1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bc tìm thành phần chưa biết cho học sinh lớp 3

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp nâng cao hiệu quả Giải bài toán về tìm thành phần chưa biết cho học sinh lớp 3
Tác giả La Chí Thanh
Trường học Trường Tiểu học Vĩnh Lộc 1
Chuyên ngành Toán học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Thành phố Bình Chánh
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 110,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

UBND HUYỆN BÌNH CHÁNHTRƯỜNG TiH VĨNH LỘC 1 Tên Sáng kiến: Biện pháp nâng cao hiệu quả Giải bài toán về tìm thành phần chưa biết cho học sinh lớp 3 Tên người viết sáng kiến: La Chí Thanh

Trang 1

UBND HUYỆN BÌNH CHÁNH

TRƯỜNG TiH VĨNH LỘC 1

Tên Sáng kiến: Biện pháp nâng cao hiệu quả Giải bài toán về tìm thành phần chưa biết cho học sinh lớp 3

Tên người viết sáng kiến: La Chí Thanh

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Vĩnh Lộc 1

1 Thực trạng

1.1 Thuận lợi

Hầu hết các em đều được bố mẹ quan tâm trong mọi sinh hoạt, có sức khỏe tương đối tốt nên đi học chuyên cần, khi nghỉ học đều xin phép

Được phân công thực tập chủ nhiệm lớp 3.1, một lớp mà học sinh ngoan, học tốt, vâng lời thầy cô giáo

Tập thể lớp 3.1 đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập và trong sinh hoạt

Học sinh thích học môn toán, nhiều em có kĩ năng tính toán và giải toán tốt Học sinh tích cực tham gia mọi hoạt động của trường, lớp

Lớp 3/1 có 40 học sinh; các em có lực học cũng tương đối đồng đều Các em nắm được kiến thức cơ bản của các môn học và có khả năng hoàn thành tốt các bài học trên lớp (Phòng học thoáng mát, nhà trường trang bị đầy đủ các trang thiết bị dạy học như tranh, ảnh, tivi, máy chiếu)

1.2 Khó khăn

- Trường dạy 1 buổi/ngày vì không có đủ phòng học do đó còn hạn chế về thời

gian phụ đạo cho đối tượng học sinh học chậm Địa bàn cư trú của các em ở không tập trung nên rất khó khăn trong việc phân nhóm học sinh và liên hệ với gia đình các em

- Mặt khác, một số gia đình cha mẹ các em bận đi làm ăn xa, gửi con ở với ông

bà, việc kèm các em học ở nhà ít được quan tâm Do vậy ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của lớp Đa phần học sinh của lớp từ nơi khác đến tạm trú, đời sống còn gặp nhiều khó khăn nên phụ huynh ít quan tâm đến việc học của con em ở nhà Ý thức tự học của các em còn hạn chế

Trang 2

- Ngay từ đầu năm nhận lớp, tôi nhận thấy rất nhiều em học sinh kĩ năng tìm thành phần chưa biết còn hạn chế, các em chưa nhận diện được dạng toán

+ Học sinh còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng ở khâu xác định thành phần chưa biết để tìm cách giải

+ Học sinh còn mơ hồ tên gọi của thành phần

+ Có em đã xác định được thành phần, biết cách giải nhưng lại sai kết quả…

2 Nội dung sáng kiến

2.1 Mục đích của giải pháp:

Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, tránh trường hợp học sinh ngồi nhầm lớp; phát hiện học sinh chậm tiếp thu, học sinh gặp khó khăn trong đọc để kịp thời uốn nắn sửa sai giúp học sinh đạt chuẩn; đồng thời bồi dưỡng học sinh phát triển kĩ năng tính toán tốt

2.2 Nội dung giải pháp:

2.2.1 Sự khác biệt của các giải pháp mới so với giải pháp cũ:

- Đưa ra một số biện pháp rèn cho học tiến bộ trong môn toán; giúp cho học sinh nắm vững các cách tìm thành phần chưa biết Từ đó giúp các em giải toán tốt hơn

- Thông qua việc luyện tập giúp các em yêu thích môn học Qua đó giáo dục các

em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế hoạch, thói quen tự kiểm tra công việc của mình, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, phát triển tư duy,…

2.2.2 Cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới:

a Biện pháp 1: Điều tra và phân loại học sinh chậm về tìm thành chưa biết

ở lớp để giúp đỡ.

