Các khái niệm
Khái niệm ngân hàng
Hệ thống ngân hàng đóng vai trò trung tâm trong nền kinh tế, phản ánh rõ ràng qua quá trình hình thành và phát triển của nó Ngành ngân hàng được xem là “xương sống của nền kinh tế” vì các chức năng và vai trò to lớn của nó đối với sự ổn định và phát triển của quốc gia Trên thế giới, bất kỳ quốc gia nào cũng đặt trọng tâm vào việc duy trì sự ổn định của ngành ngân hàng, coi nó như “cơ quan thần kinh trung ương” của nền kinh tế Mối quan hệ giữa hệ thống ngân hàng và nền kinh tế là hết sức biện chứng, khi ngân hàng gặp khó khăn thì đồng nghĩa với việc nền kinh tế quốc gia đó cũng đang gặp rủi ro, rơi vào tình trạng khủng hoảng.
Trong đời sống hiện đại ngày nay, ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế và điều tiết nền kinh tế quốc gia Thuật ngữ ngân hàng xuất hiện gần như trong mọi hoạt động tài chính hàng ngày của chúng ta, từ gửi tiền, vay vốn đến thanh toán và đầu tư Hiểu về ngân hàng là hiểu về tổ chức tài chính trung gian đảm bảo hoạt động lưu thông tiền tệ an toàn, hiệu quả và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, ngân hàng được xem là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh liên quan, chủ yếu gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán như quy định tại khoản 2, Điều 20 Luật này cũng xác định rõ hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng thường xuyên nhằm đảm bảo các giao dịch tài chính như nhận tiền gửi, cho vay và thực hiện dịch vụ thanh toán Năm 2010, Luật các tổ chức tín dụng đã đưa ra một khái niệm chặt chẽ hơn về ngân hàng, mô tả đây là tổ chức tín dụng có thể thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của luật, giúp làm rõ hơn về phạm vi và chức năng của ngân hàng trong hệ thống tài chính Việt Nam Để hiểu rõ hơn về thuật ngữ “ngân hàng”, cần phân tích khái niệm tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một hoặc nhiều hoạt động ngân hàng, bao gồm các hoạt động như lưu giữ tiền gửi, cho vay, và cung ứng các dịch vụ tài chính khác.
Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân Ngân hàng được hiểu là một doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo quy định của pháp luật Đây là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính nhằm cung cấp dịch vụ ngân hàng và hỗ trợ phát triển kinh tế.
Theo quy định của 4 Luật này, hoạt động ngân hàng được xác định là việc kinh doanh cung ứng thường xuyên các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Ngân hàng là tổ chức tín dụng hoạt động dựa trên các quy định pháp luật, với chức năng chính là nhận tiền gửi từ khách hàng, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Đây là các nghiệp vụ chủ yếu giúp ngân hàng thực hiện vai trò trung gian tài chính, hỗ trợ hoạt động tiền tệ và thúc đẩy phát triển kinh tế Các loại hình ngân hàng đa dạng, nhưng đều tập trung vào việc cung cấp dịch vụ tài chính an toàn và hiệu quả cho khách hàng cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức khác.
Khái niệm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng
Quản lý, theo khái niệm của điều khiển học, được hiểu là quá trình điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hoặc quá trình dựa trên các quy định, luật lệ hoặc nguyên tắc nhằm đảm bảo hệ thống vận động theo ý muốn của nhà quản lý để đạt được mục tiêu đã đề ra Hoạt động quản lý diễn ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó nổi bật là quản lý Nhà nước, hành chính, kinh tế và giáo dục, với từng lĩnh vực có khách thể riêng biệt Trong lĩnh vực kinh tế, khách thể của quản lý là trật tự quản lý kinh tế, được hình thành từ hệ thống chính sách, pháp luật và các công cụ điều tiết nhà nước sử dụng để hoạch định, điều hành nền kinh tế quốc dân Tại Việt Nam, Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách, phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp để kết hợp lợi ích của cá nhân, tập thể và lợi ích quốc gia Trật tự quản lý kinh tế phản ánh hệ thống các chính sách và quy phạm pháp luật nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó hệ thống pháp luật và chính sách đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng trật tự phát triển bền vững của đất nước.
Hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, được xem là ngành huyết mạch, khi bất kỳ sai lầm nào trong hệ thống ngân hàng đều có thể dẫn đến suy thoái kinh tế Để đảm bảo ổn định, hoạt động ngân hàng cần được điều phối bằng chính sách đúng đắn, kịp thời và chiến lược phù hợp với từng giai đoạn, tình hình cụ thể Ngành ngân hàng chuyên về tiền tệ và cung cấp các dịch vụ ngân hàng, mang tính rủi ro cao và nhạy cảm với biến động kinh tế, xã hội, đòi hỏi sự quản lý cẩn trọng và linh hoạt để duy trì sự ổn định tài chính.
