1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khiếu kiện không vi phạm một số vấn đề phát luật và thực tiễn áp dung trong giải quyết tranh chấp tại wto

81 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khiếu kiện không vi phạm: Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn áp dụng trong giải quyết tranh chấp tại WTO
Tác giả Dương Đào Hoàng Dung
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Thùy Dương
Trường học Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 T ỔNG QUAN QUY ĐỊ NH V Ề KHI Ế U KI Ệ N KHÔNG VI PH Ạ M TRONG H Ệ TH Ố NG PHÁP LU Ậ T T Ổ (12)
    • 1.1. Cơ sở hình thành quy đị nh v ề khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m trong h ệ th ố ng pháp lu ậ t T ổ ch ức thương mạ i th ế gi ớ i (13)
      • 1.1.1. Cơ sở lý lu ậ n (13)
      • 1.1.2. Quá trình hình thành và phát tri ển quy đị nh khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m trong h ệ th ố ng GATT/WTO (14)
    • 1.2. Quy đị nh khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m trong h ệ th ố ng pháp lu ậ t T ổ ch ức thương mạ i th ế gi ớ i (22)
      • 1.2.1. Quy đị nh v ề n ộ i dung (22)
      • 1.2.2. Quy định về hình thức (30)
    • 1.3. So sánh sơ bộ gi ữa quy đị nh khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m (32)
  • CHƯƠNG 2. THỰ C TI Ễ N ÁP D ỤNG QUY ĐỊ NH KHI Ế U KI Ệ N KHÔNG VI PH Ạ M TRONG GI Ả I QUY Ế T TRANH CH Ấ P (37)
    • 2.1. Khái quát v ề các tranh ch ấp liên quan đế n khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m t ừ khi T ổ ch ức thương mại đượ c thành l ậ p (38)
    • 2.2. Các n ội dung liên quan đến quy đị nh khi ế u ki ệ n không (0)
      • 2.2.1. Các điề u ki ệ n c ấ u thành m ộ t khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m (0)
      • 2.2.2. Nghĩa vụ ch ứ ng minh (0)
      • 3.1.1. Tác độ ng tích c ự c (59)
      • 3.1.2. Tác độ ng tiêu c ự c (61)
    • 3.2. Cơ sở cho vi ệ c ti ế p t ụ c áp d ụng quy đị nh v ề khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m trong h ệ th ố ng pháp lu ậ t T ổ ch ức thương mạ i (0)
    • 3.3. M ộ t s ố bài h ọ c kinh nghi ệm liên quan đế n khi ế u ki ệ n không vi (67)

Nội dung

T ỔNG QUAN QUY ĐỊ NH V Ề KHI Ế U KI Ệ N KHÔNG VI PH Ạ M TRONG H Ệ TH Ố NG PHÁP LU Ậ T T Ổ

Cơ sở hình thành quy đị nh v ề khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m trong h ệ th ố ng pháp lu ậ t T ổ ch ức thương mạ i th ế gi ớ i

WTO là một tổ chức thương mại đa phương lớn nhất thế giới hiện nay

Sự ra đời của WTO là kết quả của quá trình đàm phán các nhượng bộ giữa các thành viên, thể hiện mối quan hệ dựa trên sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ của các quốc gia Hệ thống WTO hoạt động dựa trên nguyên tắc tự do hóa thương mại và mở cửa thị trường, tạo ra một sự cân bằng nhượng bộ để thúc đẩy thương mại quốc tế mở cửa và thuận lợi hơn.

WTO đã nhấn mạnh rằng để đạt được mục tiêu 10 của tổ chức, các thành viên cần cam kết thực hiện tiến trình tự do hóa thương mại bằng cách cắt giảm đáng kể thuế và các hàng rào cản thương mại khác, đồng thời loại bỏ sự phân biệt đối xử trong các mối quan hệ thương mại quốc tế Để thực hiện quá trình này, các quốc gia thành viên phải duy trì sự cân bằng trong các nhượng bộ thương mại một cách có đi có lại, đảm bảo lợi ích chung cho các bên tham gia.

7 World Trade Organization (2001), Understanding The WTO, published by the WTO, Switzerland, tr 112

Trong chương trình dữ liệu quốc gia Hoa Kỳ của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, thuật ngữ “concession” được giải thích là việc cấp một vị thế, đặc quyền hoặc quyền lợi nhất định nhằm thu hút đối tác, như trong các đàm phán thương mại GATT 1947, các quốc gia thường cung cấp nhượng bộ dưới dạng cắt giảm thuế quan hoặc hàng rào phi thuế để đổi lại sự giảm thiểu các hạn chế từ các quốc gia khác đối với hàng hóa xuất khẩu của mình Các nhân nhượng của một quốc gia được xem là một phần trong các nghĩa vụ của quốc gia đó theo các quy định của GATT 1947, là thành phần không thể thiếu của các nghĩa vụ của thành viên WTO, tiếp tục được duy trì trong GATT 1994.

9 Simon A.B Schropp (2007), Revisting the “Compliance – vs – Rebalancing” Debate in WTO Scholarship: Towards a Unified Research Agenda, HEI Working Paper No:29/2007, tr.6

10 Các m ục tiêu đượ c ghi nh ậ n t ạ i L ời nói đầ u c ủ a Hi ệp đị nh Marrakesh (còn g ọ i là Hi ệp đị nh WTO)

Hiệp định Marrakesh quy định các nguyên tắc pháp lý nhằm thiết lập sự cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên, trong đó cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng này Các quy định về giải quyết tranh chấp cung cấp các phương thức để "tái cân bằng" khi quyền lợi và nghĩa vụ bị vi phạm, giúp đảm bảo sự công bằng và ổn định trong thương mại quốc tế.

Tổ chức thương mại lớn như WTO không phải là một bộ quy định hoàn chỉnh, và việc tồn tại các khoản trống pháp lý trong khuôn khổ WTO là điều không thể tránh khỏi Một thành viên có thể áp dụng các biện pháp phù hợp với quy định WTO, nhưng vẫn có thể gây bất lợi cho lợi ích của thành viên khác, dẫn đến mất cân bằng trong các cam kết thương mại đa phương giữa các quốc gia thành viên.

Trong bối cảnh này, WTO cần thiết lập các quy định nhằm bảo vệ sự cân bằng, ngay cả khi không có hành vi vi phạm nào Điều khoản khiếu kiện không vi phạm ra đời nhằm cung cấp cơ chế sửa chữa và điều chỉnh khi xảy ra mất cân bằng, đảm bảo quyền lợi của các thành viên mà không dựa trên việc xác định sự vi phạm rõ ràng.

1.1.2 Quá trình hình thành và phát tri ển quy đị nh khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m trong h ệ th ố ng GATT/WTO

1.1.2.1 Các H ộ i ngh ị kinh t ế - ti ề n t ệ c ủ a H ộ i qu ố c liên vào nh ững năm 19 20 và 1930

Sau chiến tranh thế giới I, các quốc gia tập trung vào việc tái thiết đất nước thông qua các đàm phán đa phương về kinh tế, do Hội quốc liên chủ trì Trong giai đoạn này, các quốc gia chủ yếu sử dụng hàng rào thuế quan như một biện pháp chống lại hàng nhập khẩu để bảo vệ nền kinh tế của mình Một trong những mục tiêu chính của Hội quốc liên là thúc đẩy việc thực thi các điều ước thương mại nhằm duy trì hòa bình và phát triển kinh tế toàn cầu.