Thông qua việc giảng dạy trong những tuần đầu tôi sẽ nắm bắt những học sinh còn chậm về tìm thành phần chưa biết, tôi tiến hành phân loại từng đối tượng như: Các em thường sợ loại toán này; các em không biết cách giải, thường trả lời sai, làm tính không đúng, tôi có kế hoạch kèm cặp, hướng dẫn phương pháp giải toán kịp thời cho từng em

Tôi luôn quan tâm động viên các em chăm học, tích cực làm bài để các em tự tin vào khả năng của mình để suy nghĩ, tìm cách giải đúng

Ngoài ra tôi còn tổ chức đôi bạn học tập, gồm 01 em học tốt môn toán kèm 01

em chậm môn toán Đồng thời duy trì thường xuyên nề nếp truy bài đầu giờ; nếu bạn giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắm được phương pháp giải toán

Trang 3

b Biện pháp 2: Ôn tập, củng cố kiến thức về các biểu thức đơn.

Để học sinh học tốt được dạng bài tìm thành phần chưa biết ở lớp 3, trước hết HS phải thực hiện thành thạo các bảng nhân, chia, cộng, trừ đã học Có kĩ năng thành thạo các phép tính về cộng, trừ, nhân, chia từ dễ đến khó theo các vòng số của chương trình SGK

Bài tập minh họa.

Bài 1: Tính:

25 : 5 = 50 : 5 = 45 : 9 = 32 : 8 = 9  6 = 5  6 =

Bài 2: Điền số thích hợp vào chỗ chấm:

…  6 = 54 7  … = 42 40 = …  5

7 = 42 : … … : 4 = 9 … : 8 = 8

Bài 4: Tính:

127

256

178

317

 135

551

 143

416

 447

735

 67

564

Qua việc thực hiện biện pháp trên, tôi thấy hầu hết các em học sinh trong lớp đã thuộc và hiểu được bản chất, ý nghĩa của các bảng cộng, trừ, nhân, chia Chỉ số ít các

em làm sai do tính toán chưa cẩn thận Các em đủ tự tin vận dụng kiến thức vào làm các dạng bài khác

c Biện pháp 3: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sai sót.

+Trường hợp 1: Nêu phép tính giải sai

Ví dụ: Bài 2 (trang 124 SGK ) Tìm x biết x x 2 = 6

Có học sinh làm :

x x 2 = 6

x = 6 x 2

x = 12

Bài giải đúng phải là :

x x 2 = 6

x = 6 : 2

x = 3

Trang 4

- Như vậy, lẽ ra phép tính phải là phép tính chia nhưng học sinh đó lại làm bằng phép tính nhân

Nguyên nhân của sai lầm trên là do học sinh chưa nắm được cách tìm thừa số chưa biết Điều này rơi vào những em chưa hiểu rõ bản chất của phép tính, chưa thấy mối liên hệ ngược giữa 2 phép tính nhân chia

Hướng dẫn khắc phục như sau :

Trước hết giúp học sinh tự phát hiện chỗ sai của mình làm:

Thay x = 12 vào phép tính được x x 2 = 12 x 2 rồi so sánh với kết quả 6

(không cần làm tính ), tự học sinh thấy đựơc:

12 x 2 > 6

Gợi ý HS nhớ lại cách tìm thừa số chưa biết và điều quan trọng là phải để học sinh tự giác làm bài, tự củng cố cách tìm thành phần chưa biết

Nếu HS không tự giác khái quát được chẳng qua là các em không nhớ tên gọi thành phần của các phép tính đó; do đó phải cho các em tự nhắc lại tên từng thành phần thật rõ ràng, cụ thể và tập diễn đạt, chứ không chỉ coi trọng việc tìm kết quả mà xem nhẹ việc rèn luyện khả năng khái quát của các em

Đối với những em khả năng ghi nhớ chưa tốt cần quan tâm đến việc dạy cá thể hoá, dạy riêng, kèm riêng em đó, tranh thủ mọi thời gian để giúp đỡ