Nhà nước đóng vai trò là “bàn tay” quản lý và điều phối hoạt động ngân hàng, trong đó Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan chủ đạo Nhà nước sử dụng các biện pháp pháp luật để quản lý các hoạt động ngân hàng, nhằm tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng cho các chủ thể thực hiện các hoạt động phù hợp với quy định pháp luật Trong trường hợp vi phạm pháp luật ngân hàng, các hành vi phạm phạm sẽ bị xử lý theo các mức độ khác nhau, từ xử phạt hành chính đến xử lý hình sự, nhằm duy trì trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng.
Trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng gồm các quy định của Nhà nước nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia hoạt động ngân hàng, đảm bảo tuân thủ pháp luật và duy trì sự ổn định, phát triển của hệ thống ngân hàng nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung Các quy định này giúp kiểm soát rủi ro, tăng cường an toàn tài chính, và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của ngành ngân hàng, từ đó góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Khái niệm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng
Hoạt động ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế quốc gia, đòi hỏi Nhà nước có chính sách phù hợp để bảo vệ các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này và đảm bảo sự vận hành ổn định, an toàn của hệ thống ngân hàng Theo quy định tại Quy chế trích lập và sử dụng quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 106/QĐ-NH5 ngày 9/6/1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng sau quyết toán năm tài chính nếu có lãi phải trích lập quỹ dự trữ bằng 5% lợi nhuận ròng để bổ sung vốn điều lệ, đến khi quỹ này đạt 50% vốn điều lệ Ngân hàng Nhà nước còn quy định rằng vốn điều lệ và quỹ dự trữ chỉ được dùng để góp vốn, mua cổ phần, đầu tư dự án hoặc cấp vốn cho các công ty trực thuộc và các tổ chức liên quan theo quy định pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn tài chính Nguyên tắc sử dụng quỹ dự trữ được nêu rõ tại Nghị định số 146/2005/NĐ-CP, trong đó quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ chỉ để tăng vốn, không được chia lợi nhuận cổ phần cho cổ đông.
Năm 1999, được sửa đổi bổ sung vào năm 2009, đã tội phạm hóa hành vi sử dụng trái phép vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, tập trung vào việc dùng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ để chia lợi tức cổ phần gây hậu quả nghiêm trọng Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 1999 còn quy định các hành vi vi phạm về hoạt động cho vay trong lĩnh vực ngân hàng tại Điều 179, được định nghĩa theo khoản 16 Điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 là hình thức cấp tín dụng nhằm mục đích xác định, với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong thời gian nhất định Tuy nhiên, luật này chỉ điều chỉnh một phần nhỏ trong hoạt động ngân hàng, chủ yếu là hai hành vi vi phạm liên quan đến quỹ vốn điều lệ và hoạt động cho vay; vẫn còn nhiều hoạt động khác trong lĩnh vực ngân hàng chưa được điều chỉnh Do đó, trong các trường hợp vi phạm cụ thể, người phạm tội có thể bị truy tố theo một trong các hành vi nêu trên hoặc theo các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế quy định tại Chương XVI của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý Những hành vi này xâm hại trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong hoạt động ngân hàng, gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân Ngoài ra, chúng còn gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
Chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chính sách được hiểu là những nguyên tắc, đường lối và phương hướng cơ bản do Đảng và Nhà nước đề ra trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Có nhiều loại chính sách như chính sách kinh tế, xã hội, pháp luật, trong đó chính sách pháp luật là công cụ hữu hiệu để duy trì quyền lực của giai cấp thống trị, nổi bật là chính sách Hình sự Chính sách Hình sự gồm các chính sách phản ứng trước hành vi phạm tội, xác định phương hướng tổ chức phòng, chống tội phạm, và đề ra các chế tài xử lý người phạm tội Như vậy, chính sách Hình sự tập trung vào xử lý tội phạm và tổ chức đấu tranh phòng ngừa tội phạm, góp phần đảm bảo trật tự và an toàn xã hội.
Xã hội luôn vận động và biến đổi, các quan hệ xã hội theo đó cũng thay đổi theo quy luật chung Chính vì vậy, các chính sách của Nhà nước, đặc biệt là chính sách Hình sự, cần được điều chỉnh phù hợp để duy trì sự hài hòa giữa pháp luật và các quan hệ xã hội Việc cập nhật, sửa đổi chính sách giúp giảm thiểu sự chênh lệch giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng xã hội.
Chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng tập trung vào việc xây dựng các quy định pháp luật nhằm xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bảo vệ sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng Chính sách này nhằm tổ chức các biện pháp đấu tranh phòng, chống các tội phạm kinh tế trong ngành ngân hàng, đảm bảo trật tự, an toàn tài chính và thúc đẩy phát triển bền vững Việc xử lý các hành vi phạm pháp liên quan đến lĩnh vực ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì niềm tin của khách hàng và ổn định hệ thống tài chính quốc gia.
Về vấn đề tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, cần xác định rõ hành vi nào vi phạm chế độ quản lý kinh tế nguy hiểm cho xã hội và cần xử lý hình sự, trong khi những hành vi ít nguy hiểm có thể được xử lý bằng các biện pháp phi hình sự để đạt hiệu quả cao hơn Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, như sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và vi phạm quy định về cho vay của tổ chức tín dụng, đã được pháp luật quy định nhằm phản ánh sự phát triển của quan hệ xã hội trong lĩnh vực ngân hàng Chính sách pháp luật cần cân bằng giữa phòng ngừa tội phạm và thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tránh quy định quá khắt khe gây trì trệ hoạt động ngân hàng, cũng như quy định thiếu chặt chẽ dẫn đến bỏ lọt tội phạm và làm phức tạp tình hình Nhà lập pháp cần điều chỉnh pháp luật phù hợp, tránh xung đột với bản chất các quan hệ kinh tế, theo quan điểm của Mác về việc hạn chế mặt tiêu cực của pháp luật để phát huy hiệu lực tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khai thác quyền lợi xã hội Trong lĩnh vực ngân hàng, do tính nhạy cảm và tác động rộng lớn đến nền kinh tế, việc xử lý hành chính nghiêm hơn là hướng đi phù hợp để đảm bảo hoạt động ổn định, theo xu hướng chung của thế giới và phù hợp với đặc thù của ngành này.
Đặc trƣng chung của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng theo BLHS 1999, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009
Khách thể loại của tội phạm
Khách thể của tội phạm là hệ thống các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi ích và sự tồn tại của giai cấp thống trị Đây là yếu tố cốt lõi giúp xác định tính chất và đặc điểm của hành vi phạm tội, đồng thời phản ánh mối quan hệ giữa tội phạm và các thành phần xã hội liên quan Việc hiểu rõ khách thể của tội phạm là cơ sở quan trọng trong công tác điều tra, xử lý và phòng chống tội phạm nhằm bảo vệ trật tự xã hội và lợi ích của nhà nước.
Nhà nước (đại diện cho giai cấp thống trị) bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật Hình sự
Khách thể của tội phạm là yếu tố trung tâm trong khoa học hình sự, có vai trò quan trọng trong cả lý luận và thực tiễn Vi phạm của hành vi phạm tội luôn xâm phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Việc xác định chính xác khách thể giúp đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân loại tội danh chính xác và nhận diện các yếu tố cấu thành tội phạm Đây là cơ sở để sắp xếp các tội phạm trong Bộ luật Hình sự thành các nhóm dựa trên đặc điểm của khách thể, góp phần xây dựng hệ thống xử lý tội phạm rõ ràng hơn.
Khoa học luật hình sự nước ta chia khách thể của tội phạm thành ba loại: khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp Việc xác định chính xác khách thể loại đóng vai trò quan trọng trong hệ thống hóa các tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn trong tổ chức tín dụng thực hiện, giúp tránh sai sót trong hoạt động định tội danh Điều này cũng giúp phân biệt rõ ràng các loại tội phạm khác nhau, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực này.
Khách thể loại của tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng là những quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ nhằm đảm bảo hoạt động bình thường, an toàn và đúng đắn của các tổ chức tín dụng cũng như nền kinh tế quốc dân Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý gồm Hiến pháp, Luật doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn như Nghị định và Thông tư của các Bộ ngành để tạo điều kiện tối ưu cho việc quản lý tín dụng Các cơ sở pháp lý này đảm bảo quyền tự do kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng theo quy định của pháp luật, đồng thời xử lý nghiêm các hoạt động sản xuất kinh doanh bất hợp pháp, hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân.
Theo đó, pháp luật Hình sự là công cụ pháp lý mang tính nghiêm khắc nhất để trừng trị, xử lý các hành vi vi phạm nêu trên.
Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm bao gồm các biểu hiện bên ngoài như hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra từ hành vi đó, cùng với mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả These elements giúp xác định rõ các đặc điểm bên ngoài của tội phạm và việc liên kết giữa hành động và hậu quả của chúng Understanding the objective aspects of crime is essential for accurate identification and prosecution within the criminal justice system.