12 The Legal Affairs Division and the Appellate Body (2004), A Handbook on the WTO Dispute Settlement System, published by The Press Syndicate of the University of Cambrigde, United Kingdom, tr.32

According to James P Durling and Simon N Lester, citing John H Jackson's "The World Trading System: Law and Policy of International Economic Relations" (2nd ed., 1997, p 217), international trade generally opposes high tariffs, which are referred to as "tariff suspensions" or "temporary import tax reductions."

Các quốc gia có thể sử dụng các biện pháp khác thay thế hàng rào thuế quan để bảo vệ nền sản xuất trong nước, gọi là "bảo hộ gián tiếp" Hội quốc liên nhận thấy tình trạng bảo hộ gián tiếp gia tăng sau các cam kết giảm thuế quan của các quốc gia Vì vậy, Hội liên hiệp tiếp tục nỗ lực tìm kiếm các giải pháp mới nhằm kiểm soát và hạn chế ảnh hưởng của hình thức bảo hộ này nhằm bảo vệ ngành công nghiệp nội địa.

Ban đầu, Hội quốc liên chỉ liệt kê các hình thức của bảo hộ gián tiếp mà chưa đề xuất giải pháp cụ thể Đến năm 1933, tại Hội nghị kinh tế tiền tệ London, hội nghị đã có bước ngoặt quan trọng với các cuộc thảo luận về bảo hộ gián tiếp Trong suốt hội nghị, các quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Yugoslav đã trình bày các quan điểm khác nhau về các phương án giải quyết vấn đề này Tuy nhiên, nhìn chung, các giải pháp đều nhằm thúc đẩy thiện chí giữa các quốc gia, tạo điều kiện để đối xử công bằng hơn với hàng nhập khẩu.

Sau Hội nghị London, Ban thư ký đã đề xuất soạn thảo “Điều khoản đối xử công bằng” nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo hộ gián tiếp Điều khoản này được thông qua với mục tiêu đảm bảo quyền lợi công bằng cho các bên liên quan trong hoạt động thương mại quốc tế.

Sau khi Điều ước được ký kết, nếu một bên ký kết thực hiện bất kỳ biện pháp nào không vi phạm quy định của Điều ước nhưng bị bên ký kết khác cho là gây ảnh hưởng hoặc làm suy giảm mục tiêu của điều ước, bên thực hiện biện pháp đó có thể bị coi là vi phạm.

14 James P.Durling và Simon N.Lester, tlđd 6, tr.217, đã trích dẫ n t ừ bài vi ế t c ủ a tác gi ả Martin Hill

(1946), The Economic and Financial Organization of The League Nation: A Survey of Twenty- Five Years Experience, 36-37

Dưới đây là các phát biểu quan trọng phản ánh nội dung của đoạn văn: James P Durling và Simon N Lester đã trích dẫn các đệ trình từ Đoàn đại biểu Yugoslavia tại Hội nghị Kinh tế - Tiền tệ London 1933, theo tài liệu của Liên hợp quốc Theo đó, Yugoslavia đã từ chối tham gia các cuộc đàm phán nhằm xem xét các đề nghị của bên cáo buộc hoặc điều chỉnh các khiếu kiện mà không có thiện chí đối thoại Như vậy, quyết định từ chối này nhấn mạnh sự không sẵn lòng của Yugoslavia trong việc tham gia vào các cuộc đàm phán mang tính chất hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp.

Sự ra đời của điều khoản đối xử công bằng là một nỗ lực lớn sau nhiều hội nghị của Hội quốc liên, nhằm thúc đẩy sự công bằng trong thương mại quốc tế Đây được xem là giải pháp tối ưu để chống lại hành động bảo hộ gián tiếp của các quốc gia sau khi cam kết nhượng bộ thuế quan Điều khoản này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự thương mại toàn cầu, góp phần thúc đẩy tự do hóa thương mại và ổn định kinh tế quốc tế.

Hội quốc liên vẫn chưa ban hành một điều ước thương mại chính thức ghi nhận hiệu lực của điều khoản đối xử công bằng Thay vào đó, Hội khuyến khích các thành viên đưa điều khoản này vào các hiệp định thương mại song phương Trong giai đoạn này, nhiều hiệp định thương mại song phương đã quy định điều khoản đối xử công bằng, như Hiệp định giữa Hoa Kỳ và Honduras (1935), Hoa Kỳ và Canada (1936), Hoa Kỳ và Cộng hòa Czech (1938), cùng các hiệp định giữa Vương quốc Hungary – Vương quốc Yugoslav (1933), và New Zealand – Thụy Sỹ (1938).

Quy đị nh khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m trong h ệ th ố ng pháp lu ậ t T ổ ch ức thương mạ i th ế gi ớ i

Dựa trên quy định về giải quyết tranh chấp từ GATT 1947, WTO cũng quy định ba loại khiếu kiện gồm: khiếu kiện vi phạm, khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện theo tình huống Trong đó, chỉ một số hiệp định có quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp về điều khoản khiếu kiện không vi phạm Các quy định này giúp đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp được thực hiện công bằng và phù hợp với từng tình huống cụ thể.

Như trình tại bày phần 1.1, quy định về giải quyết tranh chấp tại GATT

Năm 1994, GATT đã kế thừa từ GATT 1947 theo Điều XXIII, mở rộng và cập nhật các quy định về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Điều XXIII GATT 1994 bao gồm ba loại khiếu kiện chính: khiếu kiện vi phạm, khiếu kiện không vi phạm, và khiếu kiện theo tình huống, nhằm đảm bảo quyền của các thành viên trong việc bảo vệ lợi ích thương mại của mình Trong đó, quy định về khiếu kiện không vi phạm tại Điều XXIII.1(b) GATT 1994 nhấn mạnh vai trò của các biện pháp của chính phủ trong việc duy trì sự cân bằng và công bằng trong thương mại quốc tế.

Nếu bất kỳ bên ký kết nào cho rằng lợi ích của họ từ Hiệp định này đang bị vô hiệu hoặc suy giảm, hoặc việc đạt được các mục tiêu của Hiệp định bị cản trở, điều đó có thể do các hành động hoặc hiện tượng gây trở ngại Việc xác định các yếu tố này là cần thiết để duy trì hiệu quả và sự công bằng của Hiệp định Các bên liên quan cần phối hợp để giải quyết các vấn đề này nhằm đảm bảo mục tiêu chung và nguyên tắc của Hiệp định không bị ảnh hưởng tiêu cực.

31 Locknie Hsu (2005), “Non -Violation Complaints – World Trade Organization Issues and Recent Free Trade Agreements”, Journal of World Trade, 39(2), 205-237

…(b) việc áp dụng bất kỳ biện pháp nào bởi bên ký kết khác, bất kể nó có mâu thuẫn với các quy định của Hiệp định này hay không,…

Quy định khiếu kiện không vi phạm tại Điều XXIII.1(b) liên quan đến việc “lợi ích” từ Hiệp định GATT 1994 bị vô hiệu hoặc suy giảm Điều này xảy ra khi việc áp dụng một biện pháp không mâu thuẫn với các quy định của Hiệp định gây cản trở việc đạt được mục đích của Hiệp định hoặc làm giảm hiệu quả của lợi ích đã cam kết.

