1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử học thuyết nhà nước pháp quyền và vấn dề xây dựng nhà nước

71 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử học thuyết nhà nước pháp quyền và vấn đề xây dựng nhà nước
Tác giả Thái Minh Hoàng
Người hướng dẫn Ths. Đỗ Thanh Trung
Trường học Trường Đại Học Luật TP.HCM
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 868,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cải cách của Xôlông 594 TCN với việc thành lập Hội đồng quý tộc, Hội đồng chấp chính và Tòa hội thẩm vừa đem lại cơ hội cho những người nắm các chức vụ nhà nước, vừa đem lại cơ hội cho n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH

Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật

Niên khóa: 2007 – 2011

Giảng viên hướng dẫn: Ths ĐỖ THANH TRUNG

TP.HCM – Năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 Lịch sử học thuyết nhà nước pháp quyền và sự hiện thực hóa tư tưởng pháp quyền trong thực tiễn của đời sống chính trị - xã hội 9

1.1 Tư tưởng pháp quyền thời cổ - trung đại 9

1.1.1 Tư tưởng pháp trị ở phương Đông 9

1.1.2 Tư tưởng pháp quyền ở phương Tây 11

1.2 Sự ra đời của học thuyết pháp quyền hiện đại 15

1.3 Khái niệm Nhà nước pháp quyền 18

1.4 Hiện thực hóa sống động những nội dung cốt lõi của tư tưởng pháp quyền 20

1.4.1 Đại Hiến Chương Magna Carta 1215 – ngọn cờ đánh dấu sự đấu tranh bằng pháp luật chống chuyên chế phong kiến 20

1.4.2 Hiến pháp Hoa Kỳ 1789 khẳng định vị trí tối thượng của pháp luật…… 23

1.4.3 Tuyên ngôn nhân quyền Hoa kỳ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp – Nhân quyền được hiện thực hóa và bảo đảm 26

1.5 Tổng kết chương 30

Chương 2 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 32

2.1 Một số quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 32

2.2 Một số vấn đề còn vướng mắc và phương hướng giải quyết về việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 37

2.2.1.Vấn đề luật hóa sự lãnh đạo của Đảng trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 37

Trang 3

2.2.1.1 Sự cần thiết phải luật hóa sự lãnh đạo của Đảng 38

2.2.1.2 Giải pháp Luật về Đảng 39

2.2.2 Vấn đề phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước 39

2.2.2.1 Những hạn chế của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa 40

2.2.2.2 Vận dụng những hạt nhân tích cực của thuyết phân quyền 41

2.2.3 Vấn đề hoạt động lập hiến 42

2.2.3.1 Hạn chế của hoạt động lập hiến hiện hành 43

2.2.3.2 Giải pháp trao quyền phúc quyết Hiến pháp cho nhân dân 45

2.2.4 Vấn đề xây dựng cơ chế bảo hiến 46

2.2.4.1 Những hạn chế trong cơ chế bảo hiến hiện hành 46

2.2.4.2 Giải pháp xây dựng Tòa bảo hiến 48

2.2.5 Vấn đề quyền con người trong Hiến pháp 52

2.2.5.1 Một số hạn chế trong việc ghi nhận và đảm bảo thực thi quyền con người theo Hiến pháp 53

2.2.5.2 Một số giải pháp đảm bảo thực thi quyền con người 55

2.2.6 Vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật 56

2.2.6.1 Một số hạn chế trong hệ thống pháp luật hiện hành 56

2.2.6.2 Một số phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật 58

2.3 Tổng kết chương 61

KẾT LUẬN 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 12 tháng 01 năm 2011 đến ngày 19 tháng 01 năm 2011, trên cơ

sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và lý luận 25 năm đổi mới, Đảng đã nghiên cứu

và đề ra các giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2010 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trong lĩnh vực hoàn thiện thể chế bộ máy, Đảng ta nhận định: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) tại Việt Nam là một tất yếu khách quan, công tác xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu nhất định

Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức và cơ hội mới để gia nhập, giao lưu với khối thị trường khổng lồ và các nền văn minh, chính trị đa dạng trên thế giới Để có cơ sở pháp lý vững chắc cho sự hội nhập này, đòi hỏi phải phấn đấu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thật sự vững chắc Tuy nhiên, quá trình xây dựng và tăng cường Nhà nước trong mấy chục năm qua cho thấy, hàng loạt vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Nhà nước vẫn chưa được tổng kết, làm rõ, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN còn chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước Do vậy, các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước được triển khai trong nhiều giai đoạn lịch sử vẫn chưa đưa lại các kết quả mong muốn

Để giải quyết những bất cập này, điều kiện tiên quyết, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu rõ những vấn đề lý lịch sử và lý luận của học thuyết nhà nước pháp quyền (NNPQ) Bởi khi nào vẫn còn lúng túng về mặt tư tưởng lý luận thì không thể nào đi đến những hành động thực tiễn dứt khoát, hiệu quả nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong Nhà nước pháp quyền Việt

Trang 6

Nam hiện nay Vấn đề xem xét học thuyết nhà nước pháp quyền cần phải được đặt ra nhằm khẳng định những nguyên tắc và cụ thể hóa phương hướng xây dựng, hoàn thiện nhà nước và pháp luật của nhà nước pháp quyền ở bất

kỳ một quốc gia nào trên thế giới Lịch sử luôn đem đến cho các thế hệ những bài học kinh nghiệm quý giá và làm sâu sắc hơn những khúc mắc còn tồn đọng về mặt lý luận trong tiến trình hiện thực hóa những giá trị tiến bộ cho tương lai Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề lịch sử vẫn chưa thực sự được nghiên cứu rõ ràng trong việc định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà mới chỉ dừng lại ở những năm thuộc thế kỷ XX, XXI, chưa thật sự phản ánh được bề sâu lịch sử của học thuyết nhà nước pháp quyền Bên cạnh đó, các giải pháp hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam cũng chỉ mới được thảo luận một cách chung chung, chưa thực sự được đề cập cụ thể, thẳng thắn

Vì vậy việc chọn đề tài “Lịch sử học thuyết nhà nước pháp quyền và vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là

nhằm góp phần vào quá trình nghiên cứu đó

2 Tình hình nghiên cứu

Phát huy sức mạnh của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới cũng là chủ trương của Đảng và nhà nước ta trong những năm gần đây Từ khi Hội nghị trung ương 8 khóa VII đặt vấn đề “Các

cơ quan nghiên cứu khoa học về nhà nước và pháp luật triển khai công tác nghiên cứu tư tưởng và đường lối quan điểm của Đảng; tổng kết kinh nghiệm xây dựng nhà nước và pháp luật của nước ta, góp phần làm sáng tỏ lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xây dựng một cách phù hợp”, thì việc nghiên cứu vấn đề Nhà nước pháp quyền ở nước ta bắt đầu thu hút đông đảo các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo và quản lý Nghiên cứu về mặt lịch sử học thuyết nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đã có những tài liệu

Trang 7

tổng quát của các công trình có thể kể đến như “Học thuyết nhà nước pháp quyền: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Tiến sĩ khoa học Lê Cẩm - Quyền Chủ nhiệm Khoa, Trưởng Bộ môn Tư pháp hình sự - Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội; “Pháp gia với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” -Dõan Chính, Nguyễn Văn Trịnh; TS Đinh Văn Mậu,

TS Phạm Hồng Thái với “Lịch sử các học thuyết chính trị-pháp lí”; “Về tư tưởng nhà nước pháp quyền và khái niệm nhà nước pháp quyền” của GS.TS

Lê Minh Tâm; “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân – lý luận và thực tiễn” của GS.VS Nguyễn Duy Quý, PGS.TS Nguyễn Tất Viễn; “Lịch sử các định chế chính trị và pháp quyền Việt Nam” của Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa;…

Bên cạnh đó, các đề tài cấp Bộ cũng nhanh chóng được thực hiện khá nhiều trong những năm 1991-1995 đã dành sự chú ý cần thiết lý giải mối quan

hệ giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền với giữ vững định hướng Xã hội chủ nghĩa, trên bình diện triết học Có thể nêu một số đề tài sau: Đề tài KX 05-01:

Chính trị và hệ thống chính trị trong Học thuyết Mác - Lênin và những bài học về sự vận dụng nó ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, (1993 - 1995),

của Viện Thông tin Khoa học - Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh do Giáo sư Đào Duy Cận làm chủ nhiệm Đề tài này nêu vấn đề củng cố và hoàn thiện Nhà nước ta theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như một trong những nội dung chủ yếu của đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay Đề tài KX 05-02:

Chính trị và hệ thống chính trị của các nước tư bản phát triển, (1993 - 1995),

của Viện Khoa học Chính trị - Học viện Chính trị Quốc gia (CTQG) Hồ Chí Minh do Giáo sư Hồ Văn Thông làm chủ nhiệm Đề tài này nêu nhiều giá trị

tư tưởng chính trị - triết học có liên quan đến vấn đề NNPQ và xây dựng

NNPQ XHCN ở nước ta Đề tài KX 05-04: Đặc trưng cơ bản của hệ thống

Trang 8

chính trị nước ta trong giai đoạn quá độ lên CNXH, (1992-1994) của Khoa

Triết học - Học viện CTQG Hồ Chí Minh do Giáo sư, Phó tiến sĩ Nguyễn Ngọc Long làm chủ nhiệm Đề tài này nêu nhiều ý kiến có tính phương pháp

luận về đặc điểm của NNPQ XHCN ở nước ta Đề tài KX 05-05: Cơ chế thực hiện dân chủ trong hệ thống chính trị ở nước ta, (1992 -1993), của Viện

nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, do Phó giáo sư, Phó tiến sĩ Hoàng Chí Bảo làm chủ nhiệm Đề tài này đề cập vấn đề Nhà nước pháp quyền trong mối quan hệ với dân chủ

Các tài liệu quốc tế về đề tài này có thể kể đến như: “A challenge to the United Nations and the world: Developing the rule of law”- TS Hans Corell;

“The rule of law - History, Theory and Criticism” của Pietro Costa; “Lịch sử các học thuyết chính trị và pháp luật” - NXB sách pháp lý- Matxcơva; Gexxen V.M.- “Về Nhà nước pháp quyền”; Nôvgôrôđtxev P.I – “Pháp luật

và Nhà nước”; “On the rule of law- History, Politics, Theory” của Brian Z Tamanaha; “Democracy and the rule of law” của Adam Przeworski, José María Maravall; “Rule of law: the Jurispruduence of liberty in the seventeen and eighteenth centuries” của John Phillip Reid; “Freedom and the rule of law” – Anthony A Peacock; và nhiều tác phẩm khoa học khác

Như vậy, việc nghiên cứu về lịch sử và ứng dụng học thuyết nhà nước pháp quyền đã khá phát triển trên thế giới Tại Việt Nam, vấn đề về nhà nước pháp quyền tuy được nghiên cứu nhiều nhưng hầu hết chỉ mới dừng lại ở mức tổng quát và chủ yếu là tìm hiểu chung chung về phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền hiện tại chứ chưa thực sự quan tâm sâu sắc bàn đến việc củng cố những yếu tố cốt lõi của học thuyết quan trọng này

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận:

Mục đích:

Thông qua nghiên cứu lịch sử, bản chất học thuyết nhà nước pháp quyền để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đã làm phát sinh thuyết nhà nước pháp quyền dân chủ hiện đại, khẳng định về nền tảng tư tưởng và đặt ra vấn đề xây dựng, củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

4 Giới hạn nghiên cứu:

Khóa luận nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của học thuyết nhà nước pháp quyền và các giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam dưới góc độ lý luận song hành với thực tiễn Để làm rõ những vấn đề trên, khóa luận đề cập ở mức cần thiết đến sự ra đời và phát triển các tư tưởng pháp quyền ở phương Đông và phương Tây, những biểu hiện của pháp quyền trong lịch sử cũng như những phương hướng cụ thể nhằm củng cố nhà nước pháp quyền Việt Nam

5 Ý nghĩa thực tiễn của khóa luận:

Với những kết quả bước đầu, khóa luận đặt hy vọng vào việc góp phần nghiên cứu cơ bản về vấn đề lịch sử học thuyết nhà nước pháp quyền và một

số giải pháp tăng cường sức mạnh nhà nước pháp quyền Việt Nam Những kết quả đó sẽ góp phần vào việc thống nhất, củng cố nhận thức và thúc đẩy hoạt động thực tiễn nhằm xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội

Trang 10

chủ nghĩa, đảm bảo sự phát triển đất nước theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

6 Đóng góp của khóa luận:

1 Trên cơ sở làm rõ lịch sử tư tưởng về nhà nước pháp quyền, khóa luận rút ra những giá trị có tính phổ biến và chủ chốt trong tư tưởng về nhà nước pháp quyền trên thế giới và góp phần đưa lại một cách nhìn lịch sử về nhà nước pháp quyền cũng như vai trò của nó đối với sự đời sống chính trị-

7 Kết cấu khóa luận:

Trang 11

CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HỌC THUYẾT NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ

SỰ HIỆN THỰC HÓA TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN TRONG THỰC

TIỄN CỦA ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI

1.1 TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN THỜI CỔ VÀ TRUNG ĐẠI

1.1.1 Tư tưởng pháp trị ở phương Đông

Trong lịch sử tư tưởng phương Đông có một loại hình tư tưởng gần với

tư tưởng nhà nước pháp quyền, đó là tư tưởng nhà nước pháp trị, điển hình là

ở Trung Quốc

Tư tưởng pháp trị do Quản Trọng ( ~ 683 – 640 TCN) – người nước Tề

và Tử Sản (~ 522 TCN) – người nước Trịnh khởi xướng thời sơ kỳ chủ trương tôn trọng vua, vì vua là người đặt ra pháp luật Sau đó đã được phát triển lên thành các học phái pháp trị gồm “Thuật” của Thân Bất Hại, “Thế” của Thận Đáo và “Pháp” của Thương Ưởng

Người có công lớn nhất trong việc hoàn thiện thuyết pháp trị chính là Hàn Phi - người nước Hàn ( 280 – 230 TCN), là người đã xác lập trường phái pháp gia ở Trung Hoa cổ đại

Những đóng góp quan trọng nhất của Hàn Phi đối với tư tưởng pháp trị,

đó là:

Thứ nhất, Hàn Phi đã có công trong việc thống nhất ba học phái pháp trị

“pháp, thế, thuật”, chỉ rõ ra được mỗi yếu tố đều có một vị trí, vai trò nhất định và có quan hệ mật thiết với nhau trong nhiệm vụ thiết lập trật tự xã hội theo ý chí của nhà vua “Bề trên có dùng Thuật giỏi nhưng nếu không có Thế thì cũng bị cái vạ là pháp luật không thấm nhuần vào được các quan”1 “Thế”

là cần thiết, nhà cầm quyền phải dùng quyền thế của mình nhưng cũng phải biết giữ pháp luật (phải có Thuật), “Thuật” là yếu tố giữ cho quyền lực được

1 Trích Lã Trấn Vũ - “Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc” , tr.178- 179

Trang 12

bền vững Cuối cùng, “nhà vua không có Thuật thì cái tệ ở nơi người trên, bầy tôi mà không có pháp thì cái loạn do kẻ dưới”2

Thứ hai, bằng sự kế thừa những tinh hoa của Nho, Lão và lập trường tư tưởng tiến bộ của bản thân, Hàn Phi đã để lại cho chúng ta những nguyên tắc xây dựng pháp luật hết sức quan trọng mà giá trị của nó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay Đó là những nguyên tắc:

- Một là, Pháp trị là công cụ của quyền lực chính trị Nếu như đức trị chủ trương dùng đạo đức thì pháp trị tìm thấy ở pháp luật tính khả thi cho việc thực hiện đường lối chính trị của giai cấp phong kiến thống trị, cho việc duy trì sự thắng thế của vua, xóa được nguồn gốc của sự rối loạn trong thiên hạ, điều tiết cân bằng trong xã hội3

- Hai là, Pháp luật phải phù hợp với đời sống xã hội theo nguyên tắc thời biến thì pháp phải biến, vì việc trị nước không có nguyên tắc bất biến nào cả Pháp luật là đại lượng chuẩn mực nhưng có thể thay đổi theo tình hình thời cuộc "Thời thay mà pháp luật không đổi thì nước loạn Đời đã thay đổi mà cấm lệnh không biến thì nước bị chia cắt Cho nên thánh nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà đổi, cấm lệnh cùng với đời

Trang 13

Điểm cuối cùng cần xem xét trong việc học tập các giá trị của tư tưởng pháp trị, đó là, cần phải nhận thức rõ, “pháp trị” của Hàn Phi vẫn chưa phải là