Các hành vi phạm tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm nhiều hoạt động như sử dụng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, cho vay, huy động vốn, thanh toán quốc tế L/C và bảo lãnh ngân hàng Những hành vi này có thể là hành động hoặc không hành động của cán bộ, nhân viên ngân hàng khi họ thực hiện không đúng trách nhiệm hoặc không thực hiện chức năng được giao, gây ra hậu quả nghiêm trọng Các hành vi vi phạm này ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức tín dụng và xâm phạm các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ngân hàng, được Luật hình sự ghi nhận và bảo vệ.
Hậu quả xảy ra là một trong những dấu hiệu quan trọng thuộc mặt khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng Đối với các tội phạm có cấu thành vật chất, hậu quả là yếu tố bắt buộc để xác định tính chất phạm tội, như trong các trường hợp vi phạm quy định về cho vay tại Điều 179 Bộ luật Hình sự 1999 hoặc sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự 1999 Các tội này không chỉ có cấu thành vật chất mà còn có thể có cấu thành hình thức, tùy thuộc vào tính chất hành vi vi phạm.
Quy định hậu quả xảy ra là dấu hiệu bắt buộc đối với các tội phạm có cấu thành vật chất có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:
- Hậu quả trong các trường hợp luật định là cơ sở để phân biệt tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác
Mức độ nghiêm trọng của hậu quả đóng vai trò quan trọng trong việc cá nhân hóa trách nhiệm hình sự, xác định rõ mức độ xử phạt phù hợp Trong nhiều trường hợp, hậu quả gây ra còn là yếu tố quyết định trong việc định khung hình phạt, đảm bảo hình phạt phản ánh chính xác mức độ nguy hiểm và tác động của hành vi phạm tội.
Hiện tại, vẫn chưa có văn bản cụ thể nào quy định rõ thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng Các đề cập liên quan chủ yếu mang tính tham khảo, như làm tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán hoặc dẫn đến giải thể, phá sản tổ chức tín dụng.
Hành vi phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng gây ra hậu quả rất phức tạp với nhiều hình thức biểu hiện khác nhau, bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại phi vật chất Những thiệt hại vật chất thường trực tiếp ảnh hưởng đến tài sản ngân hàng, trong khi thiệt hại phi vật chất tác động tiêu cực đến uy tín và lòng tin của khách hàng Việc nhận biết rõ các loại hậu quả này góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ngân hàng.
Thiệt hại vật chất của tổ chức tín dụng thể hiện qua việc vốn tự có bị sụt giảm, dẫn đến mất khả năng thanh toán các khoản nợ và gây thiệt hại về tài chính Trong khi đó, thiệt hại phi vật chất bao gồm việc giảm uy tín và thương hiệu của tổ chức trên thị trường, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh, từ đó làm suy yếu vai trò của tổ chức tín dụng trong nền kinh tế Đối với các tội phạm có cấu thành vật chất, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả là yếu tố quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý, trong đó hành vi của người phạm tội phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả Đặc biệt, hành vi của cán bộ, nhân viên ngân hàng có chức vụ và quyền hạn cần được xác định rõ ràng là nguyên nhân gây ra hậu quả thực tế Thời điểm gây hậu quả có thể trùng hoặc xảy ra sau hành vi phạm tội, và các dấu hiệu như bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, hoặc bị kết án nhưng chưa xóa án tích đều là những bằng chứng thể hiện hành vi phạm tội đã tồn tại trước khi hậu quả xảy ra.
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định, có khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm của hành vi và điều khiển hành vi đó Ngoài ra, các tội này yêu cầu chủ thể đặc biệt, là người có trách nhiệm và quyền hạn trong quản lý, sử dụng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ hoặc cho vay trong tổ chức tín dụng Những chủ thể khác có thể tham gia với vai trò đồng phạm trong vụ án.
Mặt chủ quan của tội phạm
Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, mục đích và động cơ, là những yếu tố chủ quan quan trọng trong cấu thành tội phạm Lỗi là dấu hiệu không thể thiếu, vì không có lỗi thì không thể coi một hành vi là tội phạm, dù hành vi đó nguy hiểm hay trái pháp luật Trong khi đó, động cơ và mục đích tuy quan trọng nhưng không quyết định tính chất nguy hiểm của tội phạm và không phải là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt các loại tội phạm Đặc biệt, đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, động cơ và mục đích không bắt buộc phải xác định để cấu thành tội phạm.
Lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng
Giai đoạn trước năm 1999
Nhu cầu phát triển của xã hội và nền kinh tế thúc đẩy sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng, góp phần xây dựng nền kinh tế hiện đại và thịnh vượng So với thế giới, ngân hàng tại Việt Nam xuất hiện muộn do nền nông nghiệp tự cung tự cấp, thương mại nghèo nàn và thiếu tổ chức tài chính mạnh mẽ dưới chế độ phong kiến Trong thời kỳ bao cấp, hoạt động ngân hàng không bị coi là vấn đề nghiêm trọng vì ngân sách nhà nước hỗ trợ mọi hoạt động, và pháp luật về phòng chống tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng còn hạn chế Năm 1985, luật hình sự mới ban hành nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và hệ thống sở hữu tập thể, nhưng chưa quy định rõ các hành vi phạm pháp trong lĩnh vực ngân hàng, dẫn đến xử lý các hành vi sai phạm chủ yếu theo các điều khoản liên quan đến quản lý kinh tế và tài sản nhà nước của BLHS năm 1985.
Lĩnh vực ngân hàng phát triển mạnh mẽ phù hợp với xu hướng toàn cầu, tuy nhiên gặp phải nhiều vướng mắc về hành lang pháp lý do pháp luật chưa theo kịp sự biến đổi của cấu trúc hạ tầng Nhu cầu xã hội và phát triển kinh tế thúc đẩy sự ra đời của nhiều tổ chức tín dụng, song chính phủ chưa ban hành đầy đủ các văn bản điều chỉnh, gây khó khăn trong hoạt động quản lý và vận hành Điều này đã tạo điều kiện cho các hành vi phạm tội như lạm dụng tín nhiệm, tham ô, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và làm trái quy định của Nhà nước, gây hậu quả nặng nề và dẫn tới hàng loạt tổ chức tín dụng phá sản hoặc giải thể Các vụ án nổi bật như vỡ nợ tín dụng đen của Nguyễn Văn Mười năm 1990, vụ án Epco-Minh Phụng, và lừa đảo hơn 51 tỷ đồng của Ngân hàng Nam Đô và Ngân hàng Công thương Việt Nam phản ánh tình trạng pháp luật chưa đủ mạnh để kiểm soát các hoạt động tín dụng phi pháp.
Giai đoạn từ năm 1999 đến nay
Trong bối cảnh nền kinh tế không ngừng phát triển và xã hội ngày càng hiện đại, các quan hệ xã hội và lĩnh vực ngân hàng cũng có những biến đổi theo hướng tích cực Khi hoạt động ngân hàng trở nên đa dạng và tác động lớn đến kinh tế vĩ mô, các hoạt động phạm tội trong ngành này cũng ngày càng phức tạp, với số vụ phạm tội và số chủ thể tham gia tăng cao, gây đe dọa đến an toàn hệ thống ngân hàng và ổn định kinh tế quốc gia Nhận thức rõ tình hình cấp bách, nhà làm luật đã ban hành Bộ luật Hình sự mới năm 1999, thay thế BLHS 1985, trong đó lần đầu tiên quy định các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là hai tội danh liên quan đến lĩnh vực này.
- Tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng – Điều 178 BLHS 1999;
- Tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng - Điều 179 BLHS 1999
Mặc dù các quy định này vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đầy đủ và bao quát tất cả các hành vi phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng, nhưng chúng được nhìn nhận như một bước tiến lớn và mang tính đột phá trong lịch sử pháp lý của Việt Nam.
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng là những hành vi phạm tội mới nổi, phản ánh sự phát triển đa dạng của hoạt động ngân hàng và tác động tích cực đến nền kinh tế, trong khi cũng gây ra nhiều thách thức pháp lý mới Nghiên cứu lịch sử phát triển của các quy định pháp luật hình sự về các tội này giúp hiểu rõ các dấu hiệu phạm lý chung và chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam đối với các hành vi vi phạm Thảo luận này giúp hình thành nhận thức toàn diện về các loại tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự liên quan, đảm bảo kiểm soát hiệu quả các hành vi phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng.
CHƯƠNG 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng đƣợc quy định trong BLHS 1999
Tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (Điều 178 BLHS 1999)
Khoản 1 Điều 178 BLHS 1999 quy định: “Người nào có trách nhiệm mà dùng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ chia lợi tức cổ phần gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỉ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”
Tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng là hành vi vi phạm pháp luật, diễn ra khi người có trách nhiệm lợi dụng quỹ dự phòng để chia lợi tức cổ phần trái quy định Đây là hình thức vi phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng và quyền lợi của các cổ đông Việc sử dụng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ không đúng mục đích có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho ổn định tài chính của tổ chức tín dụng Các quy định pháp luật hiện hành quy định rõ về trách nhiệm và xử lý đối với hành vi này nhằm đảm bảo tính minh bạch và an toàn trong hoạt động ngân hàng.
