1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình tổ chức tòa án ở việt nam hiện nay thực trạng và phương hướng đổi mới

87 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô hình tổ chức tòa án ở Việt Nam hiện nay thực trạng và phương hướng đổi mới
Tác giả Lương Thúy Hảo
Người hướng dẫn Gv. Trần Thị Thu Hà
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật hành chính
Thể loại Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Khái quát v ề mô hình t ổ ch ứ cToà án (9)
    • 1.1.1 Cơ sở hình thành Toà án (9)
    • 1.1.2 Vị trí, vai trò của Toà án nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (0)
      • 1.1.2.1 Vị trí, vai trò của Tòa án trong bộ máy nhà nước (10)
      • 1.1.2.2 Vị trí, vai trò của Tòa án trong đời sống xã hội (13)
    • 1.1.3 Mô hình t ổ ch ức Toà án theo quy đị nh c ủ a pháp lu ậ t Vi ệ t Nam (14)
      • 1.1.3.1 Mô hình tổ chức Toà án theo quy định của pháp luật Việt Nam giai đoạn (15)
      • 1.1.3.2 Mô hình tổ chức Toà án theo quy định của pháp luật Việt Nam giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980 (17)
      • 1.1.3.3 Mô hình tổ chức Toà án theo quy định của pháp luật Việt Nam giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 (19)
      • 1.1.3.4 Mô hình tổ chức Toà án theo quy định của pháp luật Việt Nam giai đoạ n t ừ năm 1992 đế n nay (20)
  • 1.2 Các mô hình t ổ ch ứ c Toà án hi ệ n nay c ủ am ộ t s ố qu ố c gia trên th ế giới (24)
    • 1.2.1 Mô hình t ổ ch ứ c Toà án theo c ấ p xét x ử (0)
    • 1.2.2 Mô hình t ổ ch ứ c Toà án t heo đơn vị hành chính lãnh th ổ (0)
    • 1.2.3 Mô hình t ổ ch ứ c Toà án c ủ a M ỹ (0)
    • 1.2.4 Mô hình tổ chức Toà án của Trung u c (0)
  • CHƯƠNG 2: THỰ C TR Ạ NG MÔ HÌNH T Ổ CH Ứ C TÒA ÁN C Ủ NƯỚ C (36)
    • 2.1 Th ự ctr ạ ngv ề môhìnht ổ ch ứ cToàánc ủanướ c ta hi ệ n nay (36)
      • 2.1.1 Môhìnht ổ ch ứcToàántheoquyđị nhc ủ aHi ếnphápnăm 1992 (sửađổ i, b ổ (36)
        • 2.1.1.1 ƢuđiểmcủamôhìnhtổchứcToàántheoquyđịnhcủaHiếnphápnăm 1992 (sửađổi, bổ sung năm 2001) vàLuậttổchứcToàánnhândân (0)
        • 2.1.2.1 ƢuđiểmcủamôhìnhtổchứcToàántheoquyđịnhHiếnphápnăm 1992 (sửađổi, bổ sung năm 2013) vàdự thảoLuậttổchức Toà ánnhândânnăm 2002 (sửađổi) (0)
        • 2.1.2.2 Hạnchế củamôhìnhtổchứcToàántheoquyđịnhcủaHiếnpháp 1992 (sửađổi, bổ sung năm 2013) vàdựthảoLuậttổchức Toà ánnhândânnăm 2002 (sửađổi) (0)
    • 2.2 Phươnghướngđổ im ớ imôhìnht ổ ch ứcToàáncủanướ c ta hi ệ n nay (53)
      • 2.2.1 S c ầ nthi ếtđổ im ớ imôhìnht ổ ch ứ cToàánc ủanước ta tronggiaiđoạ nhi ệ n (0)
        • 2.2.1.1 Vềmặtlýluận (53)
        • 2.2.1.2 Vềmặtthựctiễn (57)
      • 2.2.2 ộts phươnghướngđổimớim h nhtổ chứcT a án của nước ta hiện nay (0)

Nội dung

Khái quát v ề mô hình t ổ ch ứ cToà án

Cơ sở hình thành Toà án

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về lịch sử hình thành nhà nước, khi xã hội xuất hiện tư hữu, các giai cấp đối lập về lợi ích ngày càng gay gắt dẫn đến mâu thuẫn không thể điều hòa, dẫn tới sự diễn ra đấu tranh giai cấp; giai cấp thắng lợi sẽ nắm quyền thống trị và xây dựng nhà nước để thực hiện quyền lực của mình Nhà nước ra đời nhằm thiết lập quyền lực đặc biệt chỉ thuộc về giai cấp thống trị, phục vụ lợi ích của họ, khiến nhà nước ngày càng xa lạ với xã hội và buộc phải sử dụng phương pháp cưỡng chế, trong đó pháp luật là công cụ chủ yếu để duy trì quyền lực đó Sự ra đời của pháp luật đòi hỏi phải có các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật, thường là các tòa án có chức năng xét xử các hành vi vi phạm pháp luật do giai cấp thống trị đặt ra Tên gọi “Tòa án” bắt nguồn từ tiếng Latinh “Forum”, mang ý nghĩa là nơi cộng đồng hoạt động, biểu thị cơ quan có thẩm quyền xét xử trong bộ máy nhà nước Ban đầu, mục đích thành lập tòa án là để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, song qua quá trình đấu tranh gay gắt, các giai cấp khác đã yêu cầu tòa án phải phản ánh lợi ích của toàn xã hội, đặc biệt trong bối cảnh đất nước cần phát triển kinh tế, củng cố đoàn kết chống xâm lược hoặc mở rộng lãnh thổ.

3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 41

4 Nguyễn Đăng Dung và tập thể tác giả(2004), Th ể ch ế t ư pháp trong nhà nướ c pháp quy ề n, Nxb Tƣ pháp, Hà

Vị trí, vai trò của Toà án nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong bối cảnh ổn định môi trường quốc tế và yêu cầu bảo vệ quyền con người ngày càng cao, Tòa án được thành lập không chỉ để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị mà còn là cơ quan công lý bảo vệ quyền và lợi ích của mọi giai tầng xã hội Khi học thuyết phân chia quyền lực nhà nước xuất hiện, Tòa án trở thành một thành phần quan trọng trong tổ chức quyền lực nhà nước, giữ vai trò xét xử và cân bằng quyền lực Tòa án nắm giữ quyền tư pháp như một cán cân kiểm soát, đối trọng với các nhánh quyền lập pháp và hành pháp, góp phần duy trì sự cân bằng quyền lực và đảm bảo hoạt động hiệu quả của bộ máy nhà nước.

