1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế giám sát hiến pháp ở việt nam hiện nay thực tràng và kiến nghị

86 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ chế giám sát hiến pháp ở Việt Nam hiện nay thực trạng và kiến nghị
Tác giả Nguyen Thu Trang
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Mạnh Hùng
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hiến Pháp
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giám sát Hiến pháp (9)
  • 1.2. Khái niệm giám sát Hiến pháp, cơ chế giám sát Hiến pháp (12)
  • 1.3. Phân loại giám sát Hiến pháp (17)
  • 1.4. Chủ thể và đối tượng giám sát Hiến pháp (0)
    • 1.4.1. Chủ thể giám sát Hiến pháp (21)
    • 1.4.2. Đối tượng giám sát Hiến pháp (22)
  • 1.5. Các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới (24)
    • 1.5.1. Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung (24)
    • 1.5.2. Mô hình giám sát Hiến pháp tập trun g (31)
    • 1.5.3 Mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp (45)
    • 1.5.4. Mô hình cơ quan giám sát Hiến pháp đồng thời là cơ quan lập hiến (45)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ GIÁM SÁT Ở VIỆT NAM HIỆN (9)
    • 2.1. Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam qua bốn bản Hiến pháp (47)
      • 2.1.1. Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 (47)
      • 2.1.2. Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 (49)
      • 2.1.3. Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 (51)
      • 2.1.4. Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các văn bản pháp luật hiện hành (53)
    • 2.2. Thực trạng cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay (57)
    • 2.3. Tiền đề xây dựng cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam (64)
      • 2.3.1. Tiền đề về mặt chính trị (64)
      • 2.3.2. Tiền đề về mặt nhận thức (66)
      • 2.3.3. Tiền đề về tâm lý xã hội (67)
      • 2.3.4. Tiền đề về pháp lý (68)
    • 2.4. Phương hướng đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay (69)
      • 2.4.1. Các mô hình đổi mới (69)
      • 2.4.2. Lựa chọn mô hình giám sát Hiến pháp và một số kiến nghị (73)
  • KẾT LUẬN (82)

Nội dung

Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giám sát Hiến pháp

Cơ chế giám sát Hiến pháp ra đời nhằm thay thế thuyết nghị viện tối cao bằng thuyết Hiến pháp tối cao, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp lý và bảo vệ quyền lực nhà nước Cuộc cách mạng Anh năm đã mở đường cho việc thiết lập một nền tư pháp vững chắc, nâng cao vai trò của hiến pháp như nguyên tắc tối cao trong quản lý quốc gia.

Năm 1688–1689 đã xác lập nguyên tắc về quyền tối cao của Nghị viện tại Anh, theo đó mọi đạo luật và thuế đều do Nghị viện quy định và không ai có thể chấm dứt hiệu lực của các đạo luật này Người Anh tin rằng “những đạo luật của Nghị viện không bao giờ sai”, thể hiện rõ quyền tối cao của nghị viện trong hệ thống pháp luật Quyền này được thể hiện qua câu ngạn ngữ “Nghị viện có quyền làm tất cả, trừ việc biến đàn ông thành đàn bà”, nhấn mạnh sự không giới hạn của Nghị viện trong việc lập pháp Chính vì thế, nơi nào thuyết Nghị viện tối cao chiếm ưu thế thì không có cơ chế giám sát Hiến pháp, và nước Anh là ví dụ điển hình cho mô hình này.

Trong lịch sử nhà nước và pháp luật toàn cầu, tư tưởng giám sát pháp lý bắt nguồn từ Anh vào thế kỷ XVII, khi Hội đồng cơ mật có quyền tuyên bố các văn bản của cơ quan lập pháp các nước thuộc địa Anh là trái với luật của Nghị viện Anh hoặc pháp luật chung Điều này giúp khẳng định vai trò của quyền giám sát của nhà nước trong việc đảm bảo tính hợp pháp của các văn bản luật, từ đó dẫn đến việc các văn bản đó không có hiệu lực và cần phải bị bãi bỏ nếu trái phép.

Tư tưởng giám sát Hiến pháp theo nghĩa hiện đại lần đầu tiên xuất hiện tại Hội nghị lập hiến Philadelphia năm 1787, mở đầu cho cơ chế giám sát pháp lý nhằm giới hạn quyền lực của Nghị viện Cơ chế giám sát Hiến pháp được hình thành tại Mỹ như một thiết chế quan trọng để đảm bảo quyền lực của cơ quan lập pháp không vượt quá giới hạn pháp luật Những người ủng hộ việc thiết lập chế độ tài phán Hiến pháp nhấn mạnh vai trò của hoạt động giám sát để duy trì trật tự pháp lý và bảo vệ hiến pháp khỏi các vi phạm.

Mỹ vào lúc này là: Rufus King, Jame Madison, George Mason, Jame Wilson,

5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, Nxb Công an nhân dân,

6 Bùi Ngọc Sơn, Tài phán Hiến pháp và vị trí Quốc hội, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 16, 2009, tr 14

7 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Tập bài giảng Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, năm học 2008 – 2009, tr 148

Cuốn sách "Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay" của Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh được xuất bản bởi Nhà xuất bản Công an Nhân dân năm 2003, có tổng cộng 556 trang, cung cấp cái nhìn toàn diện về các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay tại Việt Nam.

Gouverneur Morris, Hugh Williamson và Luther Martin Trong hội nghị, Wilson nói: “Các thẩm phán là người giải thích luật nên phải có cơ hội bảo vệ các quyền

Hiến pháp cần có khả năng kiểm soát và phản ứng lại những luật pháp bất công, thiếu sáng suốt hoặc nguy hiểm, nhằm bảo vệ tính hợp hiến của hệ thống pháp luật Mặc dù Hội nghị không chính thức công nhận quyền tài phán Hiến pháp của ngành tư pháp, nhưng theo Alexander Hamilton, chế định giám sát tư pháp là cần thiết để đảm bảo luật phù hợp với Hiến pháp, với Tòa án đóng vai trò quyết định sự phù hợp này Người có công lớn trong thực tiễn hóa quyền này chính là Chánh án John Marshall, người đã xác lập nguyên tắc Hiến pháp là luật tối cao và quyền tuyên bố hủy bỏ luật trái phép của Tòa án trong vụ án Marbury chống Madison năm 1803 Những tuyên bố của Marshall đã định hình chức năng bảo hiến của Tòa án và quyền tài phán về các quyết định của lập pháp và hành pháp liên quan đến Hiến pháp, khiến ông trở thành Chánh án vĩ đại nhất của Hoa Kỳ Áp dụng mô hình Mỹ, nhiều quốc gia như Brazil (1891) và Uruguay (1917) cũng đã chính thức xác lập quyền bảo hiến của Tòa án nhằm tăng cường hiệu lực kiểm soát tư pháp và bảo vệ hiến pháp.

9 Vũ Văn Nhiêm - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 12

Cuốn sách "Về Giám Sát Và Cơ Chế Giám Sát Việc Thực Hiện Quyền Lực Nhà Nước Ở Nước Ta Hiện Nay" của Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh do Nxb Công An Nhân Dân xuất bản năm 2003, trang 559, phân tích chi tiết về cơ chế giám sát quyền lực nhà nước tại Việt Nam hiện nay, nhấn mạnh vai trò của các cơ quan giám sát trong đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm của chính quyền Tác phẩm đề cập đến các phương pháp, cơ chế, và thiết chế pháp lý nhằm tăng cường hiệu quả giám sát, qua đó nâng cao hiệu lực của quản lý Nhà nước, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về kiểm soát quyền lực Bài viết còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và các thiết chế giám sát để thúc đẩy kỷ cương, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan công quyền.

11 Lê Vinh Danh, Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2001, tr.42.

Trước chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều quốc gia châu Âu như Nauy, Hy Lạp và một số bang của Thụy Sỹ đã thiết lập quyền bảo hiến của Tòa án theo mô hình của Mỹ, nhằm bảo vệ quyền hiến pháp và đảm bảo công lý.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước châu Âu đã xây dựng mô hình giám sát tư pháp Hiến pháp riêng của mình, bắt nguồn từ ý tưởng của Hans Kelsen nhấn mạnh rằng Hiến pháp là nguồn gốc của nhà nước và các văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp Tòa án Hiến pháp chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp Cộng hòa Áo năm 1920, và sau đó nhiều nước như Italia (1948), Cộng hòa Liên bang Đức (1949), Ấn Độ (1949) đã thành lập Tòa án Hiến pháp trong cơ cấu tổ chức nhà nước của mình Học giả châu Âu dựa trên ba luận thuyết cơ bản làm nền tảng cho mô hình giám sát tư pháp Hiến pháp này.

