LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT, HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT NHÌN TỪ MỘT SỐ QUỐC GIA
Lý luận chung về giải thích pháp luật
Hiện nay, trên thế giới có nhiều trường phái pháp luật học xem xét khái niệm pháp luật từ các góc độ khác nhau như pháp luật tự nhiên, pháp luật thực định và pháp luật hình thức Theo quan điểm chính thống tại Việt Nam, pháp luật được định nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội Các văn bản quy phạm pháp luật thường có đặc điểm là do nhóm người ban hành, dễ gây ra các điều luật chưa rõ nghĩa, và nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong khi xã hội luôn vận động và phát triển.
Hoạt động áp dụng và thực hiện pháp luật của cơ quan, cá nhân, tổ chức bị hạn chế đáng kể do các đặc điểm trên, do đó cần thiết phải tiến hành giải thích pháp luật nhằm làm rõ nội dung, tư tưởng của các quy định pháp luật Việc giải thích pháp luật giúp đảm bảo tính khách quan của các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc thực thi pháp luật trong thực tiễn.
Pháp luật chưa có một khái niệm thống nhất, với các học giả và chủ thể khác nhau đưa ra nhiều cách diễn đạt và tiếp cận đa dạng Tuy nhiên, bản chất của hoạt động này là nhằm “làm rõ” nội dung quy phạm pháp luật để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác trong thực tiễn.
1 Lê Minh Tâm (chủ biên) (2009), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, tr 66
Trong quá trình nghiên cứu pháp luật Việt Nam, ngoài các tiêu chí về phạm trù không gian và thời gian, còn cần xem xét các quy định pháp lý và chủ thể thực hiện Hiện nay, đã tồn tại nhiều khái niệm về giải thích pháp luật tại Việt Nam, phản ánh sự đa dạng và phức tạp trong việc hiểu và áp dụng các quy định pháp luật Những khái niệm này đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ ý nghĩa của pháp luật nhằm đảm bảo sự công bằng và đúng đắn trong các hoạt động pháp lý hàng ngày.
Phó giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thị Kim Quế giải thích pháp luật là việc làm sáng tỏ về tư tưởng, tinh thần, ý nghĩa và nội dung của các quy phạm pháp luật Đây giúp đảm bảo việc nhận thức và thực hiện đúng, thống nhất pháp luật trong cuộc sống hàng ngày.
Giải thích pháp luật là hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền nhằm làm rõ nội dung và quy phạm pháp luật thành văn Hoạt động này giúp người áp dụng pháp luật, bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân, hiểu rõ cách quy phạm pháp luật điều chỉnh các hành vi cụ thể Theo Tiến sĩ Tô Văn Hoà, việc giải thích pháp luật đảm bảo người thực thi pháp luật có thể xác định chính xác các hành vi được quy định và áp dụng đúng theo quy định của pháp luật.
Theo Thạc sĩ Hoàng Văn Tú, giải thích pháp luật là quá trình làm rõ tinh thần, nội dung, phạm vi, ý nghĩa và mục đích của các quy định pháp luật so với nội dung ban đầu, nhằm giúp mọi người hiểu rõ và thực thi các quy định pháp luật một cách chính xác và thống nhất.
Hoạt động giải thích pháp luật nhằm làm rõ nội dung và tư tưởng của các quy phạm pháp luật mà không tạo ra quy định mới, góp phần tăng cường tính pháp chế và đảm bảo sự thống nhất của hệ thống pháp luật Trong khi đó, xây dựng pháp luật là quá trình xác lập các quy tắc xử sự mới, còn giải thích pháp luật là hoạt động đọc nghĩa và xác định nội dung của các quy phạm pháp luật đã có Việc phân biệt rõ ràng giữa hai hoạt động này rất quan trọng để tránh nhầm lẫn, đảm bảo hoạt động giải thích pháp luật chỉ làm rõ quy định hiện có chứ không thay đổi hoặc tạo ra quy định mới.
2 Hoàng Thị Kim Quế (2005), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr.516 –
3 Tô Văn Hòa (2009), Giải thích pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Hồng Đức, tr 38
4 Hoàng Văn Tú (2009), Giải thích pháp luật – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Hồng Đức, tr 105
Dựa trên các tiêu chí về chủ thể và đối tượng, có thể phân loại các phương pháp giải thích pháp luật thành nhiều loại khác nhau Tuy nhiên, tác giả tập trung vào cách phân loại dựa trên giá trị pháp lý của văn bản giải thích, chia thành hai loại chính: giải thích chính thức và giải thích không chính thức.