Tòa án có nguồn gốc hình thành gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, đóng vai trò như một công cụ cưỡng chế nhằm buộc mọi chủ thể trong xã hội tuân thủ chính sách quản lý của Nhà nước Với diện tích lãnh thổ rộng lớn và xã hội ngày càng phát triển, quyền hạn của Tòa án đã được mở rộng để đáp ứng nhu cầu quản lý xã hội ngày càng cao Để đáp ứng yêu cầu cai trị xã hội của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển, việc xây dựng hệ thống Tòa án phù hợp và ngày càng hoàn thiện là điều thiết yếu giúp duy trì trật tự, thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

1.1.2Vị trí, vai trò của Toà án nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam 1.1.2.1 Vị trí, vai trò của Tòa án trong bộmáy nhà nước

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) khẳng định “Tòa án là cơ quan xét xử của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, nâng cao vai trò của Tòa án trong bộ máy nhà nước Quy định này đã có sự thay đổi lớn, khi nhà nước trao quyền tư pháp cho Tòa án, từ đó nâng cao vị thế và vai trò của Tòa án trong hệ thống pháp luật Trước đây, quyền tư pháp ở Việt Nam được hiểu là một bộ phận hợp thành của hệ thống quyền lực nhà nước, nhưng nay đã được chính thức xác lập và khẳng định rõ trong Hiến pháp.

Theo Điều 102, Khoản 1 của Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013), quyền lực nhà nước gắn liền với hoạt động bảo vệ pháp luật nhằm duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp là thước đo của nền công lý trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dựa trên các tiêu chí minh bạch, công bằng và độ tin cậy của người dân Tư pháp không chỉ gồm Tòa án mà còn bao gồm Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, cơ quan Thi hành án và các cơ quan bổ trợ tư pháp khác, làm cho Tòa án không chỉ đơn thuần là cơ quan thực hiện chức năng tư pháp Trong quá khứ, cách hiểu này gây nhầm lẫn về vị trí của Tòa án, làm giảm vai trò như một nhánh quyền lực độc lập trong bộ máy nhà nước, gây khó khăn trong hoạt động và làm giảm nguyên tắc độc lập của Tòa án Tuy nhiên, từ khi Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) công nhận Tòa án là nhánh quyền lực tư pháp, vị trí và vai trò của Tòa án đã được nâng cao rõ rệt, thể hiện nhận thức mới về quyền tư pháp tại Việt Nam Nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp 1992, luôn nhấn mạnh sự thống nhất của quyền lực nhà nước kết hợp với phân công và phối hợp giữa các cơ quan, tuy nhiên, với các sửa đổi gần đây, nguyên tắc này đã được điều chỉnh thành “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan” để phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước.

6 Nguyễn Ngọc Chí (2012), “Tổ chức Tòa án theo cấp xét xử trong Hiến pháp sửa đổi, bổ sung”, sửa đổi, bổ sung

Hi ế n pháp 1992 - Nh ữ ng v ấn đề lý lu ậ n và th ự c ti ễ n, (Tập 1), tr 607-608

Quyền lực nhà nước được chia thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó Quốc hội đảm nhận quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, và Toà án đảm nhận quyền tư pháp Việc thêm từ “kiểm soát” vào nguyên tắc phân chia quyền lực đã làm thay đổi đáng kể vị trí và vai trò của các cơ quan nhà nước, đặc biệt nâng cao vị thế của Toà án, cho phép chúng kiểm soát hoạt động của các cơ quan khác và phối hợp trong bộ máy nhà nước Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy về quyền lực nhà nước của các nhà lập pháp Việt Nam, phù hợp với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay Trong một nhà nước pháp quyền, pháp luật là yếu tố trung tâm, và Toà án đóng vai trò bảo vệ pháp luật, đưa pháp luật vào thực tiễn, đảm bảo pháp luật được thi hành, do đó tăng cường quyền lực của hệ thống Toà án là cần thiết để hoàn thiện hệ thống pháp luật và thúc đẩy pháp quyền tại Việt Nam.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hệ thống cơ quan tư pháp gồm nhiều thành phần như Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan Thi hành án, Cơ quan điều tra và các cơ quan bổ trợ tư pháp khác, không chỉ riêng Tòa án Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức các cơ quan tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại, trong đó xác định Tòa án giữ vị trí trung tâm và hoạt động xét xử là hoạt động trọng tâm của hệ thống tư pháp Vì vậy, Tòa án được xem là cơ quan trung tâm trong hệ thống tư pháp, bởi vì chức năng xét xử của Tòa án chính là phương thức pháp luật được hiện thực hóa thông qua các quyết định và bản án; hoạt động của các cơ quan tư pháp khác nhằm mục đích hỗ trợ Tòa án trong việc thực thi nhiệm vụ bảo vệ pháp luật.

Hệ thống Tòa án đóng vai trò là cơ quan xét xử duy nhất của nhà nước, góp phần duy trì sự thống nhất trong bộ máy nhà nước Là một nhánh quyền lực độc lập và trung tâm của hệ thống cơ quan tư pháp, Tòa án giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật, đảm bảo công lý và duy trì trật tự xã hội.

Điều 8 của Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định về vai trò của Tòa án trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Tòa án không chỉ là cơ quan giúp duy trì, bảo đảm lợi ích của nhà nước mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nhà nước điều hành xã hội Ngoài ra, Tòa án còn là cơ quan giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định để thúc đẩy phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

1.1.2.2 Vị trí, vai trò của Tòa án trong đời sống xã hội Đối với đời sống xã hội, Tòa án cũng giữ vị trí, vai trò không kém phần quan trọng Tại Việt Nam, Tòa án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử, vì vậy Tòa án là cơ quan giải quyết hầu hết các vụ việc vi phạm pháp luật hình sự hoặc các tranh chấp hành chính, dân sự, lao động, thương mại…trừ một số rất ít trường hợp thuộc thẩm quyền của cơ quan khác Do đó, Toà án giữ vai trò vô cùng lớn trong việc giải quyết công bằng các tranh chấp; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức trong xã hội; bảo vệ công dân của mình trong các quan hệ quốc tế, bảo vệ quyền con người… Ngoài ra, Tòa án còn là cơ quan bảo vệ quyền lực nhà nước, tránh việc quyền lực nhà nước bị lạm dụng, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, bảo đảm quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích là để “phục vụ” nhân dân theo nguyên tắc “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” 9 Nhƣ vậy, thông qua phán quyết của mình Tòa án bảo vệ lẽ phải, sự công bằng trong cuộc sống Vì thế, Tòa án còn đƣợc gọi là cơ quan thực thi công lý Bên cạnh đó, Toà án cũng là cơ quan chuyển tải trực tiếp pháp luật của nhà nước tới xã hội, Tòa án nhân danh nhà nước đưa ra phán quyết khi giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền, nên Tòa án còn là cơ quan đại diện cho hình ảnh của nhà nước trước nhân dân Do đó, thông qua việc xét xử công bằng, hợp lí, Tòa án củng cố niềm tin của người dân vào chính quyền, giúp ổn định lòng dân, giúp người dân yên tâm xây dựng cuộc sống, cống hiến cho xã hội

Toà án đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử công khai Các phiên toà xét xử được đưa lên phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức xét xử lưu động để nâng cao nhận thức pháp luật cho cộng đồng Hoạt động này không chỉ mang lại tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm cho người phạm tội mà còn góp phần nâng cao ý thức pháp luật chung của toàn xã hội.