Luận thuyết về tính thống nhất nhấn mạnh rằng Hiến pháp là văn bản của quyền lực gốc và quyền lực nguyên thủy (quyền lực thiết lập) Các văn bản do các cơ quan Nhà nước ban hành phải phù hợp và không trái với Hiến pháp, vì Hiến pháp có hiệu lực cao nhất trong hệ thống pháp luật Điều này đảm bảo tính ổn định, tính hợp pháp và sự thống nhất trong quá trình xây dựng pháp luật của nhà nước.

Luận thuyết về tính hệ thống nhấn mạnh rằng Hiến pháp xác lập các nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước Các cơ quan Nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc này trong hoạt động hàng ngày, đồng thời đảm bảo không xâm phạm thẩm quyền của các cơ quan khác Trong mô hình Nhà nước liên bang, việc phân định rõ thẩm quyền giữa liên bang và các chủ thể của liên bang là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phối hợp hiệu quả và tránh xung đột quyền lực.

Luận thuyết về pháp luật tự nhiên, còn gọi là luận thuyết khế ước xã hội, nhấn mạnh rằng Hiến pháp đặt ra các nguyên tắc chung điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân Các nguyên tắc này chủ yếu bảo vệ quyền con người và quyền công dân, đồng thời quy định việc giám sát Hiến pháp để đảm bảo tuân thủ các quyền này.

Cuốn sách "Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay" do Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh chủ biên, xuất bản bởi Nhà xuất bản Công an Nhân dân năm 2003, tập trung phân tích các phương thức giám sát quyền lực nhà nước tại Việt Nam Tác phẩm nhấn mạnh vai trò của các cơ quan giám sát trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước, góp phần đảm bảo sự minh bạch và liêm chính trong quản lý nhà nước hiện nay Các nội dung chủ chốt đề cập đến cơ chế giám sát và những nguyên tắc xây dựng hệ thống giám sát hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền chính trị và pháp luật Việt Nam.

Cuốn sách "Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay" của tác giả Võ Khánh Vinh, chủ biên, xuất bản bởi Nhà xuất bản Công an Nhân dân năm 2003, trang 561-562, cung cấp các phân tích chi tiết về cơ chế giám sát quyền lực nhà nước Nội dung tập trung vào việc quy định rõ các hình thức và phương thức giám sát để đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện đúng pháp luật và không bị lạm dụng Tác phẩm nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống kiểm tra, giám sát trong việc duy trì công bằng, minh bạch của bộ máy nhà nước Tài liệu này là nguồn tham khảo quan trọng để hiểu rõ các quy trình giám sát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan kiểm tra, giám sát trong hệ thống chính trị quốc gia.

Quá trình hình thành chế độ giám sát Hiến pháp tại Mỹ và châu Âu phản ánh sự chuyển đổi từ thuyết Nghị viện tối cao sang thuyết Hiến pháp tối cao Cơ chế giám sát này ra đời nhằm giới hạn quyền lực của Quốc hội và giám sát quyền lực của ngành lập pháp Nếu không có mục đích này, cơ quan giám sát Hiến pháp tư pháp sẽ không còn giữ vai trò chính đáng trong hệ thống pháp luật.

Khái niệm giám sát Hiến pháp, cơ chế giám sát Hiến pháp

Hiện nay, ở nước có nhiềuquan điểm về khái niệm giám sát Hiến phápvà cơ chế giám sát Hiến pháp

Giám sát Hiến pháp được hiểu là các biện pháp nhằm giữ gìn và chống lại các vi phạm nguyên tắc, quy phạm của Hiến pháp, đồng nghĩa với việc bảo đảm thực thi Hiến pháp Tuy nhiên, giám sát Hiến pháp không phải là bảo đảm thi hành Hiến pháp mà chỉ hoạt động để bảo vệ quyền và tự do của con người cũng như xử lý các vi phạm của công quyền Cơ chế giám sát chỉ được vận hành khi có hành vi vi phạm Hiến pháp của công quyền xảy ra, với đặc điểm chính là hoạt động này chỉ diễn ra khi có vi phạm và đối tượng của giám sát là công quyền.

Quan điểm thứ hai cho rằng giám sát Hiến pháp chỉ là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền đánh giá tính hợp hiến của văn bản pháp luật, từ đó phát sinh hiệu quả pháp lý vô hiệu hóa các văn bản vi hiến Tuy nhiên, cách hiểu này làm thu hẹp phạm vi của khái niệm giám sát Hiến pháp, chỉ giới hạn ở việc xem xét và bảo đảm tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật Trong thực tiễn, giám sát Hiến pháp còn bao gồm nhiều hoạt động rộng hơn nhằm bảo vệ hiến định và duy trì ổn định hiến pháp trong hệ thống pháp luật.

15 Đặng Văn Chiến (chủ biên), Cơ chế bảo hiến, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr 17

16 Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 9 – 10

17 Hồ Đức Anh, Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số

Giám sát Hiến pháp không chỉ đơn thuần là kiểm tra tính hợp hiến của các hành vi lập pháp mà còn thực hiện các chức năng bảo vệ nội dung và tinh thần của Hiến pháp, như giải quyết tranh chấp giữa các cơ quan lập pháp và hành pháp, giữa liên bang và địa phương, và kiểm soát tính hợp hiến trong các hành vi của Tổng thống cũng như các quan chức nhà nước Các tòa án Hiến pháp ở châu Âu đóng vai trò quan trọng không chỉ trong giám sát tính hợp hiến của luật pháp mà còn trong việc bảo vệ tính toàn vẹn của Hiến pháp, qua đó thể hiện một phạm vi giám sát bao trùm hơn Tuy nhiên, ý nghĩa cốt lõi của giám sát Hiến pháp vẫn là kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi lập pháp, góp phần duy trì nguyên tắc pháp quyền và ổn định hệ thống chính trị.

Cơ chế giám sát Hiến pháp là hệ thống gồm các thành phần, hình thức, thiết chế và thủ tục nhằm bảo vệ Hiến pháp, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Đây là công cụ tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo tư duy pháp quyền, hướng tới giám sát để bảo vệ quyền và tự do của con người Chế độ giám sát Hiến pháp là phương thức xử lý các hành vi vi phạm Hiến pháp của công quyền, duy trì sự tuân thủ pháp luật và giữ vững nền pháp chế dân chủ.

Một điểm quan trọng cần lưu ý là cơ chế giám sát Hiến pháp chỉ tồn tại dựa trên nền tảng của một Hiến pháp cương lĩnh, tức là Hiến pháp được sửa đổi theo một thủ tục đặc biệt, tạo nên giá trị pháp lý tối cao so với các luật thường Trong khi đó, đối với Hiến pháp nhu tính, như ở Anh—là dạng Hiến pháp bất thành văn—không có chế độ giám sát Hiến pháp do không có quy trình sửa đổi đặc biệt này.

18 Vũ Văn Nhiêm - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 21

 Phân biệt giám sát Hiến pháp, cơ chế giám sát Hiến pháp với các thuật ngữ có liên quan:

- Giám sát Hiến pháp và bảo hiến:

Trong giới luật học hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về hai khái niệm giám sát Hiến pháp và bảo hiến Một số luật gia cho rằng, hai khái niệm này là đồng nghĩa do cùng mô tả hoạt động bảo vệ và kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản pháp luật và hoạt động của các cơ quan nhà nước Tuy nhiên, còn có quan điểm cho rằng, giám sát Hiến pháp rộng hơn bảo hiến, bởi theo từ điển Tiếng Việt, giám sát là hoạt động theo dõi kiểm tra việc thực hiện đúng quy định, còn bảo hiến là các biện pháp bảo vệ chống lại vi phạm Hiến pháp Về thẩm quyền, cả hai khái niệm đều nhằm bảo vệ Hiến pháp khỏi vi phạm, nhưng khác nhau về chủ thể thực hiện, trong đó bảo hiến tập trung vào việc đảm bảo thực thi, còn giám sát có thể bao hàm cả hoạt động xây dựng cơ quan để bảo vệ Hiến pháp.

