1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi thường thiệt hại do sức khỏe xâm phạm theo quy định của bộ luật dân sự 2005

91 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bồi Thưởng Thiệt Hại Do Sức Khỏe Xâm Phạm Theo Quy Định Của Bộ Luật Dân Sự 2005
Tác giả Hoàng Thị Mỹ Hạnh
Người hướng dẫn GS.TS. Mai Hồng Quỳ
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 859,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm (11)
    • 1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (11)
    • 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm (14)
  • 1.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm (20)
    • 1.2.1. Trường hợp thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra (22)
    • 1.2.2. Trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra (30)
  • 1.3. Xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (35)
    • 1.3.1. Thiệt hại vật chất (35)
    • 1.3.2. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần (41)
  • 1.4. Chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm (41)
    • 1.4.1. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (41)
    • 1.4.2. Chủ thể được hưởng bồi thường thiệt hại (46)
  • CHƯƠNG II. VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN (48)
    • 2.1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại (48)
      • 2.1.1. Trường hợp thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra (49)
      • 2.1.2. Trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra (57)
    • 2.2. Xác định thiệt hại (67)
      • 2.2.1. Thiệt hại về vật chất (67)

Nội dung

Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm

Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TNBTTH là một trong những chế định pháp luật dân sự xuất hiện từ rất sớm, phản ánh quá trình phát triển của hệ thống pháp luật qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, quy định về bồi thường thiệt hại về tính chất chủ thể, điều kiện, mức độ, hình thức và phương thức bồi thường cũng có sự điều chỉnh phù hợp, đảm bảo tính khả thi và công bằng trong từng bối cảnh pháp lý.

Trong thời La Mã, pháp luật đã đặt ra các nguyên tắc “chế độ phục cừu” và “chế độ phục kim” để quy định trách nhiệm dân sự và hình sự Qua ba giai đoạn phát triển, Luật La Mã đã phân biệt rõ ràng hai loại trách nhiệm này, tuy nhiên chưa xây dựng được nguyên tắc trách nhiệm tổng quát bắt buộc người gây thiệt hại phải bồi thường bất kể trường hợp nào.

Nghiên cứu pháp luật cổ Việt Nam cho thấy chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (TNBTTH) gần như không phân biệt rõ ràng giữa trách nhiệm dân sự (TNDS) và trách nhiệm hình sự Trong các trường hợp gây thương tích, người phạm tội ngoài việc bị xử lý hình phạt còn phải bồi thường cho nạn nhân theo quy định tại Điều 466 Bộ Luật Hồng Đức, trong đó mức bồi thường được quy định rõ ràng dựa trên mức độ thương tích như sưng phù, chảy máu, gãy ngón tay hoặc đâm chém gây thương tích.

Dưới thời Pháp thuộc, trách nhiệm dân sự (TNDS) đã được tách biệt rõ ràng khỏi trách nhiệm hình sự Điều này được thể hiện rõ ràng trong các quy định của Điều 712 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và các văn bản pháp luật liên quan, qua đó phân chia rõ khái niệm và phạm vi của trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự để đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng trong hệ thống pháp luật.

761 Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật, đó là: Người nào làm bất cứ việc gì gây thiệt hại cho người khác do lỗi của mình đều phải BTTH

Mặc dù TNBTTH về dân sự (nay gọi là TNDS) chưa tồn tại độc lập, nhưng những quy định này đã hình thành từ lâu đời và được pháp luật Việt Nam hiện đại kế thừa, phát triển thành chế định trách nhiệm bồi thường dân sự độc lập như hiện nay.

TNDS là một vấn đề quan trọng trong pháp luật dân sự Tuy nhiên khái niệm này vẫn chưa được xác định rõ ràng trong BLDS 2005

1 Xem thêm Trần Thị Huệ (Chủ biên) (2013), TNBTTH do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr.33-34

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (TNDS) là loại trách nhiệm pháp lý bắt buộc phải đối mặt với hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm pháp luật gây ra Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, trách nhiệm pháp lý phản ánh hậu quả tiêu cực mà người vi phạm phải chịu đựng khi thực hiện hành vi vi phạm Do đó, TNDS là hậu quả pháp lý không mong muốn mà bên vi phạm nghĩa vụ dân sự phải tự chịu trách nhiệm để khắc phục.

