạt động kinh tế là không phù hợp với xu thế phát triển Vì vậy, ngoại ứng xảy ra là điều tất nhiên Vấn đề là ngoại ứng đến mức nào để xã hội chấp nhận được
Môi trường có ba chức năng cơ bản, đó là: không gian sống cho con người và sinh vật, cung cấp các nguồn tài nguyên, nơi chứa đựng phế thải sản xuất và sinh hoạt10 Nhờ có chức năng thứ ba mà môi trường có khả năng hấp thụ, đồng hóa chất thải, biến chúng thành những chất ít hoặc không độc hại, thậm chí là có lợi Đây được xem như sức chịu tải của môi trường Nếu lượng chất thải vừa phải, hoặc ít chứa chất gây ô nhiễm, sức chịu tải của môi trường đảm bảo Nếu vượt quá ngưỡng cho phép, ÔNMT xuất hiện Vấn đề quan trọng là cân đối giữa các ngoại ứng tiêu cực với mức độ ô nhiễm để duy trì sản xuất và đảm bảo môi trường
Trong quá trình sản xuất, nếu có chi phí bên ngoài thì mức tối ưu xã hội của hoạt động sản xuất không trùng với mức tối ưu cá nhân Làm thế nào để đạt được mức tối ưu xã hội của hoạt động sản xuất? Nhà kinh tế học Ronald Coase11 đã đưa
ra ý tưởng về quyền sở hữu thông qua thị trường để đạt được mức hoạt động tối ưu này
Quyền sở hữu liên quan đến quyền sử dụng tài nguyên, môi trường và xác lập quyền làm chủ tài nguyên thiên nhiên Quyền sử dụng tài nguyên được giới hạn trong luật pháp mà xã hội quy định Môi trường là nguồn lực, cho nên nó là một tài sản và có quyền sở hữu Quyền sở hữu tài sản có thể thuộc về tư nhân hay cộng đồng Khi quyền sở hữu về môi trường thay đổi, sẽ dẫn đến sự thay đổi giải pháp thị trường để đạt mức hoạt động tối ưu Nếu không có sự điều chỉnh của thị trường, nhà
9 Hoàng Xuân Cơ (2010), Giáo trình kinh tế môi trường, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.51
10 Xem thêm Hoàng Xuân Cơ, Tlđd (9), tr.54; Lê Quốc Lý chủ biên, Tlđd (8), tr.39
11
Ronald Harry Coase (1910-2013) là nhà kinh tế và tác giả người Anh Ông là Giáo sư danh dự tại trường
luật đại học Chicago Coase được biết đến với hai bài nổi tiếng: "Bản chất của Công ty" (1937), trong đó giới thiệu các khái niệm về chi phí giao dịch để giải thích bản chất và giới hạn của các công ty, và "Vấn đề chi phí
xã hội" (1960) cho thấy rằng quyền sở hữu rõ ràng có thể vượt qua những vấn đề của yếu tố bên ngoài Ông nhận giải Nobel Kinh tế năm 1991
Trang 40sản xuất (người gây ô nhiễm) sẽ cố gắng hoạt động ở mức tối đa để thu lợi nhuận cao nhất Xét hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất, nếu quyền sở hữu môi trường thuộc người bị ô nhiễm (chẳng hạn, Nhà nước quy định không được xả thải trong khu vực nào đó), người bị
ô nhiễm sẽ không muốn bị ô nhiễm (dù rất ít), vô hình chung họ không muốn có hoạt động sản xuất Nói cách khác, người sản xuất không được quyền gây ô nhiễm (không có ngoại ứng) Điều này trái với mục đích của người gây ô nhiễm Vì vậy, sẽ xảy ra sự mặc cả (thông qua thị trường) giữa người gây ô nhiễm và người chịu ô nhiễm Nếu người gây ô nhiễm đền bù cho người chịu ô nhiễm một khoản chi phí tối thiểu lớn hơn chi phí bên ngoài do ngoại ứng gây ra, người gây ô nhiễm vẫn thu được lợi nhuận lớn hơn nhiều so với chi phí phải bỏ ra để đền bù cho người chịu ô nhiễm Thỏa thuận như vậy có lợi cho cả hai bên
- Trường hợp thứ hai, nếu quyền sở hữu môi trường thuộc người gây ô nhiễm (chẳng hạn, Nhà nước cho phép phát thải) thì họ sẽ hoạt động để có lượng sản phẩm tối đa, mức gây ô nhiễm lớn vì họ có quyền phát thải ra môi trường mà họ được sở hữu Trong trường hợp này, người chịu ô nhiễm gánh chịu chi phí bên ngoài lớn Vì vậy, họ muốn nhà sản xuất giảm mức hoạt động Như vậy, sẽ xảy ra mặc cả giữa người gây ô nhiễm và người chịu ô nhiễm Nếu người chịu ô nhiễm bỏ ra một khoản chi phí tối thiểu lớn hơn lợi nhuận mà nhà sản xuất bị thiệt hại do giảm mức sản xuất thì người sản xuất (người gây ô nhiễm) sẵn sàng chấp nhận Điều đó có lợi cho người chịu ô nhiễm, mặc dù họ bỏ ra một khoản chi phí đền bù nhưng lại giảm được (tránh được) chi phí bên ngoài lớn hơn rất nhiều
Như vậy, không cần sự can thiệp của chính phủ, sự thỏa thuận giữa những người gây ô nhiễm và người chịu ô nhiễm thông qua thị trường vẫn có thể đạt được mức hoạt động tối ưu Đó chính là lý thuyết Coase12 Lý thuyết này đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh ô nhiễm mà không cần sự can thiệp của chính phủ Tuy nhiên, trong một số trường hợp, lý thuyết này tỏ ra không thích hợp Chẳng hạn, tác nhân gây ô nhiễm bao gồm nhiều nguồn, phía chịu ô nhiễm cũng không xác định rõ, lúc này, cần có sự can thiệp của chính phủ Bên cạnh đó, môi trường trong trường hợp thỏa thuận thường là tài sản chung, tức là sự thỏa thuận chung giữa rất nhiều chủ thể, việc tìm ra chủ thể đại diện đứng ra thỏa thuận là rất
12 Xem thêm Hoàng Xuân Cơ, Tlđd (9), tr.55-57; Lê Quốc Lý chủ biên, Tlđd (8), tr.42-45; Nguyễn Mậu
Trung, Vũ Thị Phương Thụy đồng chủ biên (2010), Giáo trình Kinh tế môi trường, Nxb Tài chính, Hà Nội,
tr.54-57