19 Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội, 2000, tr 391

Khái niệm giám sát Hiến pháp không chỉ bao hàm hoạt động bảo hiến mà còn mở rộng đến việc xây dựng cơ quan giám sát Hiến pháp hoàn thiện và điều chỉnh mô hình, cơ cấu hoạt động của cơ quan này để đảm bảo hiệu quả cao nhất Theo Hoàng Phê, giám sát Hiến pháp bao gồm cả việc điều chỉnh tổ chức và chức năng của các cơ quan giám sát nhằm thúc đẩy hoạt động kiểm soát tính hợp hiến của các văn bản pháp luật Bên cạnh đó, Hồ Đức Anh giải thích rằng khái niệm giám sát Hiến pháp rộng hơn bảo hiến nhờ các phương thức hoạt động đa dạng, như xem xét báo cáo, xét hỏi, và thành lập đoàn giám sát, phản ánh phạm vi và tính chất phong phú của hoạt động giám sát Hiến pháp.

- Giám sát Hiến pháp và tài phán Hiến pháp:

Thuật ngữ "tài phán Hiến pháp" hay "kiểm tra Hiến pháp bằng Tòa án" đề cập đến cơ chế phán quyết các vi phạm Hiến pháp Trong đó, Tòa án đóng vai trò là cơ quan giám sát pháp lý để đảm bảo tính hợp hiến của các văn bản pháp luật Theo mô hình giám sát Hiến pháp, thẩm quyền này được phân chia thành ba dạng chính: mô hình phi tập trung, nơi thẩm quyền giao cho hệ thống Tòa án thường thuộc nhánh tư pháp; mô hình tập trung, nơi thẩm quyền quy định rõ ràng cho cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách; và mô hình hỗn hợp, kết hợp quyền lực của cả Tòa án thường và Tòa án Hiến pháp để thực hiện nhiệm vụ giám sát.

Cơ quan giám sát thông qua hoạt động tố tụng Hiến pháp có trách nhiệm ban hành các bản án và quyết định có giá trị như đạo luật để xem xét tính hợp hiến của các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc hành vi dựa trên các văn bản vi phạm Hiến pháp, xâm phạm quyền và tự do của công dân Khái niệm thẩm phán Hiến pháp là phạm vi hẹp hơn khái niệm giám sát Hiến pháp, vì quyền giám sát trong đó chỉ thuộc về các Tòa án và thủ tục tố tụng, trong khi giám sát còn bao gồm các chủ thể khác như Quốc hội, Chính phủ, và các thủ tục không chỉ dừng lại ở thủ tục tố tụng.

Trong tác phẩm "Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp tại Việt Nam" của 21 Đào Trí Úc và Nguyễn Như Phát, chủ biên, nội dung tập trung vào việc phân tích các nguyên tắc và cơ sở pháp lý của việc tổ chức quyền tài phán Hiến pháp ở Việt Nam Tác phẩm nêu rõ tầm quan trọng của việc xây dựng một mô hình tài phán phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc bảo vệ Hiến pháp và quyền con người Ngoài ra, sách còn đề cập đến những thách thức và đề xuất chính sách nhằm hoàn thiện hệ thống tư pháp hiến pháp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam.

22 Hồ Đức Anh, Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số

Ngày 6 tháng 2 năm 2006, trong quá trình tố tụng có thể áp dụng thủ tục hành chính, ví dụ như tại một số nước, trong đó có Việt Nam Tại Việt Nam, Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản vi hiến do các cơ quan cấp dưới ban hành, đảm bảo tính pháp lý và trật tự pháp luật quốc gia.

- Giám sát Hiến pháp và bảo đảm thi hành Hiến pháp:

Bảo đảm thi hành Hiến pháp là tổng hợp các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo các nguyên tắc và quy phạm hiến định được thực hiện một cách chắc chắn trên thực tế Việc thực thi Hiến pháp đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì nền pháp quyền vững mạnh, bảo vệ quyền và nghĩa vụ của công dân, cũng như đảm bảo sự ổn định và phát triển của nhà nước Các biện pháp này giúp nâng cao hiệu quả và tính khả thi của các quy định hiến pháp, góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất và đồng bộ.

Tư duy pháp chế xã hội chủ nghĩa hướng đến sự thống nhất của hệ thống pháp luật thông qua các phương thức như tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp và tổ chức đưa Hiến pháp vào cuộc sống Trong khi đó, giám sát Hiến pháp thể hiện tư duy của pháp quyền nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền và tự do của con người.

- Cơ chế giám sát Hiến pháp và cơ chế phán quyết những hành vi vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp

Khái niệm cơ chế phán quyết hành vi vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp được Đảng cộng sản Việt Nam nêu ra tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam So sánh với khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp, cả hai đều bao trùm ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng khác nhau về phạm vi và chủ thể tham gia Hiện nay, có bốn mô hình chủ yếu được ủng hộ để thực thi cơ chế phán quyết, gồm lập Ủy ban giám sát Hiến pháp thuộc Quốc hội, giao thẩm quyền cho Tòa án tối cao, lập Hội đồng Hiến pháp, và thành lập Tòa án Hiến pháp Trong khi đó, chủ thể của giám sát Hiến pháp rộng hơn, có thể bao gồm cả cơ quan lập pháp tùy thuộc vào mô hình cụ thể Thủ tục tiến hành của cơ chế phán quyết theo đề xuất của Đảng thực hiện theo thủ tục tư pháp, còn trong giám sát Hiến pháp, ngoài thủ tục tư pháp còn có thể áp dụng các phương thức khác phù hợp với phù hợp quy trình pháp lý từng mô hình.

23 Hồ Đức Anh, Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số

Văn bản pháp luật áp dụng các thủ tục hành chính, ví dụ như Quốc hội bãi bỏ các văn bản vi hiến của cơ quan cấp dưới Hệ quả pháp lý của quá trình này liên quan đến cơ chế phán quyết, đảm bảo các quyết định về tính hợp hiến của các hành vi trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Cơ chế giám sát Hiến pháp không chỉ xem xét tính hợp hiến của văn bản pháp luật hay hành vi mà còn có quyền ra phán quyết chấm dứt hiệu lực của các văn bản vi phạm Hiến pháp, đảm bảo tuân thủ và bảo vệ Hiến pháp.

Phân loại giám sát Hiến pháp

Dựa vào một số tiêu chí nhất định, cơ chế giám sát Hiến pháp có thể được phân chia thành các loại khác nhau

 Căn cứ vào thời gian tiến hành hoạt động giám sát Hiến pháp: giám sát

Hiến pháp được chia thành giám sát trước và giám sát sau

Giám sát trước là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật trước khi có hiệu lực, nhằm ngăn chặn việc ban hành các văn bản trái luật và đảm bảo ổn định trong lập pháp Hoạt động này giúp tránh các văn bản không hợp hiến được ban hành và hạn chế tình trạng hủy bỏ các văn bản đã có hiệu lực dựa trên cơ sở pháp luật không hợp hiến, qua đó tiết kiệm thời gian, công sức và nguồn lực Tuy nhiên, nhược điểm của giám sát trước là có thể tạo điều kiện cho cơ quan giám sát Hiến pháp can thiệp vào hoạt động lập pháp của Nghị viện, dẫn đến nguy cơ chính trị hóa cơ quan giám sát Nếu chỉ thực hiện giám sát trước, các văn bản đã có hiệu lực chứa quy định không hợp hiến sẽ khó có phương án loại bỏ, ảnh hưởng đến phản ứng pháp lý sau này.

Giám sát sau là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực và hoạt động của các quan chức Nhà nước có thẩm quyền Ưu điểm lớn nhất của giám sát sau là không can thiệp quá sâu vào quá trình lập pháp, đồng thời khả năng kiểm tra tính hợp hiến của văn bản pháp luật còn dựa trên thực tiễn áp dụng của Tòa án và các cơ quan hành chính.

 Căn cứ vào hình thức thực hiện: giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát trừu tượng và giám sát cụ thể

Giám sát trừu tượng là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật mà không liên quan đến bất kỳ vụ việc cụ thể nào Đây là hình thức giám sát phổ biến, trong đó các chủ thể có quyền giám sát thường là các cơ quan nhà nước, quan chức, nghị sĩ hoặc cá nhân công dân theo quy định của hiến pháp Ví dụ, Điều 125 Hiến pháp Liên bang Nga quy định Tổng thống, Chủ tịch hai viện Nghị viện và một số nghị sĩ có quyền đề nghị Tòa án Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của các văn bản pháp luật Trong khi đó, Điều 32A Hiến pháp Hungary lại cho phép cả công dân tham gia quyền giám sát này.