“pháp quyền”: Pháp quyền có hai nội dung cơ bản là thượng tôn tuyệt đối pháp luật ( tức sức mạnh của pháp luật, sự bắt buộc thực hiện của pháp luật đối với tòan xã hội, kể cả nhà vua) và pháp luật phải đúng đắn, bảo đảm dân chủ Có 2 điểm khác biệt chủ yếu nhất giữa “pháp trị” và “pháp quyền”: Đầu tiên, “pháp trị” đúng là cũng thượng tôn pháp luật, nhưng pháp luật ở đây là pháp luật của nhà vua đặt ra, không phải là ý chí, nguyện vọng của nhân dân Pháp luật đặt ra là để đảm bảo cho quyền lợi của giai cấp thống trị

là giai cấp phong kiến và bảo vệ ngai vàng của nhà vua, chứ không bảo vệ cho quyền lợi cơ bản của quần chúng nhân dân

Tiếp theo, “pháp trị” về nguyên tắc thì thượng tôn pháp luật nhưng lại loại

ra vị trí tối cao nhất của hoàng đế Tức là pháp luật do nhà vua đặt ra và không hề có sự kiểm soát quyền lực nhà vua, không có sự điều chỉnh đối với sai phạm của nhà vua Nhà vua vẫn đứng trên pháp luật

Pháp trị ra đời đáp ứng được yêu cầu của lịch sử Tuy nhiên, do đã thủ tiêu những giá trị nhân đạo, nhân văn là hạt nhân tích cực trong nội dung các học thuyết "Đức trị ", "Kiêm ái” nên ở phương diện này Pháp trị lại phản ánh một bước lùi lịch sử Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi chỉ là nền tảng tư tưởng của nhân loại mà sau này các triết gia nổi tiếng ở phương Tây đã nghiên cứu, tiếp thu và phát triển thành học thuyết pháp quyền tư sản

1.1.2 Tư tưởng pháp quyền ở phương Tây

Trong thế kỷ thứ VI TCN, Xôlông (638 – 599 TCN) khi chủ trương cải cách triệt để nhà nước thành bang Hy Lạp đã cho rằng, quyền lực cần đặt ngang hàng với pháp luật và cả hai đều là phương tiện để đạt tới tự do và công bằng Xôlông xác định: “giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp

Trang 14

luật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật” Cải cách của Xôlông (594 TCN) với việc thành lập Hội đồng quý tộc, Hội đồng chấp chính và Tòa hội thẩm vừa đem lại cơ hội cho những người nắm các chức vụ nhà nước, vừa đem lại cơ hội cho những người bình dân quyền lựa chọn và giám sát các quan chức nhà nước: “chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất”5

Sự khẳng định về vị trí tối thượng của pháp luật vẫn được kế thừa trong

tư tưởng của Socrate (469 – 399 TCN), ông còn bổ sung thêm về giá trị của việc “tự do trong khuôn khổ pháp luật”, dân chủ không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật hay pháp luật bất lực6 Giá trị cao nhất là công lý, nghĩa là con người ta sống tuân thủ pháp luật của nhà nước : “Bất cứ 1 đạo luật nào, dù còn thiếu sót đến đâu cũng mang tính cứu sinh hơn tình trạng phạm pháp Nếu mọi công dân đều tuân thủ pháp luật, thì nhà nước họ đang sống trở nên hùng mạnh, phồn vinh” và “Quyền lực không phải căn cứ trên luật pháp, mà trên thói chuyên quyền của người cầm quyền, quyền lực như vậy chống lại nhân dân”

Sau đó, Platon (427 - 347 TCN) trong tác phẩm “Nền cộng hòa” phát triển ý tưởng về sự tôn trọng pháp luật ở một góc độ khác – từ phía nhà nước Ông củng cố thêm trụ cột thứ nhất của nhà nước pháp quyền –tức tinh thần thượng tôn pháp luật – là bản thân nhà nước và các nhân viên nhà nước phải tôn trọng pháp luật; nhà nước sẽ suy vong nếu pháp luật không còn hiệu lực hoặc chỉ phụ thuộc vào chính quyền; ngược lại nhà nước sẽ hồi sinh nếu có sự ngự trị của pháp luật và những nhà chức trách coi trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật Đồng thời, ông còn nêu ra được trụ cột thứ hai của nhà nước pháp quyền là luật không phải vì lợi ích một số người mà phải công bằng,

5

Xem Nguyễn Thế Nghĩa – “ Đại cương lịch sử các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới”, tr.220

6 PGS.TS Lê Doãn Tá (chủ biên) - “Tập bài giảng lịch sử triết học”, NXB Chính trị quốc gia HN 1994, tập

II, tr.55

Trang 15

bình đẳng, không chấp nhận 1 nhà nước chuyên chế của 1 cá nhân : “Ta nhìn thấy sự hủy diệt của loại nhà nước, ở đó luật pháp không có sức mạnh và nằm dưới quyền lực của một ai đó7”

Sự sụp đổ của nền dân chủ Aten vào giữa thế kỷ IV TCN làm cho Aristote (384- 322 TCN) - học trò xuất sắc của Platon - đi đến những kết luận mới về nhà nước cũng như về con người Ông là người có công trong việc phân định sự khác nhau về khả năng thống trị của con người và của pháp luật,

từ đó khẳng định, củng cố thêm luận chứng của Platon về sự bắt buộc phải quản lý xã hội bằng pháp luật Trong xã hội, pháp luật phải thống trị chứ không phải con người Con người không thể đạt được sự công bằng do sự chi phối bởi dục vọng còn pháp luật là 1 sản phẩm của lý trí, cân bằng nên mới có thể nắm vai trò thống trị Bên cạnh đó, về nhà nước, tuy chưa nêu được lý thuyết phân quyền nhưng Aristote đã đưa ra ý tưởng về sự cần thiết phải tổ chức nhà nước 1 cách quy củ để đảm bảo công bằng pháp luật “ Nhà nước nào cũng phải có cơ quan làm ra luật, cơ quan thực thi pháp luật và tòa án” Tức là, ông đã bắt đầu ý thức xem xét nhà nước ở phương diện lập pháp, hành chính và xét xử

Nếu như tư tưởng nhà nước pháp quyền hình thành và phát triển mạnh

mẽ ở thời cổ đại, thì đến thời ký trung cổ, 1 bóng đêm thần học ngự trị sự phát triển của tư tưởng nhà nước pháp quyền Trong chế độ mà thần quyền luôn chiếm ưu thế, tòa án giáo hội là cơ quan xét xử có thế lực nhất và giáo lý tôn giáo luôn ngự trị trong tâm thức thần dân Trung cổ, tư tưởng về pháp luật hầu như không được đem ra tranh luận

Tuy nhiên, ngọn lửa khát vọng tự do vẫn cháy bỏng trong lòng người dân , thậm chí còn xuất hiện ở những linh mục Một số nhà thần học ở thời kỳ này vẫn tiếp thu tư tưởng pháp quyền của các triết gia cổ đại Điển hình nhất

7 “ Platon , Nhà nước lý tưởng”, xem trong “101 tác phẩm có ảnh hưởng nhận thưc nhân loại”, NXB Văn hóa Thông tin, H 2005, tr.16

Trang 16

phải kể đến Thomas Aquinas (1225 – 1274) Aquinas là người phát triển trường phái “pháp luật tự nhiên” Ông cho rằng quyền lực nhà nước sẽ đem đến cho mỗi người cái thuộc về họ và làm cho họ có thể đạt tới sự dồi dào về mặt vật chất lẫn tinh thần, xã hội công dân sẽ thay thế xã hội thần dân Aquinas chia luật ra làm 4 loại8: the Eternal law, tức luật của Chúa, tồn tại vĩnh hằng, được coi như là một loại trật tự lý tưởng được hình thành bởi Chúa

; the Natural law (moral law) , tức luật tự nhiên, con người có thể nhận thức bằng lý trí, bằng các quy luật tự nhiên, độc lập với chúa trời hơn so với Eternal law; the Divine law (bilical law), tức luật của Giáo hội, tạo khuôn khổ

kỷ luật cho những người theo đạo; the Human law (civil law), tức luật của con người, là loại luật có vị trí thấp nhất trong 4 loại, đòi hỏi phải phù hợp với các loại luật trên, mà trước hết là phải tạo sự tương ứng giữa luật tự nhiên với các hoàn cảnh xã hội cụ thể của con người

Đó là những đóng góp khá quan trọng của Thomas Aquinas trong trường phái “pháp luật tự nhiên” Quan điểm về một thứ luật do Chúa trời tạo

ra ban phát quyền cho con người, chứ không phải thứ luật cho nhà vua áp đặt,

đã khẳng định có những dạng quyền của con người là mang tính tự nhiên chứ không phải sự ban phát của nhà vua phong kiến độc tài