1.2.1.2 Điề u XXIII.3 Hi ệp đị nh chung v ề thương mạ i d ị ch v ụ (General Agreement on Trade in Services - GATS)

GATS – Hiệp định chung về thương mại dịch vụ, là cam kết của các quốc gia thành viên thực hiện các nhượng bộ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, nhằm thúc đẩy tự do hóa và mở cửa thị trường dịch vụ quốc tế Quyết định giải quyết tranh chấp của GATS tại Điều XXIII đề cập đến hai loại khiếu kiện chính: khiếu kiện vi phạm và khiếu kiện không vi phạm, giúp đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan trong lĩnh vực thương mại dịch vụ Khác với GATT 1994, GATS không quy định các loại khiếu kiện dựa theo các tình huống cụ thể, mà tập trung vào nội dung khiếu kiện không vi phạm theo quy định tại Điều XXIII.3, góp phần tăng cường hiệu quả và rõ ràng trong giải quyết tranh chấp thương mại dịch vụ quốc tế.

Nếu bất kỳ thành viên nào cho rằng lợi ích hợp lý từ một cam kết của thành viên khác theo Hiệp định bị vô hiệu hoặc suy giảm, điều này chỉ xảy ra khi việc áp dụng các biện pháp không trái với các quy định của Hiệp định.

Nội dung điều khoản khiếu kiện không vi phạm GATS quy định rằng, "lợi ích" kỳ vọng hợp lý từ một "cam kết cụ thể" có thể bị xem là vi phạm nếu bị "vô hiệu" hoặc "suy giảm" do việc áp dụng các biện pháp "không mâu thuẫn" với Hiệp định GATS Việc này đảm bảo rằng các biện pháp của quốc gia không xâm phạm quyền lợi đã cam kết trong hiệp định và duy trì tính hiệu quả của các thỏa thuận thương mại tự do.

So với GATT 1994, Điều XXIII.3 của GATS yêu cầu tồn tại “vô hiệu hoặc suy giảm” của một lợi ích khi áp dụng các biện pháp không mâu thuẫn với Hiệp định Tuy nhiên, Điều XXIII.3 GATS không đề cập đến nội dung về vô hiệu hoặc suy giảm “một cách gián tiếp”, gây ra những hạn chế trong việc đảm bảo quyền lợi của các bên trong thương mại dịch vụ Chính vì vậy, quy định này yêu cầu các biện pháp cần phải rõ ràng, minh bạch và không gây cản trở trái phép tới việc thực thi các cam kết thương mại dịch vụ quốc tế.

Điều XXIII.1(b) GATT 1994 sẽ được trình bày tại Chương II của bài viết này, nhằm mục đích giới hạn hành động khiếu kiện không vi phạm theo GATS Trong bối cảnh này, phạm vi áp dụng của khiếu kiện không vi phạm GATS có thể rộng hơn GATT 1994, khi xem xét trên phạm vi điều chỉnh Lợi ích của GATS dựa trên các cam kết cụ thể về đối xử quốc gia, gia nhập thị trường và các lĩnh vực đặc biệt, bao gồm các điều khoản, giới hạn, điều kiện hay chất lượng trong biểu cam kết của thành viên Trong khi đó, GATT 1994 tập trung vào lợi ích từ cam kết nhượng bộ thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu Tuy nhiên, nếu xét về phạm vi nội dung, biểu cam kết của GATS mang phạm vi rộng hơn, vì khái niệm dịch vụ trong GATS bao gồm cả hàng hóa (theo khía cạnh dịch vụ hàng hóa), làm tăng phạm vi điều chỉnh của lĩnh vực này.

GATS, là hiệp định mới so với GATT 1994, gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng quy định về khiếu nại không vi phạm do còn thiếu rõ ràng và chưa được hiểu rõ Sự mới mẻ của GATS cũng góp phần làm phức tạp việc xác định các khái niệm liên quan, gây khó khăn trong quá trình thực thi các quy định Việc chưa có hướng dẫn cụ thể và chưa rõ nghĩa của các quy định trong GATS làm tăng thêm thách thức cho các bên liên quan trong việc giải quyết các vụ việc khiếu nại không vi phạm.

1.2.1.3 Điề u 64 Hi ệp đị nh v ề các khía c ạnh thương mạ i c ủ a s ở h ữ u trí tu ệ (Agreement on Trade – Related Aspects of Intellectual Property Rights – TRIPs)

Hiệp định TRIPs điều chỉnh các vấn đề thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, nhằm thúc đẩy sự công bằng và bảo vệ quyền sáng tạo Điều khoản giải quyết tranh chấp tại Điều 64 của TRIPs quy định rõ các phương thức và tiến trình xử lý các tranh chấp liên quan đến việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ giữa các bên Thỏa thuận này góp phần đảm bảo môi trường thương mại quốc tế minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và nhà sáng tạo bảo vệ quyền lợi của mình trên toàn cầu.

33 Werner Zdouc (1999), “ WTO Dispute Settlement Practice Relating to The GATS ” , Journal of International Economic Law, 2(2), 295-346, tr 303

1 Các quy định tại các Điều XXII và XXIII của GATT 1994 được chi tiết và áp dụng bởi Thỏa ước về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU) sẽ được áp dụng đối với việc tham vấn và giải quyết tranh chấp theo Hiệp định này, nếu không có quy định cụ thể khác trong Hiệp định này

2 Trong thời hạn 5 năm kể từ ngày Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu lực, không được áp dụng các điểm 1(b) và điểm 1(c) Điều XXIII của GATT 1994 để giải quyết các tranh chấp theo Hiệp định này

3 Trong suốt thời hạn được quy định tại khoản 2, Hội đồng TRIPS phải xem xét phạm vi và phương thức đối với các khiếu kiện thuộc loại quy định tại các điểm 1(b) và điểm 1(c) điều XXIII của GATT thuộc phạm vi của Hiệp định này, và đệ trình các khuyến nghị để Hội nghị các Bộ trưởng thông qua Bất kỳ quyết định nào của Hội nghị các Bộ trưởng đối với những khuyến nghị đó hoặc về việc kéo dài thời hạn nêu tại khoản 2 chỉ được thông qua trên cơ sở đồng thuận, và các khuyến nghị được thông qua sẽ có hiệu lực đối với tất cả các Thành viên mà không phải qua bất kỳ một thủ tục chấp nhận thêm nào khác Điều khoản giải quyết tranh chấp của TRIPs được “thiết kế” theo cách viện dẫn các quy định giải quyết tranh chấp trong GATT 1994 Do đó, quy định giải quyết tranh chấp của TRIPs gồm 3 loại khiếu kiện: khiếu kiện vi phạm, khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện theo tình huống Và, nội dung quy định khiếu kiện không vi phạm trong TRIPs sẽ tương tự như quy định tại Điều XXIII.1(b) GATT 1994

Điều 64.2 TRIPs quy định rằng các điều khoản về khiếu kiện không vi phạm và có thể tạm hoãn áp dụng trong những trường hợp nhất định Thời gian tạm hoãn này ban đầu là 5 năm kể từ khi Hiệp định WTO có hiệu lực, tức từ năm 1995 đến 1999 Tuy nhiên, đến nay, việc tạm hoãn áp dụng quy định này vẫn tiếp tục được kéo dài mà không rõ ngày kết thúc.