Giải thích không chính thức là hoạt động diễn giải pháp luật do các cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân không có thẩm quyền thực hiện, nhằm làm rõ nội dung của văn bản quy phạm pháp luật Hoạt động này diễn ra tự phát, không mang tính bắt buộc thi hành đối với các chủ thể khác, mà chủ yếu có giá trị tham khảo và hướng dẫn thực hiện.
Giải thích pháp luật chính thức là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được quy định trong các văn bản pháp luật, với kết quả là các văn bản có giá trị bắt buộc áp dụng Khác với giải thích không chính thức mang tính hướng dẫn và không bắt buộc, giải thích chính thức có tính bắt buộc cao và đảm bảo sự rõ ràng trong việc áp dụng pháp luật Ngoài ra, giải thích pháp luật chính thức bao gồm hai loại: giải thích mang tính quy phạm và giải thích pháp luật trong các tình huống cụ thể.
Giải thích pháp luật mang tính quy phạm là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo thủ tục, trình tự luật định để làm rõ nội dung các văn bản quy phạm pháp luật Kết quả của hoạt động này là một văn bản có giá trị bắt buộc, mang tính quy phạm dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật Nội dung được giải thích sẽ có giá trị bắt buộc áp dụng đối với mọi chủ thể, bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Giải thích tình huống là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm rõ nội dung pháp luật liên quan đến một vụ việc cụ thể Nội dung này không mang tính quy phạm chung, chỉ có giá trị pháp lý đối với các chủ thể trong vụ việc đó, không áp dụng cho các chủ thể khác Thông thường, hoạt động này do Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng đắn và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
4 năng áp dụng pháp luật trên thực tế và thực hiện hoạt động xét xử nên sẽ là cơ quan gặp những bất cập về luật cần giải quyết
1.1.3 Phương pháp giải thích pháp luật
Giải thích pháp luật là hoạt động quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của các quốc gia Việc thực hiện giải thích pháp luật đảm bảo tính chính xác, khách quan và khả năng áp dụng cao của các văn bản pháp luật Để đạt được điều này, các văn bản giải thích pháp luật phải linh hoạt, sử dụng nhiều phương pháp và phương thức khác nhau Các phương pháp giải thích pháp luật phổ biến hiện nay bao gồm các phương pháp chính nhằm đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác luật pháp trong thực tiễn.
Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm
Phương pháp giải thích ngôn ngữ và văn phạm là cách sử dụng hoạt động giải thích từ ngữ trong các quy định pháp luật dựa trên nghĩa đen hoặc nghĩa thuần túy ban đầu của từ ngữ Phương pháp này giúp làm rõ nội dung của quy phạm pháp luật bằng cách phân tích tính chất ngữ nghĩa của từ ngữ và câu văn trong văn bản pháp lý Nó chủ yếu nhằm khẳng định ý nghĩa rõ ràng, loại trừ những ngữ nghĩa ẩn trong các quy định pháp luật, đặc biệt trong trường hợp các quy định có thể gây hiểu nhầm hoặc chứa các từ đa nghĩa Do đó, phương pháp này được sử dụng phổ biến trong hoạt động giải thích pháp luật, nhằm đảm bảo các quy định pháp luật rõ ràng và nhất quán, ngay cả khi các nhà lập pháp vô tình tạo ra những quy định không rõ nghĩa.
Phương pháp giải thích chính trị lịch sử
Hoạt động giải thích pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
1.2.1 Hoạt động giải thích pháp luật ở Trung Quốc
Thể chế chính trị Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khác biệt hoàn toàn với các quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ Quốc gia này không áp dụng nguyên tắc tam quyền phân lập để tổ chức bộ máy nhà nước mà duy trì tính thống nhất và tập trung quyền lực vào Hội đồng nhân dân quốc gia, đại diện cho nhân dân.
Hiến pháp 1982 quy định rằng Hội đồng Nhân dân Quốc gia là cơ quan có quyền lực cao nhất tại Trung Quốc, không tổ chức nào khác có thể phủ nhận vai trò này Điều này làm nổi bật rằng Hội đồng Nhân dân Quốc gia có quyền lực vô hạn và tập trung, khác biệt hoàn toàn so với các cơ quan lập pháp ở các nền dân chủ phương Tây.