Trách nhiệm dân sự theo từ điển luật học là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản, nhằm bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại Nó được phát sinh dựa trên căn cứ vi phạm nghĩa vụ của các bên, chia thành trách nhiệm ngoài hợp đồng và trách nhiệm do vi phạm cam kết hoặc thỏa thuận Trách nhiệm theo hợp đồng xảy ra khi người có nghĩa vụ vi phạm các cam kết đã thỏa thuận, còn trách nhiệm ngoài hợp đồng phát sinh từ các quy định pháp luật chung Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có sự vi phạm pháp luật dân sự.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (TNDS) là loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý gây thiệt hại cho người khác, buộc họ phải bồi thường thiệt hại đó TNDS luôn đi kèm với các chế tài cụ thể do nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật, đồng thời có những đặc điểm riêng như dựa trên hành vi vi phạm pháp luật dân sự, mang tính chất tài sản và có thể liên quan đến nhiều chủ thể chịu trách nhiệm như pháp nhân hoặc người đại diện pháp luật cho người chưa thành niên Hậu quả của vi phạm bao gồm việc người vi phạm phải thực hiện đúng, thực hiện đủ nghĩa vụ, và nếu có thiệt hại thực tế thì sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cụ thể.

TNBTTH là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh khi hành vi vi phạm nghĩa vụ của một người gây thiệt hại Người vi phạm có lỗi trong việc gây ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần phải bồi thường để phục hồi tình trạng tài sản và đền bù tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại Trách nhiệm này nhằm đảm bảo sự công bằng và bù đắp thiệt hại một cách đầy đủ cho bên bị thiệt hại.

Phạm Kim Anh (2009) nghiên cứu về trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005, tập trung phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật trong lĩnh vực này.

3 Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp & NXB Từ điển bách khoa,

4 Trần Việt Anh (2011), “So sánh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng”,

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (4)

5 Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2005 Tập II, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.57

TNBTTH bao gồm TNBTTH về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần 6

Theo nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường theo hợp đồng (TNBTTH theo hợp đồng) là trách nhiệm phát sinh khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng, gây thiệt hại cho bên còn lại và phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất đã gây ra Trong khi đó, trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng (TNBTTH ngoài hợp đồng) được xác định khi một người vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định hoặc xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người khác, mặc dù không có mối quan hệ hợp đồng giữa các bên.

Trong việc so sánh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (TNBTTH) và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (TNDS), ta nhận thấy các đặc điểm chung nhưng cũng có những khác biệt rõ rệt TNDS trong hợp đồng yêu cầu có mối quan hệ hợp đồng giữa các bên, thiệt hại phát sinh do hành vi vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận, và các biện pháp xử lý như mức phạt, bồi thường, hoặc biện pháp bảo đảm đã được các bên thỏa thuận trước Trách nhiệm này chỉ dành cho các chủ thể trong hợp đồng, không áp dụng cho người thứ ba trừ khi có thỏa thuận cụ thể Ngược lại, TNBTTH ngoài hợp đồng phát sinh từ các hành vi trái pháp luật mà không liên quan đến hợp đồng, có tính chất bắt buộc và phát sinh dưới tác động trực tiếp của quy phạm pháp luật mà không cần thỏa thuận trước, chỉ có thể được điều chỉnh về mức bồi thường sau khi trách nhiệm đã phát sinh Trách nhiệm này còn mở rộng đến những đối tượng như cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ, pháp nhân, trường học, bệnh viện, chủ sở hữu hay người quản lý tài sản, nhằm đảm bảo xử lý các thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra.

Như vậy, có thể hiểu, TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại TNDS phát sinh

6 Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý, tlđd 3, tr.799

Theo Nguyễn Minh Oanh (2009), trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (TNBTTH) phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không thuộc nghĩa vụ của hợp đồng đã giao kết Người chịu trách nhiệm bồi thường phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại.

Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm

do sức khỏe bị xâm phạm

1.1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm

Sức khỏe của con người là vô giá và được pháp luật dân sự bảo vệ nghiêm ngặt Theo quy định, mỗi cá nhân có quyền được đảm bảo an toàn về sức khỏe, là một quyền cơ bản không thể xâm phạm Khi quyền này bị vi phạm hoặc sức khỏe bị xâm hại, cá nhân có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Thiệt hại về sức khỏe do xâm phạm có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu do hành vi trái pháp luật của con người như đâm, chém, bắn, đốt, đấm, đá, đầu độc, hay khi hành vi này không nhất thiết phải có hành động rõ ràng nhưng vẫn gây ra thiệt hại và phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Bên cạnh đó, cũng có những trường hợp thiệt hại xảy ra do tác động tự nhiên của tài sản như súc vật cắn, công trình xây dựng sụp đổ, cây cối gãy đổ mà không liên quan đến hành vi của con người Luật Dân sự 2005 quy định rõ các trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản gây ra, như nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra bao gồm những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng từ các hoạt động của nguồn nguy hiểm hoặc các tài sản, đảm bảo quyền lợi của bên bị thiệt hại trong các trường hợp này.

Trong TNBTTH, khi sức khỏe bị xâm phạm, chủ thể bị xâm phạm chính là người có quyền được bảo vệ sức khỏe, bao gồm những người đang sống và tồn tại độc lập trong thế giới khách quan với tư cách là con người, một thực thể tự nhiên và xã hội Cuộc sống của một con người bắt đầu từ thời điểm sinh ra và kéo dài suốt đời, tạo thành quyền cơ bản cần được bảo vệ trong pháp luật Việc xác định chủ thể bị xâm phạm sức khỏe là nền tảng quan trọng để đảm bảo quyền lợi và quyền bảo vệ sức khỏe của cá nhân trong hệ thống pháp luật.

Theo Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), thai nhi chưa được xem là một con người đang sống cho đến khi sinh ra và còn sống Do đó, khi một người đã chết hoặc thai nhi chưa chào đời, mọi hành vi xâm phạm đến xác chết hoặc thai nhi không được xem là xâm phạm sức khỏe.

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm không chỉ gồm những tổn thương về thể chất, thẩm mỹ hay chức năng cơ thể mà còn bao gồm các khoản tiền nạn nhân và gia đình phải chi để phục hồi sức khỏe và bù đắp mất mát về thu nhập Nếu người bị thiệt hại cần người chăm sóc, thì chi phí chăm sóc cũng được xem là thiệt hại hợp lý Ngoài ra, còn có khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại Thực tế, sức khỏe của con người khó có thể đo đếm chính xác bằng một khoản tiền, do đó, bồi thường thiệt hại về sức khỏe mang ý nghĩa chủ yếu là hỗ trợ vật chất giúp nạn nhân khắc phục hậu quả và có thể chỉ mang tính trợ cấp trong một số trường hợp.

Một vấn đề đặt ra là, BTTH do sức khỏe bị xâm phạm là loại TNBTTH phát sinh trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng?

Theo quy định tại Chương XXI của Bộ luật Dân sự 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là một loại trách nhiệm phát sinh từ hành vi trái pháp luật hoặc sự tác động tự thân của tài sản gây thiệt hại Đây là dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, vì không có mối quan hệ hợp đồng giữa các bên liên quan hoặc thiệt hại phát sinh không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.

Trong thực tiễn, tai nạn bất ngờ do sức khỏe bị xâm phạm xuất phát từ quan hệ hợp đồng, như hợp đồng vận chuyển hành khách dựa trên thỏa thuận giữa các bên Khi xảy ra tai nạn trong quá trình thực hiện hợp đồng, ví dụ như tai nạn do lái xe gây ra làm thiệt hại sức khỏe của hành khách, câu hỏi đặt ra là liệu trách nhiệm này thuộc phạm vi hợp đồng hay ngoài hợp đồng.

Dưới góc độ văn bản, khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy

10 Hoàng Thế Liên (chủ biên), tlđd 5, tr.726

Theo Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), trong Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, quy định rằng mọi tổ chức, cá nhân xâm phạm các quyền về tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác hoặc pháp nhân đều phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Cụ thể, việc xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác gây thiệt hại phải đối mặt với trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam.

Theo quy định, bảo hiểm trách nhiệm của bên vận chuyển do sức khỏe bị xâm phạm là bảo hiểm trách nhiệm ngoài hợp đồng Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 529 Bộ luật Dân sự 2005, bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyên chở hành khách từ địa điểm xuất phát đến đúng nơi, đúng giờ, đảm bảo an toàn, văn minh, lịch sự và bằng phương tiện đã thỏa thuận Ngoài ra, họ còn phải bảo đảm đủ chỗ cho khách và không chở quá trọng tải quy định, đảm bảo quyền lợi và an toàn cho hành khách.