Giám sát cụ thể là loại giám sát được thực hiện đối với một vụ việc cụ thể, thường là vụ kiện, đòi hỏi kết quả phải được xác định bằng văn bản để確定 tính hợp hiến của vụ việc đó Trong khi giám sát trừu tượng giúp cơ quan bảo hiến có cái nhìn tổng thể về mối quan hệ giữa văn bản pháp luật và Hiến pháp, đảm bảo tính thống nhất và nhất quán trong hoạt động giám sát theo nguyên tắc phân chia quyền lực, thì giám sát cụ thể lại cho phép cơ quan bảo hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân một cách linh hoạt, hiệu quả hơn.

 Căn cứ vào vị trí thực hiện hoạt động giám sát: giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát bên trong và giám sát bên ngoài

- Giám sát bên trong là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản do chính cơ quan ban hành văn bản đó thực hiện

Giám sát bên ngoài là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ban hành, được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước khác để đảm bảo tính hợp pháp của văn bản Thông thường, giám sát bên ngoài là hoạt động diễn ra sau khi văn bản đã được ban hành, nên những dự án luật chưa được ban hành không thuộc đối tượng của quyền giám sát bên ngoài.

Căn cứ vào kết quả của hoạt động giám sát: giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát chính trị và giám sát tư pháp

Giám sát chính trị là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản hoặc hành vi, nhằm đảm bảo tính hợp pháp của các quy định pháp luật Hoạt động này chủ yếu mang tính chất nhắc nhở, giám sát chứ không kéo theo hậu quả pháp lý hoặc quy kết trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm.

Giám sát tư pháp liên quan chặt chẽ đến hậu quả pháp lý, ví dụ như khi cơ quan giám sát xác nhận một văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp với Hiến pháp, thì văn bản đó sẽ bị chấm dứt hiệu lực pháp lý Thường thì quyền giám sát Hiến pháp mang tính chất tư pháp, đảm bảo việc bảo vệ Hiến pháp và xử lý các vi phạm pháp lý một cách khách quan, chính xác.

Dựa trên căn cứ phát sinh thẩm quyền của cơ quan giám sát Hiến pháp, hoạt động giám sát Hiến pháp được phân thành hai loại chính: giám sát bắt buộc và giám sát không bắt buộc.

Giám sát bắt buộc là cần thiết khi các văn bản quy phạm pháp luật phải được cơ quan giám sát Hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến trước khi ban hành và có hiệu lực Việc này đảm bảo rằng các quy định pháp luật phù hợp với Hiến pháp, giữ vững nguyên tắc pháp quyền và trật tự pháp lý Quá trình giám sát này giúp ngăn chặn các văn bản trái pháp luật, tạo điều kiện để pháp luật được ban hành đúng quy trình, đảm bảo tính hợp hiến của hệ thống pháp luật Việt Nam.

Giám sát không bắt buộc là hoạt động của cơ quan bảo hiến thực hiện theo yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền, mang tính tự nguyện và không bắt buộc pháp lý Trong hầu hết các trường hợp, việc giám sát Hiến pháp đều thuộc dạng giám sát không bắt buộc, thể hiện vai trò hỗ trợ từ phía cơ quan bảo hiến để đảm bảo tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các chủ thể có thẩm quyền.

Căn cứ vào đối tượng: quyền giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát toàn bộ và giám sát một phần

- Giám sát toàn bộ là hoạt động giám sát Hiến pháp bao trùm toàn bộ các mối quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp

Giám sát một phần là hoạt động giám sát Hiến pháp liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, như quyền con người và quyền công dân Hoạt động này giúp đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong các lĩnh vực quan trọng của xã hội Ngoài ra, giám sát còn tập trung vào mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Việc này giúp đảm bảo quyền lợi của công dân được bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển ổn định của nền hành chính.

 Căn cứ vào nội dung của hoạt động giám sát Hiến pháp: giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát hình thức và giám sát nội dung

Giám sát hình thức là hoạt động kiểm tra tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật dựa trên yêu cầu tuân thủ Hiến pháp và các quy định pháp luật liên quan Hoạt động này nhằm xác định xem văn bản có do cơ quan có thẩm quyền ban hành đúng thẩm quyền hay không, đồng thời kiểm tra việc ban hành có tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật hay không Việc giám sát hình thức đảm bảo tính hợp pháp và tính hợp lệ của văn bản pháp luật trước khi đi vào thực thi, góp phần củng cố hiệu lực của hệ thống pháp luật quốc gia.

Giám sát nội dung là hoạt động kiểm tra nội dung của văn bản hay quy phạm pháp luật để xác định tính phù hợp với các quy định của Hiến pháp Hoạt động này đảm bảo rằng các văn bản pháp luật được ban hành và thực thi đúng với nguyên tắc pháp luật quốc gia Việc giám sát nội dung giúp ngăn chặn các nội dung trái pháp luật, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đây là một công tác quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền.

Giám sát Hiến pháp được phân thành hai loại dựa trên hiệu lực theo thời gian: giám sát có hiệu lực hồi tố và giám sát không có hiệu lực hồi tố Trong đó, giám sát Hiến pháp có hiệu lực hồi tố cho phép kiểm tra, rà soát các quy định, luật lệ đã ban hành trong quá khứ để đảm bảo tính hợp hiến của chúng Ngược lại, giám sát không có hiệu lực hồi tố chỉ tập trung vào các quy định mới, tránh can thiệp vào các hoạt động pháp lý đã diễn ra trước đó Việc phân biệt này giúp xác định rõ phạm vi và cách thức kiểm soát tính hợp hiến của các quy định pháp luật theo từng thời kỳ.

Giám sát Hiến pháp có hiệu lực hồi tố nghĩa là các văn bản hoặc quy phạm pháp luật bị tuyên bố vi hiến sẽ bị coi là không có hiệu lực kể từ thời điểm ban hành, dẫn đến việc các mối quan hệ pháp luật phát sinh dựa trên đó sẽ bị bãi bỏ và trở về trạng thái ban đầu Các cơ quan Nhà nước hữu quan phải bồi thường thiệt hại do việc ban hành các văn bản hoặc quy phạm vi hiến gây ra, gây ra nhiều khó khăn và phức tạp, đặc biệt khi các văn bản đã có hiệu lực lâu dài Việc áp dụng nguyên tắc này có thể gây ra nhiều phiền toái và vượt quá khả năng xử lý của các cơ quan, gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống pháp luật.

Chủ thể và đối tượng giám sát Hiến pháp

Chủ thể giám sát Hiến pháp

Trong giai đoạn đầu của nền lập hiến thế giới, người ta cho rằng cơ quan dân cử có vị trí thuận lợi nhất để bảo vệ Hiến pháp Do đó, ý tưởng giao quyền giám sát Hiến pháp cho các cơ quan chính trị đã hình thành, thường là cơ quan lập hiến hoặc các hội nghị dân cử, Ủy ban của Quốc hội hoặc các viện của Quốc hội Hiện nay, vẫn tồn tại một số nước như Việt Nam, Cuba, Lào, Trung Quốc, nơi các cơ quan giám sát Hiến pháp đồng thời đảm nhiệm vai trò lập hiến.

Lập luận về trao thẩm quyền giám sát Hiến pháp cho cơ quan chính trị dân cử đã trở nên lỗi thời, khi thực tiễn trên thế giới ít áp dụng mô hình này Theo phân tích của Hiến pháp học, cơ quan chính trị thường tập trung nghiên cứu vấn đề từ góc độ chính trị nhiều hơn pháp lý, trong khi kiểm soát tính hợp hiến là một hành vi hoàn toàn thuộc lĩnh vực pháp lý Lập pháp và hành pháp là hai nhánh quyền lực công quyền có sức mạnh lớn, dễ bị lạm quyền và đe dọa Hiến pháp, với lập pháp quyết định cách thức hoạt động của xã hội, còn hành pháp tác động trực tiếp đến đời sống hàng ngày của con người Hamilton nhấn mạnh rằng ngành hành pháp không chỉ phân phối các vinh dự mà còn có quyền sử dụng vũ lực, trong khi ngành lập pháp kiểm soát tài chính và quy định luật lệ Trong khi đó, ngành tư pháp là nhánh quyền lực yếu ớt hơn, không có quyền sử dụng vũ lực hay kiểm soát tài chính, cũng như không có quyền quyết định tích cực nào, chỉ dựa vào trí phán đoán để đưa ra quyết định, cần dựa vào sự trợ giúp của ngành hành pháp để thực thi nhiệm vụ.