31/12/2015 Điều này đã được Hội nghị các Bộ trưởng lần thứ 9 tổ chức vào tháng 12/2013 thông qua 35 :

So sánh sơ bộ gi ữa quy đị nh khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m

Ngoài khuôn khổ pháp luật của WTO, nhiều hiệp định RTA hiện nay cũng tích hợp khái niệm không vi phạm vào điều khoản giải quyết tranh chấp, thể hiện sự ngày càng phổ biến của quy định này trong thương mại quốc tế Việc quy định về khiếu kiện không vi phạm trong RTA không phải là điều khó đoán, xuất phát từ nguồn gốc của vấn đề trong các hiệp định thương mại song phương từ những năm 1930-1950 Hiện tại, có ước tính khoảng 585 RTA trên toàn thế giới, trong đó 379 RTA đã có hiệu lực, nhiều trong số đó có quy định rõ ràng về cơ chế giải quyết tranh chấp và khiếu kiện không vi phạm Các quy định này nhằm tạo ra một khuôn khổ rõ ràng, công bằng nhằm xử lý các tranh chấp liên quan đến các hành động không vi phạm, góp phần thúc đẩy thương mại tự do và ổn định quốc tế.

Điều XXIII.1(b) GATT 1994 quy định về khiếu kiện không vi phạm pháp luật WTO được coi là quy định “gốc”, giúp làm rõ nguyên tắc cơ bản liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Quy định này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các trường hợp không vi phạm, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong hệ thống WTO Việc so sánh nội dung này với các quy định pháp luật khác giúp nâng cao hiệu quả trong xử lý các tranh chấp thương mại, thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc tế minh bạch và công bằng.

50 Như phầ n trình bày t ạ i m ụ c 1.2 c ủa chương này

Các RTA là các hiệp định thương mại được ký kết giữa hai hay nhiều thành viên WTO, nhằm thúc đẩy hợp tác thương mại tự do giữa các quốc gia WTO đã nhận được thông báo về việc ký kết này, thể hiện sự minh bạch và tuân thủ quy định của tổ chức Tính đến ngày 15.6.2014, có tổng cộng 51 Hiệp định Thương mại Khu vực (RTA) được cập nhật, phản ánh xu hướng gia tăng các thỏa thuận song phương và đa phương nhằm mở rộng thị trường và giảm thiểu rào cản thương mại Thông tin chi tiết và số liệu cập nhật có thể xem tại trang web của WTO.

52 Claude Chase, Alan Yanovich, Jo-Ann Crawford và Pamela Ugaz (2013), Mapping of Dispute Settlement Mechanisms in Regional Trade Agreements – Innovative or Varians on a Theme?, Staff

Theo thống kê của các tác giả trong bài viết “Mapping of Dispute Settlement Mechanisms in Regional Trade Agreements” của Ủy ban phân tích và nghiên cứu kinh tế - WTO, quy định về việc khiếu kiện không vi phạm trong các Hiệp định Thương mại Tự do (RTA) liên quan đến các biện pháp phù hợp với RTA Tuy nhiên, nếu những biện pháp này làm vô hiệu hoặc suy giảm các lợi ích mà một thành viên RTA kỳ vọng đạt được một cách hợp lý, điều này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các hiệp định này.

Một số thành viên WTO hiện nay đang có xu hướng pháp điển hóa quy định điều khoản khiếu kiện, bỏ qua việc vi phạm các hiệp định thương mại tự do khu vực mà họ tham gia Các nước như Canada, Chile, Colombia và Hàn Quốc đều theo hướng này để đảm bảo tính rõ ràng và minh bạch trong các quy trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Việc pháp điển hóa các quy định này giúp nâng cao hiệu quả xử lý các tranh chấp, thúc đẩy thương mại tự do và bảo vệ lợi ích của các thành viên WTO trong khu vực.

Các quốc gia như Quốc, Mexico, Panama và Hoa Kỳ có các quy định rõ ràng về giải quyết tranh chấp trong các hiệp định thương mại tự do của họ Trong khi đó, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) và Nhật Bản thường không quy định về việc khiếu kiện không vi phạm trong các hiệp định thương mại tự do của họ Điều này thể hiện sự khác biệt trong chính sách giải quyết tranh chấp giữa các nền kinh tế lớn và các hiệp định thương mại tự do quốc tế.

Nội dung quy định về khiếu kiện không vi phạm trong cơ chế giải quyết tranh chấp của các Hiệp định Thương mại Tự do (RTA) có thể được phân thành ba dạng chính Thứ nhất, quy định về quyền của các bên trong việc khởi kiện khi có tranh chấp phát sinh liên quan đến nghĩa vụ thương mại Thứ hai, các tiêu chuẩn và thủ tục để giải quyết khiếu kiện nhằm đảm bảo công bằng, minh bạch và hiệu quả Cuối cùng, các quy định về chế tài hoặc biện pháp xử lý khiếu kiện không vi phạm, nhằm duy trì trật tự và thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên trong khuôn khổ của RTA.

Khiếu kiện không vi phạm có thể được viện dẫn khi các lợi ích phát sinh từ RTA đang bị vô hiệu hóa hoặc suy giảm, như trong Hiệp định thương mại tự do giữa Hoa Kỳ và Singapore Điều 20.4 của hiệp định này cho phép các thành viên sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp khi lợi ích của họ bị ảnh hưởng do việc thực thi các biện pháp phù hợp với hiệp định Nội dung này giúp các thành viên bảo vệ quyền lợi khi các lợi ích thương mại bị suy giảm vì hành động của các đối tác trong RTA.

Tính đến cuối năm 2012, có 56 trong số 226 Hiệp định Thương mại Riêng biệt (RTA) quy định rõ các điều khoản về việc không vi phạm trong cơ chế giải quyết tranh chấp của các hiệp định này Các RTA này đảm bảo rằng các điều khoản liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên được thực thi một cách rõ ràng và minh bạch, góp phần thúc đẩy thương mại tự do và công bằng giữa các quốc gia Việc tuân thủ các điều khoản này giúp hạn chế các tranh chấp thương mại và nâng cao hiệu quả thi hành các cam kết thương mại trong khu vực.

53 Claude Chase, Alan Yanovich, Jo- Ann Crawford và Pamela Ugaz, tlđd 52, tr.20.

54 Claude Chase, Alan Yanovich, Jo- Ann Crawford và Pamela Ugaz, tlđd 52, tr.20.

56 Hi ệp định thương mạ i t ự do gi ữ a Hoa K ỳ - Singapore t ại Điề u 20.4: Các th ủ t ụ c gi ả i quy ế t tranh ch ấ p b ổ sung:

1 Ngo ạ i tr ừ nh ững điều khác được quy đị nh trong hi ệp đị nh này hay nh ững điều khác đượ c các bên đống ý, các quy đị nh c ủa Điề u kho ả n này s ẽ áp d ụ ng b ấ t k ỳ khi nào m ộ t thành viên nh ậ n th ấ y r ằ ng:

Các lợi ích của thành viên có thể bị vô hiệu hoặc suy giảm do áp dụng các biện pháp phù hợp theo Hiệp định này trong các trường hợp tranh chấp về thống nhất của các chương như Chương 2 (Đối xử quốc gia và Mục cửa thị trường đối với hàng hóa), Chương 3 (Quy định về xuất xứ), Chương 8 (Thương mại dịch vụ xuyên biên giới), hay Chương 16 (Quyền sở hữu trí tuệ) Quy định tại Điều 20.4 nhấn mạnh rằng các lợi ích bị vô hiệu hoặc suy giảm do áp dụng biện pháp phù hợp không vi phạm, tương tự với quy định về khiếu kiện không vi phạm tại Điều XXIII.1(b) GATT 1994, nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên trong các tình huống tranh chấp.