Khi vận chuyển gây tổn hại đến sức khỏe của hành khách, người vận chuyển đã vi phạm quy định trong hợp đồng vận chuyển Trong trường hợp này, trách nhiệm bồi thường sẽ được xác định dựa trên hợp đồng vận chuyển, và người vận chuyển có nghĩa vụ bồi thường theo quy định pháp luật Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của hành khách được bảo vệ đầy đủ.

Dưới góc độ thực tiễn, khi quyền nhân thân và quyền đảm bảo an toàn về sức khỏe của cá nhân bị xâm phạm, các tòa án thường áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bất kể mối quan hệ hợp đồng hay không Đặc biệt, trong các vụ thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hành khách, tòa án vẫn thường xuyên xem xét và áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nhằm đảm bảo quyền lợi của bên bị thiệt hại được bảo vệ hiệu quả hơn.

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, có nhiều quan điểm khác nhau về nghĩa vụ của bên vận chuyển hành khách Một số ý kiến cho rằng, trong hợp đồng vận chuyển, bên vận chuyển không chỉ có trách nhiệm đưa khách đến địa điểm đã thỏa thuận mà còn phải đảm bảo an toàn cho hành khách, và trong trường hợp xảy ra tai nạn gây thiệt hại, chủ phương tiện phải bồi thường thiệt hại theo hợp đồng Ngược lại, một số ý kiến cho rằng, về bản chất, an toàn về thân thể không phải là đối tượng của hợp đồng, vì không ai có thể cam kết về sự an toàn tuyệt đối của thân thể, do đó, nghĩa vụ này chủ yếu do pháp luật quy định, và nếu bên vận chuyển vi phạm nghĩa vụ này, đó là vi phạm nghĩa vụ luật định, dẫn đến trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng khi xâm phạm quyền tuyệt đối về sức khỏe của cá nhân.

Đỗ Văn Đại (2014) trong cuốn "Luật Bồi thường Thiệt hại Ngoài Hợp Đồng" đã trình bày các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đặc biệt trong bản án và bình luận bản án tập 1 do Nhà Xuất Bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh phát hành, trang 39, giúp làm rõ các nguyên tắc và nghiệp vụ pháp lý trong lĩnh vực này.

Chế Mỹ Phương Đài (Chủ nhiệm Đề tài, 2011) nghiên cứu về tác động của xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 Theo đó, việc xâm phạm quyền nhân thân có thể dẫn đến các hậu quả pháp lý nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị thiệt hại Nghiên cứu này do Đại học Luật TP Hồ Chí Minh thực hiện và được trình bày rõ ràng trong trang 52 của tài liệu.

14 Bộ Tư pháp (1997), Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật dân sự, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.217

Phạm Kim Anh (2008) trong luận án tiến sĩ Luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội đã nghiên cứu về trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam Nghiên cứu này phân tích rõ các quy định pháp luật về trách nhiệm liên đới và các điều kiện để xác định trách nhiệm của các bên liên quan trong việc bồi thường thiệt hại, góp phần nâng cao nhận thức và áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật dân sự Việt Nam về trách nhiệm dân sự liên đới.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm

Trường hợp thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra

1.2.1.1 Có thiệt hại xảy ra Đây là điều kiện tiền đề của TNBTTH ngoài hợp đồng, nếu không có thiệt hại thì TNBTTH không bao giờ phát sinh Bởi lẽ, mục đích của TNBTTH là khôi phục, bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại, do đó phải có thiệt hại thì mục đích đó mới đạt được

Vậy thiệt hại là gì?

Thiệt hại hiểu theo nghĩa thông thường là “bị mất mát về người, về của cải vật chất hoặc tinh thần” 26

Trong nghiên cứu khoa học, có nhiều quan điểm khác nhau về cách hiểu thiệt hại Một số cho rằng, thiệt hại được định nghĩa là sự giảm bớt lợi ích vật chất của một cá nhân xác định dựa trên thực tế và những thiệt hại gián tiếp chắc chắn xảy ra Quan điểm khác lại coi thiệt hại là sự suy giảm về lợi ích vật chất mà người bị thiệt hại đã có hoặc mất mát lợi ích vật chất mà họ chắc chắn sẽ có trong tương lai.