Điều 2, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) nhằm tuyên truyền, giải thích pháp luật để nâng cao nhận thức của nhân dân, hướng họ sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Toà án đóng vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm nhằm chia rẽ đoàn kết dân tộc và chống chính quyền nhân dân Hoạt động của Toà án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng quy tắc xã hội, từ đó giữ vững an ninh trật tự, tạo môi trường hòa bình, thuận lợi cho sự phát triển đất nước.

Hệ thống Tòa án đóng vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước cũng như đời sống xã hội Trong giai đoạn hiện nay, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) đã khẳng định vị trí và vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ công lý, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của công dân.

Hệ thống Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi pháp luật và duy trì quyền lực nhà nước pháp quyền, do đó cần được chú trọng hơn nữa Trong nhà nước pháp quyền, quyền tư pháp phải là nhánh quyền lực trung tâm, có năng lực mạnh mẽ để kiểm soát các cơ quan quyền lực khác, đảm bảo việc thi hành pháp luật tuyệt đối Khi xã hội ngày càng phát triển, Tòa án cần tổ chức một cách hiệu quả để xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật ngày càng nhiều và phức tạp, qua đó đảm bảo thực hiện tốt vai trò của mình và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn.

Hiểu rõ vị trí và vai trò quan trọng của hệ thống Tòa án trong bộ máy nhà nước, các nhà lập pháp Việt Nam luôn tập trung xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức Tòa án phù hợp với đặc điểm kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước Trong quá trình phát triển của nhà nước Việt Nam, việc này nhằm đảm bảo hệ thống Tòa án đáp ứng nhiệm vụ xét xử công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần củng cố nền tư pháp vững mạnh Chính vì vậy, các giai đoạn phát triển của hệ thống Tòa án luôn phản ánh sự thích nghi và tiến bộ của luật pháp Việt Nam, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử và yêu cầu của xã hội.

Mô hình t ổ ch ức Toà án theo quy đị nh c ủ a pháp lu ậ t Vi ệ t Nam

Hệ thống Tòa án Việt Nam đã hình thành và phát triển song hành cùng các giai đoạn của cách mạng Việt Nam Trong quá trình đổi mới, Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật và đảm bảo công bằng xã hội Cùng với các cơ quan Nhà nước khác, Tòa án góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và giữ gìn đất nước Sự phát triển của hệ thống Tòa án đã phản ánh rõ nét quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư pháp của Việt Nam.

10 Khoản 1, Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, sổ sung năm 2013)

Hơn 60 năm qua kể từ khi đƣợc hình thành, mô hình tổ chức Tòa án có thể đƣợc chia làm 4 giai đoạn phát triển:

1.1.3.1 Mô hình tổ chức Toà án theo quy định của pháp luật Việt Nam giai đoạn sau cách mạng tháng 8 - 1945 đến năm 1959

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, đánh dấu sự bắt đầu của chính quyền mới của nước ta Chính quyền cách mạng còn non trẻ đối mặt với nhiều khó khăn, gây áp lực lớn trong việc xây dựng bộ máy nhà nước để quản lý và ổn định đất nước Do điều kiện chưa cho phép xây dựng và công bố một Hiến pháp hoàn chỉnh ngay lúc này, cần có các cơ quan nhà nước lâm thời đảm trách công tác quản lý nhà nước trong giai đoạn đầu Cùng với việc thành lập các cơ quan lâm thời, Tòa án của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng được thành lập nhằm đảm bảo công lý, duy trì trật tự pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng này.

Tòa án của Việt Nam ra đời từ Sắc lệnh số 33-C ngày 13-9-1954 của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, sau đó được bổ sung bằng Sắc lệnh số 21 ngày 24-1-1946 về thành lập Tòa án quân sự Các Tòa án quân sự này được thành lập tại các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Vinh, Huế, Quảng Ngãi, Nha Trang, Sài Gòn, và Mỹ Tho, có thẩm quyền xét xử các tội phạm gây hại đến độc lập của đất nước Các tòa án này do liên Bộ Quốc phòng - Nội vụ chỉ đạo, còn các vụ việc dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình do Ủy ban hành chính đảm nhiệm Tòa án quân sự là tòa án đầu tiên tại Việt Nam, có chức năng hạn chế trong việc xét xử các tội phạm xâm phạm nền độc lập của đất nước.

Trong quá trình xây dựng chính quyền, nhiều vấn đề cần giải quyết phát sinh, nhưng với chức năng hạn chế của Tòa án quân sự, không thể đáp ứng đầy đủ Chính vì vậy, ngày 24-1-1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh 13 để giải quyết những vướng mắc này, mở đường cho sự ra đời của Hiến pháp nhằm thiết lập nền pháp lý vững chắc cho đất nước.

Năm 1946, hệ thống Tòa án tư pháp được quy định thành lập với bốn cấp gồm Tòa án tối cao, Tòa án thượng thẩm, Tòa án đệ nhị và Tòa án sơ cấp, nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, Tòa án tối cao chưa được thành lập và Tòa án thượng thẩm tạm thời bị giải thể sau đó theo Nghị định 05 ngày 01-01-1947 Tòa án thượng thẩm được thành lập tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn, trong khi Tòa án đệ nhị đóng ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, còn Tòa án sơ cấp hoạt động tại các huyện, thị xã, châu, phủ Về thẩm quyền, Tòa án sơ cấp và Tòa án đệ nhị có thẩm quyền xét xử sơ thẩm và chung thẩm, còn Tòa án thượng thẩm chỉ xét xử phúc thẩm, và toàn bộ hệ thống này do Bộ Tư pháp quản lý Đến ngày 23-8-1946, để củng cố quân đội, Chính phủ ban hành Sắc lệnh 163 thành lập hệ thống Tòa án binh gồm Tòa án binh mặt trận, Tòa án binh khu, Tòa án tối cao và Tòa án khu trung ương, có chức năng xét xử quân nhân phạm tội, các hành vi thiệt hại cho quân đội và tội phạm liên quan đến quân đội, thuộc quản lý của Ủy ban kháng chiến-hành chính khu và do Cục quân pháp Bộ Quốc phòng đảm nhiệm về chuyên môn.