Hành vi sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng lần đầu tiên được hình sự hóa trong Bộ luật Hình sự nhằm mở rộng chế tài xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và sử dụng vốn của các tổ chức tín dụng Nguyên nhân chính của việc đưa hành vi này vào quy định hình sự là nhằm tăng cường hiệu quả công tác phòng ngừa, xử lý các hành vi gian lận và bảo vệ quyền lợi của khách hàng, nhà đầu tư trong lĩnh vực ngân hàng Việc hình sự hóa hành vi này góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các tổ chức tín dụng, đồng thời tạo ra một mức độ răn đe mạnh mẽ hơn đối với các hành vi trái phép.
Trong xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cần hoàn thiện khung pháp lý nhằm thúc đẩy các yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, đồng thời quy định rõ những điều nghiêm cấm với chế tài mạnh mẽ nhằm ngăn chặn tiêu cực từ sớm.
Sau hơn mười năm thi hành Bộ luật Hình sự 1985, thực tiễn đã cho thấy nhiều tội phạm mới xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, đe dọa an ninh xã hội nếu không được ngăn chặn kịp thời Việc không xử lý các hành vi phạm tội ngay từ đầu có thể dẫn đến hình thành thói quen xấu và gây ra hậu quả khó lường về lâu dài Chính vì thế, cần có các biện pháp phòng ngừa và xử lý phù hợp để hạn chế tác động tiêu cực của các loại tội phạm mới phát sinh này.
Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng liên quan đến chế độ quản lý và sử dụng quỹ này Việc vi phạm trong việc quản lý quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ gây hậu quả nghiêm trọng cho hoạt động tài chính của tổ chức tín dụng Đây là hành vi trái phép, xâm phạm đến quyền quản lý công khai và hợp pháp của tổ chức tín dụng đối với quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ Vi phạm quy định về sử dụng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ có thể dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự ổn định hệ thống ngân hàng.
Hoạt động ngân hàng mang tính rủi ro cao và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế vĩ mô, do đó Nhà nước đặt ra các quy định nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng Một trong những quy định quan trọng là bắt buộc các tổ chức tín dụng trích 5% lợi nhuận sau thuế để bổ sung vào vốn điều lệ hàng năm, giúp tăng vốn tự có và củng cố sự ổn định hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên, việc sử dụng quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ nhằm chia lợi nhuận cổ phần là hành vi nguy hiểm, vi phạm quy định của pháp luật và gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.
Chế độ quản lý và sử dụng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng là lĩnh vực được pháp luật hình sự bảo vệ, đảm bảo an toàn tài chính cho ngành ngân hàng Trong khi đó, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ dễ trở thành mục tiêu của các hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức tín dụng Việc hiểu rõ các đối tượng này giúp nâng cao ý thức phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro pháp lý trong quản lý tài chính ngân hàng.
Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện qua các biểu hiện bên ngoài như hành vi vi phạm pháp luật, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó Các dấu hiệu của mặt khách quan gồm có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, hậu quả tiêu cực xảy ra, cũng như các điều kiện bên ngoài như thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ phạm tội và hoàn cảnh thực hiện Ví dụ, trong trường hợp tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, hành vi này thể hiện qua việc dùng quỹ để chia lợi tức cổ phần – vi phạm quy định của Nhà nước về mục đích sử dụng quỹ, gây nguy hiểm cho an toàn tài chính của tổ chức tín dụng.
Việc sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng có thể bao gồm nhiều hành vi khác nhau, tuy nhiên chỉ có hành vi dùng quỹ này để chia lợi tức cổ phần mới mới là hành vi phạm tội Nhà làm luật nên quy định rõ tội danh là: “Dùng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng để chia lợi tức cổ phần” nhằm tránh nhầm lẫn với các hành vi sử dụng trái phép quỹ này vào mục đích khác, như sử dụng tài sản trái phép của quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng [16- tr.346].
Theo Điều 178 của Bộ luật Hình sự 1999, tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng bao gồm cả cấu thành vật chất và cấu thành hình thức Hành vi này chỉ bị coi là phạm tội khi gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc chưa gây hậu quả nghiêm trọng nhưng đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính, hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa xóa án tích và vẫn còn vi phạm.
Trong trường hợp cấu thành tội phạm vật chất, phạm tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng để chia lợi tức cổ phần gây hậu quả nghiêm trọng Hậu quả nghiêm trọng được xác định ở đây bao gồm thiệt hại cho quỹ và thiệt hại đối với kế hoạch sử dụng quỹ, như làm mất khả năng thanh toán tiền gửi hoặc dẫn đến vỡ nợ.