Như vậy, dòng tư tưởng pháp quyền thời cổ và trung dại hình thành và phát triển ở cả phương Đông và phương Tây chính là những nền tảng đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của thuyết pháp quyền tư sản sau này Những quan điểm về tinh thần thượng tôn pháp luật, sự “tự do trong khuôn khổ luật định”, dùng pháp luật như một phương tiện kiểm soát nhà nước, những mầm mống của thuyết phân quyền, cùng với trường phái “luật tự nhiên” đã cho chúng ta cái nhìn đầu tiên về những hạt nhân của thuyết pháp quyền hiện đại

8 “Luật của tự nhiên” – Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trang 17

1.2 SỰ RA ĐỜI CỦA HỌC THUYẾT PHÁP QUYỀN HIỆN ĐẠI

Tiếp tục phát triển lý luận pháp luật tự nhiên, J Locke (1632-1704)- nhà triết học duy vật người Anh, đã lý giải sự ngự trị của pháp luật dưới hình thức nhà nước và chuyển quyền tự nhiên về phía tự do cá nhân con người Ông cho rằng “tình trạng tự nhiên” ban đầu của con người là tự do và bình đẳng9, pháp luật tự nhiên là bắt buộc vì nó là tự do Tự do là giá trị chủ đạo của pháp luật tự nhiên, của sự luận giải của nhà nước và thể chế chính trị hợp

lý Chính ông cụ thể hóa và mở rộng về “sự tự do trong khuôn khổ luật định” bằng việc đưa ra nguyên tắc công dân “được làm tất cả những gì pháp luật không cấm”, rõ ràng, mức độ tự do hơn hẳn so với “ làm những gì mà pháp luật cho phép” như tư tưởng cổ đại trước đây thường quan niệm Pháp luật tự nhiên bắt nguồn từ sự liên kết của con người với nhau thành cộng đồng theo một “quy luật tự nhiên” Trong sự liên kết đó, con người thỏa thuận với nhau lập nên nhà nước Nhà nước, đến lượt mình, làm cơ quan quyền lực chung của

xã hội Để làm được điều đó, pháp luật phải giữ vị trí thống trị trong nhà nước Quyền lực nhà nước về bản chất là thuộc về nhân dân, do nhân dân ủy nhiệm Do đó, tự do cho con người vừa là mục đích vừa là giới hạn quyền lực của nhà nước

Đóng góp lớn thứ hai của J Locke phải kể đến công lao khởi thảo học thuyết về “sự phân chia quyền lực”10 Mối nguy hiểm chính của sự tùy tiện và xâm phạm từ phía quyền lực nhà nước đối với các quyền và tự do của con người và pháp luật xuất phát từ các đặc quyền của kẻ thống trị Chính vì lẽ đó, theo ông, quyền lực nhà nước phải được phân chia thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên hợp Trong đó, quyền lập pháp thuộc Nghị viện, 2 quyền còn lại thuộc về nhà vua Ông còn đặt ra học thuyết về nền pháp

9 Xem Trần Thị Hồng Thúy (chủ biên) “ Giáo trình lịch sử triết học”, ĐH Luật Hà Nội, tr.247

10 GS VS Nguyễn Duy Quý, PGS.TS Nguyễn Tất Viễn, Sđd, tr 18

Trang 18

chế chống lại mọi biểu hiện phi luật pháp của chính quyền, chính quyền chỉ được phép làm những gì pháp luật cho phép

Tiếp theo, phải kể đến Montesquieu (1689-1755) - nhà triết học khai sáng Pháp nổi tiếng Ông đã có công lớn trong việc hoàn thiện các quan điểm của J Locke về quyền lực của nhân dân cũng như hoàn thiện thuyết phân quyền Montesquieu quan niệm quyền lực tối thượng của xã hội là thuộc về nhân dân, nhân dân là “quốc vương” khi dùng lá phiếu của mình bầu ra nhà nước và là bề tôi khi tuân thủ pháp luật và các pháp quan do mình bầu ra

Đóng góp quan trọng nhất của Montesquieu chính là việc hoàn thiện thuyết phân chia quyền lực Tiếp thu, phát triển tư tưởng của Aristote và J.Locke, Montesquieu quan niệm mỗi quốc gia phải phân thành 3 thứ quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Nghị viện nắm quyền lập pháp, chính phủ nắm quyền hành pháp, tòa án nắm quyền tư pháp Sở dĩ ông phân chia như vậy vì ông cho rằng nguyên tắc chủ yếu của chế độ chuyên chế

là làm cho con người khiếp sợ, đó là Nhà nước của sự độc đoán và tuỳ tiện, bởi lẽ trong Nhà nước ấy không bao giờ có pháp luật, còn nếu có đi chăng nữa thì không có ý nghĩa thực tế gì cả, vì cũng không có các chế định nào để bảo

vệ pháp luật Để kiểm soát thì chỉ có cách dùng “quyền lực ngăn cấm quyền lực”, tức là phải có cơ chế phân chia và kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực – đây là yếu tố cơ sở để đảm bảo tự do chính trị của công dân Theo ông, nếu quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay 1 người hay 1 viện nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa Cũng như vậy nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp, quan tòa sẽ có sức mạnh đàn áp hay nếu như quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì quyền sống, quyền tự do của công dân sẽ bị ngăn cấm, quan tòa là người đặt ra luật Trong sơ đồ phân quyền này, không chấp nhận việc 1 cơ quan nhà nước đứng trên hay nắm trọn

Trang 19

vẹn cả 3 quyền Hiến pháp phải giữ vị trí cao nhất trên cả 3 nhánh quyền lực11

Tuy nhiên, thuyết pháp quyền của các nhà tư tưởng trên chỉ mới dừng lại theo giới hạn thời đại, chuyển quyền lực từ giai cấp phong kiến sang giai cấp tư sản Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, pháp luật vẫn chỉ là ý chí áp đặt của tư sản lên các tầng lớp nhân dân lao động khác Vượt lên trên các nhà tư tưởng tư sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tư tưởng về sự cần thiết của Nhà nước pháp quyền mà còn hành động cách mạng để thực hiện hoá tư tưởng đó trong xã hội Chủ nghĩa xã hội làm nền tảng kinh tế dựa trên chế độ sở hữu XHCN là biểu hiện cho việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân; đồng thời nó cũng là sự biểu hiện thực tế của tự do, bình đẳng bác ái… của con người.12

C Mác viết: “Tự do là biến Nhà nước từ cơ quan đứng trên xã hội, thành cơ quan hoàn toàn phục tùng xã hội, vào thời đại chúng ta, tự do ở mức

độ cao hơn hay thấp hơn của các hình thức Nhà nước được xác định bởi mức

độ chúng hạn chế tự do của Nhà nước” V I Lênin tiếp thu tư tưởng của C

Mác về Nhà nước pháp luật và phát triển nó trong điều kiện thực tiễn mới, phải kế thừa di sản mà loài người đã tích luỹ được; đặt ra “pháp chế xã hội chủ nghĩa” trên cơ sở học hỏi những hạt nhân tích cực của thuyết pháp quyền

tư sản Tiếp tục tư tưởng đó của Lênin, các nhà tư tưởng sau này khi bàn đến

nội dung, bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN đã khẳng định: “Không thể nêu một nguyên tắc nào của quan điểm Nhà nước pháp quyền XHCN mà chưa được xây dựng từ lâu hoặc không có những điều tương tự trong các Nhà nước thuộc các hệ thống xã hội khác nhau”

11

GS.VS Nguyễn Duy Quý, PGS.TS Nguyễn Tất Viễn, Sđd, tr 20- 21

12 Nguyễn Trọng Thóc – “Một số vấn đề về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do d6an và vì dân”

Trang 20

Từ quan điểm đó, các nhà chính trị pháp lý và triết học Mác – Lênin về Nhà nước pháp quyền đều nhấn mạnh đến các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân như: quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, tính tối cao của luật, nguyên tắc phân quyền và thống nhất quyền lực Trong Nhà nước đó, về bản chất pháp luật phải đảm bảo tính khách quan công bằng, bình đẳng; pháp luật đảm bảo quyền con người, quyền tự do dân chủ được quan tâm đặc biệt