Hội đồng nhân dân quốc gia là cơ quan quyền lực cao nhất trong nhà nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa nhưng chỉ họp thường niên một lần hoặc khi có yêu cầu triệu tập đặc biệt từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc hơn 1/5 số đại biểu đề xuất Các hoạt động hàng ngày của Hội đồng nhân dân quốc gia được thực hiện bởi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan cấp dưới có trách nhiệm giải quyết công việc liên tục Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân quốc gia, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân Trung Quốc năm 1982, ông Peng Zhen, đã khẳng định rằng quyền lực trước đây được giao cho Hội đồng nhân dân quốc gia sẽ tiếp tục được củng cố và mở rộng.
Điều 2 và Điều 3 của Hiến pháp Trung Quốc 1982 quy định rõ ràng về phân chia chức năng và quyền lực giữa các cấp chính quyền trung ương và địa phương dựa trên nguyên tắc trao toàn quyền và sự nhiệt tình cho chính quyền địa phương dưới sự lãnh đạo thống nhất của chính quyền trung ương Hội đồng nhân dân địa phương hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hội đồng nhân dân quốc gia, giúp củng cố vai trò của Hội đồng nhân dân quốc gia như cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc có quyền lực rất lớn trong tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Điều này xuất phát từ vị trí và vai trò của ủy ban trong hệ thống chính trị, cụ thể là việc ủy ban có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia Quyền hạn của ủy ban còn được củng cố bởi các nghị quyết và quy định, giúp ủy ban duy trì sự lãnh đạo và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của quốc hội và các cơ quan liên quan Nhờ đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đóng vai trò trung tâm trong việc định hướng chính sách và điều hành đất nước.
Chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật
Trong hệ thống pháp luật Trung Quốc, hoạt động giải thích pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau đảm nhiệm, phù hợp với loại văn bản cần làm rõ Theo Điều 67 của Hiến pháp 1982 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền cao nhất trong việc giải thích Hiến pháp và các đạo luật Ngoài vai trò giám sát Hiến pháp, ban hành và sửa đổi luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đảm nhiệm chức năng giải thích pháp luật để đảm bảo sự nhất quán và chính xác trong thực thi pháp luật đất nước.
Chính phủ nhân dân Trung ương có quyền ban hành và giải thích các luật nhà nước, cũng như giám sát kết quả thực thi các nghị định theo Điều 7 của Luật Tổ chức Chính phủ nhân dân trung ương tháng 9 năm 2007 Tòa án có thẩm quyền tự giải thích các điều khoản của luật trong quá trình xét xử các vụ án theo Điều 158 của Luật cơ sở Khi xét xử các vụ án liên quan đến các quy định của luật, Tòa án phải tìm kiếm sự giải thích từ Ủy ban thường vụ Quốc hội nếu những giải thích đó ảnh hưởng đến phán quyết cuối cùng, đặc biệt trong các vụ việc liên quan tới quan hệ giữa Chính quyền nhân dân Trung ương và Đặc khu.
Hội đồng nhân dân quốc gia là cơ quan duy nhất có quyền duyệt lại và sửa đổi Hiến pháp, luật pháp Trong khi đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền cao nhất trong hoạt động giải thích và giám sát việc thực hiện Hiến pháp và luật pháp Thẩm quyền tối cao của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong hoạt động giải thích pháp luật thể hiện qua hai đặc điểm chính, đảm bảo hiệu lực và tính nhất quán của hệ thống pháp luật quốc gia.
6 Luật Tổ Chức chính phủ nhân dân Trung ương tháng 9 năm 1997, Điều 7
Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, trong khi các cơ quan khác chỉ được phép giải thích các văn bản pháp luật áp dụng, không có quyền giải thích luật như Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Trong trường hợp các văn bản giải thích pháp luật của các chủ thể khác mâu thuẫn hoặc trái với văn bản cần được giải thích, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền bãi bỏ các văn bản không hợp lệ và ban hành văn bản giải thích pháp luật mới Việc này đảm bảo sự rõ ràng, minh bạch trong hệ thống pháp luật và duy trì quyền lực của Quốc hội trong việc giám sát, chỉnh sửa các văn bản pháp luật phù hợp với quy định.