Tư pháp không chỉ là ngành quyền lực ít có nguy cơ lạm quyền và ảnh hưởng đến các quyền hiến định của công dân, mà còn được tạo ra nhằm giải quyết các khiếu nại của công dân khi quyền hiến định bị chính quyền vi phạm Theo đó, cơ quan giám sát Hiến pháp thường là một cơ quan tư pháp, trong đó, mô hình của Mỹ sử dụng Tòa án thường để thực hiện nhiệm vụ này, còn mô hình châu Âu là Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng Bảo hiến, và mô hình hỗn hợp thì cả Tòa án thường lẫn Tòa án Hiến pháp đều tham gia giám sát Hiến pháp.

Đối tượng giám sát Hiến pháp

Đối tượng giám sát Hiến pháp bao gồm hai nhóm chính: các văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn Hiến pháp và hành vi của các cá nhân giữ vai trò chủ chốt trong bộ máy nhà nước Trong đó, các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước và các cá nhân có chức vụ cao ban hành đều phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp, kể cả những đạo luật do Quốc hội ban hành Việc giám sát tính hợp hiến của các đạo luật là hoạt động cốt lõi và quan trọng nhất trong công tác bảo vệ Hiến pháp Theo nhà Hiến pháp học Pháp L.Favorue, “Không thể có hoạt động bảo hiến nếu không có thẩm quyền giám sát tính hợp hiến của các đạo luật.” Tuy nhiên, đạo luật được thông qua bằng trưng cầu ý dân không phải chịu sự kiểm tra và giám sát về tính hợp hiến, vì đây là hình thức thể hiện quyền lực tối cao của nhân dân và chủ quyền của nhân dân.

26 Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr.13

27 Bùi Ngọc Sơn, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr

28 Hồ Đức Anh, Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số

Trong nhiều nước như Pháp và Tây Ban Nha, quy chế của Nghị viện là đối tượng của hoạt động giám sát Hiến pháp, nhằm giới hạn quyền hạn của Nghị viện trong việc quyết định các vấn đề tổ chức và hoạt động của mình Hoạt động giám sát này đảm bảo Nghị viện tuân thủ Hiến pháp khi ra quyết định, đồng thời bảo vệ quyền của Nghị viện và từng thành viên một cách hiệu quả.

Điều ước quốc tế được xem là văn bản có giá trị thấp hơn Hiến pháp và thuộc đối tượng giám sát của Hiến pháp Theo quy định chung, đối tượng của giám sát Hiến pháp là các dự thảo điều ước quốc tế chứ không phải các điều ước đã được phê chuẩn Trong trường hợp điều ước quốc tế mâu thuẫn với chính Hiến pháp, nhiều quốc gia yêu cầu sửa đổi Hiến pháp trước khi ký kết điều ước, như quy định tại Điều 95 Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978, cho phép ký kết điều ước trái luật chỉ sau khi Hiến pháp đã được sửa đổi Chính phủ hoặc các viện của Nghị viện có thể yêu cầu Tòa án bảo hiến xác định mâu thuẫn giữa Hiến pháp và điều ước quốc tế.

Pháp quy định: “Trong trường hợp Hội đồng bảo hiến, theo đề nghị của Tổng thống

Điều ước quốc tế nếu chứa đựng những điều khoản trái với Hiến pháp, thì việc phê chuẩn hay phê duyệt chỉ được thực hiện sau khi tiến hành sửa đổi Hiến pháp theo quy định của pháp luật Các cơ quan như Cộng hòa, Thủ tướng Chính phủ hoặc hai viện của Nghị viện đều có quyền tuyên bố về vấn đề này để đảm bảo tính hợp pháp của các điều ước quốc tế.

Các cá nhân giữ vai trò chủ chốt trong bộ máy nhà nước như Tổng thống, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước là đối tượng của giám sát Hiến pháp, và hành vi vi hiến của họ có thể dẫn đến việc phế truất khỏi chức vụ Việc xác định tính hợp hiến của các hành vi này được thực hiện qua thủ tục giống như impeachment của Hoa Kỳ, mặc dù căn cứ để luận tội không nhất thiết phải là hành vi không hợp hiến.

Các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới

Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung

Chủ thể giám sát Hiến pháp.

Trong mô hình này, thẩm quyền giám sát Hiến pháp được giao cho các Tòa án có thẩm quyền chung thực hiện Hình thức này có hai dạng

Ở một số quốc gia, giám sát Hiến pháp do tất cả các Tòa án có thẩm quyền chung thực hiện như Mỹ, Nhật Bản, Philippines và các nước Bắc Âu, nơi mọi Tòa án đều có quyền phán quyết về tính hợp hiến của văn bản pháp luật Tuy nhiên, phán quyết của Tòa án cao cấp nhất thường có ưu thế vì chỉ có các quyết định này mới mang tính ràng buộc đối với tất cả các Tòa án khác Hình thức giám sát Hiến pháp này được gọi là giám sát Hiến pháp phi tập trung (Decentralised constitutional control), thể hiện sự phân quyền trong quá trình kiểm tra tính hợp hiến của luật pháp.

Thứ hai, ở một số nước như Gana, Namibia, Papua – New Gvineia, Srilanca,

Tại Estonia, quyền giám sát Hiến pháp được trao cho Tòa án cấp cao nhất thực hiện Trong các nước liên bang như Canada và Ấn Độ, ngoài Tòa án cấp cao nhất của quốc gia, các Tòa án cấp cao nhất của các chủ thể liên bang cũng có quyền giám sát Hiến pháp, chủ yếu liên quan đến pháp luật địa phương Tuy nhiên, tại những quốc gia này, Tòa án tối cao liên bang thường là cơ quan giải quyết các vấn đề về tính hợp hiến của luật ở cấp độ chung thẩm Dù có mức độ phi tập trung hóa nhất định, các Tòa án này vẫn giữ vai trò là cơ quan bảo hiến chính Tóm lại, trong mọi hệ thống, vai trò quyết định về giám sát Hiến pháp đều thuộc về Tòa án cao nhất theo quy định của Hiến pháp.

Thành phần của Tòa án tối cao có số lượng không lớn và dao động từ 7 đến

Các thành viên của Tòa án tối cao là những thẩm phán chuyên nghiệp, có thâm niên lâu năm trong các cơ quan Tòa án hoặc ngành luật sư Vai trò quyết định trong việc thành lập Tòa án tối cao thường thuộc về nguyên thủ quốc gia hoặc Chính phủ Thẩm phán Tòa án tối cao thường có nhiệm kỳ đến tuổi tối đa (thường từ 65 đến 70 tuổi), nhưng ở Mỹ, các thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời Việc bãi miễn thẩm phán tối cao chỉ xảy ra theo luật định, thường do “suy yếu về trí tuệ hoặc thể chất” Các hiến pháp quy định trình tự phế truất khá phức tạp, gồm các phương thức như luận tội, quyết định của đa số tuyệt đối trong Nghị viện, hoặc thành lập ủy ban điều tra đặc biệt để đưa ra quyết định cuối cùng.

Thẩm quyền quan trọng hàng đầu của các Tòa án là giám sát Hiến pháp để xem xét tính hợp hiến của các văn bản pháp luật Mặc dù quyền tài phán thuộc về tất cả các Tòa án, nhưng phán quyết của Tòa án tối cao có hiệu lực cao nhất và bắt buộc các Tòa án cấp dưới phải tuân theo, đảm bảo sự thống nhất trong việc thực thi pháp luật.

Trong lịch sử pháp lý Mỹ, Tòa án tối cao đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ Hiến pháp, ví dụ như vào năm 1850, dựa trên vụ án Marbury chống Madison, tòa đã bác bỏ các biểu quyết của Quốc hội nhằm duy trì chế độ nô lệ miền Nam Trong giai đoạn từ 1861 đến 1937, Tòa án đã làm vô hiệu hóa 72 đạo luật của Quốc hội và hàng trăm luật của các tiểu bang, thể hiện tính tối cao của Hiến pháp Mỹ ngay cả khi đất nước bước vào quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Một số luật pháp thời kỳ này, như Luật phục hồi công nghiệp quốc gia và các điều chỉnh liên quan đến nông nghiệp trong chương trình đề xuất của F D Roosevelt, đã bị tòa án tuyên bố là vi hiến khi mâu thuẫn với Hiến pháp.