Chẳng hạn: Đối với việc tìm số hạng chưa biết Điều này đòi hỏi các em phải hiểu rõ bản chất của phép cộng các số tự nhiên là "thêm vào " là "gộp" các số với nhau

Từ đó dễ dàng thấy được một cách tự nhiên là:

Số hạng này bằng tổng trừ đi số hạng kia

Đối với cách tìm thừa số, số bị chia chưa biết nếu học sinh còn lúng túng có thể

vẽ lại sơ đồ cho học sinh nhớ lại cách làm

Ví dụ : x : 3 = 9

Học sinh dễ dàng thấy x = 9 x 3

Trang 5

Tuy nhiên như trên đã trình bày, giáo viên phải cho học sinh khái quát cách tìm, nhắc lại nhiều lần để khắc sâu ghi nhớ

+Trường hợp 2: Viết thừa hoặc thiếu thành phần trong bước giải ở lớp 2, dạng

bài "Tìm x biết x : a = b " mới dừng lại ở mức độ đơn giản nên ở đây tôi chủ yếu đi

sâu vào lỗi viết thừa thành phần trong bước giải

Ví dụ : x x 2 = 12

Có học sinh làm như sau :

x x 2 = 12

Bước 1: x x 2 = 12 : 2

Bước 2: x = 6

Nhận xét: Bước 1, học sinh viết thừa x x 2, lẽ ra phải viết x = 12 : 2

Có thể sửa như sau:

+ Trước hết yêu cầu học sinh tự phát hiện chỗ sai

+ Nếu học sinh không tự phát hiện được chỗ sai thì có thể hỏi: Phép chia 12 : 2

để tìm gì (tìm x) vậy tại sao viết x x 2, viết như vậy có đúng không? Hiện tượng viết

thừa, viết sai như trên tương đối phổ biến ở một số học sinh, có thể do một số giáo viên khi xem xét bài làm của học sinh chưa thật kỹ, chỉ lướt qua phép tính và kết quả Dẫn đến viết thừa, viết thiếu, mất đi sự chính xác của bài làm Việc xem xét kỹ bài làm của học sinh là yếu tố cần thiết của mỗi giáo viên, giúp ta kịp thời uốn nắn sai sót cho các em

d Biện pháp 4: Xác định đúng tên thành phần trong phép tính; thuộc quy tắc tìm thành phần đó

Để các em nắm và biết cách giải được bài toán tìm x, trước hết phải củng cố và khắc sâu cho học sinh nhớ được tên gọi các thành phần và kết quả của bốn phép tính

đã học; tức là phải cho học sinh nêu được tên gọi thành phần và kết quả của các phép tính:

Phép cộng: Số hạng + Số hạng = Tổng

Phép trừ : Số bị trừ - Số trừ = Hiệu

Trang 6

Phép nhân: Thừa số x Thừa số = Tích

Phép chia : Số bị chia : số chia = Thương

Để học sinh gọi đúng tên thành phần trong phép tính, khi làm các bài tập dạng tìm x tôi thường hỏi lại tên các thành phần trong phép tính ấy rồi cho 3,4 học sinh nhắc lại, cả lớp nhắc lại để cho các em nhớ lại và khắc sâu hơn kiến thức

* Ví dụ: Bài 1: Tìm x (SGK Toán trang 46)

a) x + 8 = 10 b) x + 7 = 10 c) 30 + x = 58

+ Trước khi thực hiện bài tập tôi hỏi bài tập yêu cầu tìm gì?

Trong phép tính x + 8 = 10, chữ cái x được gọi là gì? (Số hạng), 8 được gọi là gì?

(Số hạng), 10 được gọi là gì? (Tổng)

+ Sau đó gọi 3, 4 học sinh nói lại từng tên gọi thành phần trong phép x + 8 = 10

+ Giáo viên chỉ và cả lớp nhắc lại

Tương tự với các bài toán tìm x trong phép trừ, phép nhân, phép chia tôi cũng làm như vậy Ngoài ra trong các giờ ôn tập hoặc bồi dưỡng học sinh theo kế hoạch của trường, tôi cho các em chép lại tên thành phần của các phép tính và kết quả của phép tính ấy ra vở nháp để các em nhớ các tên gọi các thành phần và nhớ lâu hơn