Trong giai đoạn này, hệ thống tòa án của nước ta bao gồm ba nhánh chính: Tòa án quân sự, Tòa án tư pháp và Tòa án binh, thể hiện sự đa dạng và phân chia rõ ràng trong hệ thống tư pháp quốc gia.

Sau một thời gian hoạt động, tổ chức Tòa án Việt Nam đã bộc lộ nhiều khuyết điểm và cần thực hiện cải cách, dẫn đến ngày 22-5-1950 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tư pháp và pháp luật tố tụng Theo đó, các Tòa án tư pháp được đổi tên thành Tòa án nhân dân, tổ chức và hoạt động dựa trên đơn vị hành chính lãnh thổ Cụ thể, “Tòa án sơ cấp” đổi thành Tòa án nhân dân huyện, thị xã, quận, thành phố thuộc tỉnh; “Tòa án đệ nhị” gọi là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; “Hội đồng phúc thẩm” gọi là Tòa phúc thẩm; và “Phụ thẩm nhân dân” được gọi là Hội đồng nhân dân Mô hình tổ chức của Tòa án nhân dân theo Sắc lệnh 85 bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, và Tòa án nhân dân huyện, quận và các tương đương khác.

Từ năm 1946 đến 1958, Tòa án đảm nhận đồng thời chức năng công tố, dẫn đến việc chưa có sự phân chia rõ ràng giữa hai lĩnh vực này Đến tháng 4 năm 1958, Quốc hội quyết định thành lập Tòa án nhân dân và Viện công tố riêng biệt để đảm bảo tính độc lập và phân công nhiệm vụ rõ ràng Kể từ đó, Tòa án và Viện công tố đều thoát khỏi sự quản lý của Bộ Tư pháp và trực tiếp chịu sự quản lý của Hội đồng Chính phủ, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp.

Trong giai đoạn đầu xây dựng đất nước, nền tư pháp còn non trẻ, gặp khó khăn trong việc tổ chức và hoạt động của Tòa án Chính quyền chưa có nhiều kinh nghiệm, dẫn đến cơ cấu tổ chức Tòa án còn chưa ổn định và thường xuyên thay đổi Mô hình tổ chức Tòa án theo Hiến pháp năm 1946 phản ánh sự chưa hoàn thiện và cần thiết phải tổ chức lại để phù hợp với giai đoạn phát triển của đất nước.

11 Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán và Sắc lệnh số 51 ngày 17-7-1946 của Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về phân định thẩm quyền giữa các Tòa án và nhân viên Tòa án hình tổ chức Tòa án dựa theo cấp xét xử và các nguyên tắc hoạt động khá chặt chẽ về cơ bản là tiến bộ Tuy nhiên hệ thống Tòa án tƣ pháp lại chịu sự quản lý của Bộ Tƣ pháp nên nguyên tắc độc lập của Tòa án chƣa đƣợc bảo đảm Ngoài ra chức năng buộc tội và chức năng xét xử đều thuộc về cùng một chủ thể là Tòa án nên chƣa bảo đảm tính khách quan

1.1.3.2 Mô hình tổ chức Toà án theo quy định của pháp luật Việt Nam giai đoạn từnăm 1959 đến năm 1980

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Hiến pháp mới đƣợc thông qua (Hiến pháp năm 1959).Hiến pháp đã hoàn thiện quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, trong đó có mô hình tổ chức Tòa án Sau khi Hiến pháp có hiệu lực, Quốc hội cũng thông qua Luật tổ chức Tòa án nhân dân vào ngày 14-7-1960 quy định cụ thể hơn về mô hình tổ chức Tòa án Đây là Luật tổ chức Tòa án đầu tiên của Việt Nam Theo đó, hệ thốngTòa án nhân dân gồm có:Tòa án nhân dân tối cao; các Tòa án nhân dân địa phương; các Tòa án quân sự Các Tòa án nhân dân địa phương bao gồm: Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vị hành chính tương đương; Tòa án nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Tòa án nhân dân ở các khu vực tự trị 12 Theo quy định này thì hệ thống Tòa án nhân dân bao gồm luôn cả các Tòa án quân sự, nhƣng các Tòa án này đƣợc tổ chức trong quân đội Đặc biệt, trong hệ thống Tòa án nhân dân còn tồn tại một loại Tòa án là Tòa án nhân dân ở các khu vực tự trị đƣợc thành lập ở các khu vực tự trị Việt Bắc và Tây Bắc do Hội đồng nhân dân khu vực tự trị quy định về tổ chức căn cứ theo Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Tòa ánnăm 1960 Theo quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Tòa án năm 1960 thì Tòa án đƣợc tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ Theo quy định này, tương ứng với mỗi đơn vị hành chính sẽ có một Tòa án được thành lập, trải đều khắp vùng lãnh thổ từtrung ương đến địa phương Đây chính là điểm khác biệt với Hiến pháp năm 1946 khi quy định về mô hình tổ chức Tòa án Vì Hiến pháp năm

1946 tổ chức Tòa án tƣ pháp theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ Ngoài ra, khi cần xét xử những vụ án đặc biệt thì Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt 13

12 Điều 2, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960

Dù Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Tòa án năm 1960 quy định về mô hình tổ chức chung của hệ thống Tòa án nhân dân, các vấn đề chi tiết trong từng cấp Tòa được điều chỉnh bởi các văn bản khác Pháp lệnh ngày 23-3-1996 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quy định cụ thể tổ chức của Tòa án nhân dân các cấp, trong đó, Tòa án nhân dân tối cao gồm Uỷ ban Thẩm phán, các Tòa chuyên trách và Hội đồng Toàn thể Thẩm phán, có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và duyệt án tử hình trước khi thi hành Tại cấp tỉnh, cơ cấu gồm Ủy ban Thẩm phán và bộ máy giúp việc, không có Tòa chuyên trách, với thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Còn Tòa án nhân dân cấp huyện có cơ cấu đơn giản gồm Thẩm phán, Thư ký và bộ máy giúp việc, có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự nhỏ, hòa giải tranh chấp dân sự và xử các vụ án hình sự nhẹ theo quy định Về quyền quản lý hệ thống Tòa án, theo hiến pháp năm 1959, Hội đồng Chính phủ và Bộ Tư pháp đã bị bãi bỏ, quyền này trao lại cho Tòa án nhân dân tối cao, có trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp.

Mô hình tổ chức Tòa án theo quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 được đánh giá là khá hoàn chỉnh và chặt chẽ, đáp ứng phần nào yêu cầu giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội Hệ thống này đã góp phần xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng cách trao quyền xét xử và quyền công tố cho hai cơ quan riêng biệt, đảm bảo tính khách quan và công bằng trong hoạt động tư pháp.