25 Mục 1 phần I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP

26 Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Đà Nẵng, tr.943

27 Phùng Trung Tập (2009), Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng, NXB Hà Nội, tr.261

28 Hoàng Thế Liên (chủ biên), tlđd 5, tr.713 biến thiên theo chiều xấu đi của tài sản, của các giá trị nhân thân được pháp luật bảo vệ” 29

Dưới góc độ khoa học pháp lý, thiệt hại được hiểu là tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, cũng như tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc các chủ thể khác được pháp luật bảo vệ.

BLDS 2005 chưa định nghĩa rõ ràng về thiệt hại, nhưng theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và tổn thất về tinh thần Trong tranh chấp dân sự, thiệt hại được xác định khi quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm, bao gồm cả tổn thất về vật chất và tinh thần.

Thiệt hại trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

Thiệt hại về vật chất không chỉ là số phần trăm sức khỏe bị tổn hại, mà còn là tổn thất vật chất thực tế do người bị thiệt hại và gia đình phải bỏ ra, bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng đã mất hoặc suy giảm Ngoài ra, thiệt hại còn bao gồm thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút của người bị thiệt hại Trong trường hợp người bị thiệt hại cần người chăm sóc trong thời gian điều trị, thiệt hại còn bao gồm chi phí hợp lý và phần thu nhập bị mất của người chăm sóc Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần chăm sóc thường xuyên, thiệt hại sẽ bao gồm cả chi phí chăm sóc hợp lý nhằm bù đắp tổn thất vật chất đã xảy ra.

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần phản ánh những đau đớn, buồn phiền và mất mát về cảm xúc mà người bị thiệt hại phải chịu do sức khoẻ bị xâm phạm Đây là khoản bồi thường nhằm đền bù cho những tổn thất tinh thần mà họ phải chịu, khác với thiệt hại vật chất vì không có tiêu chí chung để xác định trong mọi trường hợp Thiệt hại về tinh thần thường khó định giá bằng tiền và không thể phục hồi hoàn toàn, do đó việc bồi thường phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể nhằm hỗ trợ người bị thiệt hại vượt qua nỗi đau và ổn định tinh thần.

29 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật dân sự Việt Nam, NXB Đại học quốc gia, tr.697

30 Viện nghiên cứu KHPL (2006), Từ điển luật học, NXB Từ điển Bách khoa & NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.713

Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP quy định về việc ủi, động viên và tạo điều kiện để người bị thiệt hại hoặc người thân của họ khắc phục khó khăn, giảm bớt nỗi đau do sự việc gây ra Các tiểu mục trong mục 1.1 của phần I nêu rõ tầm quan trọng của việc hỗ trợ tinh thần và vật chất nhằm giúp người bị thiệt hại vượt qua giai đoạn khó khăn Việc này không chỉ thể hiện sự nhân đạo mà còn góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong cộng đồng.

Trong TNBTTH, để xác định trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm, cần có thiệt hại thực tế, có căn cứ và chưa được bồi thường Ví dụ, trong vụ án liên quan đến bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm, Hội đồng xét xử đã chấp nhận các yêu cầu bồi thường chi phí khám chữa bệnh, thu nhập bị mất của người bị hại và người chăm sóc, do các yêu cầu này có căn cứ rõ ràng Tuy nhiên, yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần quá cao nên chỉ chấp nhận mức bồi thường là 3.000.000 đồng.

1.2.1.2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Quyền được bảo vệ sức khỏe là quyền tuyệt đối của cá nhân, yêu cầu mọi người phải tôn trọng và không được thực hiện hành vi xâm phạm Khi có hành động xâm phạm quyền này gây thiệt hại, chủ thể vi phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật Việc xâm phạm quyền hưởng sức khỏe không chỉ vi phạm luật dân sự mà còn có thể vi phạm các luật khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của cá nhân.

Hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại được hiểu rộng là hành vi vi phạm quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản (Điều 709 BLDS), cần xem xét thiệt hại và hành vi xâm phạm để xác định tính trái pháp luật Các loại vi phạm pháp luật gồm vi phạm quyền về tài sản và vi phạm quyền nhân thân, trong đó xâm phạm thân thể, tự do và danh dự được coi là hành vi trái pháp luật Khi có hành vi vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ được thừa nhận Ở Việt Nam, trước khi có Bộ luật Dân sự, việc xác định hành vi trái pháp luật trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa theo quy định tại Thông tư số.