Thuộc quy tắc tìm thành phần đó

- Khi làm các bài tập dạng này, yêu cầu dựa vào mối quan hệ giữa thành phần và

kết quả của phép tính để tìm x Chẳng hạn:

+) x + 3 = 7 thì x = 7 – 3 (Số hạng trong một tổng bằng tổng trừ đi số hạng kia)

x = 4

+) x – 5 = 4 thì x = 4 + 5 (Số bị trừ bằng hiệu cộng với số trừ)

x = 9

+) 10 – x = 2 thì x = 10 – 2 (Số trừ bằng số bị trừ trừ đi hiệu)

x = 8

+) x x 5 = 10 thì x = 10 : 5 (Thừa số bằng tích chia cho thừa số kia)

Trang 7

x = 2

+) x : 2 = 5 thì x = 5 x 2 (Số bị chia bằng tích của thương và số chia)

x = 10

- Xét đến yêu cầu giải bài tập ở lớp 3 việc thuộc quy tắc cũng rất cần thiết Sau khi học bài mới hình thành các quy tắc trên tôi yêu cầu về nhà các em học thuộc

e Biện pháp 6: Một số trò chơi.

Khi tổ chức các trò chơi phải sắp xếp các tình huống chơi sao cho tất cả mọi học sinh của nhóm (hoặc lớp) đều được tham gia

Ví dụ 1: “Trò chơi Hái nấm” Luyện tập - Bài tập 5 - trang 46

- Mục đích:

+ Luyện tập và củng cố kỹ năng tìm số hạng

+ Luyện phản xạ nhanh

- Chuẩn bị: Giỏ, các cây nấm có các đáp án khác nhau

- Cách chơi :

+ Bước 1: Chia lớp thành 2 đội gồm các nhóm, mỗi nhóm 3 người

+ Bước 2: Phát cho mỗi nhóm một chiếc giỏ

+ Bước 3: Giáo viên nêu ra phép tính, mỗi 1 bạn của 2 đội cầm giỏ chạy lên nhặt cây nấm rồi chạy về Tiếp theo giáo viên đọc phép tính thứ 2, học sinh thứ 2 chạy lên

Cứ tiếp tục như vậy cho đến hết, nhóm nào lấy được nhiều cây nấm đúng thì nhóm đó chiến thắng

* Lưu ý :

+ Trò chơi này có thể áp dụng được vào nhiều bài

+ Trò chơi này gây được không khí vui, sôi nổi, hào hứng trong giờ học cho các em

Ví dụ 2: Trò chơi: “Rung chuông vàng” Luyện tập - Bài tập 2 - trang 129

Trang 8

- Mục đích:

+ Luyện tập và củng cố kỹ năng tìm số bị chia

+ Luyện phản xạ nhanh

- Chuẩn bị : Bảng con, phấn, các phép tính và đáp án

- Cách chơi :

+ Bước 1: Mỗi bạn chuẩn bị bảng con, phấn

+ Bước 2: Giáo viên đọc câu hỏi và đáp án Tính thời gian là 15 giây

+ Bước 3: Khi hết thời cả lớp giơ đáp án Bạn nào trả lời sai thì úp bảng xuống Bạn nào trả lời đúng thi tiếp tục sang phép tính khác Cứ như vậy cho đến bạn cuối cùng trả lời đúng thì bạn ấy là bạn chiến thắng

Ví dụ 3: Trò chơi: “Ong tìm hoa” Luyện tập - Bài tập 1 - trang 117

- Mục đích :

+ Rèn tính tập thể

+ Giúp cho học sinh nhớ cách tìm thừa số

- Chuẩn bị :

+ Các bông hoa có ghi cách làm cho 4 đội tham gia, các chú ong mật có ghi phép tính

+ Hai chậu cây xanh gắn các bông hoa

- Cách chơi: Chọn 4 đội, mỗi đội 2 em Giáo viên phát cho các đội chơi mỗi người một con ong Khi nghe hiệu lệnh "bắt đầu" thì các đội lên bắt những bông hoa

có kết quả tương ứng với phép tính ở con ong Đội nào bắt được nhiều chú ong và nhụy đúng nhất đội đó sẽ thắng cuộc

* Lưu ý : Sau khi học sinh chơi xong, giáo viên chấm và hỏi thêm một số câu hỏi sau

để khắc sâu bài học

Ví dụ 4 : Trò chơi: Thi vẽ

Trang 9

Chuẩn bị : Vẽ trên bảng phụ hoặc trên giấy 2 hình ngôi nhà đang vẽ dở.