Khiếu kiện không vi phạm có thể được viện dẫn khi các lợi ích phát sinh từ RTA (các chương cụ thể của RTA) đang bị hoặc có khả năng bị vô hiệu hoặc suy giảm Các hiệp định như NAFTA và Hiệp định thương mại tự do giữa Hàn Quốc – Chile cho phép một bên ký kết có thể viện dẫn thủ tục giải quyết tranh chấp khi cho rằng biện pháp của thành viên khác đang tồn tại hoặc dự kiến sẽ dẫn đến vô hiệu hoặc suy giảm lợi ích Nội dung quy định này qui định hai trường hợp thành viên có thể áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp: (i) lợi ích bị vô hiệu hoặc suy giảm bởi biện pháp không vi phạm nhưng hiện còn hiệu lực; (ii) lợi ích dự kiến bị suy giảm hoặc vô hiệu do biện pháp không vi phạm trong tương lai Trường hợp thứ hai cho thấy lợi ích chưa thật sự bị ảnh hưởng, vì biện pháp đang xem xét là một biện pháp trong tương lai, làm rõ phạm vi áp dụng của quy định khiếu kiện không vi phạm trong các RTA.

Các quy định tại Điều 2004 của Hiệp định NAFTA và Phụ lục 2004 nhấn mạnh rằng các quy định trong chương 20 sẽ áp dụng để ngăn chặn hoặc giải quyết mọi tranh chấp giữa các thành viên Đồng thời, điều này đảm bảo rằng một thành viên không thể tự ý cho rằng biện pháp thực thi hoặc dự kiến của thành viên khác gây ra sự vô hiệu hoặc suy giảm trong phạm vi Phụ lục 2004, qua đó duy trì tính minh bạch và ổn định trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia thành viên.

1 N ế u m ộ t thành viên cho r ằ ng b ấ t k ỳ l ợ i ích nó có th ể k ỳ v ọ ng m ộ t các h ợ p lý t ừ b ấ t k ỳ quy định… đang bị vô hi ệ u hay suy gi ả m b ở i áp d ụ ng b ấ t k ỳ bi ệ n pháp nào không mâu thu ẫ n v ớ i Hi ệ p định này… ”

Điều 19.2 của Hiệp định thương mại tự do Hàn Quốc – Chile quy định rằng, trừ các quy định khác trong Hiệp định này, các điều khoản của Chương này sẽ được áp dụng bất kỳ khi nào một thành viên xác định rằng việc một biện pháp hiện tại hoặc dự kiến của thành viên còn lại dẫn đến sự vô hiệu hoặc suy giảm trong phạm vi phục lục 19.2 Điều này nhấn mạnh tính dễ tổn thương của các biện pháp khi ảnh hưởng đến hiệu lực của các quy định thương mại giữa các thành viên, đảm bảo sự minh bạch và ổn định trong thực thi các điều khoản của hiệp định.

THỰ C TI Ễ N ÁP D ỤNG QUY ĐỊ NH KHI Ế U KI Ệ N KHÔNG VI PH Ạ M TRONG GI Ả I QUY Ế T TRANH CH Ấ P

Khái quát v ề các tranh ch ấp liên quan đế n khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m t ừ khi T ổ ch ức thương mại đượ c thành l ậ p

từkhi WTO đƣợc thành lập

Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự an toàn và khả năng dự đoán cho hệ thống thương mại đa phương, nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các thành viên Trong gần 20 năm hoạt động, WTO đã tiếp nhận tổng cộng 479 vụ tranh chấp giữa các thành viên, chủ yếu liên quan đến các cáo buộc vi phạm quy định thương mại, trong khi số vụ kiện không vi phạm chiếm khoảng 16 vụ Đến nay, WTO chưa từng đối mặt với trường hợp kiện cáo theo các tình huống đặc biệt nào, khẳng định hiệu quả và ổn định của hệ thống giải quyết tranh chấp này.

Liên quan đến các tranh chấp về khiếu kiện không vi phạm, chúng ta có thể nêu ra một số thống kê như sau 70 :

Các quốc gia chủ yếu dựa vào Điều XXIII.1(b) GATT 1994 để đưa ra yêu cầu về khiếu kiện không vi phạm, chiếm gần một phần ba số vụ kiện với 12 trong tổng cộng 16 vụ Trong khi đó, chỉ có 3 vụ kiện liên quan đến Điều XXIII.3 GATS và 2 vụ kiện viện dẫn Điều XXII.2 của GPA, cho thấy các quy định này ít thường xuyên được sử dụng trong các tranh chấp thương mại quốc tế.

67 C ậ p nh ật đế n ngày 21/5/2014 k ể t ừ khi thành l ậ p WTO bao g ồ m các v ụ ki ện đang trong giai đoạ n tham v ấ n http://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispu_status_e.htm c ậ p nh ậ t ngày 10/6/2014

68 Đây là thông kê do tác giả t ự th ự c hi ện trên cơ sở s ố li ệ u t ừ website c ủa WTO là tính đế n năm

2011 và theo s ố li ệ u t ừ theo chú d ẫ n s ố 95 t ừ bài vi ế t c ủ a tác gi ả Adrian T.L Chua (1998),

“Reasonable Expections and Non - Violation Complaints in GATT/WTO Jurisprudence”, Journal of World Trade, 32 (2), 27-50

69 Trường Đạ i h ọ c Lu ậ t Thành ph ố H ồ Chí Minh (2012), Giáo trình Lu ật thương mạ i qu ố c t ế - Phần 1, NXB H ồng Đức, 2012, tlđd 45, tr.424.

70 Xem Ph ụ l ụ c B ả ng t ổ ng h ợ p các v ụ tranh ch ấp có liên quan đế n khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m t ừ khi WTO thành l ậ p

Chào bạn, về tình hình 16 vụ kiện liên quan đến khiếu kiện không vi phạm, có 7 vụ đã được giải quyết bởi Cơ quan giải quyết tranh chấp, trong khi 5 vụ chỉ dừng lại ở giai đoạn tham vấn Ngoài ra, Ban hội thẩm đã thành lập trong 2 vụ kiện, nhưng sau đó bị mất hiệu lực thẩm quyền theo Điều 12.12 DSU Trong hai trường hợp này, các bên đã tự tìm kiếm và thống nhất được giải pháp điều chỉnh thông qua các cuộc tham vấn.

Trong số 7 vụ kiện được Cơ quan giải quyết tranh chấp WTO xem xét, các quốc gia khiếu kiện đều thất bại trong việc viện dẫn điều khoản không vi phạm, chủ yếu do gặp khó khăn trong chứng minh các yếu tố cấu thành và nghĩa vụ chứng minh Tuy nhiên, các vụ kiện về nội dung không vi phạm đã được giải quyết rõ ràng qua các vụ án như Nhật Bản – Các biện pháp ảnh hưởng đến phim và giấy tráng ảnh tiêu dùng (DS 44), EC – Các biện pháp ảnh hưởng đến amiăng và sản phẩm chứa amiăng (DS 135), Hàn Quốc – Các biện pháp ảnh hưởng đến mua sắm chính phủ (DS 163) và Hoa Kỳ – Đạo luật chống trợ cấp và bán phá giá năm 2000 (DS 217 và DS 234).

Trong các tranh chấp, nhiều quốc gia nguyên đơn thường viện dẫn quy định về khiếu kiện không vi phạm như một "giải pháp dự phòng" Đây được xem là "kế hoạch B" của các quốc gia này khi chiến lược kiện tụng chính thất bại, giúp họ có sự lựa chọn linh hoạt để bảo vệ quyền lợi của mình.