32 Bản án số 24/2009/HS-ST ngày 08/5/2009 của TAND thành phố Kon Tum

33 Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd 11, tr.263

34 Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi (Nguyễn Đức Giao, Lưu Tiến Dũng dịch), tlđd 24, tr.679 - 683

Ngày 23 tháng 3 năm 1972, Tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn xét xử về BTTH ngoài hợp đồng theo quyết định số 173/UBTP, xác định rằng hành vi trái pháp luật có thể là các vi phạm về hình sự, dân sự, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hoặc quy tắc sinh hoạt xã hội.

Hiện nay, BLDS 2005 không quy định rõ ràng hành vi trái pháp luật trong trường hợp miễn trách nhiệm do sức khỏe bị xâm phạm, chỉ liệt kê một số hành vi như xâm phạm sức khỏe của cá nhân Tuy nhiên, theo hướng dẫn của TAND Tối cao tại Nghị quyết số 03/2006/NQ - HĐTP, hành vi trái pháp luật được hiểu là những xử sự cụ thể của con người thể hiện qua hành động hoặc không hành động trái với quy định của pháp luật.

Hành vi trái pháp luật được hiểu là những xử sự cụ thể của con người thông qua hành động hoặc không hành động Những xử sự này phải vi phạm quy định của pháp luật để được coi là trái pháp luật Chỉ khi một hành vi của con người bị xác định là trái pháp luật thì mới phát sinh trách nhiệm pháp lý theo Điều 36.

Trong TNBTTH, hành vi gây thiệt hại về sức khỏe thường thể hiện qua các hành động như đâm, chém, bắn, đốt, đấm, đá, đầu độc Chủ thể đã thực hiện hành vi trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, vi phạm quy định về quyền bất khả xâm phạm về thân thể và sức khỏe của cá nhân Trước khi hành vi xâm phạm xảy ra, pháp luật đã quy định rõ ràng về quyền bảo vệ sức khỏe, và người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định.

Trong thực tế, có những hành vi gây thiệt hại cho người khác nhưng không bị coi là trái pháp luật hoặc hành vi trái pháp luật trách nhiệm hình sự nếu người thực hiện hành vi đó đang thực hiện nghĩa vụ do pháp luật hoặc nghề nghiệp quy định, ví dụ như bác sĩ cắt bỏ các bộ phận trong quá trình phẫu thuật Ngoài ra, hành vi gây thiệt hại trong phòng vệ chính đáng hoặc trong tình thế cấp thiết thường không phải bồi thường, nhưng nếu hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn cho phép thì sẽ bị xem là hành vi trái pháp luật và phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra

1.2.2.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra

Thiệt hại thực tế là yếu tố cần thiết để xác định trách nhiệm pháp lý liên quan đến hành vi trái pháp luật của TNBTTH Ngoài hợp đồng do tài sản gây ra, trách nhiệm của TNBTTH chỉ phát sinh khi có thiệt hại thực tế xảy ra, đồng thời thiệt hại còn là điều kiện để xác định mức bồi thường phù hợp.

Thiệt hại do tài sản gây ra chỉ bao gồm thiệt hại về tài sản, tính mạng và sức khỏe Các thiệt hại về danh dự, uy tín và nhân phẩm không nằm trong phạm vi ảnh hưởng của thiệt hại tài sản Điều này giúp rõ ràng phân biệt giữa các loại thiệt hại để xác định đúng phạm vi trách nhiệm và bồi thường theo quy định pháp luật.

Thiệt hại về sức khỏe do tài sản gây ra bao gồm cả thiệt hại vật chất lẫn tổn thất về tinh thần, được xác định dựa trên quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự.

Theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP được ban hành năm 2006, thiệt hại về sức khỏe bao gồm các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi chức năng bị mất hoặc giảm sút của người bị thiệt hại Ngoài ra, thiệt hại còn bao gồm thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút của người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cũng như phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị Đặc biệt, nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động, cần có người thường xuyên chăm sóc, thì chi phí chăm sóc này cũng được xem là thiệt hại hợp lý Thêm vào đó, khoản tiền bồi thường về tổn thất tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu cũng được xem là một phần quan trọng trong quy định này.