Trong hoạt động giải thích pháp luật tại Trung Quốc, Ủy ban thường vụ Quốc hội giữ vai trò là cơ quan có thẩm quyền cao nhất, tuy nhiên, thực tế hoạt động này đã diễn ra rất ít Cụ thể, trong suốt 21 năm (1954-1975), Ủy ban chỉ tiến hành 8 lần giải thích pháp luật; sau khi Hiến pháp 1982 trao thẩm quyền chính thức cho Ủy ban, số lần hoạt động này vẫn rất hạn chế, với chỉ 9 lần, chủ yếu liên quan đến các vấn đề ở Hồng Kông và Macau, như giải thích về “các hóa đơn hoàn thuế” ngày 29/12/2005 hay “thẻ tín dụng” ngày 29/12/2004 Các hoạt động giải thích pháp luật còn lại chủ yếu liên quan đến Hình pháp năm 1997, bao gồm các điều khoản như Điều 3, Điều 11, Điều 93, Điều 228 của Luật Hình pháp năm 1997.
Các văn bản giải thích pháp luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội không chỉ nhằm làm rõ nội dung luật pháp mà còn gây ra tranh cãi về phạm vi và quyền hạn, đặc biệt là trong việc giải thích Điều 93 Luật Hình sự năm 1997 Điều này đã dẫn đến tình trạng lạm quyền, do ranh giới giữa việc giải thích và bổ sung pháp luật chưa rõ ràng Việc này cho thấy cần có quy định rõ ràng hơn nhằm hạn chế các tranh cãi và lạm quyền trong quá trình xây dựng các văn bản giải thích pháp luật của cơ quan quyền lực.
Trong quá trình giải thích Điều 93 Luật Hình sự năm 1997 về “công chức Nhà nước”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã bổ sung thêm các quy định mới không có trong văn bản gốc Đây là bước mở rộng phạm vi điều chỉnh nhằm đảm bảo rõ ràng hơn về khái niệm và trách nhiệm của công chức nhà nước theo luật hiện hành Những sửa đổi này nhằm thích ứng với thực tiễn, tăng cường hiệu quả pháp luật trong lĩnh vực công chức và nâng cao tính pháp lý của các quy định liên quan Việc bổ sung của Ủy ban Thường vụ giúp hoàn thiện nội dung pháp luật, tạo cơ sở vững chắc cho việc áp dụng và thi hành luật một cách chính xác.
Trong bài viết của Geogre G Zheng, tác giả phân tích vai trò của yếu tố chính trị trong quá trình quy định và áp dụng pháp luật, lấy ví dụ từ Trung Quốc để làm rõ những tác động này Ông nhấn mạnh rằng các quyết định pháp lý thường chịu ảnh hưởng lớn từ bối cảnh chính trị, đồng thời đề xuất cần xem xét các vấn đề lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật để nâng cao hiệu quả quản lý Bài viết cũng đã trình bày các phương diện liên quan đến mối liên hệ giữa pháp luật và chính trị trong môi trường pháp lý của Trung Quốc, qua đó cung cấp những góc nhìn sâu sắc về mối quan hệ phức tạp này.
Dưới đây là các câu chứa ý chính phản ánh nội dung của đoạn văn đã cho, tuân thủ quy tắc SEO:"Công chức nhà nước được định nghĩa theo Điều 93 Luật Hình sự năm 1997 là những người làm công tác chính quyền trong các công ty nhà nước, nhà máy, cơ quan hoặc tổ chức của nhân dân." "Những người này được bổ nhiệm để thực hiện các công việc chính quyền theo quy định pháp luật, bao gồm cả các tổ chức không thuộc sở hữu nhà nước." "Trong nội dung của Điều 93 Luật Hình sự 1997, không đề cập đến ủy ban làng xã, phù hợp với Luật tổ chức ủy ban làng xã năm 1997."
Ý kiến của tác giả về hoạt động giải thích pháp luật
Giải thích pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hoạt động pháp luật quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân; do đó, việc phát triển và quan tâm đúng mức đến hoạt động này là cần thiết đối với mọi quốc gia Để đảm bảo hiệu quả trong giải thích pháp luật, các văn bản giải thích pháp luật cần phát huy vai trò của mình khi các chủ thể thực hiện giải thích phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản và lựa chọn phương pháp phù hợp một cách cẩn trọng, cân nhắc kỹ lưỡng.