Hiện nay, các tranh chấp liên quan đến quy định khiếu kiện không vi phạm trong khuôn khổ WTO còn hạn chế rõ rệt về số lượng so với các vụ kiện vi phạm, cho thấy mức độ sử dụng quy định này vẫn còn thấp Thực tế, số vụ tranh chấp không vi phạm chiếm tỷ lệ nhỏ so với các vụ kiện vi phạm, phản ánh rằng việc áp dụng quy định này chưa phổ biến rộng rãi trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Ngoài ra, hạn chế trong việc áp dụng quy định này còn thể hiện ở các yếu tố khác, góp phần làm giảm sự tham gia của các bên vào việc kiện cáo dựa trên nguyên tắc không vi phạm trong WTO.

71 N ộ i dung 2.2 s ẽ t ập trung phân tích các quan điể m c ủa cơ quan giả i quy ế t tranh ch ấ p WTO v ề quy đị nh khi ế u ki ệ n không vi ph ạ m trong 4 v ụ ki ệ n này

72 Japan - Measures Affecting Consumer Photographic Film and Paper

73 European Communities – Measures Affecting Asbestos and Asbestos-Containing Products

74 Korea – Measures Affecting Government Procurement

Luật 75 của Hoa Kỳ, còn gọi là Đạo luật Bù trừ Phán quyết Bị cáo và Trợ cấp năm 2000, thường được các bên sử dụng để viện dẫn trong các tranh chấp thương mại hàng hóa Việc khiếu kiện không vi phạm thường được lập luận “cùng với” các khiếu kiện vi phạm để nâng cao lập luận pháp lý Tuy nhiên, quy định về khiếu kiện không vi phạm còn gặp hạn chế khi áp dụng, chủ yếu là trong các tranh chấp thương mại hàng hóa, hạn chế phạm vi sử dụng của loại khiếu kiện này trong các lĩnh vực khác.

2.1 Các nội dung liên quan đến quy định khiếu kiện không vi phạm đƣợc Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm xem xét

2.1.1 Các điều kiện cấu thành một khiếu kiện không vi phạm

Thực tiễn giải quyết tranh chấp GATT 1947 và WTO cho thấy để viện dẫn quy định khiếu nại không vi phạm theo Điều XXIII.1(b), các bên tranh chấp cần phải đáp ứng đầy đủ ba điều kiện quan trọng Việc tuân thủ các điều kiện này là cần thiết để bảo đảm quy trình giải quyết tranh chấp diễn ra đúng theo quy định của tổ chức Các điều kiện này giúp xác định rõ ràng khi nào một biện pháp có thể được coi là phù hợp hoặc không phù hợp với các quy tắc của GATT và WTO, qua đó thúc đẩy công bằng và minh bạch trong thương mại quốc tế Các quy định này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự thương mại toàn cầu, đồng thời hạn chế các hành vi gây rối loạn trật tự thương mại chung.

-Việc áp dụng một biện pháp bởi một thành viên WTO

-Sự tồn tại của lợi ích phát sinh từ hiệp định có liên quan

Quan hệ nhân quả giữa việc áp dụng biện pháp và sự suy giảm hoặc vô hiệu của lợi ích phát sinh từ hiệp định là rõ ràng, khi các biện pháp thực thi dẫn đến việc lợi ích này bị giảm sút hoặc mất hiệu lực Việc áp dụng các biện pháp cụ thể có thể làm giảm giá trị hoặc hiệu quả của các lợi ích đã được xác lập trong hiệp định, dẫn đến sự vô hiệu hoặc suy giảm lợi ích liên quan Do đó, có mối liên hệ chặt chẽ giữa hành động áp dụng biện pháp và kết quả là lợi ích từ hiệp định không còn được duy trì hoặc bị hạn chế tối đa.

Sau đây, chúng ta cùng tìm hiểu việc xác định các điều kiện trên của cơ quan giải quyết tranh chấp trong thực tiễn tại WTO

2.1.1.1.Việc áp dụng một biện pháp bởi một thành viên WTO

Trong quá trình giải quyết các vụ kiện liên quan Điều XXIII.1(b) GATT

Vào năm 1947, các Ban hội thẩm đều tập trung xem xét tính hiệu quả của các biện pháp đang được áp dụng Trong vụ Nhật Bản – Phim, các Ban hội thẩm cũng nhấn mạnh rằng việc đánh giá này đóng vai trò quan trọng để xác định tính hợp pháp và tác dụng của các biện pháp đó.

“Trong quá trình phân tích các yếu tố của một khiếu kiện không vi phạm…sự

Sau khi giải quyết các vụ khiếu nại, 76 bên liên quan đã rút hết các vụ kiện đã được giải quyết bởi Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm, theo quy định tại Điều XXIII.1(b) GATT 1994 Các vụ tranh chấp liên quan đến khiếu nại không vi phạm quy định đã được tổng hợp, bắt đầu từ khi WTO chính thức thành lập.

Các điều kiện ghi nhận trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của GATT 1947 được phản ánh qua các báo cáo của Ban hội thẩm EEC – Hạt, như Báo cáo BISD 37S/86, đoạn 142-152, và Báo cáo về vụ kiện Úc – Ammonium Sulphate, BISD II/188, đoạn 192-193 Trong khi đó, các quy định của WTO thể hiện rõ qua các báo cáo về vụ kiện Nhật Bản – Phim (WT/DS44/R, đoạn 10.41), vụ kiện EC – Amiăng (WT/DS135/R, đoạn 8.283), vụ kiện Hàn Quốc – Mua sắm chính phủ (WT/DS163/R, đoạn 7.85) và vụ kiện Hoa Kỳ – CDSOA.

Trong nội dung của WT/DS217/R – WT/DS234/R và Điều lệ số 7.210, cần thiết phải làm rõ rằng việc áp dụng một biện pháp bởi một thành viên WTO đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện nhất định Đặc biệt, việc xác định “việc áp dụng biện pháp bởi một thành viên WTO” phải dựa trên các tiêu chí rõ ràng, bao gồm cả việc xem xét hai vấn đề cụ thể liên quan đến phạm vi và điều kiện thực thi.

-Thuật ngữ “biện pháp” trong quy định khiếu kiện không vi phạm cụ thể là Điều XXIII.1(b) GATT 1994 và Điều 26.1 DSU được hiểu như thế nào?

-Biện pháp áp dụng vào thời điểm như thế nào sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều XXIII.1(b)?

Thứ nhất, Điều XXIII.1(b) GATT 1994 không đưa ra một khái niệm về thuật ngữ “biện pháp” Trong các báo cáo của mình, Ban hội thẩm GATT

Năm 1947, Luật pháp chưa đưa ra một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ “biện pháp” quy định tại Điều XXIII.1(b) của GATT Các Ban hội thẩm chủ yếu sử dụng cụm từ “biện pháp của chính phủ” trong các lập luận liên quan đến điều khoản này Tuy nhiên, trong vụ kiện Nhật Bản – Phim, Ban hội thẩm đã nêu quan điểm rằng ý nghĩa ban đầu của “biện pháp” theo Điều XXIII.1(b) bao gồm các quy định hay luật do chính phủ ban hành Theo quan điểm của chúng tôi, thuật ngữ này còn có phạm vi rộng hơn, bao gồm các hành động khác của chính phủ ngoài các văn bản pháp luật có hiệu lực bắt buộc, như các phát ngôn của cơ quan chính phủ hoặc nghiên cứu của các tổ chức phi chính phủ do chính phủ yêu cầu hoặc nhận được sự ủng hộ nhất định.