Một số câu hỏi về củng cố kiến thức Chẳng hạn :

1 Nêu cách tìm một số hạng

2 Kết quả của phép trừ được gọi là gì?

3 Tìm x : x – 2 = 10

4 Nêu cách tìm số bị chia

Cách chơi: Chon 2 đội chơi, mỗi đội 4 em; giáo viên lần lượt đọc từng câu hỏi Các đội giành quyền trả lời bằng cách phất cờ Nếu trả lời đúng được vẽ một nét trong hình; nếu sai thì không được vẽ mà đội bạn được quyền trả lời Nếu đội bạn trả lời đúng cũng được vẽ 1 nét trong hình Đội nào vẽ xong ngôi nhà trước là đội đó thắng cuộc

3 Hiệu quả mang lại.

Bằng những kinh nghiệm làm công tác giảng dạy mà bản thân tôi đã thực hiện qua nhiều năm, cùng với sự nhiệt tình, vận dụng một số kinh nghiệm như đã nêu trên,

và cách làm công tác giảng dạy mới đã làm thay đổi một cách có hiệu quả việc học và làm toán tìm thành phần chưa biết của học sinh

* Kết quả như sau:

Các biện pháp trên mang tính khả thi, có thể áp dụng khi hướng dẫn giải toán tìm thành phần chưa biết cho lớp 3 nói riêng và các lớp khác nói chung đem lại hiệu quả:

- Các em nắm được nội dung yêu cầu của bài toán

- Biết phân tích nội dung bài toán phù hợp

- Học sinh không còn thụ động mà chịu khó suy nghĩ tìm tòi để tìm cách giải

- Nắm vững các quy tắc tính toán tìm thành phần chưa biết

- Học sinh hứng thú, say mê thích học môn toán

- Các em có khả năng tư duy tốt hơn khi giải các bài toán toán tìm thành phần chưa biết, biết áp dụng các bước để giải bài chính xác

- Học sinh học chủ động, tích cực và tiến bộ hơn; tỉ lệ học sinh hiểu bài và yêu thích môn toán tăng giờ học sôi nổi và có chất lượng hơn

* Kết quả học tập môn toán qua các kì đánh giá:

Năm học

2020-2021

MÔN ĐỌC

Số lượng Tỉ lệ(%) Số lượng (HS) Tỉ lệ(%)

Trang 10

- Có được kết quả như vậy, một phần nhờ tinh thần học tập tích cực, tự giác của học sinh, sự quan tâm nhắc nhở của phụ huynh học sinh, bên cạnh đó là các biện pháp giáo dục đúng lúc, kịp thời của giáo viên

- Qua kết quả đã đạt được trên, tôi thấy số lượng học sinh hoàn thành và hoàn thành tốt tăng Điều đó cho thấy những cố gắng trong đổi mới phương pháp dạy học của tôi đã có kết quả khả quan, đó chính là động lực để tôi tiếp tục theo đuổi ý tưởng của mình

- Với kết quả này, sẽ tạo nền tảng để các em sẽ tiếp tục phát huy hơn nữa với những bài học ở mức độ cao hơn, ở những lớp trên

4 Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của Sáng kiến.

 Chỉ có hiệu quả trong phạm vi Đơn vị áp dụng

 Đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng ra phạm vi sở, ngành theo chứng cứ đính kèm

 Đã phục vụ rộng rãi người dân trên địa bàn Thành phố, hoặc đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng trên địa bàn Thành phố theo chứng cứ đính kèm

 Đã phục vụ rộng rãi người dân tại Việt Nam, hoặc đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng tại nhiều tỉnh, thành theo chứng cứ đính kèm.

Bộ phận/Đơn vị áp dụng:

Bình Chánh, ngày 28 tháng 4 năm 2021

Người viết sáng kiến

La Chí Thanh

Ngày đăng: 14/08/2023, 06:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w