Các quốc gia có nền kinh tế và chính trị khác nhau sẽ có những quy định riêng về hoạt động giải thích pháp luật, bao gồm cơ quan có thẩm quyền, chủ thể đề nghị giải thích và quy trình thực hiện Khi học hỏi kinh nghiệm quốc tế về giải thích pháp luật, các quốc gia cần cẩn trọng trong việc chọn lọc và áp dụng phù hợp với điều kiện nội địa, bởi mỗi mô hình pháp lý đều có đặc điểm, ưu điểm và hạn chế riêng Việc hiểu rõ các điểm khác biệt này giúp nâng cao hiệu quả hoạt động giải thích pháp luật phù hợp với hệ thống pháp lý của từng quốc gia.
GIẢI THÍCH PHÁP TẠI VIỆT NAM – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hoạt động giải thích pháp luật chính thức tại Việt Nam
Giải thích pháp luật nhằm làm rõ nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật, do đó mọi chủ thể đều có thể thực hiện hoạt động này Tuy nhiên, không phải tất cả các sản phẩm của hoạt động giải thích pháp luật đều được xem là văn bản giải thích pháp luật có giá trị pháp lý.
Văn bản giải thích pháp luật có giá trị bắt buộc được áp dụng đối với các chủ thể khác chỉ khi đó là văn bản chính thức do cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực hiện, tuân thủ trình tự, thủ tục luật định Các nghiên cứu về các bản Hiến pháp Việt Nam qua các kỳ đều cho thấy quy định về cơ quan có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh gần như không thay đổi theo thời gian Theo Điều 53 Hiến pháp năm 1959, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội có nhiệm vụ giải thích pháp luật; trong khi đó, Điều 100 Hiến pháp năm 1980 quy định Hội đồng Nhà nước mới là cơ quan có thẩm quyền này Đến Hiến pháp năm 1992, Khoản 3 Điều 91 xác định Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh.
Ngoài Hiến pháp năm 1946 – là Hiến pháp đầu tiên của nước ta – chưa có quy định về thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh cũng như cơ quan có thẩm quyền giải thích các văn bản này Trong các Hiến pháp kế tiếp, từ Hiến pháp năm, quy định về thẩm quyền giải thích và cơ quan giải thích đã dần được hình thành và hoàn thiện nhằm đảm bảo tính pháp lý và sự ổn định của hệ thống pháp luật quốc gia.
Từ năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh đều được giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việc phân định rõ ràng này giúp đảm bảo tính ổn định và thống nhất trong quá trình thực thi pháp luật của quốc gia Tuy nhiên, tên gọi của cơ quan này có thể thay đổi qua các thời kỳ, nhưng chức năng chính vẫn giữ nguyên là giải thích và giám sát việc thực hiện các văn bản pháp luật quan trọng.
25 và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này có thay đổi và khác nhau theo quy định của các Hiến pháp)
Dưới luật, theo Điều 52 Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Điều 87 Hiến pháp 1992, Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và Đại biểu quốc hội chỉ có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội tiến hành hoạt động giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh mà không được trao thẩm quyền này.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chỉ có Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới có thẩm quyền chính thức giải thích pháp luật, và các văn bản giải thích do họ ban hành có giá trị bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể khác Trong khi đó, các cơ quan khác chỉ thực hiện giải thích pháp luật không chính thức thông qua các văn bản hướng dẫn, báo cáo tổng kết, dù trên thực tế những văn bản này cũng mang giá trị tương đương như các văn bản giải thích pháp luật chính thức.
Việc giao quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội dựa trên nguyên tắc tổ chức quyền lực của đất nước là “Nguyên tắc tập quyền” Theo quy định tại Điều, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đảm nhận chức năng và thẩm quyền quan trọng nhằm đảm bảo hoạt động của Quốc hội diễn ra hiệu quả, liên tục và phù hợp với pháp luật Điều này thể hiện sự tập trung quyền lực phù hợp với nguyên lý tổ chức quyền lực nhà nước của Việt Nam.