1.3 KHÁI NIỆM NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Khái niệm nhà nước pháp quyền trong hoàn cảnh lịch sử hiện đại vẫn còn có rất nhiều tranh cãi Trong ngôn ngữ châu âu, thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” cũng được gọi với nhiều tên khác nhau với hàm nghĩa rất đa dạng Người Đức gọi là “Rechtsstaat”, trong đó, “Recht” là luật pháp, “Staat”

là nhà nước, “Rechtsstaat” là Nhà nước luật pháp Người Pháp gọi là “Etat de droit” tức nhà nước của pháp luật Người Anh, Mỹ dùng thuật ngữ “Rule of law” để chỉ nhà nước pháp quyền, tuy trong tiếng Anh "Rule" rất đa nghĩa, nhưng trong ngữ cảnh này, nó hàm nghĩa cơ bản là “sự trị vì” của pháp luật Trong quan niệm của Anh, Mỹ, “Rule of law” không phải chỉ có nghĩa luật là cao nhất và mọi công dân đều bình đẳng trước luật, mà còn có nghĩa luật pháp hàm chứa những tính chất căn bản trong nội dung: pháp luật không áp dụng hiệu lực hồi tố; luật phải được công bố; phải rõ ràng, phân minh, vững bền; phải có tính tiên liệu; phải tôn trọng quyền và tự do của công dân13

Tại hội nghị quốc tế họp tại Benin (9/1991) với sự tham gia của 40 nước đã đưa ra một khái niệm chung về nhà nước pháp quyền như sau:“Nhà nước pháp quyền là một chế độ chính trị mà ở đó Nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật và nghĩa vụ của tất cả, của mỗi người được pháp luật ghi

13 GS Cao Huy Thuần – “Nhà nước pháp quyền”

Trang 21

nhận và bảo vệ, các quy trình, các quy phạm pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng một hệ thống tòa án độc lập Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị cao nhất của con người và bảo đảm cho công dân có khả năng, điều kiện chống lại sự tùy tiện của pháp luật cũng như các họat động của bộ máy Nhà nước Nhà nước pháp quyền phải đảm bảo cho công dân không bị đòi hỏi bởi những cái ngoài Hiến pháp và pháp luật quy định Trong hệ thống pháp luật thì Hiến pháp giữ vị trí tối cao và nó phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm quyền tự do và quyền công dân”

Tại Việt Nam, các quan điểm về khái niệm Nhà nước pháp quyền cũng không có sự đồng nhất chính xác với nhau Có thể kể đến một số quan điểm tiêu biểu như: GS Nguyễn Duy Quý quan niệm Nhà nước pháp quyền phải có

4 đặc trưng14

: 1- Thừa nhận và tôn trọng tính tối cao của luật, 2- Các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân định rõ rệt nhằm kiểm soát, kiềm chế lẫn nhau, 3- Nhà nước đảm bảo cho công dân sự an toàn pháp lý và được hưởng các quyền và tư do cơ bản và được bảo vệ các quyền đó, 4- Thực hiện một cách tận tâm các cam kết quốc tế Quan niệm của nhóm tác giả trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX.05.07: “Nhà nước pháp quyền là một nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và quản lý bản thân mình bằng pháp luật, bộ máy nhà nước phải tự đặt mình dưới pháp luật”15

Thế nhưng vẫn chưa hề có một sự thống nhất chung nào của toàn nhân loại về khái niệm nhà nước pháp quyền Như vậy, để tiếp cận nhà nước pháp quyền một cách rõ ràng trong thời đại mới này chúng ta nên tiếp cận từ hai nội dung xuyên suốt tiến trình hình thành thuyết pháp quyền, giữ vai trò quan trọng nhất cấu thành 1 nhà nước pháp quyền đúng nghĩa:

+ Pháp luật chiếm vi trí tối thượng trong xã hội

Trang 22

+ Pháp luật phải đúng đắn, khách quan, công bằng, thể hiện được ý chí của nhân dân và bảo vệ quyền con người hiệu quả

1.4 HIỆN THỰC HÓA SỐNG ĐỘNG NHỮNG NỘI DUNG CỐT LÕI CỦA TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.4.1 Đại Hiến Chương Magna Carta 1215 – ngọn cờ đánh dấu sự đấu tranh bằng pháp luật chống chuyên chế phong kiến

Dù dòng tư tưởng pháp quyền được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở

Hy Lạp, La Mã nhưng nó chỉ trở thành hiện thực rõ ràng sớm nhất tại Anh Cho đến năm 1215, một văn bản Hiến chương đã ra đời, đã hiện thực hóa những tư tưởng cổ đại trên thành một bức thành lũy sống động và đanh thép đánh dấu sự khuất phục của kẻ thống trị trước sức mạnh của pháp luật Đó chính là Đại hiến chương Magna Carta Những tư tưởng trọng pháp đầu tiên

đã vun đắp cho việc hình thành nên tư tưởng nhà nước pháp quyền và thực thi

nó trên thực tế Chính nền tảng tư tưởng hành xử theo pháp luật đã được tầng lớp quý tộc, thị dân sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình trước nhà vua tại phương Tây vào cuối thời phong kiến, hạn chế sự lạm quyền độc tài của kẻ thống trị Nguồn gốc sâu xa là từ tình trạng phân quyền cát cứ diễn ra ở Anh, đất đai không thống nhất, không chỉ thuộc mỗi hoàng gia mà bị phân chia trong tay các lãnh chúa, quý tộc Bên cạnh đó, thương mại phát triển dẫn đến

sự ra đời tầng lớp mới là những thương nhân, thị dân giàu có

Trong tình trạng quyền lực bị phân tán, chiến tranh xảy ra liên miên giữa các quốc gia, nhà vua Anh muốn thiết lập quân đội nhằm tăng cường lực lượng bảo vệ ngai vàng trước các thế lực lãnh chúa cũng như ngoại bang và

mở rộng thêm đất đai, nhưng lại thiếu của cải để chiêu mộ, huấn luyện binh lính Thế là nhà vua phải nhờ đến sự trợ giúp từ phía các tầng lớp quý tộc, thị dân trong nước Như đòi hỏi tất yếu của sự có đi có lại, các tầng lớp này đã

Trang 23

lập ra cơ quan đại diện cho mình là Hội đồng quý tộc, có chức năng như Nghị viện hiện nay để tiến hành đàm phán với nhà vua về việc quyết định các khoản tiền chấp nhận chi cho nhà vua Dĩ nhiên khi nhà vua đòi hỏi lợi ích từ hội đồng, thì kẻ thống trị cũng phải đáp lại những đòi hỏi của Hội đồng Hội đồng đã khôn khéo tận dụng cơ hội này để yêu cầu nhà vua phải đồng ý việc ban hành những quy định pháp luật thừa nhận những đảm bảo về quyền lợi của quý tộc, thị dân, tạo dựng chỗ đứng cho các tầng lớp này trong xã hội, và Bản Đại Hiến chương Magna Carta năm 1215 ra đời Việc lập pháp chủ yếu

do nghị viện đưa ra những quy định và nhà vua chỉ phê duyệt để nắm được các khỏan chi của hội đồng quý tộc Từ đó, quyền lập pháp dần dần chuyển sang tay Hội đồng quý tộc Anh, cùng với đó là quyền quyết định chi ngân sách nhà nước

Trong bản Magna Carta, vua John phải chấp nhận những giới hạn về quyền lực của ông Ông đồng ý rằng các nhà quý tộc và các chủ điền sẽ không còn bị trừng trị do ý muốn trong lúc bốc đồng của nhà vua nữa, mà chỉ có thể

bị đưa ra trước một bồi thẩm đoàn để xét xử theo luật về đất đai Nhà vua cũng phải đồng ý là phải tham vấn với đại hội đồng quý tộc và các vị chức sắc trong giáo hội về nhiều vấn đề Để cho được chắc chắn, các nhà quý tộc cũng phải tự kiểm soát họ trong khi họ cưỡng bách nhà vua phải chấp nhận tài liệu này Tuy nhiên, vào lúc đó tất cả những quyền lợi xác định trong bản Đại Hiến Chương được áp dụng cho hết thảy mọi người dân Anh16 Điều 39 Hiến chương quy định "Không một công dân tự do nào bị bắt bớ hay giam cầm, tịch thu ruộng đất và nhà vua cũng không cưỡng chế công dân đó hoặc cho phép người khác cưỡng chế công dân đó trừ khi bằng một phán quyết công

bằng với anh ta hoặc phải theo đúng pháp luật " Hơn nữa, trong Điều 1 của

16 Lịch sử Hoa Kỳ (phần 7)- Nguyễn Mạnh Quang dịch

Trang 24

Hiến chương này, nhà vua tuyên hứa tôn trọng những điều khoản của Hiến chương này và truyền cho những người kế vị phải "đời đời tôn trọng"17