1.2.2.2 Có sự kiện gây thiệt hại của tài sản

Trong TNBTTH do tài sản gây ra, điều kiện bắt buộc là phải có sự hiện diện của tài sản trong việc gây thiệt hại Việc xác định thiệt hại là do “tác động của con người” hay “tác động của vật” là yếu tố then chốt để phân biệt giữa các loại TNBTTH, đặc biệt là giữa thiệt hại do hành vi của con người và do sự tác động tự nhiên của tài sản TNBTTH chỉ được áp dụng khi thiệt hại xảy ra do sự tác động tự thân của tài sản, hoàn toàn không có sự can thiệp của con người, như cây cối tự nhiên đổ gãy, xe nổ lốp hoặc chó dại bỏ đi cắn người Trong khi đó, các trường hợp thiệt hại liên quan đến hành vi của con người như lái xe vượt ẩu gây tai nạn hoặc đặt mìn gây thiệt hại cho người khác thì không thuộc phạm vi áp dụng của TNBTTH do tài sản gây ra.

Trong phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (TNBTTH), nguyên tắc chung được áp dụng khi tài sản gây thiệt hại không thuộc phạm vi TNBTTH Để phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật gây ra, một trong những điều kiện bắt buộc là hành vi xâm phạm tính “trái pháp luật” đối với sức khỏe hoặc tài sản gây thiệt hại Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu trong trường hợp tài sản gây thiệt hại, chúng ta có cần phải xác định tính “trái pháp luật” hay không, điều này ảnh hưởng lớn đến việc xác định trách nhiệm pháp lý trong các vụ việc thiệt hại ngoài hợp đồng.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, thiệt hại do tài sản gây ra phải mang tính trái pháp luật Mọi công dân đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, do đó, việc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác luôn bị coi là trái pháp luật Các trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra theo quy định tại Điều 623, 625, 626 và 627 đều phải được hiểu là các sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật.

Quan điểm thứ hai cho rằng, trong trường hợp tài sản gây thiệt hại, không cần phải chứng minh tính trái pháp luật để xác định trách nhiệm bồi thường Bởi vì, tính trái pháp luật thường liên quan đến hành vi của con người và đòi hỏi phải có lỗi, trong khi thiệt hại từ tài sản không phù hợp với yếu tố lỗi này Tác giả đồng ý rằng, khi tài sản gây thiệt hại và xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người khác, trách nhiệm bồi thường sẽ được xác định một cách tự nhiên mà không cần xem xét tính trái pháp luật.

Tổng thiệt hại về tài sản chỉ được tính khi có sự ảnh hưởng trực tiếp từ chính tài sản đó Điều này có nghĩa là, thiệt hại xảy ra do tác động tự thân của tài sản hoặc chính nó gây ra Với quy định này, chỉ những thiệt hại liên quan chặt chẽ đến tài sản mới được xem xét trong phạm vi bồi thường Do đó, TNBTTH chỉ áp dụng trong các trường hợp có thiệt hại do tài sản gây ra một cách trực tiếp và rõ ràng.

1.2.2.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại của tài sản và thiệt hại thực tế xảy ra

Trong triết học, nguyên nhân và kết quả có mối liên hệ chặt chẽ, qua lại và quy định lẫn nhau Nguyên nhân là yếu tố sinh ra kết quả, do đó luôn xuất hiện trước kết quả, trong khi kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân đã tồn tại Để xác định chính xác mối quan hệ nhân quả trong một tình huống cụ thể, cần đặt nó trong không gian và thời gian xác định, đảm bảo các yếu tố này liên tiếp nhau một cách rõ ràng.

55 Trần Thị Huệ (Chủ biên), tlđd 1, tr.58

56 Vũ Thị Hồng Yến (2012), “Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây thiệt hại”, Tạp chí

Dân chủ pháp luật, (11), tr.5

Dựa trên mối liên hệ này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra chỉ được áp dụng khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của sự kiện gây thiệt hại, có nguyên nhân trực tiếp từ tác động tự thân của tài sản đó Ngoài ra, sự kiện gây thiệt hại của tài sản phải là nguyên nhân chính và trực tiếp gây ra thiệt hại, đảm bảo tính hợp lý và định rõ trách nhiệm trong quá trình xác định thiệt hại.

Khi xảy ra thiệt hại và xác định trách nhiệm, cần phân tích nguyên nhân gây ra thiệt hại để xác định mối quan hệ nhân quả chính xác, tránh những sai lầm trong việc xác định trách nhiệm bồi thường Đối với thiệt hại do tài sản gây ra, yêu cầu là thiệt hại do tác động của tài sản chứ không phải do hành vi của con người; ví dụ, cây tự đổ gây thiệt hại khác với việc con người chặt cây đổ xuống Trong các trường hợp thiệt hại do hành vi con người sử dụng tài sản như công cụ hoặc phương tiện để gây thiệt hại, áp dụng trách nhiệm bồi thường dựa trên hành vi trái pháp luật, không dựa trên thiệt hại do tài sản gây ra một cách tự nhiên.