Qua lập luận trên, ta nhận thấy Ban hội thẩm trong vụ kiện này cho rằng

Trong Điều XXIII.1(b) GATT 1994, “biện pháp” không chỉ đơn thuần là “luật” hay “quy định” của chính phủ mà còn có thể bao gồm “các hành động khác của chính phủ có hiệu lực bắt buộc về mặt pháp lý” Ban hội thẩm trong vụ kiện Nhật Bản – Phim nhấn mạnh rằng mục đích của quy định không nhằm vi phạm bảo vệ sự cân bằng các nhượng bộ, và do đó, việc xem xét các dạng “biện pháp” cần phải toàn diện để đảm bảo tính khách quan và công bằng trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.

78 Báo cáo c ủ a Ban h ộ i th ẩ m vu ki ệ n Nh ậ t B ả n – Phim, WT/ DS44/R, đoạ n 10.42

M ộ t s ố bài h ọ c kinh nghi ệm liên quan đế n khi ế u ki ệ n không vi

Kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam đã từng bước thực thi và hoàn thiện các cam kết đã đề ra trong quá trình hội nhập quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và cải thiện môi trường pháp lý trong nước Việc này giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước.

157 World Trade Organization (2012), World Trade Report 2012: Trade and Public Policies: A Closer look at non – tariff measures in the 21 st Century, Published by the WTO, Switzerland, tr.12

Việt Nam đã tham gia hai vụ kiện tại WTO với tư cách nguyên đơn, nhưng cả hai đều là các trường hợp vi phạm khiếu kiện Qua quá trình tham gia tranh tụng, Việt Nam đã tích lũy được những bài học quý giá để nâng cao năng lực pháp lý và củng cố vị thế trong các tranh chấp thương mại quốc tế.

Quy định về khiếu kiện không vi phạm yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý một cách cẩn trọng và coi đây là biện pháp ngoại lệ Là một thành viên mới và quốc gia đang phát triển, Việt Nam cần đặc biệt lưu ý khi tham gia vào các vụ kiện liên quan đến khiếu kiện không vi phạm để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật quốc tế Việc xử lý đúng các quy định này không chỉ bảo vệ lợi ích hợp pháp của quốc gia mà còn góp phần nâng cao vị thế pháp lý trong các tranh chấp quốc tế.

Khi Việt Nam tham gia với tư cách là bên khởi kiện, cần đặc biệt chú ý đến nghĩa vụ chứng minh theo Điều 26.1 DSU, vì các nguyên đơn thường thất bại do không thể chứng minh lập luận của mình Việt Nam phải đảm bảo thỏa mãn ba điều kiện trong quy định về khiếu kiện không vi phạm, nhưng việc đáp ứng các điều kiện này không đơn giản do nội dung chưa rõ ràng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp Đây là thách thức lớn đối với các chuyên gia pháp lý trong việc xác định và thực thi quy định một cách chính xác.

Việt Nam khi viện dẫn quy định này trong quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO

Vào thứ hai, Việt Nam có thể tham gia tranh tụng với tư cách là bên bị khởi kiện, vì khả năng trở thành bị đơn cao hơn so với trở thành nguyên đơn trong các vụ kiện liên quan đến quy định khiếu kiện không vi phạm Các tranh chấp này chủ yếu do Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu khởi xướng, do việc áp dụng quy định đòi hỏi nguồn lực về tài chính và nhân lực pháp lý rất lớn.

Việt Nam đã tham gia vào hai vụ kiện chung quan trọng tại WTO liên quan đến chống bán phá giá sản phẩm tôm Trong vụ kiện đầu tiên, Hoa Kỳ vi phạm quy định của Hiệp định chống bán phá giá và GATT 1994 khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm tôm của Việt Nam (DS 404) Vụ kiện thứ hai giữa Việt Nam và Hoa Kỳ liên quan đến một số biện pháp chống bán phá giá đối với tôm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam (DS 429), dự kiến kết thúc vào ngày 30/9/2014 Việt Nam cần chú trọng phản biện các lập luận của bên nguyên khiếu kiện không vi phạm, đồng thời hiểu rõ các điều kiện trong quy định về khiếu kiện không vi phạm để bảo vệ lợi ích quốc gia Việc nắm vững nội dung từng điều khoản trong các quy định này sẽ giúp Việt Nam đưa ra các phản bác chính xác và hiệu quả trong quá trình tố tụng tại WTO.

Vào thứ Ba, dù tham gia giải quyết tranh chấp liên quan đến khiếu kiện mà không vi phạm bất kỳ quy định nào, Việt Nam cần lưu ý viện dẫn các quy định dành cho các quốc gia đang phát triển của WTO 160 Điều này giúp đảm bảo quyền lợi của Việt Nam trong quá trình đàm phán và phản biện các tranh chấp thương mại quốc tế.

Việt Nam cần từng bước hoàn thiện và nâng cao nguồn nhân lực pháp lý của mình cũng như hoàn thiện các thể chế của mình

Khả năng tham gia vào các tranh chấp liên quan đến việc quy định khiếu kiện không vi phạm của Việt Nam trong tương lai là hoàn toàn có thể xảy ra Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nắm bắt các quy định pháp lý liên quan để đảm bảo quyền lợi hợp pháp trong quá trình giải quyết tranh chấp Việc hiểu rõ các quy định này sẽ giúp các bên liên quan chủ động ứng phó và chuẩn bị tốt hơn khi xảy ra tranh chấp pháp lý.

Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng "mở cửa thị trường", các chính sách thương mại của đất nước cần được cụ thể hóa trong các quy định pháp luật để tránh các khiếu kiện vi phạm Việt Nam cần chuẩn bị và nâng cao hiểu biết về quy định khiếu kiện không vi phạm, đồng thời học hỏi từ các vụ kiện trước đây để tăng cường khả năng phòng vệ pháp lý Việc này không chỉ giúp đất nước đối phó hiệu quả hơn với các tranh chấp thương mại, mà còn tạo điều kiện để Việt Nam tự tin nâng cao vai trò và ảnh hưởng trong các diễn đàn thương mại đa phương quốc tế.

Các quy chế đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các quốc gia đang phát triển đóng vai trò quan trọng trong giải quyết tranh chấp tại WTO Các quy định này bao gồm trợ giúp pháp lý và các “ưu đãi” trong thủ tục giải quyết tranh chấp, nhằm giúp các nước đang phát triển đảm bảo quyền lợi và nâng cao khả năng tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu Chính sách này nhằm thúc đẩy sự công bằng và cân bằng trong thương mại quốc tế, giảm thiểu bất lợi cho các quốc gia còn đang phát triển trong quá trình giải quyết các tranh chấp thương mại tại WTO.

Các quy định trong hệ thống WTO đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý cho hoạt động thương mại giữa các thành viên Tuy nhiên, nhiều quy định về khái niệm pháp lý còn chưa rõ ràng và gặp khó khăn trong việc áp dụng thực tiễn Đặc biệt, quy định về khiếu kiện không vi phạm là một trong những quy định gây nhiều tranh cãi do thiếu hướng dẫn cụ thể.

“thẩm phán WTO” rất thận trọng khi áp dụng quy định này trong quá trình giải quyết tranh chấp

Mặc dù quy định về cáo buộc “không vi phạm” tồn tại gần 50 năm trong khuôn khổ GATT 1947 và 20 năm trong hệ thống WTO, nhưng số vụ kiện dựa trên quy định này rất ít Thực tiễn của GATT/WTO cũng cho thấy hầu hết các vụ kiện viện dẫn quy định này đều không thành công Trong khuôn khổ WTO, vụ kiện Nhật Bản – Phim giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản là ví dụ tiêu biểu cho kiểu kiện không vi phạm, và hội thẩm trong vụ án đã nhấn mạnh rằng cần tiếp cận quy định này một cách thận trọng và như một biện pháp ngoại lệ.