Trên cơ sở đó, Hiến chương đã khẳng định một số quyền con người, cụ thể như: quyền sở hữu , thừa kế tài sản; quyền tự do buôn bán và không bị đánh thuế quá mức; quyền của các phụ nữ goá chồng được quyết định tái hôn hay không; quyền được xét xử đúng đắn và được bình đẳng trước pháp luật…Quan trọng hơn, bản hiến chương này được coi là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên của nhân loại đề cập cụ thể đến việc tiết chế quyền lực của nhà nước để bảo vệ các quyền của công dân, mà biểu hiện cụ thể ở hai quy phạm vẫn còn có giá trị đến tận ngày nay, đó là quy phạm về luật bảo thân- “habeas corpus” và quy phạm về “due process of law” Đặc tính chung của các bản văn kiện thời kỳ này ở Anh là từng bước gíới hạn quyền của nhà vua để trao dần dần rồi gần như tất cả quyền cho Nghị viện Ngoài ra còn nhiều tục lệ ngăn ngừa không để cho nhà vua can thiệp vào sinh hoạt chính trị chung18

Những tư tưởng lý luận và hiện thực Bản Hiến chương Magna Carta đã phản ánh cuộc đấu tranh nhằm tìm ra hình thức nhà nước đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội, thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nền chính trị phương Tây

cổ đại Nhà nước tuân theo pháp luật là tuân theo ý chí chung của xã hội Quyền lực nhà nước luôn có xu hướng bành trướng và hạn chế quyền tự do con người Để khắc phục tình trạng này cần phân biệt quyền lực nhà nước thành các quyền khác nhau theo chức năng, nhiệm vụ của nó Cùng với tư tưởng quản lý xã hội bằng pháp luật, tư tưởng phân chia, kiểm soát quyền lực

Trang 25

đã phôi thai (thể hiện bằng việc Hội đồng quý tộc Anh dần chiếm đoạt lấy quyền lập pháp từ tay nhà vua)

1.4.2 Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 khẳng định vị trí tối thƣợng của pháp luật

Luật chiếm vị trí tối thượng: đây chính là nội dung quan trọng đã được khẳng định ngay từ thuở sơ khai của thuyết pháp quyền (pháp trị) Để đảm bảo được nội dung này, xây dựng nhà nước pháp quyền phải là 1 trong những quyết định căn bản được ghi nhận trong Hiến pháp, hay nói cách khác, đó là 1 trong những nguyên tắc hiến định cơ bản

Các bản Hiến pháp trên thế giới có tư cách là biểu tượng quan trọng của chủ nghĩa lập hiến và học thuyết nhà nước pháp quyền Trong đó, tiêu biểu nhất phải kể đến Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1787 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được coi là "bộ luật tối cao của đất nước" Điều này có nghĩa là khi Hiến pháp hoặc luật pháp của các bang do các cơ quan lập pháp của các bang hoặc Quốc hội thông qua, bị phát hiện là trái với Hiến pháp liên bang, thì chúng sẽ không có hiệu lực Những phán quyết mà Tòa án Tối cao đưa ra trong hai thế kỷ qua đã khẳng định và củng

cố nguyên tắc về quyền tối thượng của Hiến pháp Theo Hiến pháp, quyền lực của các quan chức nhà nước là có giới hạn19

Bên cạnh đó, “Thành công của Hiến pháp Mỹ đó là bản Hiến pháp này

đã tạo ra đồng thời hai cơ chế giám sát hữu hiệu, đó là sự giám sát bên trong, tức là cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực (check and balance) giữa các

cơ quan nhà nước, và sự giám sát bên ngoài chính là xã hội dân sự (civil society) với đầy đủ những quyền năng được Hiến pháp bảo vệ Thiết chế này

có khả năng phản biện các chính sách, buộc nhà nước phải tuân thủ Hiến

19 “Khái quát về chính quyền hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, Ấn phẩm Chương trình Thông tin quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 2000

Trang 26

pháp, cùng thúc đẩy xã hội phát triển.” (GS.TS John Attanasio - Chuyên gia Luật hiến pháp, chuyên nghiên cứu về sự phát triển của Hiến pháp, Hiệu trưởng trường Luật Dedman, thuộc Đại học Methodist University)

Hiến pháp bao giờ cũng là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất ở mỗi một quốc gia, khi ra đời về nguyên lý để đảm bảo tính pháp quyền, nó còn được đặt cao hơn cả nhà nước, để nhằm giới hạn quyền lực của nhà nước Tất

cả việc tổ chức và hoạt động của nhà nước phải được đặt trên cơ sở Hiến pháp Và cũng chỉ bằng một bản Hiến pháp mà quyền lực nhà nước bị giới hạn thực sự, thì khi đó một xã hội dân sự hợp pháp, phi chính trị, phi lợi nhuận, mới có cơ sở để hình thành Điều làm nên giá trị trường tồn của Hiến pháp Mỹ không chỉ là những gì được qui định trong hiến pháp, vì thực tế không có một bản Hiến pháp nào có thể qui định được cụ thể hết các điều

trong đó, mà quan trọng hơn là cơ chế giải thích Hiến pháp và bảo vệ hiến pháp Cả hai cơ chế này đều phải được thực hiện bởi một thiết chế tài phán

Hiến pháp độc lập, chính đó mới là công cụ hữu hiệu hiện thực hoá những điều đã qui định trong Hiến pháp20

“Chúng tôi Nhân dân quy định và lập ra Hiến pháp này.” Những từ đó trong phần Dẫn nhập của Hiến pháp Mỹ diễn tả chủ thuyết chủ quyền về nhân dân, hay là nhân dân cai trị Các nhà làm Hiến pháp đã soạn thảo và đệ trình nhân dân phê chuẩn một văn kiện dùng để cai trị, dựa trên quan niệm là quyền chính trị tối hậu không phải thuộc về chính quyền hay bất cứ một viên chức nào trong chính quyền, mà là thuộc về nhân dân Thông qua Hiến pháp, nội dung pháp quyền được nâng lên thành những nguyên tắc chủ đạo nhất, từ đó, quyền nhân dân cũng được đề cao và đảm bảo theo hiến định

20 Nguyễn Minh Tuấn –“Lập hiến hướng đến pháp quyền ở Việt Nam”, theo Tia Sáng

Trang 27

Mặc dù Hiến pháp Mỹ đã thay đổi trên nhiều phương diện kể từ khi được thông qua lần đầu, những nguyên tắc cơ bản của nó ngày nay vẫn được giữ nguyên:

 Ba ngành cơ bản của chính quyền – hành pháp, lập pháp và tư pháp – vẫn độc lập và tách biệt với nhau Quyền lực của từng ngành được cân đối hài hòa với quyền lực của hai ngành còn lại Mỗi ngành đóng vai trò kiềm chế khả năng lạm quyền của hai ngành kia

 Hiến pháp, cùng với các luật được thông qua phù hợp với các điều khoản của Hiến pháp và những hiệp ước do tổng thống ký kết và được Thượng viện chấp thuận, đứng trên mọi đạo luật, mọi nghị định hành pháp và các quy định khác

 Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền như nhau được hưởng sự bảo vệ của pháp luật Tất cả các bang đều bình đẳng, và không bang nào được hưởng ưu đãi đặc biệt của chính quyền liên bang Trong khuôn khổ của Hiến pháp, mỗi bang phải công nhận và tôn trọng luật pháp của các bang khác Chính quyền các bang cũng như chính quyền liên bang phải có hình thức dân chủ trong đó quyền lực tối hậu thuộc về nhân dân

 Nhân dân có quyền thay đổi hình thức chính quyền quốc gia của mình bằng những biện pháp pháp lý được chính Hiến pháp quy định

Nói tóm lại, Hiến pháp Hoa Kỳ đã hiện thực hóa nội dung quan trọng thứ nhất của pháp quyền là đặt pháp luật lên trên tất cả, cũng chính là cách thức tiếp cận nhà nước pháp quyền về mặt hình thức Theo đó, pháp luật chính là khuôn mẫu cho nguyên tắc xử sự không chỉ của nhân dân mà còn là giới hạn phạm vi quyền lực cho nhà nước