Điều 1 của Pháp lệnh năm 1996 quy định rõ về tổ chức Tòa án nhân dân các cấp nhằm đảm bảo tính khách quan trong xét xử Tuy nhiên, mô hình tổ chức Tòa án được tiếp thu từ các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô thời đó, gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về cấu trúc lãnh thổ và tổ chức bộ máy nhà nước Việc tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính và quy định thẩm quyền dẫn đến bộ máy quá cồng kềnh, trong bối cảnh nhà nước còn chưa ổn định trong thời chiến Thẩm quyền của các tòa án các cấp chưa rõ ràng, gây chồng chéo và hoạt động chưa đạt hiệu quả cao.

1.1.3.3 Mô hình tổ chức Toà án theo quy định của pháp luật Việt Nam giai đoạn từnăm 1980 đến năm 1992

Các mô hình t ổ ch ứ c Toà án hi ệ n nay c ủ am ộ t s ố qu ố c gia trên th ế giới

Mô hình tổ chức Toà án của Trung u c

TA HIỆN N Y VÀ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI 2.1 Thực trạng về mô hình tổ chức Toà án của nước ta hiện nay

2.1.1Mô hình tổ chức Toà án theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổsung năm 2001) và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 Điều 127 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Toà án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt” Sau đó, quy định này đƣợc cụ thể tại Điều 2, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002:

Trong Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống Tòa án gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Tòa án quân sự và các Tòa án khác theo quy định của luật, với khả năng thành lập Tòa án đặc biệt trong các tình huống đặc biệt do Quốc hội quyết định Mô hình tổ chức Tòa án theo Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Tòa án năm 2002 xây dựng theo đơn vị hành chính lãnh thổ, chia thành ba cấp: huyện, tỉnh và trung ương Hệ thống Tòa án được tổ chức đều đặn tại mỗi đơn vị hành chính, trong đó mỗi cấp có một tòa án phù hợp và Tòa án nhân dân tối cao tại trung ương quản lý toàn bộ hệ thống Số lượng Tòa án phụ thuộc vào số lượng đơn vị hành chính trong phạm vi lãnh thổ nhà nước Các hoạt động của Tòa án địa phương có sự phối hợp và giám sát từ Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, cũng như cấp ủy đảng tương ứng Đối với Tòa án quân sự, chỉ có Tòa án quân sự trung ương trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao, còn Tòa án quân khu và khu vực tổ chức riêng biệt, đảm bảo hoạt động phù hợp với từng khu vực quân sự.

Mô hình tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ đã được áp dụng tại Việt Nam từ ngày 22-5-1950, khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tư pháp và pháp luật tố tụng Đến nay, hệ thống Tòa án Việt Nam tiếp tục phát triển dựa trên các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Tòa án Mô hình này giúp đảm bảo tính địa phương, phù hợp với đặc thù hành chính của đất nước, đồng thời nâng cao hiệu quả giải quyết công lý ở các cấp hành chính đối với công dân.

THỰ C TR Ạ NG MÔ HÌNH T Ổ CH Ứ C TÒA ÁN C Ủ NƯỚ C

Th ự ctr ạ ngv ề môhìnht ổ ch ứ cToàánc ủanướ c ta hi ệ n nay

2.1.1Mô hình tổ chức Toà án theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổsung năm 2001) và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 Điều 127 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Toà án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt” Sau đó, quy định này đƣợc cụ thể tại Điều 2, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002:

Trong hệ thống tư pháp của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có các loại Tòa án như Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt trong các tình huống đặc biệt Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, hệ thống Tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ gồm ba cấp: cấp huyện, cấp tỉnh và trung ương, đảm bảo sự tổ chức đồng đều tại mỗi đơn vị hành chính Hệ thống Tòa án chính trung ương là Tòa án nhân dân tối cao, có nhiệm vụ quản lý toàn bộ hệ thống tại các địa phương Số lượng Tòa án phụ thuộc vào số lượng đơn vị hành chính trên lãnh thổ nhà nước, trong khi hoạt động của các Tòa án địa phương có sự giám sát và phối hợp với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, cùng cấp ủy đảng Đối với Tòa án quân sự, chỉ có Tòa án quân sự trung ương trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao, còn Tòa án quân sự các khu vực và quân khu được tổ chức thành hệ thống riêng biệt.

Mô hình tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ đã được áp dụng tại Việt Nam kể từ ngày 22-5-1950, theo sắc lệnh số 85 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa về cải cách bộ máy tư pháp và pháp luật tố tụng Đến nay, mô hình này vẫn tiếp tục phát triển và được quy định rõ ràng trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cùng Luật tổ chức Tòa án nhằm đảm bảo tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án phù hợp với yêu cầu quản lý hành chính và phát triển của đất nước.

Vào năm 2002, Tòa án nhân dân vẫn duy trì mô hình tổ chức này, phản ánh sự ổn định của hệ thống từ lâu Mô hình tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ đã tồn tại tại Việt Nam hơn 60 năm, góp phần vào việc quản lý và phân chia thẩm quyền một cách rõ ràng, hiệu quả.

2.1.1.1 Ƣu điểm của mô hình tổ chức Tòa án theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổsung năm 2001) và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002

Sau hơn 60 năm hoạt động, Tòa án tại Việt Nam vẫn duy trì mô hình tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, bởi mô hình này mang lại nhiều ưu điểm rõ rệt Mô hình tổ chức này giúp nâng cao hiệu quả công tác xét xử, đảm bảo sự phân chia rõ ràng giữa các cấp tòa án và phù hợp với cấu trúc hành chính của đất nước Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, điều hành và nâng cao chất lượng hoạt động của Tòa án nhân dân.

Mô hình này giúp người dân dễ dàng tiếp cận Tòa án, giảm khó khăn về đi lại do đặc điểm địa hình hiểm trở và giao thông chưa phát triển ở vùng nông thôn Nhờ đó, quyền và lợi ích của người dân được bảo vệ hiệu quả hơn, đảm bảo công bằng trong tiếp cận công lý Đây còn là mô hình phản ánh rõ tư tưởng lấy người dân làm trung tâm trong hệ thống tư pháp, hướng tới phục vụ tốt hơn cộng đồng.

“gần dân” của các nhà lập pháp

Mô hình này giúp công tác xét xử phù hợp với nhiệm vụ chính trị của địa phương, bám sát cơ sở để nâng cao hiệu quả công tác của Tòa án Nó tạo điều kiện thuận lợi cho sự giám sát và chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động của Tòa án thông qua các cấp ủy đảng tại mỗi địa phương Đồng thời, mô hình này góp phần xây dựng bộ máy nhà nước hoạt động thống nhất theo chủ trương, đường lối của Đảng, thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ nhằm phát huy hiệu quả công tác xét xử và quản lý nhà nước.