29 Lê Vinh Danh, Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001, Nxb Thống kê, 2001, tr.42

Thứ hai, các Tòa án có thẩm quyền giải thích Hiến pháp và các đạo luật

Trong hệ thống án lệ của các quốc gia theo mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung, án lệ đóng vai trò vô cùng quan trọng như nguồn luật chính Thẩm phán thường xuyên giải thích pháp luật trong quá trình xét xử, thể hiện quyền hạn của cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp và đảm bảo rằng các văn bản pháp luật cũng như từng trường hợp cụ thể phù hợp với tinh thần của Hiến pháp Chánh án Marshall trong vụ Mabury chống Madison nhấn mạnh rằng nhiệm vụ của tư pháp là giải thích luật pháp và quyết định cách áp dụng luật phù hợp khi có mâu thuẫn giữa các luật, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của hiến pháp trong việc ưu tiên so với luật thường Ví dụ tiêu biểu là vụ Gibbons kiện Ogden, khi Tòa án tối cao Mỹ đã giải thích quyền “điều tiết thương mại giữa các bang” của Hiến pháp theo hướng hạn chế quyền kiểm soát của các bang trong lĩnh vực kinh tế, qua đó khẳng định quyền lập pháp của Quốc hội và làm rõ giới hạn của các bang trong hoạt động điều tiết.

Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội và truyền thống pháp lý của mỗi quốc gia, các tòa án có chức năng giám sát Hiến pháp thường có các thẩm quyền khác nhau Ví dụ, ở Mỹ, Tòa án không chỉ xem xét và tuyên bố một đạo luật của Quốc hội là vi hiến mà còn có quyền xem xét và tuyên bố bất kỳ quyết định nào của Tổng thống và Chính phủ là vi hiến Năm 1952, Tòa án tối cao liên bang đã ra quyết định rằng việc Tổng thống Truman ra lệnh trưng dụng ngành

30 Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 110 – 111

Trong các vụ án liên quan đến vi hiến, Tòa án tối cao đã khẳng định vai trò bảo vệ Hiến pháp và hạn chế quyền lực của các nhánh chính phủ Ví dụ, vụ án Watergate năm 1974 đã làm rõ quyền của Tòa án trong việc buộc Tổng thống Nixon giao nộp các tài liệu liên quan, bất chấp đặc quyền Tổng thống Quyết định này đã tạo tiền đề cho Nghị viện tiến hành luận tội và cách chức Tổng thống khi vi phạm pháp luật Ngoài ra, Tòa án tối cao còn có thẩm quyền ban hành các bản án chống lại các cơ quan hành pháp phạm luật, như vụ xác nhận quyền của báo chí năm 1971, thể hiện rõ vai trò kiểm soát quyền lực của Tòa án trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ.

"New York Times" đã có quyền xuất bản các bản báo cáo của Lầu Năm Góc do Daniel Ellsberg, nhân viên Bộ Quốc phòng, rò rỉ, bất chấp phản đối từ chính phủ Việc này đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quyền tự do báo chí và quyền truyền thông Bản báo cáo của Ellsberg tiết lộ những thông tin mật về chiến tranh Việt Nam, gây chấn động dư luận và đối mặt với sự phản đối gay gắt từ chính phủ Mỹ Quyết định của tòa án về việc cho phép xuất bản các tài liệu này thể hiện quyền tự do ngôn luận và vai trò của truyền thông trong việc kiểm tra quyền lực Sự kiện này đã làm tăng nhận thức về tầm quan trọng của sự minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động của chính phủ.

Trong hệ thống tư pháp, kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật thường chỉ được đặt ra khi có khiếu kiện liên quan đến vụ việc cụ thể, mà không có thủ tục đặc biệt để xét xử các vấn đề liên quan đến Hiến pháp Ví dụ tại Mỹ, việc xác định tính hợp hiến của các văn bản luật và giải quyết tranh chấp hiến pháp được thực hiện theo thủ tục bình thường, và khi cần thiết, tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của các bên liên quan đề nghị Tòa án tối cao xem xét tính hợp hiến của đạo luật Điều này cho thấy, giám sát tính hợp hiến của các đạo luật được tích hợp ngay trong quá trình xét xử các vụ việc cụ thể, đảm bảo tính hợp hiến của pháp luật một cách hiệu quả và phù hợp.

Phán quyết của Tòa án thường bao gồm phần nhận định và đánh giá về tính hợp hiến của đạo luật bị cho là vi hiến Những phán quyết này không thể áp dụng để xét xử vụ việc đang xem xét nếu đạo luật đó bị coi là vi hiến Tòa án tối cao có giá trị pháp lý cao nhất, đồng thời mang tính hướng dẫn cho tất cả các Tòa án trong việc xét xử các vụ việc tương tự.

Việc áp dụng thủ tục tố tụng thông thường giúp đảm bảo nguyên tắc tiến bộ trong quá trình giải quyết các vụ việc liên quan đến vi phạm Hiến pháp Tuy nhiên, hạn chế lớn của phương pháp này là thời gian xử lý các vụ vi hiến thường kéo dài, gây ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát Hiến pháp Bên cạnh đó, khi các thủ tục tố tụng như tố tụng dân sự hoặc hình sự có sự thay đổi, thủ tục giải quyết các vụ việc liên quan cũng sẽ thay đổi theo, dẫn đến khả năng Nghị viện điều chỉnh luật tố tụng, từ đó tác động đến hoạt động giám sát Hiến pháp.

Hệ quả pháp lý và giá trị của phán quyết.

Khi một đạo luật bị tuyên bố là vi hiến, nó không còn giá trị pháp lý để áp dụng trong thực tế Tuy nhiên, Tòa án không có thẩm quyền hủy bỏ hoặc tuyên bố đạo luật đó vô hiệu hoàn toàn; thay vào đó, Tòa án chỉ không áp dụng đạo luật đó trong xét xử Vì vậy, về hình thức, đạo luật vẫn còn hiệu lực nhưng không còn được thực thi trên thực tế Các cơ quan hành pháp cũng không thể áp dụng các văn bản vi hiến do Tòa án không công nhận hiệu lực của chúng Do đó, Nghị viện thường phải tiến hành bãi bỏ hoặc thay thế các đạo luật đó vì chúng không còn có giá trị pháp lý trong thực tiễn.

Phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến thường chỉ có hiệu lực bắt buộc đối với các bên liên quan và các vụ việc tương tự, xuất phát từ quan niệm rằng một đạo luật vi hiến không chỉ gây thiệt hại cho trường hợp cụ thể mà còn ảnh hưởng đến các chủ thể khác và trật tự pháp luật của quốc gia Tuy nhiên, về mặt thứ bậc, phán quyết của Tòa án cấp trên có tính chất tiền lệ và bắt buộc đối với Tòa án cấp dưới; phán quyết của Tòa án tối cao có hiệu lực bắt buộc đối với toàn hệ thống tư pháp Thực tiễn xét xử của Tòa án Tối cao Mỹ cho thấy cơ quan này thường xuyên không tuân thủ án lệ khi xem xét tính hợp hiến của đạo luật, và các thẩm phán sẽ từ chối áp dụng án lệ nếu nhận thấy nó không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, như trong vụ Linkletter chống Walker (1965) khi một thẩm phán nhấn mạnh rằng Hiến pháp không cấm hay yêu cầu áp dụng nguyên tắc án lệ, mà cần dựa vào các giá trị, lịch sử và mục đích cụ thể của từng vụ việc.

 Các đặc điểm của mô hình giám sát Hiến phápphi tập trung.

Tất cả các Tòa án đều có thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, hoạt động dựa trên nguyên tắc phân quyền và độc lập trong việc giám sát Hiến pháp Tuy nhiên, điều này đã dẫn đến hiện tượng “Chính phủ của những ông Tòa” tại Mỹ từ những năm 1880 đến 1940, gây ra các hậu quả tiêu cực trong chính trị khi Tòa án có thể tuyên bố các đạo luật vi hiến hoặc trái với “tinh thần” của Hiến pháp, dựa trên quan điểm chủ quan của các thẩm phán Trong quá trình này, Tòa án có thể lấn át quyền lực của Quốc hội và Chính phủ, như đã thể hiện rõ trong thời kỳ chính sách “Tân kinh tế” của Tổng thống F B Roosevelt, khi các thẩm phán đã lên án các đạo luật tiến bộ như cấm làm việc đêm trong lò bánh mì hoặc làm việc quá giờ luật định Sau năm 1932, Tòa án tối cao đã ra quyết định tuyên bố vi hiến nhiều đạo luật về kinh tế xã hội, mặc dù chính những đạo luật này góp phần cứu vãn nền kinh tế khỏi khủng hoảng và đình trệ.