Trang 28

1.4.3.Tuyên ngôn nhân quyền Hoa kỳ và Tuyên ngôn nhân quyền

và dân quyền Pháp – Nhân quyền đƣợc hiện thực hóa và bảo đảm

Tính tối cao của pháp luật chưa chắc đã là đặc điểm riêng có của nhà nước pháp quyền Bởi cũng tính tối cao có thể có và rất cần có trong nhà nước cực quyền, bao gồm những đạo luật phản nhân quyền, tước bỏ mọi quyền của công dân Với sự ra đời của học thuyết nhà nước pháp quyền , sự hình thành các mô hình nhà nước tư bản và sau đó là xã hội chủ nghĩa, con người lần đầu tiên trong lịch sử đã bước qua ranh giới ngăn cách về địa vị xã hội Những thần dân trong xã hội thần dân đã bước sang địa vị của người công dân trong

xã hội công dân Các quyền và lợi ích hợp pháp, danh dự, nhân phẩm của mọi công dân được nhà nước cam kết tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật Điểm khác biệt cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền so với các nhà nước khác thể hiện ở mối quan hệ qua lại giữa nhà nước với công dân Ở các nhà nước cực quyền thì chỉ có người dân phải có nghĩa vụ với nhà nước chứ nhà nước không có nghĩa vụ trở lại với người dân Bởi vậy, Nguyễn Khắc Viện trong

Từ điển Xã hội học đã xác định “Nhà nước pháp quyền là loại hình nhà nước

có nhiều khả năng nhất trong việc chống lại xu hướng độc quyền về quyền lực

và xu hướng quan liêu hóa bộ máy nhà nước”

Quyền của công dân tỷ lệ nghịch với quyền hạn của nhà nước Cá nhân được sở hữu tất cả những gì thuộc về mình Nhà nước chỉ được dành cho những cái tối thiểu Nhà nước tối thiểu là nhà nước tự do với nghĩa mở rộng khả năng tự trị, hưởng thụ cá nhân, tham dự vào quyền lực xã hội, không ai bị

nô dịch, không ai áp đặt ý chí của mình cho người khác Con người trong nhà nước pháp quyền được đặt vào vị trí công dân, được hưởng các quyền và có các nghĩa vụ pháp lý nhất định Điều đó có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển của xã hội Con người đã được giải phóng cơ bản và đã trở thành nguồn lực của sự phát triển xã hội

Trang 29

Sự ra đời của các bản Tuyên ngôn nhân quyền của Hoa kỳ, bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp đã đặt cơ sở cho việc thiết lập hệ thống pháp luật tư sản theo thuyết pháp quyền

Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ 1791 (được ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ với tư cách là những tu chánh án) đã ghi nhận những điều khoản bảo

vệ quyền con người rất đúng đắn, thiết thực:

Thứ nhất, hạn chế quyền của Quốc hội Hoa kỳ bằng cách cấm Quốc hội ban hành luật về thành lập tôn giáo và bằng cách cấm chính quyền liên bang tước quyền sống, quyền tự do hay tài sản của bất cứ người nào mà không thông qua tố tụng pháp luật

Thứ hai, chỉ ra các nguyên tắc bảo vệ các quyền cơ bản của công dân:

“Không một người nào bị buộc phải chịu trách nhiệm về một trọng tội hoặc một tội ác bỉ ổi nào khác nếu không có sự tường trình và cáo trạng của Đại bồi thẩm đoàn, ngoại trừ những trường hợp xảy ra trong các lực lượng vũ trang trên bộ hoặc hải quân, hoặc trong lực lượng dân vệ, khi thực tế đang thực thi công vụ trong thời chiến hoặc khi có mối nguy hiểm công cộng Không một ai bị xử hai lần có hại đến mạng sống hoặc đến thân thể đối với cùng một vi phạm Không một ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại chính mình trong bất kỳ một vụ án hình sự nào Không một ai bị tước đoạt mạng sống, quyền tự do hoặc tài sản nếu chưa qua một quá trình xét xử theo đúng luật Không một tài sản riêng nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng” (Điều 5)

Thứ ba, khẳng định quyền con người là mang tính tự nhiên: “Việc liệt

kê một số quyền nhất định trong Hiến pháp không được hiểu là phủ nhận hoặc

hạ thấp những quyền khác của người dân” (Điều 9) khẳng định cho nguyên tắc “nhân dân được làm những gì pháp luật không cấm” Cùng với đó là lời tuyên bố trong Tuyên ngôn Độc lập: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển

Trang 30

nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ”

Tương tự, trong cuộc cách mạng thứ hai, vào năm 1789, nhân dân Pháp, mà chủ yếu là thợ thuyền, trí thức và một số thị dân, đã đứng lên lật đổ chế độ phong kiến, thành lập nền cộng hòa đầu tiên, đồng thời công bố bản Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền nổi tiếng của Pháp Bản tuyên ngôn của Pháp tiếp tục giương cao ngọn cờ đấu tranh cho nhân quyền:

Thứ nhất, công nhận quyền con người mang tính thế giới: Điều 1 bản

Tuyên ngôn này khẳng định : “ Người ta sinh ra và sống tự do và bình đẳng

về các quyền …” Rõ ràng, Tuyên ngôn về Nhân quyền và quyền công dân của nước Pháp đã nêu rõ “con người được sinh ra, được tự do và có quyền bình đẳng” Không chỉ người dân nước Pháp, không chỉ những người da trắng, không chỉ những tín đồ Cơ đốc giáo, không chỉ là đàn ông mà danh từ

“người” ở đây muốn ám chỉ mọi thành viên trong cộng đồng loài người

Thứ hai, bảo vệ nguyên tắc: “tự do trong khuôn khổ luật định”: Điều 5 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp tuyên bố “Luật chỉ có quyền cấm những hành vi gây bất lợi cho xã hội Bất cứ hành vi nào không bị pháp luật cấm thì cũng không được phép ngăn cản, và không ai bị bắt buộc phải làm điều mà pháp luật không yêu cầu”

Trang 31

Thứ ba, quy định pháp luật phải thể hiện và bảo vệ ý chí, quyền lợi cơ bản của nhân dân: Điều 6 nêu rõ: “Luật pháp phải thể hiện mong ước chung của cộng đồng Tất cả các công dân đều có quyền đóng góp, trực tiếp hay qua đại diện của họ, để tạo ra luật pháp Luật pháp phải giống nhau với mọi đối tượng, cho dù nó bảo vệ hay trừng phạt Tất cả các công dân, bình đẳng trước con mắt của luật pháp, phải có quyền ngang nhau trong việc tham gia vào tất

cả các văn phòng quan trọng, các vị trí và chức vụ công, theo khả năng của họ

và không có gì phân biệt ngoại trừ phẩm chất và tài năng” Như vậy, đặc biệt, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền 1789 đã xác định một loạt các quyền cơ bản của con người như quyền tự do và bình đẳng, quyền sở hữu, được bảo đảm an ninh và chống áp bức , quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền không bị bắt giữ trái phép, quyền được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội, quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, quyền tham gia ý kiến vào công việc nhà nước…, đồng thời đề cập đến những biện pháp cụ thể nhằm bảo đảm thực hiện các quyền này21

Rõ ràng, trong nhà nước pháp quyền, pháp luật là phương tiện chính thức hóa các giá trị xã hội của quyền con người; các quyền đó được pháp luật hóa và mang tính bắt buộc, được xã hội thừa nhận, bảo vệ Khi quyền con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật thì nó sẽ trở thành “tối thượng” có giá trị bắt buộc đối với toàn xã hội, ngay cả với cơ quan cao nhất của Nhà nước22 Pháp luật là công cụ sắc bén của Nhà nước trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người Pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý

để công dân đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ

21

“Lịch sử phát triển của tư tưởng về quyền con người”, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người

22 Nguyễn Quang Hiền – “Pháp luật- phương tiện quan trọng bảo vệ quyền con người”, Tạp chí KHPL số 1/2004

Trang 32

Nói tóm lại, với việc đặt quyền con người, tức nhân dân lên làm mục tiêu hàng đầu của nhà nước pháp quyền, thì đây chính là cách thức tiếp cận về mặt nội dung của nhà nước pháp quyền Thực hiện đầy đủ về nội dung thứ hai của pháp quyền chính là xây dựng pháp luật phải đúng đắn, khách quan, công bằng, thể hiện được ý chí của nhân dân và bảo vệ quyền con người có hiệu quả

1.5 TỔNG KẾT CHƯƠNG

Như vậy, tổng kết lại về sự hình thành và phát triển của dòng tư tưởng Nhà nước pháp quyền, chúng ta có thể khẳng định :