Theo Hiến pháp năm 1992, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước CHXHCN Việt Nam, có quyền lập hiến và lập pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, việc giao cho Quốc hội, cơ quan duy nhất có thẩm quyền ban hành hiến pháp và luật, đảm nhiệm công tác giải thích pháp luật phải được thực hiện một cách hợp lý, phản ánh tính chất tập trung quyền lực Do Quốc hội không hoạt động thường xuyên, chỉ họp thường kỳ hai lần mỗi năm, nên việc giao toàn bộ nhiệm vụ giải thích pháp luật cho cơ quan này có thể dẫn đến nhiều bất cập, đặc biệt liên quan đến số lượng đại biểu Quốc hội hạn chế và nhu cầu thực tế trong công tác giải thích pháp luật Ngoài ra, việc giao quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng cần xem xét phù hợp để đảm bảo hiệu quả trong công tác pháp luật.
Lập pháp bao gồm việc ban hành pháp lệnh và giải thích các văn bản do Quốc hội ban hành, đồng thời giải thích Hiến pháp và luật pháp Điều này không làm giảm tính tập trung quyền lực nhà nước vào Quốc hội, bởi Ủy ban Thường vụ Quốc hội không phải là một cơ quan độc lập mà chính là cơ quan thường trực của Quốc hội, đảm bảo sự ổn định và kiểm soát quyền lực lập pháp trong hệ thống chính trị Việt Nam.
2.1.2 Quy trình giải thích pháp luật
Dưới quy định của Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật và Quy chế hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2004 cùng Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, quy trình giải thích Hiến pháp và luật được thực hiện tương tự như quy trình thông qua luật Tuy nhiên, do tính chất, nội dung và phạm vi của nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy trình này được đơn giản hóa hơn Cụ thể, quy trình gồm các bước sau:
“Đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
Theo Điều 23 Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, khi có nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh hoặc điều ước quốc tế, các chủ thể có thẩm quyền đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trong văn bản đề nghị cần nêu rõ nội dung cần giải thích, sự cần thiết và các quan điểm khác nhau về quy định đó Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đề nghị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét và phản hồi ý kiến của mình cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã đề nghị Đây là quy trình quan trọng để đảm bảo sự rõ ràng, thống nhất trong nội dung pháp luật và đáp ứng đúng quy định pháp luật hiện hành.
Soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
Sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội chấp thuận đề nghị giải thích, Ban soạn thảo được thành lập để chuẩn bị dự thảo nghị quyết giải thích Thường thì chủ thể giải thích sẽ tự thành lập Ban soạn thảo, nhưng trong trường hợp chủ thể đề nghị giải thích là Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thì ủy ban này sẽ trực tiếp thành lập Ban soạn thảo để đảm bảo quá trình giải thích diễn ra thuận lợi và chính xác.
Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội hoặc nội dung giải thích có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
Dựa trên tính chất và nội dung của việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao cho Chính phủ, Toà án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết Dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh sau khi hoàn thành sẽ được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội để thẩm tra, đảm bảo đúng thời hạn gửi dự thảo là tối đa hai mươi ngày trước ngày bắt đầu phiên họp.
Thẩm tra dự thảo nghị quyết giải thích
Ủy ban Thường vụ Quốc hội dựa trên dự thảo nghị quyết đã được soạn thảo, giao cho Hội đồng Dân tộc cùng các ủy ban liên quan của Quốc hội tiến hành thẩm tra Việc này nhằm đảm bảo nội dung và tính chất của các nội dung cần giải thích được xem xét kỹ lưỡng Các cơ quan này sẽ chủ động tiến hành thẩm tra để đảm bảo quá trình xây dựng nghị quyết chính xác, phù hợp với quy định của pháp luật.
Chủ thể thực hiện việc thẩm tra chủ yếu là Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, nhằm đảm bảo tính chính xác và phù hợp của các dự thảo nghị quyết, luật, pháp lệnh Trong những trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể quyết định thành lập ủy ban lâm thời để thẩm tra dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh theo quy định tại Điều 26 Quy chế 2004 Tuy nhiên, từ khi quy định này có hiệu lực, chưa có lần nào Quốc hội thành lập ủy ban lâm thời để thẩm tra các dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh hoặc dự án luật, chỉ ra sự thận trọng và tính thực tế trong hoạt động thẩm tra của Quốc hội. -Tối ưu nội dung thẩm tra pháp luật với công cụ viết SEO chuẩn – giúp bài viết của bạn sắc nét và thuyết phục hơn ngay hôm nay!