Tòa án hoạt động hiệu quả nhờ tổ chức đồng bộ với các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan bổ trợ tư pháp địa phương, tạo ra quy trình xử lý công việc chặt chẽ Cơ cấu tổ chức của các cấp tòa án được xây dựng dựa trên thẩm quyền xét xử và quy định của pháp luật tố tụng, mang tính linh hoạt để phù hợp với nhu cầu thực tiễn xét xử các loại vụ án Điều này đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa tòa án, các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan bổ trợ tư pháp trong quá trình xét xử.

Hệ thống Tòa án đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của từng cấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần đảm bảo ổn định an ninh, trật tự xã hội Những ưu điểm nổi bật này đã giúp Tòa án duy trì hiệu quả hoạt động và thực hiện trách nhiệm pháp lý một cách bền vững.

2.1.1.2 Hạn chế của mô hình tổ chức Tòa án theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổsung năm 2001) và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002

Bên cạnh những ưu điểm nổi bật, mô hình tổ chức Tòa án của nước ta trong thời gian qua còn gặp phải nhiều bất cập đáng kể Các hạn chế này ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động xét xử và tính công bằng trong công lý Ngoài ra, vẫn còn tồn đọng các vấn đề về tổ chức bộ máy, năng lực cán bộ và cơ sở vật chất, gây trở ngại cho quá trình xử lý các vụ án nhanh chóng và chính xác Việc khắc phục những hạn chế này là cần thiết để nâng cao chất lượng công tác xét xử và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của công dân.

Th ứ nh ấ t, về vị trí, vai trò của Tòa án trong bộ máy nhà nước

Trong mô hình tổ chức hiện nay của Tòa án, Tòa án chỉ được xem là cơ quan xét xử mà chưa xác định là cơ quan thực hiện quyền tư pháp với đầy đủ chức năng như xét xử, giải thích pháp luật và bảo vệ quyền con người, công lý, dẫn đến chưa đảm bảo vị trí, vai trò của Tòa án trong quá trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hoạt động tư pháp chưa được nhìn nhận chính xác, khiến vị trí pháp lý của Tòa án nhân dân tối cao chỉ như một bộ ngành của Chính phủ hoặc thậm chí còn yếu hơn trong một số trường hợp Theo nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng giữ vai trò là lực lượng lãnh đạo toàn diện đối với bộ máy nhà nước và xã hội qua các chủ chương, chính sách và công tác cán bộ, trong đó các thành viên của Bộ Chính trị đóng vai trò nòng cốt Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an là những thành viên cố định không thay đổi qua các nhiệm kỳ, còn Chánh án Tòa án nhân dân tối cao lại không phải là thành viên cố định của Bộ Chính trị và chưa bao giờ có mặt trong danh sách này, cho thấy Tòa án chưa được đánh giá là một trong những cơ quan có tầm quan trọng hàng đầu trong bộ máy nhà nước Việt Nam.

Tòa án chỉ là một trong những cơ quan thực hiện chức năng tư pháp, bên cạnh Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án và các cơ quan bổ trợ tư pháp khác Vị trí và vai trò của Tòa án chưa được đánh giá đúng mức, dẫn đến việc tổ chức của Tòa án chưa phản ánh đúng tính chất của một thiết chế quyền lực riêng biệt Điều này khiến Tòa án có vị thế yếu trong hệ thống tư pháp và gặp nhiều khó khăn trong việc phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước, trở nên bị động trong quá trình thi hành nhiệm vụ.

37 Điều 4, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

38 Uỷ viên Bộ chính trị khóa X

39 Ủy viên Bộ chính trị Khóa XI

40 http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B_Ban_Ch%E1%BA%A5p_h% C3%A0nh_Trung_%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi

Hệ thống Tòa án còn gặp nhiều khó khăn do bị ảnh hưởng bởi các quy định về quản lý hành chính nhà nước, gây ra tình trạng cồng kềnh và chồng chéo về nhiệm vụ Việc đào tạo cán bộ, kinh phí hoạt động và phương tiện làm việc chưa phù hợp với yêu cầu hoạt động tư pháp, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác và khả năng thực hiện đúng nhiệm vụ, chức năng của Tòa án Các yếu tố này gây trở ngại cho hoạt động của Tòa án trong việc củng cố tổ chức, nâng cao năng lực và hoàn thành sứ mệnh của mình một cách hiệu quả.

Th ứ hai , về tổ chức và hoạt động của Tòa án

 Đ i v ớ i Tòa án nhân dân c ấ p huy ệ n (Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh)

Tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính, do đó số lượng Tòa án phụ thuộc vào số lượng đơn vị hành chính của cả nước, với mỗi đơn vị hành chính tương ứng một Tòa án cùng cấp, bất kể đặc điểm vùng miền hay mức độ phát triển kinh tế Tuy nhiên, khối lượng công việc của từng Tòa án lại chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố về dân số, địa lý và trình độ văn hóa của cư dân địa phương, dẫn đến tình trạng quá tải ở một số nơi và sự rảnh rỗi ở nơi khác Điều này gây ra khó khăn trong việc nâng cao năng lực và chất lượng công tác của Tòa án cấp huyện, đặc biệt giữa các Tòa án ở huyện miền núi và các quận trung tâm thành phố Trong khi các Tòa án có công việc lớn cần tăng cường nhân lực và vật lực để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, thì những nơi ít công việc lại gây lãng phí ngân sách Nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đào tạo cán bộ.

Cơ cấu tổ chức của Tòa án cấp huyện hiện nay được tổ chức rất đơn giản, không theo lĩnh vực xét xử, dẫn đến thiếu các Tòa chuyên trách Điều này gây khó khăn trong công tác đào tạo, đầu tư chuyên ngành cho cán bộ, công chức, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử và năng lực xử lý các vụ việc phức tạp, đòi hỏi chuyên môn cao.

Phươnghướngđổ im ớ imôhìnht ổ ch ứcToàáncủanướ c ta hi ệ n nay

Trong quá trình hoạt động kéo dài, hệ thống Tòa án Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót và hoạt động chưa thực sự hiệu quả Nguyên tắc “độc lập” là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động của Tòa án, nhưng hiện nay pháp luật về tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án còn nhiều hạn chế gây cản trở việc thực thi nguyên tắc này Phía lý luận cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới mô hình tổ chức Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả, đảm bảo tính khách quan và độc lập trong xét xử.