Việc áp dụng quy định khiếu kiện không vi phạm trong khuôn khổ WTO còn rất hạn chế và chưa có một sự thống nhất về các khái niệm pháp lý liên quan Tuy nhiên, do khả năng tồn tại các vấn đề mà hệ thống WTO không thể can thiệp, cần thiết phải có quy định pháp luật bổ sung nhằm lấp đầy các khoảng trống pháp lý và duy trì cân bằng lợi ích giữa các thành viên Quy định về khiếu kiện không vi phạm trong giải quyết tranh chấp WTO là giải pháp phù hợp, vì nó cho phép các bên tìm kiếm sự “tái cân bằng” các nhượng bộ ngay cả khi không có hành vi vi phạm.

Theo quan điểm của tác giả, “sứ mệnh” của quy định khiếu kiện trong hệ thống WTO vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt khi các quốc gia thành viên WTO ngày càng sử dụng các hàng rào phi thuế quan để bảo hộ nền sản xuất trong nước do sự phát triển vượt bật của khoa học kỹ thuật Tuy nhiên, các quy định của WTO đã được xây dựng hơn 20 năm, nên khả năng không thể tác động đến các vấn đề phát sinh sau này là điều hiển nhiên Do đó, WTO cần làm rõ phạm vi áp dụng của quy định khiếu kiện không vi phạm bằng cách làm rõ các khái niệm pháp lý liên quan, đặc biệt trong bối cảnh quy định này đang được xem xét tại vòng đàm phán Doha trong khuôn khổ Hiệp định TRIPs.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A Danh m ục các văn bả n pháp lu ậ t

1 Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới

2 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (GATT 1994)

3 Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS 1994)

4 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS 1994)

5.Thỏa thuận về thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU)

6 Hiệp định tự vệ (SA)

7 Hiệp định chống trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM)

8 Hiệp định về quy tắc xuất xứ

9 Hiệp định về nông nghiệp (AOA)

10 Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu

11 Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động vật

12 Hiệp định về hàng rào kỹ thuật đối với thương (TBT)

13 Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMPs)

15 Hiệp định mua sắm chính phủ

16 Hiệp định tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA)

17 Hiệp định tự do thương mại Hoa Kỳ - Singapore

18 Hiệp định tự do thương mại Hoa Kỳ - Jordan

19 Hiệp định tựdo thương mại Hàn Quốc – Chile

B Danh m ụ c các b ả n án c ủ a GATT/WTO

20 Báo cáo của Ban hội thẩm về vụ kiện Trợ cấp của Úc đối với Amonium Sulphate, BISD II/188, ngày 3/4/1950

21 Báo cáo của Ban hội thẩm vụ kiện Đức – Chế độ đãi ngộ đối với các cá sardines nhập khẩu, BISD IS/53, ngày 31/10/1952

22 Báo cáo của Ban hội thẩm vụ kiện Hoa Kỳ - Các biện pháp hạn chế nhập khẩu đối với đường và các sản phẩm từ đường theo quyền từ bỏ 1955 và theo tiêu đề của các Biểu nhân nhượng thuế quan, BISD 37S/228, ngày 7/11/1990

Ngày đăng: 14/08/2023, 06:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Báo cáo c ủ a Ban h ộ i th ẩ m v ụ ki ệ n C ộng đồ ng kinh t ế châu Âu – Vi ệ c chi tr ả và tr ợ c ấ p cho quy trình x ử lý và s ả n xu ấ t c ủ a h ạ t có d ầ u và s ả n ph ẩ m protein độ ng v ậ t nuôi có liên quan, BISD 37S/86, ngày 25/1/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo c ủ a Ban h ộ i th ẩ m v ụ ki ệ n C ộng đồ ng kinh t ế châu Âu – Vi ệ c chi tr ả và tr ợ c ấ p cho quy trình x ử lý và s ả n xu ấ t c ủ a h ạ t có d ầ u và s ả n ph ẩ m protein độ ng v ậ t nuôi có liên quan
Năm: 1990
2. Hi ệp đị nh chung v ề thu ế quan và thương mạ i 1994 (GATT 1994) 3. Hi ệp đị nh chung v ề th ương mạ i d ị ch v ụ (GATS 1994) Khác
4. Hi ệp đị nh v ề các khía c ạnh liên quan đến thương mạ i c ủ a quy ề n s ở h ữ u trí tu ệ (TRIPS 1994) Khác
5.Th ỏ a thu ậ n v ề th ủ t ụ c gi ả i quy ế t tranh ch ấ p (DSU) Khác
7. Hi ệp đị nh ch ố ng tr ợ c ấ p và các bi ện pháp đố i kháng (SCM) 8. Hi ệp đị nh v ề quy t ắ c xu ấ t x ứ Khác
12. Hi ệp đị nh v ề hàng rào k ỹ thu ật đố i v ới thương (TBT) Khác
13. Hi ệp đị nh v ề các bi ện pháp đầu tư liên quan đến thương mạ i (TRIMPs) 15. Hi ệp đị nh mua s ắ m chính ph ủ Khác
20. Báo cáo c ủ a Ban h ộ i th ẩ m v ề v ụ ki ệ n Tr ợ c ấ p c ủa Úc đố i v ớ i Amonium Sulphate, BISD II/188, ngày 3/4/1950 Khác
21. Báo cáo c ủ a Ban h ộ i th ẩ m v ụ ki ện Đứ c – Ch ế độ đãi ngộ đố i v ớ i các cá sardines nh ậ p kh ẩ u, BISD IS/53, ngày 31/10/1952 Khác
23. C ộng đồ ng chung châu Âu – Đố i x ử thu ế quan đố i v ớ i nh ậ p kh ẩ u c ủ a các s ả n ph ẩ m h ọ cam quýt t ừ các qu ố c gia trong khu v ực Đị a Trung H ả i, L 5776, ngày 7/2/1976 Khác
25. Báo cáo c ủ a Ban h ộ i th ẩ m v ụ ki ệ n Nh ậ t B ả n – Các bi ệ n pháp ảnh hưở ng đế n phim và gi ấ y tráng ả nh tiêu dùng, WT/DS44/R, ngày 31/3/1998 Khác
26. Báo cáo c ủ a Ban h ộ i th ẩ m v ụ ki ệ n C ộng đồ ng chung châu Âu – Các bi ệ n pháp ảnh hưởng đến amiăng và các sả n ph ẩ m ch ứa amiăng, WT/DS135/R, ngày 18/9/2000 Khác
27. Báo cáo c ủa Cơ quan phúc thẩ m v ụ ki ệ n C ộng đồ ng chung châu Âu – Các bi ệ n pháp ảnh hưởng đến amiăng và các sả n ph ẩ m ch ứ a amiăng, WT/DS135/AB/R, ngày 12/3/2001 Khác
28. Báo cáo c ủ a Ban h ộ i th ẩ m v ụ ki ệ n Hàn Qu ố c – Các bi ệ n pháp ảnh hưở ng đế n mua s ắ m chính ph ủ , WT/DS163/R, ngày 1/5/2000 Khác
29. Báo cáo c ủ a Ban h ộ i th ẩ m v ụ ki ệ n Hoa K ỳ - Đạ o lu ậ t ch ố ng ti ế p t ụ c trong tr ợ c ấ p và bán phá gi á năm 2000,WT/DS217/R và WT/DS234/R, ngày 16/9/2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w