Hoạt động giải thích pháp luật không chính thức
Theo Điều 91 Hiến pháp 1992, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải thích pháp luật Hoạt động giải thích pháp luật của các chủ thể khác chỉ mang tính không chính thức, không có giá trị pháp lý, và không theo trình tự thủ tục quy định Tuy nhiên, trong thực tiễn, các văn bản giải thích pháp luật không chính thức của các chủ thể khác vẫn có giá trị bắt buộc thi hành, mặc dù về mặt lý luận, chúng không được xem là văn bản pháp lý chính thức.
2.2.2 Hoạt động giải thích pháp luật của cơ quan hành pháp
Các cơ quan khác không có thẩm quyền giải thích pháp luật nhưng vẫn tiến hành hoạt động này một cách mạnh mẽ, mặc dù không mang tính chính thức Điều này cho thấy sự can thiệp đáng kể của các cơ quan ngoài phạm vi pháp luật, ảnh hưởng đến quá trình thực thi pháp luật và gây khó khăn trong việc đảm bảo sự minh bạch, đúng đắn của các hoạt động pháp lý.
Văn bản hướng dẫn, báo cáo tổng kết là những dạng thức khác nhau thể hiện các nội dung liên quan đến nội dung công việc và thông tin tổng hợp Tuy nhiên, cần phân biệt rõ khái niệm giữa văn bản hướng dẫn, nghị quyết và văn bản giải thích pháp luật, vì chúng hoàn toàn khác nhau về mặt khái niệm và không thể coi hai loại văn bản này là văn bản giải thích pháp luật về mặt lý thuyết.
Điểm khác biệt chính giữa các loại văn bản pháp luật tại Việt Nam được thể hiện qua ba khía cạnh Thứ nhất, chỉ Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Hiến pháp 1992 Thứ hai, các văn bản giải thích pháp luật có giá trị pháp lý tương đương với luật, bắt buộc các chủ thể phải tuân thủ, trong khi các văn bản hướng dẫn thi hành, nghị quyết chỉ mang tính chất tham khảo và hướng dẫn mang tính chỉ đạo Thứ ba, quy trình, thủ tục ban hành các văn bản này khác nhau, do đó, các văn bản của các cơ quan này không thể xem là văn bản giải thích pháp luật chính thức, dù thực tế tại Việt Nam, các nghị quyết và hướng dẫn thường xuyên được coi là các công cụ giải thích pháp luật chủ đạo.
Căn cứ Điều 52 Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Điều
Theo Điều 91 Hiến pháp 1992, chỉ có Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới có thẩm quyền giải thích pháp luật, trong khi các cơ quan khác không được cấp quyền này Tuy nhiên, ngoài thẩm quyền truyền thống của bộ máy hành pháp như Chính phủ, Thủ tướng, các Bộ trưởng, việc ban hành các văn bản hướng dẫn và giải thích pháp luật để bảo đảm sự thống nhất trong thực tiễn cũng rất cần thiết Việc giải thích pháp luật qua các văn bản hướng dẫn giúp thể hiện rõ ý chí của người làm luật và đảm bảo quy định được thực hiện đúng đắn, kịp thời, nhất là khi văn bản gốc đôi khi không thể hiện hết ý nghĩa hoặc vì lý do khách quan Đây là cách thúc đẩy pháp luật đi vào đời sống một cách hiệu quả, đúng pháp luật và phù hợp với thực tiễn.
Hoạt động giải thích pháp luật của cơ quan hành pháp trên thực tế:
Các cơ quan thuộc nhánh hành pháp ban hành văn bản pháp luật theo thẩm quyền nhằm hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Mặc dù việc này mang ý nghĩa là hình thức giải thích pháp luật, nhưng xét về mặt giá trị pháp lý, các văn bản này không được coi là các văn bản giải thích pháp luật chính thức.
Chúng ta có thể nhận thấy rằng một số văn bản pháp luật do chủ thể hành pháp ban hành không chỉ thực hiện chức năng ban hành quy phạm pháp luật mà còn chứa đựng các nội dung giải thích pháp luật quan trọng Ví dụ điển hình là Điều 3 của Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005, nhằm làm rõ các quy định trong pháp luật, từ đó giúp thực thi và áp dụng pháp luật một cách chính xác, minh bạch.