Th ứ nh ấ t, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)đã khẳng định

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, luôn trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Vị trí của Đảng trong hệ thống chính trị và xã hội Việt Nam rất quan trọng, định hướng mọi hoạt động của nhà nước và xã hội thông qua các đường lối, chủ trương, chính sách Trong lĩnh vực tư pháp, thực tiễn cho thấy mô hình Tòa án hiện tại còn nhiều hạn chế, còn xảy ra oan sai, đặc biệt trước tình hình tội phạm ngày càng phức tạp Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý và phục vụ nhân dân Đổi mới tư pháp, trong đó có Tòa án, là nhiệm vụ trọng điểm, đã được chỉ đạo qua nhiều văn kiện của Đảng như Nghị quyết Trung Ương 8 Khóa VII, các Nghị quyết Trung Ương 3, 7 Khóa VIII, Nghị quyết Đại hội IX và các Nghị quyết của Bộ Chính trị như số 08-NQ/TW, số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW, số 92-KL/TW, thể hiện rõ phương hướng đổi mới mô hình tổ chức Tòa án của Đảng.

Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh Tòa án là trung tâm của công cuộc cải cách tư pháp, đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng lại mô hình hệ thống Tòa án Theo đó, việc củng cố, nâng cao năng lực của Tòa án là mục tiêu chiến lược nhằm đảm bảo công bằng, minh bạch trong xét xử Nghị quyết cũng khẳng định tầm quan trọng của việc đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống Tòa án để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

73 Điều 4, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)

74 Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày02-6-2005 của Bộ Chính trị về cải cách tƣ pháp đến năm 2020

Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra hướng tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính Cơ cấu Tòa án gồm Tòa sơ thẩm khu vực được tổ chức ở cấp huyện, Tòa án phúc thẩm chủ yếu xét xử phúc thẩm và một số vụ án sơ thẩm, Tòa thượng thẩm theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm, và Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất, phát triển án lệ và xử lý giám đốc thẩm, tái thẩm.

Nghị quyết này đã đƣợc triển khai thực hiện trong suốt thời gian qua

Kết luận số 79/KL-TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh việc giữ lại từ "nhân dân" trong tên gọi của Tòa án để thể hiện rõ vai trò của nhân dân trong hệ thống tư pháp Theo đó, tên gọi "Tòa án thượng thẩm" được thay bằng "Tòa án nhân dân cấp cao" nhằm nâng cao vị thế và sự gần gũi của hệ thống tòa án Hệ thống Tòa án nhân dân sẽ được tổ chức thành bốn cấp dựa trên thẩm quyền xét xử, góp phần hoàn thiện và đổi mới tổ chức hệ thống tòa án theo hướng hiện đại, hiệu quả hơn.

Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực chịu trách nhiệm xét xử các vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án, như Tòa án nhân dân cấp huyện, và từng bước mở rộng thẩm quyền xử lý các vụ án hành chính Tòa án nhân dân sở thẩm khu vực được thành lập tại một hoặc nhiều đơn vị hành chính cấp huyện trong cùng tỉnh, đảm bảo xử lý các vụ án trong phạm vi địa phương Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án sơ thẩm khu vực có kháng cáo, kháng nghị và xử lý một số vụ án không thuộc thẩm quyền của tòa sơ thẩm trong phạm vi tỉnh Mỗi tỉnh hiện nay có một tòa án cấp tỉnh, nhưng đã loại bỏ ủy ban thẩm phán để nâng cao hiệu quả công tác xét xử Tòa án nhân dân cấp cao đảm nhận vai trò xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của tòa cấp tỉnh, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị Hiện tại, dự kiến thành lập 03 tòa án nhân dân cấp cao tại ba khu vực: Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, với tổ chức tinh gọn gồm 13-17 thẩm phán là các chuyên gia hàng đầu về pháp luật, có kinh nghiệm xét xử và uy tín cao trong xã hội Tòa án nhân dân tối cao sẽ đảm nhận vai trò xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, tổng kết kinh nghiệm và hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất.

Kết luận số 92/KL-TW của Bộ Chính trị đánh giá việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW, nhấn mạnh nhiệm vụ của Nhà nước tiếp tục thúc đẩy cải cách tư pháp Trong đó, cải cách Tòa án được yêu cầu nghiên cứu xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm theo hai phương án, nhằm hoàn thiện hệ thống tư pháp và nâng cao hiệu quả xét xử.

Bộ Chính trị; Phương án 2, tổ chức Tòa án nhân dân sơ thẩm đặt tại các đơn vi hành chính cấp huyện)

Đảng nhận thức rõ sự cần thiết phải đổi mới mô hình Tòa án để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới Chính sách này nhằm thúc đẩy tổ chức Tòa án phù hợp với định hướng tư tưởng và chỉ đạo của Đảng, yêu cầu nhà nước khẩn trương triển khai các cải cách cần thiết Đổi mới mô hình Tòa án là bước quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động và phù hợp với yêu cầu pháp lý, tổ chức của hệ thống tư pháp hiện đại.

Ngày 1/1/2014, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) chính thức có hiệu lực, quy định rõ ràng rằng Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các tòa án khác theo luật định, nhằm đảm bảo tổ chức tòa án theo thẩm quyền xét xử không phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ Điều này tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để đổi mới mô hình tổ chức Tòa án, phù hợp với các quy định của Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 79-KL/TW của Bộ Chính trị.

Th ứ ba, Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) đã khẳng định

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, trong đó mọi chủ thể sống và tuân thủ pháp luật một cách triệt để Linh hồn của nhà nước pháp quyền là Tòa án, đóng vai trò là cơ quan tài phán duy nhất thực hiện quyền tư pháp; nếu Tòa án không được tổ chức một cách độc lập và khoa học để kiểm tra, cân bằng quyền lực, thì không thể xây dựng nhà nước pháp quyền thực sự Hiện nay, mô hình tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ chưa coi Tòa án là một nhánh quyền lực tư pháp độc lập, điều này làm hạn chế sự phát triển của nhà nước pháp quyền Vì vậy, khi Hiến pháp xác định nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền, cần đổi mới mô hình tổ chức Tòa án, nâng cao vị trí của Tòa án trong bộ máy nhà nước để đảm bảo Tòa án thực sự là một thiết chế quyền lực tư pháp độc lập, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

76 Lê Cảm (2002), “Cải cách hệ thống Tòa án trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”, Tạp chí

Theo Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), quyền tư pháp thuộc về Tòa án, phản ánh rõ ràng qua việc xác định xét xử là chức năng cốt lõi của quyền tư pháp Phạm vi của quyền tư pháp đã được mở rộng từ chức năng xét xử sang bảo vệ quyền con người, công lý và lẽ công bằng, phù hợp với quá trình phát triển pháp luật Khi Hiến pháp quy định về quyền tư pháp độc lập cho Tòa án, điều này đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt về tổ chức và pháp luật nhằm đảm bảo Tòa án có vị trí độc lập, không bị chi phối bởi bất kỳ cơ quan nào Nhờ đó, Tòa án có điều kiện thực hiện các nhiệm vụ mới trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, góp phần củng cố quyền tư pháp và thúc đẩy công bằng xã hội.