33 Vũ Văn Nhiêm - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 296

34 Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 24

Mô hình giám sát Hiến pháp tập trun g

Các nước trong nhóm này có các Tòa án chuyên trách về giám sát Hiến pháp, trong đó bao gồm các Tòa Hiến pháp hoạt động theo hình thức tố tụng gần giống các tòa có thẩm quyền chung, như ở Bồ Đào Nha, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Cộng hòa Séc Ngoài ra, còn có các cơ quan bán tư pháp như Hội đồng Hiến pháp tại Pháp, Mozambique, Marốc, Kazakhstan; Ban Hiến pháp thuộc Tòa án tối cao tại Costa Rica, Burkina Faso; và Hội đồng điều tra giám sát Hiến pháp tại Ethiopia.

Các cơ quan giám sát Hiến pháp thường có số lượng thành viên nhỏ, từ 6 đến 19 người, được quy định rõ trong Hiến pháp của nhiều quốc gia, điều này khiến việc thay đổi số lượng trở nên khó khăn Thành phần của các cơ quan này thường có sự tham gia của nhiều nhánh quyền lực khác nhau; ví dụ, ở các nước như Áo, Nga, Pháp, cơ quan giám sát gồm thành viên từ nhánh lập pháp và hành pháp, trong khi ở Ý, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, còn có sự tham gia của cả ba nhánh tư pháp, nhằm đảm bảo tính độc lập và tránh phụ thuộc quá nhiều vào một nhánh quyền lực, đồng thời tăng cường tính chính trị đại diện Một số nước như Đức thành lập cơ quan giám sát Hiến pháp do nghị viện tự thành lập, tạo nên nét đặc thù trong mô hình tổ chức Thời hạn nhiệm kỳ của thành viên thường ngắn, tối đa 12 năm như ở Nga, nhằm thúc đẩy sự thích ứng nhanh với biến đổi chính trị và phòng tránh mâu thuẫn Hiến pháp sâu sắc Tuy nhiên, phương thức bổ nhiệm này cũng mang lại nguy cơ làm giảm tính độc lập của cơ quan, dễ bị cuốn vào các xung đột chính trị Ngoài các thẩm phán, thành viên của cơ quan giám sát Hiến pháp còn có thể là giảng viên luật uy tín, công chức, chính trị gia, góp phần đa dạng hóa thành phần và tăng cường hiệu quả hoạt động.

Các thành viên của cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách có vị trí pháp lý tương đương với các thẩm phán Tòa án, đảm bảo yêu cầu về sự không kiêm nhiệm Họ không bị bãi miễn trong suốt nhiệm kỳ, trừ khi vi phạm luật định như từ chức tự nguyện, mất năng lực hành vi hoặc có hành vi vi phạm kỷ luật Ngoài ra, vị trí pháp lý của các thành viên này còn bảo vệ quyền bất khả xâm phạm của họ, đảm bảo tính độc lập và an toàn trong quá trình công tác.

Bổ nhiệm chánh án thường diễn ra qua hai phương thức chính nhằm đảm bảo sự độc lập và khách quan của cơ quan giám sát Hiến pháp Thứ nhất, chánh án được các thành viên của cơ quan giám sát Hiến pháp bầu ra từ nội bộ nhằm duy trì sự độc lập của cơ quan này Thứ hai, nguyên thủ quốc gia có thể bổ nhiệm chánh án mà không cần tham khảo hay thỏa thuận với các cơ quan quyền lực nhà nước khác, như trường hợp tại Pháp Ngoài ra, còn có các phương án bổ nhiệm khác, ví dụ như ở Đức, chánh án do Nghị viện bầu, hoặc ở Áo, do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Chính phủ, phù hợp với đặc thù từng quốc gia.

Cơ cấu tổ chức của cơ quan giám sát Hiến pháp thường đơn giản, chủ yếu gồm bộ máy hành chính mà không có các cơ quan khác Các vụ việc thuộc thẩm quyền thường được các thành viên xem xét trong phiên họp chung, miễn là có đủ số lượng thành viên hợp lệ Tuy nhiên, tại một số quốc gia như Áo, luật pháp quy định những vụ việc nhất định chỉ do một hội đồng hẹp hơn xét xử Các phiên xét xử công khai thường chỉ dành cho những vụ việc có ý nghĩa chính trị đặc biệt, đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong hoạt động giám sát Hiến pháp.

Thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và quan điểm lập pháp của từng quốc gia, nhưng đều có các thẩm quyền chung như giám sát tính hợp hiến của các đạo luật, điều ước quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật khác Việc giám sát này có thể thực hiện trước hoặc sau khi luật được ban hành, dựa trên yêu cầu của các chủ thể theo quy định của Hiến pháp Trong đó, giám sát trước thường áp dụng đối với các điều ước quốc tế ở các quốc gia như Nga, Đức, Hungary, và một số ít quốc gia như Hungary, Italia, Ba Lan, Thái Lan cũng có quyền giám sát trước đối với các đạo luật theo yêu cầu của các chủ thể như nghị viện, chính phủ hoặc cơ quan lập pháp của các bang Thẩm quyền giám sát sau thường do hầu hết các Tòa án Hiến pháp thực hiện, trong đó đối tượng chính là các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật đã có hiệu lực thi hành, trừ các đạo luật được thông qua qua trưng cầu ý dân Ngoài ra, Tòa án còn có quyền giải thích Hiến pháp, giải quyết các khiếu kiện liên quan đến các văn bản hoặc hành vi vi phạm Hiến pháp của các cơ quan nhà nước, cá nhân thẩm quyền; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước thuộc các nhánh quyền lực khác nhau; xử lý các tranh chấp trong bầu cử và trưng cầu ý dân; xem xét các vấn đề miễn nhiệm nghị sĩ, cách chức quan chức; tham gia vào luận tội các quan chức cao cấp, phán quyết tính hợp hiến trong hoạt động của đảng chính trị và giải tán đảng chính trị.

Hội đồng bảo hiến có thẩm quyền chính trong việc giải thích Hiến pháp và xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, đảm bảo tính bắt buộc đối với mọi cơ quan và tổ chức Tuy nhiên, thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến khá hạn chế hơn Tòa án Hiến pháp, chủ yếu tập trung vào hoạt động giám sát trước và giám sát các cuộc bầu cử, trưng cầu ý dân để đảm bảo nội dung và tính phù hợp với Hiến pháp Những hoạt động giám sát này thường diễn ra dựa trên các chủ thể do Hiến pháp quy định như nguyên thủ quốc gia, Chính phủ, Chủ tịch Nghị viện và một số nghị sĩ nhất định Ngoài ra, Hội đồng bảo hiến còn có thể giải quyết tranh chấp về bầu cử và trưng cầu ý dân, cũng như tư vấn trong quá trình thiết lập các vị trí chính trị và pháp lý quan trọng.

Trong vai trò của mình, Hội đồng bảo hiến có nhiệm vụ đưa ý kiến tư vấn chính thức khi Tổng thống đương nhiệm không thể thực thi công vụ, đặc biệt trong việc ban bố tình trạng khẩn cấp và cung cấp lời khuyên cho Chính phủ về tổ chức bầu cử và trưng cầu ý dân Hội đồng cũng có trách nhiệm giám sát Hiến pháp trong việc giải quyết tranh chấp về ban hành văn bản giữa Nghị viện và Chính phủ, đồng thời đảm bảo quyền con người theo quy định của Hiến pháp Tuy nhiên, thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến thường bị giới hạn tùy theo đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội và truyền thống pháp luật của từng quốc gia, chủ yếu chỉ giám sát trước khi ban hành và không xét xử tính hợp hiến của các đạo luật đã có hiệu lực Xu hướng chung hiện nay là mở rộng quyền giám sát của Hội đồng bảo hiến, bao gồm việc xem xét các đạo luật đã có hiệu lực và tăng cường thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện về Hiến pháp để đảm bảo sự cân bằng quyền lực và tính hợp pháp của các văn bản pháp luật.