Ngày 28 tháng 12 năm 2005, Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 2002 Văn bản này đã giải thích rõ các dấu hiệu của khái niệm Văn bản quy phạm pháp luật tại Điều xác định các đặc điểm pháp lý quan trọng để nhận diện loại văn bản này Các hướng dẫn từ Chính phủ giúp làm rõ quy trình xây dựng, ban hành và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam Điều này góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác lập pháp và đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia.
1, Luật này Ngoài ra các văn bản hướng dẫn này còn được thể hiện ở nhiều dạng như:
Dưới dạng diễn giải tại văn bản pháp luật theo thẩm quyền Chẳng hạn, tại Điều
Điều 1 của Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26/02/2007 quy định rằng "người có bằng cử nhân luật theo quy định tại Điều 10 của Luật Luật sư là người đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật tại cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam cấp." Theo đó, bằng cử nhân luật là bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật do các trường đại học Việt Nam cấp, phù hợp với quy định của Luật Luật sư.
Trong hệ thống pháp luật, các quy phạm pháp luật có thể được trình bày dưới dạng viện dẫn hoặc quy định chuyển tiếp, nhằm thể hiện mối liên hệ hoặc cấp độ pháp lý khác nhau, từ thấp đến cao hơn về hiệu lực Ví dụ, theo Luật Luật sư và Thông tư của Bộ Tư pháp, luật sư tập sự theo quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đang tập sự hành nghề tại một tổ chức luật sư ở địa phương khác với nơi đã gia nhập có thể tiếp tục hành nghề tại tổ chức đó, nhưng phải đăng ký hoạt động tập sự theo quy định của luật luật sư tại địa phương nơi tổ chức hành nghề.
Dưới dạng pano áp phích cổ động, các khẩu hiệu như "đóng thuế là nghĩa vụ và vinh dự của mọi công dân" hay "trốn thuế là vi phạm pháp luật" được sử dụng để tuyên truyền về ý thức nộp thuế Những thông điệp này nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về trách nhiệm đóng góp ngân sách nhà nước và tạo sự tự giác chấp hành pháp luật liên quan đến thuế Việc sử dụng khẩu hiệu phù hợp giúp lan tỏa thông điệp tích cực, thúc đẩy sự phối hợp của người dân trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đúng quy định.
Chính phủ ủy quyền cho Thủ tướng để thực hiện các nhiệm vụ nội bộ quan trọng Thủ tướng sau đó ra các thông báo, công điện để chỉ đạo công tác; đồng thời, Thủ tướng hoặc Chính phủ ủy quyền cho các Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể Các Bộ trưởng tiếp tục ủy quyền cho các Tổng cục trưởng, Cục trưởng để quản lý và điều hành các lĩnh vực chuyên môn.
2.2.3 Hoạt động giải thích pháp luật của cơ quan tƣ pháp
Cơ quan tư pháp không có thẩm quyền giải thích pháp luật theo luật định, mà quyền này thuộc về cơ quan xét xử và giám sát hoạt động xét xử Tuy nhiên, cơ quan tư pháp thực hiện hoạt động giải thích pháp luật thông qua các nghị quyết, công văn, báo cáo tổng kết, và thông tư liên tịch để hướng dẫn nghiệp vụ xét xử Các văn bản này nhằm giải quyết vướng mắc trong thủ tục tố tụng và chi tiết các hành vi phạm tội, qua đó hỗ trợ Tòa án cấp dưới và Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới thực hiện nhiệm vụ đúng quy định.
Tòa án Nhân dân Tối cao phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an và các bộ ngành liên quan hướng dẫn áp dụng các điều luật trong Bộ luật hình sự, đảm bảo thống nhất và chính xác trong công tác xử lý hình sự.
2.2.4 Hoạt động giải thích pháp luật của các chủ thể khác Đối với các chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến các quy định pháp luật, như các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp,… Khi thực hiện và tuân thủ pháp luật phải hiểu được các quy phạm pháp luật cụ thể có phải là quy phạm để điều quan hệ xã hội mà mình đang tham gia và nó có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình không Khi xác định được quy định điều chỉnh quan hệ xã hội mình đã tham gia, các chủ thể này phải hiểu các quy định này và được truyền đạt, ghi nhận cho chủ thể khác bằng các hình thức truyền miệng, văn bản,… Như vậy, vô hình chung, các chủ thể này đã tiến hành hoạt động giải thích pháp luật