1.2.2.4 Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

Yếu tố lỗi của người vi phạm là điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Lỗi phản ánh thái độ tâm lý và khả năng nhận thức của người gây thiệt hại về hành vi và hậu quả của hành vi đó, thể hiện qua lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Yếu tố lỗi chỉ xem xét khi thiệt hại do con người gây ra, còn khi thiệt hại xuất phát từ các yếu tố tự nhiên như máy móc, cây cối, nhà cửa hay súc vật, thì việc dựa vào yếu tố lỗi để xác định trách nhiệm không phù hợp.

Khi thiệt hại xảy ra do chính tài sản gây ra, câu hỏi đặt ra là liệu có cần xem xét yếu tố lỗi của chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng, chiếm hữu tài sản hay không Điều này giúp xác định trách nhiệm pháp lý trong các vụ việc thiệt hại do tài sản gây ra, đồng thời ảnh hưởng đến cách xử lý và bồi thường thiệt hại Việc nhận diện yếu tố lỗi của chủ sở hữu hoặc người liên quan có vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ trách nhiệm và áp dụng các quy định pháp luật phù hợp.

Các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 liên quan đến bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra được quy định rõ ràng tại Điều 623, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Ngoài ra, Điều 625 đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra, trong khi Điều 626 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra Cuối cùng, Điều 627 xử lý vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà gây ra, thể hiện rõ các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại liên quan đến tài sản trong các tình huống khác nhau.

Xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

Chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm

VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 14/08/2023, 06:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp (2005), NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
6. Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật) (1991), NXB Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật)
Nhà XB: NXB Pháp lý
Năm: 1991
11. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP
Nhà XB: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2006
1. Đỗ Văn Đại (2014), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bản án và bình luận bản án Tập 1,2, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bản án và bình luận bản án Tập 1,2
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
2. Trần Thị Huệ (Chủ biên) (2013), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Huệ
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2013
3. Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2005 Tập I, II, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2005 Tập I, II
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2013
4. Lê Đình Nghị (chủ biên) (2009), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 2
Tác giả: Lê Đình Nghị
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
5. Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật dân sự Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2007
6. Phùng Trung Tập (2009), Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng
Tác giả: Phùng Trung Tập
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
7. Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tác giả: Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2013
8. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Tập II, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Tập II
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2013
9. Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam Tập I, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam Tập I
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2001
10. Viện nghiên cứu KHPL (2006), Từ điển luật học, NXB Từ điển Bách khoa & NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Viện nghiên cứu KHPL
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2006
11. Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2006
12. Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi (Nguyễn Đức Giao, Lưu Tiến Dũng dịch), (1995), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản, NXB Chính trị Quốc gia.C. Tạp chí, tài liệu tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản
Tác giả: Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi, Nguyễn Đức Giao, Lưu Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
1. Phạm Kim Anh (2003), “Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự”, Khoa học pháp lý, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự
Tác giả: Phạm Kim Anh
Nhà XB: Khoa học pháp lý
Năm: 2003
2. Phạm Kim Anh (2009), “Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS 2005 - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Khoa học pháp lý, (06) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS 2005 - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Phạm Kim Anh
Nhà XB: Khoa học pháp lý
Năm: 2009
3. Phan Thị Hải Anh, Điêu Ngọc Tuấn (2014), “Vấn đề xác định thiệt hại trong bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm hại”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xác định thiệt hại trong bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm hại
Tác giả: Phan Thị Hải Anh, Điêu Ngọc Tuấn
Nhà XB: Tạp chí Tòa án nhân dân
Năm: 2014
4. Trần Việt Anh (2011), “So sánh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (04) Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
Tác giả: Trần Việt Anh
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2011
5. Phạm Văn Bằng (2013), “Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, những vấn đề đặt ra khi sửa đổi Bộ luật dân sự 2005”, Tạp chí Dân chủ &Pháp luật, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, những vấn đề đặt ra khi sửa đổi Bộ luật dân sự 2005
Tác giả: Phạm Văn Bằng
Nhà XB: Tạp chí Dân chủ & Pháp luật
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w