Tòa án Hiến pháp thực hiện chức năng giám sát Hiến pháp qua một thủ tục đặc biệt khác với các thủ tục xét xử các vụ án thông thường, giúp đảm bảo tính độc lập và tránh trở thành nơi chứa đựng mọi tranh chấp xã hội Quá trình xử lý yêu cầu bắt đầu bằng việc thụ lý, xem xét sơ bộ và đưa ra quyết định, do Tổng thư ký, Chánh án hoặc Hội đồng nhỏ (gồm 3-5 thẩm phán) hoặc Hội đồng toàn thể quyết định Sau đó, Tòa xem xét về quyền yêu cầu, sự phù hợp của yêu cầu với thẩm quyền, và cơ sở pháp lý trước khi trình lên Hội đồng xét xử để tiến hành phiên họp Các thẩm phán tham gia xét xử thảo luận và ra quyết định theo nguyên tắc tập thể và đa số, phù hợp với tính chất vụ việc để đảm bảo tính khách quan và minh bạch trong hoạt động của Tòa án Hiến pháp.

Hội đồng bảo hiến tổ chức các phiên họp để ra quyết định dựa trên đơn gửi đến, trong đó các thành viên làm việc tập thể và quyết định theo đa số Các cuộc họp của Hội đồng bảo hiến được coi là hợp lệ khi có sự tham gia của ít nhất hai phần ba số thành viên Hội đồng bảo hiến thực hiện quyền giám sát Hiến pháp thông qua các trình tự, thủ tục đa dạng phù hợp với từng loại vụ việc cụ thể theo quy định của pháp luật Các thủ tục này bao gồm xem xét tính hợp hiến của đạo luật, điều ước quốc tế, kết quả bầu cử hoặc trưng cầu ý dân, và chi tiết quy định trong luật về tổ chức, hoạt động của Hội đồng bảo hiến.

Hệ quả pháp lý và hiệu lực của phán quyết.

Tòa án Hiến pháp kết thúc quá trình xét xử bằng quyết định của Hội đồng xét xử Tùy thuộc vào nội dung, tính chất và đối tượng của vụ việc, Tòa án Hiến pháp có thể xác định các hệ quả pháp lý khác nhau nhằm đảm bảo việc bảo vệ Hiến pháp được thực hiện một cách chính xác và phù hợp.

Về tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, khi phát hiện có dấu hiệu vi hiến, Tòa án Hiến pháp có thể ban hành quyết định hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành văn bản đó, đồng thời đề nghị cơ quan ban hành sửa đổi hoặc hủy bỏ Một số quốc gia quy định rằng Nghị viện có thời gian để sửa đổi đạo luật vi hiến, và sau thời gian này, đạo luật bị tuyên vi hiến sẽ không còn hiệu lực Trường hợp phát hiện vi hiến khi văn bản chưa có hiệu lực, cơ quan ban hành phải sửa đổi hoặc hủy bỏ trong thời hạn nhất định, nếu không, văn bản coi như hết hiệu lực Khi vi hiến được phát hiện sau khi văn bản đã có hiệu lực, một số nước quy định Tòa án Hiến pháp chỉ đề nghị còn một số khác trao quyền hủy bỏ, đình chỉ thi hành Thời điểm đạo luật vi hiến bị coi là vô hiệu thường là khi Tòa án ra phán quyết về tính không hợp hiến, nhưng cũng có quốc gia quy định hiệu lực bắt đầu từ thời điểm ban hành hoặc có hiệu lực ngay từ ban đầu.

Trong quá trình giải thích Hiến pháp, Tòa án Hiến pháp xem xét các quy định của Hiến pháp để xác định cách hiểu đúng đắn và phù hợp về nội dung của từng điều luật Sự giải thích này có tính chất bắt buộc và có giá trị ràng buộc trong việc giải quyết các vụ kiện cụ thể hoặc đối với các vụ kiện tương tự trong tương lai.

Trong trường hợp có khiếu kiện liên quan đến vi phạm Hiến pháp, Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền xem xét và kết luận về hành vi sai phạm của công chức nhà nước Tòa án có thể đề nghị xử lý kỷ luật, truy tố hình sự hoặc ra quyết định điều tra, khởi tố vụ án nếu phát hiện vi phạm pháp luật hình sự Ngoài ra, các cá nhân vi phạm còn có thể phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi hiến gây ra, nhằm đảm bảo tính công bằng và chấp hành pháp luật của nhà nước.

Về những tranh chấp liên quan đến thẩm quyền, quyết định của Tòa án Hiến pháp cần làm rõ cơ quan có thẩm quyền để giải quyết vụ việc Đồng thời, quyết định còn có nhiệm vụ tuyên bố vô hiệu những văn bản hành chính hoặc pháp lý vi phạm quy định về thẩm quyền, đảm bảo tính hợp pháp và trật tự pháp luật được duy trì.

Mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp

Một số quốc gia trên thế giới áp dụng hệ thống giám sát Hiến pháp hỗn hợp, kết hợp mô hình tập trung và phi tập trung để nâng cao hiệu quả kiểm tra tính hợp hiến của luật lệ Trong mô hình này, thẩm quyền giám sát được chia sẻ giữa cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách và các Tòa án thường thuộc hệ thống tư pháp, giúp đảm bảo tính linh hoạt và đa dạng trong hoạt động giám sát Chỉ có cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách mới có quyền phán quyết một đạo luật hoặc quyết định là vi hiến, trong khi các Tòa án thường chỉ có quyền không áp dụng luật không hợp hiến Các cơ quan bảo hiến chuyên trách có thể là Tòa án Hiến pháp, Tòa án thượng thẩm hoặc các Tòa án đặc biệt của Tòa án tối cao, phù hợp với từng quốc gia Mô hình này khắc phục những hạn chế của các mô hình giám sát Hiến pháp kiểu Mỹ và châu Âu, mang lại sự linh hoạt tối đa trong hoạt động kiểm tra Hiến pháp Nhờ đó, phạm vi thẩm quyền và đối tượng áp dụng rộng lớn, giúp hoạt động giám sát Hiến pháp đạt hiệu quả cao hơn.

THỰC TRẠNG CƠ CHẾ GIÁM SÁT Ở VIỆT NAM HIỆN

Ngày đăng: 14/08/2023, 06:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
14. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.II. Sách chuyên khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
18. Đặng Văn Chiến (chủ biên) , Cơ chế bảo hiến, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo hiến
Tác giả: Đặng Văn Chiến
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2005
19. Lê Vinh Danh, Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2001
20. Nguyễn Đăng Dung – Trương Đắc Linh – Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang – Nguyễn Văn Trí , Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam , Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
21. Trần Ngọc Đường , Một số vấn đề về phân công phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phân công phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
22. Mongtesquieu Charles De Secondat, Tinh thần pháp luật, Nxb. Giáo dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần pháp luật
Tác giả: Mongtesquieu Charles De Secondat
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1996
23. Vũ Văn Nhiêm – Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người, Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người
Tác giả: Vũ Văn Nhiêm, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
24. Hoàng Phê (chủ biên) , Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2000
25. Bùi Ngọc Sơn , Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiến ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Ngọc Sơn
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2006
26. Bùi Ngọc Sơn , Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và nhà nước pháp quyền, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và nhà nước pháp quyền
Tác giả: Bùi Ngọc Sơn
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2005
27. Bùi Ngọc Sơn , Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
28. Đào Trí Úc – Nguyễn Nhƣ Phát (chủ biên) , Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam, Nxb. Công an Nhân dân, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài phán Hiếnpháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Công an Nhân dân
29. Đào Trí Úc – Võ Khánh Vinh (chủ biên) , Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay , Nxb. Công an Nhân dân, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb. Công an Nhân dân
30. William A Dergregorio, 42 đời tổng thống Hoa Kỳ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.III. Tạp chí khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: 42 đời tổng thống Hoa Kỳ, "Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
31. Hồ Đức Anh , Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam
Tác giả: Hồ Đức Anh
Nhà XB: Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Năm: 2006
32. Võ Trí Hảo , Lựa chọn mô hình tài phán Hiến pháp – Những vấn đề phổ biến và đặc thù quốc gia, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1+2, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn mô hình tài phán Hiến pháp – Những vấn đề phổ biến và đặc thù quốc gia
Tác giả: Võ Trí Hảo
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2012
41. Website Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh: http://phapluattp.vn/ Link
42. Website Đại sứ quan hợp chủng quốc Hòa Kỳ: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/vi/index.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w