Mô hình tổ chức Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến vị trí, vai trò và hiệu quả hoạt động của hệ thống xét xử Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Tòa án năm 2002, mô hình tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính đã bộc lộ nhiều khó khăn qua thời gian Thực tiễn hoạt động của Tòa án cho thấy cần có sự đổi mới để nâng cao hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển của hệ thống tư pháp Do đó, việc cải tiến mô hình tổ chức Tòa án là rất cần thiết nhằm đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ xét xử và bảo vệ công lý trong xã hội hiện nay.

Mô hình tổ chức hiện tại của Tòa án còn nhiều hạn chế cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả trong vai trò cơ quan thực thi công lý Như đã phân tích tại mục 2.1.1.2, các nhược điểm của mô hình này đã rõ ràng và đòi hỏi phải đổi mới nhằm đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ của Tòa án trong hệ thống tư pháp Việc sửa đổi mô hình tổ chức là yếu tố then chốt để Tòa án có thể thực hiện hiệu quả vai trò của mình trong việc đảm bảo công lý.

Hiện nay, tình hình tội phạm ngày càng phức tạp với hậu quả nghiêm trọng, gây gia tăng các vụ khiếu kiện và tranh chấp hành chính, dân sự, kinh tế, lao động Số lượng người chưa thành niên phạm tội cũng tăng đáng báo động, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hệ thống Tòa án Tuy nhiên, hệ thống Tòa án hiện tại còn cồng kềnh, hiệu quả hoạt động chưa cao, với nhiều án tồn đọng Để đáp ứng nhu cầu xét xử và nâng cao hiệu quả công tác, cần tổ chức lại mô hình Tòa án theo hướng gọn nhẹ, chuyên sâu và phù hợp với tình hình xã hội.

77 Nguyễn Đức Bình (2014), “Quyền tƣ pháp và thực hiện quyền tƣ pháp ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tòa án nhân dân,(số 5), tr 2

78 Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về cải cách tƣ pháp đến năm 2020

Hệ thống Tòa án là thành phần không thể thiếu trong bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền và sự phát triển của xã hội Hiệu quả hoạt động của Tòa án đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của đất nước, góp phần duy trì ổn định xã hội Để đảm bảo hoạt động hiệu quả, Tòa án cần không ngừng hoàn thiện, tránh tình trạng tồn đọng án gây bất ổn xã hội và cản trở phát triển đất nước Mô hình tổ chức Tòa án ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động, do đó việc đổi mới cấu trúc tổ chức là cần thiết để Tòa án có thể thực hiện tốt nhiệm vụ, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của xã hội.

Ngày đăng: 14/08/2023, 06:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Kết luận số 79/KL-TW ngày 28-7-2010 của Bộ Chính trị về đề án tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49/NQ-TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 79/KL-TW
Nhà XB: Bộ Chính trị
Năm: 2010
9. Kết luận số 92-KL/TW ngày 12-3-2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hi ệ n Ngh ị quy ế t 49-NQ/TW ngày 02-06-2005 c ủ a B ộ Chính tr ị khóa IX v ề chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 92-KL/TW
Nhà XB: Bộ Chính trị
Năm: 2014
12. Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 5/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới.II. VĂN BẢN PH P L ẬT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 5/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới
Năm: 2012
30. Pháp l ệ nh Th ẩ m phán và H ộ i th ẩ m tòa án nhân dân 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp l ệ nh Th ẩ m phán và H ộ i th ẩ m tòa án nhân dân
Năm: 2002
32. Pháp lệnh số 14/2011 ngày 12-3-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm của Tòa án nhân dân năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh số 14/2011
Nhà XB: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2014
38. Quyết định số 16/2003/TCCB ngày 17-02-2003 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 16/2003/TCCB
Nhà XB: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2003
39. Quyết định số 17/2003/TCCB ngày 17-02-2003 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân ở địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 17/2003/TCCB
Nhà XB: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2003
40. Quyết định số 133/2007/QĐ-TCCB ngày 29-01-2007 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc thành lập mới hai đơn vị cấp Vụ thuộc bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 133/2007/QĐ-TCCB
Nhà XB: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2007
41. Công văn 345/TANDTC-TCCB ngày 07-06-2010 về việc tăng cường kỷ luật công vụ và công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao.III. SÁCH, BÁO, T Ạ P CHÍ, CÁC TÀI LI Ệ U THAM KH Ả O KHÁC CH GI TR NH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn 345/TANDTC-TCCB ngày 07-06-2010 về việc tăng cường kỷ luật công vụ và công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2010
42. Bộ giáo dục (1998), Giáo trình Lu ậ t t ổ ch ứ c Tòa án, Vi ệ n ki ể m sát, công ch ứ ng, lu ật sư(1998), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, công chức, luật sư
Tác giả: Bộ giáo dục
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
43. Bộ Giáo dục vào đào tạo(2010), iáo trình những nguyên l cơ bản của chủ nghĩ a Mác-Lê nin , Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2010
44. Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình lý lu ậ n chung v ề Nhà nướ c và Pháp lu ậ t , Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
45. Nguyễn Đăng Dung và tập thể tác giả (2004), Th ể ch ế tư pháp trong Nhà nướ c pháp quy ề n , Nxb Tƣ pháp, Hà Nộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
46. Nguyễn Đăng Dung và tập thể tác giả (2011), Tòa án Vi ệ t Nam trong b ố i c ả nh xây d ựng Nhà nướ c pháp quy ề n , Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án Vi ệ t Nam trong b ố i c ả nh xây d ựng Nhà nướ c pháp quy ề n
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
47. Đào Tri Úc (2007), Mô hình t ổ ch ứ c và ho ạt độ ng c ủa nhà nướ c pháp quy ề n xã h ộ i ch ủ nghĩa Việ t Nam , Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Đào Tri Úc
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
49. Thang Văn Phúc, Nguyễn Đăng Thành (2005) - M ộ t s ố lý thuy ế t và kinh nghi ệ m t ổ ch ức nhà nướ c trên th ế gi ớ i, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M ộ t s ố lý thuy ế t và kinh nghi ệ m t ổ ch ức nhà nướ c trên th ế gi ớ i
Tác giả: Thang Văn Phúc, Nguyễn Đăng Thành
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
50. Trường Đại học Luật Hà Nội(2008),Giáo trình lu ậ t so sánh, Nxb công an nhân dân Hà N ộ i, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật so sánh
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb công an nhân dân Hà Nội
Năm: 2008
4. Nghị quyết đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Khác
6. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời gian tới Khác
7. Ngh ị quy ế t s ố 49-NQ/TW ngày 02-06-2005 c ủ a B ộ Chính tr ị v ề chi ến lƣợ c cải cách tƣ pháp đến năm 2020 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w