1 Tư tưởng đề cao pháp luật, coi pháp luật là công cụ quản lý nhà nước

và xã hội, cũng như những quan điểm và nguyên tắc pháp lý của “Pháp trị” thực sự là tiến bộ lịch sử, trở thành niềm tự hào và là nét đặc sắc của tư tưởng phương Đông mà mãi sau này đến thế kỷ Khai sáng phương Tây mới tiếp cận

và vượt lên bởi các tên tuổi John Locke, JJ Rousseau, Montesquieu phát triển tư tưởng về nhà nước và pháp luật lên đỉnh cao bởi các học thuyết "tam quyền phân lập", "nhà nước pháp quyền"

Hai tư tưởng cách nhau trên một ngàn năm song bước nhảy của phương Tây so với phương Đông chỉ trong một khoảng ngắn ngủi: Pháp trị đề cao pháp luật, yêu cầu mọi người phải tuân thủ pháp luật, chỉ chừa đặc quyền cao nhất cho một người được đứng trên là nhà vua (do hạn chế của thời đại) Còn phương Tây chủ trương tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Sự thay đổi này tuy rất nhỏ nhưng thực sự là kết quả đấu tranh gian khổ và lâu dài của nhân loại, đánh dấu một bước ngoặt mang tính thời đại

2 Dòng tư tưởng nước pháp quyền dù ở phương Đông hay phương Tây đều phát triển theo xu hướng bao hàm 2 nội dung cơ bản:

Một là, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật

Trang 33

Hai là, pháp luật phải đúng đắn, khách quan, công bằng, thể hiện được

ý chí của nhân dân, bảo vệ quyền con người hiệu quả

3 Tất cả các nội dung trên của thuyết pháp quyền đều đã được hiện thực hóa bằng nhiều văn bản pháp lý tiêu biểu của nhân loại, đóng góp những giá trị tiến bộ, văn minh vào thực tiễn đời sống chính trị - xã hội của thế giới

Trang 34

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

2.1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Nền tảng tư tưởng của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,

và được cụ thể hóa qua các kỳ Đại hội Đảng

Bắt đầu từ Đại hội lần thứ IV của Đảng, vấn đề xây dựng nhà nước thượng tôn pháp luật đã bắt đầu được quan tâm thảo luận Đại hội lần thứ IV cuả Đảng đề ra yêu cầu cần xác định quyền làm chủ tập thể của nhân dân bằng hiến pháp và pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, làm cho mọi hoạt động của cơ quan nhà nước đi vào khuôn phép và quy chế nghiêm chỉnh Đại hội lần thứ V của Đảng yêu cầu tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật, khẩn trương cụ thể hóa Hiến pháp năm 1980 bằng hệ thống pháp luật

Với việc đổi mới tư duy chính trị, tư duy pháp lý, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI, Đảng ta bắt đầu nêu ra vấn đề cải cách bộ máy nhà nước Trong chủ trương đổi mới Nhà nước, Đảng nêu rõ: “ Quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không chỉ bằng đạo lý; quản lý bằng pháp luật đòi hỏi phải quan tâm xây dựng pháp luật, từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để đảm bảo cho bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật

Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật trong điều kiện Đảng cầm quyền, mọi cán bộ, bất cứ ở cương

Trang 35

vị nào đều phải sống và làm việc theo pháp luật, gương mẫu trong việc tôn trọng pháp luật.”23

Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, trong quá trình đổi mới tư duy pháp lý, vấn đề nhà nước pháp quyền đã từng bước được nhận thức và phát triển Thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” đã được đồng chí Đỗ Mười (lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) nêu ra tại Hội nghị tư pháp toàn quốc năm 1989 Khi xác định yêu cầu đổi mới tổ chức hoạt động của nhà nước, đồng chí Đỗ Mười đã khẳng định, phải xây dựng một nhà nước mà toàn

bộ tổ chức, hoạt động của nó dựa trên cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp luật, đồng thời thực hiện được chức năng quản lý xã hội bằng pháp luật24

Giai đoạn từ năm 1991-2001 là giai đoạn đất nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn về các mặt Các tiền đề kinh tế, chính trị, tư tưởng, xã hội và quốc tế đã thúc đẩy nhận thức đầy đủ hơn về những tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đại hội toàn quốc lần thứ VII và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội này chưa nêu ra thuật ngữ Nhà nước pháp quyền, nhưng những tư tưởng về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được thể hiện trong các văn kiện này Cương lĩnh khẳng định: “Dân chủ đi đôi với kỷ luật,

kỷ cương, phải được thể chế hòa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm”;

“Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm”; và hệ thống chính trị ở nước ta “ là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân”25 “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó.”

23 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội 1987, tr 117 - 123

24 Đỗ Mười – “Xây dựng nhà nước của nhân dân – Thành tựu, kinh nghiệm, đổi mới”, NXB Sự thật, HN,

1990

25 Tạp chí Cộng sản, số đặc biệt, tháng 7/1991, tr 38-40

Ngày đăng: 14/08/2023, 06:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. PGS. TS. Hà Hùng Cường – “Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN
10. GS.TS. Nguyễn Đăng Dung - Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phòng chống sự tùy tiện. Website Nghiên cứu lập pháp Văn phòng Quốc hội; Giáo trình Luật Hiến pháp của các nước tư bản, NXB. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hiến pháp của các nước tư bản
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB. Đại học quốc gia, Hà Nội
Năm: 2001
11. GS.TS Ngu yễn Đăng Dung, Ths. Bùi Tiến Đạt - Cải cách chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp theo nguyên tắc tôn trọng q uyền con người, Tạp chí nghiên cứu pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp theo nguyên tắc tôn trọng quyền con người
Tác giả: GS.TS Ngu yễn Đăng Dung, Ths. Bùi Tiến Đạt
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu pháp luật
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV 13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI 15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
33. “Khái quát về chính quyền hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, Ấn phẩm Chương trình Thông tin quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về chính quyền hợp chủng quốc Hoa Kỳ
36. Nguyễn Hiến Lê (chủ dịch và giới thiệu) - Luận ngữ, NXB Văn Học 1995 37. Lịch sử các học thuyết chính trị và pháp luật. NXB sách pháp lý.Matxcơva, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận ngữ
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: NXB Văn Học
Năm: 1995
41. “Lịch sử phát triển của tư tưởng về quyền con người”, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phát triển của tư tưởng về quyền con người
44. “Luật của tự nhiên” – Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật của tự nhiên
47. “Minh bạch hóa hệ thống pháp luật ở Việt Nam – yêu cầu từ thực tiễn” (Hội thảo Những tác động của việc thực hiện cam kết WTO – Một năm nhìn lại) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh bạch hóa hệ thống pháp luật ở Việt Nam – yêu cầu từ thực tiễn
55. Đề cương chi tiết môn học tự chọn “Những vấn đề cơ bản về nhà nước pháp quyền” – Trường Đại học Luật TP.HCM, Khoa Luật Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về nhà nước pháp quyền
56. “Phát minh ra nhân quyền: Một hiểu biết đồng cảm”, Tạp chí Điện tử của Chương trình Thông tin quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát minh ra nhân quyền: Một hiểu biết đồng cảm
57. “Platon , Nhà nước lý tưởng”. Xem trong “101 tác phẩm có ảnh hưởng nhận thưc nhân loại”, NXB. Văn hóa Thông tin, H. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Platon , Nhà nước lý tưởng”. Xem trong “101 tác phẩm có ảnh hưởng nhận thưc nhân loại
Nhà XB: NXB. Văn hóa Thông tin
60. Lưu Đức Quang – Hướng đến một nền tài phán hiến pháp cho Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đến một nền tài phán hiến pháp cho Việt Nam
Tác giả: Lưu Đức Quang
64. “Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Nguồn: greenspun.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
67. “Thẩm quyền của cơ quan bảo hiến các nước”, Tạp chí NCLP số 7/2001 68. “Thuyết Tam quyền phân lập và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại", Viện TTKHXH, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của cơ quan bảo hiến các nước
Nhà XB: Tạp chí NCLP
Năm: 2001
69. Trần Thị Hồng Thúy (chủ biên) “ Giáo trình lịch sử triết học”, ĐH Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử triết học
71. TS. Lương Minh Tuân – Hoạt động của Quốc Hội với vấn đề bảo hiến ở Việt Nam (Tài liệu Hội thảo “Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển”), Hà Nội 23 -24/12/2005, TP.HCM 27/12/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển
73. Ths. Nguyễn Xuân Tùng – Đẩy mạnh xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam dưới ánh sáng đại hội Đảng lần thứ XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam dưới ánh sáng đại hội Đảng lần thứ XI
Tác giả: Nguyễn Xuân Tùng

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w