Trong trường hợp phạm tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, người vi phạm đã từng bị xử lý kỷ luật về hành vi này nhưng vẫn tiếp tục vi phạm Đây là trường hợp người có trách nhiệm của tổ chức tín dụng nhà nước đã từng sử dụng trái phép quỹ trong quá khứ, chưa hết thời hạn thi hành kỷ luật, rồi lại dùng quỹ để chia lợi tức cổ phần Người phạm tội sẽ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về phần giá trị quỹ đã bị sử dụng trái phép chưa từng bị xử lý kỷ luật.
Trong trường hợp này, hành vi sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng đã từng bị xử phạt hành chính do cá nhân có trách nhiệm vi phạm trước đó, thuộc các tổ chức như tổ chức tín dụng hợp tác hoặc tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài Người vi phạm đã bị xử lý hành chính bằng cảnh cáo hoặc phạt tiền và chưa quá thời hạn xử phạt hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm, nhưng vẫn tiếp tục vi phạm Đây là hình thức cấu thành hình thức của tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, theo quy định tại Nghị định số 202/2004/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
Theo điểm b khoản 1 Điều 29 Nghị định số 202/2004/NĐ-CP, hành vi trích lập và sử dụng quỹ trái phép bị xử phạt từ 5.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng Người vi phạm sau khi chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc hết thời hiệu thi hành mà không tái phạm sẽ được coi là chưa bị xử phạt hành chính, vì dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính” chỉ tồn tại trong một thời hạn nhất định Trong trường hợp sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, nếu bị xử lý kỷ luật hoặc phạt hành chính mà tiếp tục vi phạm, hành vi đó có tính nguy hiểm cho xã hội và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 178 Bộ luật Hình sự 1999 Các biện pháp xử lý kỷ luật và phạt hành chính không đủ khả năng ngăn chặn hành vi vi phạm kéo dài, do đó cần thiết áp dụng các chế tài hình sự với mức xử phạt cao hơn để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa hiệu quả hơn.
Tội vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (Điều 179 BLHS 1999)
Khoản 1 Điều 179 BLHS 1999 quy định: “người nào trong hoạt động tín dụng mà có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến bảy năm: a) Cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật; b) Cho vay quá giới hạn quy định; c) Hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về cho vay trong hoạt động tín dụng”
Tội vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng bao gồm hành vi cho vay không có bảo đảm trái pháp luật, cho vay vượt quá giới hạn quy định, cũng như các hành vi vi phạm khác gây hậu quả nghiêm trọng đến hoạt động tín dụng Điều này nhằm đảm bảo an toàn, trật tự trong hoạt động vay vốn của các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật Vi phạm các quy định này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hệ thống tài chính và người vay Chính sách xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm này giúp tăng cường niềm tin trong hoạt động cấp tín dụng, bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là trật tự quản lý kinh tế, bao gồm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực cho vay của các tổ chức tín dụng Các quy định này bao gồm những nguyên tắc chung về chế độ, chính sách kinh tế, tài chính ngân hàng của Đảng và Nhà nước, cùng với các quy định trực tiếp như Bộ luật Dân sự, Nghị định về giao dịch bảo đảm, và các hướng dẫn từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các cơ quan liên quan Vi phạm các quy định này dẫn đến các hậu quả pháp lý trong hoạt động cho vay, nhằm đảm bảo an toàn và trật tự trong quản lý kinh tế và tài chính ngân hàng.
Các quy định liên quan đến tư pháp, Bộ Tài chính và các quy định trực tiếp đều nằm trong Quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), do Thống đốc NHNN ban hành qua các thời kỳ Quy chế cho vay hiện hành được áp dụng bởi các ngân hàng là dựa trên Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của NHNN Việt Nam, đã được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế và quy định mới của ngân hàng trung ương.
Chế độ cho vay của các tổ chức tín dụng hiện nay được quy định rõ ràng trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, đi kèm hệ thống văn bản hướng dẫn nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động Các biện pháp này bao gồm việc bảo đảm tiền vay, giới hạn hạn mức cho vay, các trường hợp không được phép cho vay và công tác hạn chế cấp tín dụng.
Hành vi cho vay vi phạm các biện pháp trong hoạt động của tổ chức tín dụng có thể dẫn đến thất thoát tiền trong quỹ tín dụng do không thu hồi được hoặc mất khả năng thanh toán, thậm chí gây phá sản cho tổ chức tín dụng Tội phạm này tác động trực tiếp vào tài sản cho vay, bao gồm tiền tệ của tổ chức tín dụng như tiền Việt Nam, ngoại tệ, bút tệ và bán tiền tệ, trong đó các giấy nợ có đặc tính sinh lời như cổ phiếu, thương phiếu, trái phiếu cũng là các loại tài sản bị ảnh hưởng.
Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội này là việc cho vay trái phép theo quy định của Nhà nước về hoạt động cho vay Cụ thể, hành vi này bao gồm hai dạng vi phạm chính: đầu tiên là thực hiện hoạt động cho vay không đúng quy định pháp luật, và thứ hai là vi phạm các quy định về điều kiện, lãi suất hoặc các yếu tố liên quan đến hoạt động cho vay trái phép Việc này đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự, an toàn tài chính và quyền lợi của người vay theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Cho vay không có bảo đảm là hình thức cho vay trái quy định của pháp luật, trong đó người vay không phải thế chấp, cầm cố hoặc nhận bảo lãnh để đảm bảo khoản vay Đây là hành vi vi phạm pháp luật khi thực hiện các khoản vay không có các biện pháp đảm bảo phù hợp theo quy định của pháp luật, gây rủi ro cho các bên tham gia.
Bảo đảm tiền vay là một phần quan trọng trong quản lý rủi ro của tổ chức tín dụng, giúp tạo nền tảng kinh tế và pháp lý vững chắc để thu hồi khoản nợ Các biện pháp bảo đảm tiền vay nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng, giảm thiểu rủi ro thất thoát và tăng khả năng thu hồi nợ hiệu quả Đảm bảo tiền vay giúp các tổ chức tín dụng duy trì hoạt động ổn định và bảo vệ lợi nhuận, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là hình thức cho vay vốn của tổ chức tín dụng, trong đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp hoặc tài sản hình thành từ vốn vay Tài sản bảo đảm gồm các loại tài sản của khách hàng vay, tài sản hình thành từ vốn vay, và tài sản của bên thứ ba bảo lãnh nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đối với tổ chức tín dụng Đây là phương thức giảm thiểu rủi ro tín dụng và nâng cao khả năng thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng.
Trước đây, Nghị định số 178/1999/NĐ-CP quy định rõ các trường hợp, điều kiện và cách thực hiện cho vay không có tài sản bảo đảm theo quan điểm hạn chế hoặc theo chỉ đạo của Chính phủ Việc cho vay không đảm bảo trái pháp luật khi ngân hàng quyết định cho vay đối với khách hàng thiếu uy tín, dự án không khả thi hoặc không có khả năng tài chính, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 179 BLHS Tuy nhiên, từ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và các sửa đổi sau này, không còn quy định cụ thể về cho vay không có đảm bảo bằng tài sản, phản ánh sự đa dạng trong hoạt động ngân hàng hiện nay do sự góp vốn của các tổ chức, cá nhân khác và các nghiệp vụ đa dạng Trong khi đó, ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp và quyết định về các hình thức cho vay không có bảo đảm thuộc quyền của họ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP chỉ quy định rõ về cho vay tín chấp đối với một số đối tượng, nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể từ NHNN hay các cơ quan liên quan, dẫn đến nhiều vướng mắc trong việc xác định hành vi vi phạm pháp luật về cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dụng theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Trước đây, theo quy định tại Chương IV – cho vay không có bảo đảm của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã có quy định giao cho tổ chức tín dụng cho vay trong một số trường hợp đặc biệt với khách hàng và đối tượng vay phù hợp Các tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn khách hàng vay để thực hiện các khoản cho vay không có bảo đảm bằng tài sản trong các dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống khi đáp ứng điều kiện theo Điều 20 và 21 của Nghị định Trong những trường hợp này, hành vi cho vay không có bảo đảm không bị coi là phạm tội theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Hình sự 1999 Tuy nhiên, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã không còn quy định này, đồng nghĩa với việc các tổ chức tín dụng khi cho vay đều bắt buộc thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay, ngoại trừ trường hợp cho vay tín chấp.
Cho vay vượt quá giới hạn quy định của pháp luật là hành vi vi phạm quy định tại Điều 128 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Theo Điều 128 của Luật các tổ chức tín dụng 2010, việc cho vay quá giới hạn pháp luật không những trái quy định mà còn tiềm ẩn các rủi ro về pháp lý và tài chính cho các tổ chức tín dụng.
Dư nợ cấp tín dụng đối với mỗi khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô, đảm bảo quản lý rủi ro credit Cùng đó, tổng dư nợ cấp tín dụng của một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của các tổ chức này, góp phần đảm bảo an toàn tài chính và ổn định hệ thống ngân hàng.
2 Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng; tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng